Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Hiến pháp năm 2013 nhằm cụ thể Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bổ sung, phát triển năm 2011, trong
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
¾¾¾¾¾¾¾¾¾
PHẠM HỒNG SƠN
Ý THỨC PHÁP LUẬT VỚI VIỆC THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ
SỞ Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Đà Nẵng – Năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
¾¾¾¾¾¾¾¾¾
PHẠM HỒNG SƠN
Ý THỨC PHÁP LUẬT VỚI VIỆC THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ
SỞ Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Mã số: 60 22 03 01
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN HỒNG LƯU
Đà Nẵng – Năm 2017
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu: 3
2.2 Nhiệm vụ: 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
4.1 Cơ sở lý luận 4
4.2 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Bố cục đề tài 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT TRONG XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XHCN 7
1.1 Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 7
1.1.1 Ý thức pháp luật: quan niệm và kết cấu 7
1.1.2 Vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội 14
1.2 VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT TRONG XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 17
1.2.1 Nội dung cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa 17
1.2.2 Vai trò của ý thức pháp luật trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NHÂN DÂN VÀ VIỆC THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY 44
Trang 52.1 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở TỈNH QUẢNG NAM 442.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa của tỉnh Quảng Nam 442.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến ý thức pháp luật ở Quảng Nam 462.2 Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM 572.2.1 Mặt tích cực: thực trạng và nguyên nhân 572.2.2 Thực trạng và nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 602.3 THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TỈNH QUẢNG NAM 642.3.1 Quá trình thực hiện dân chủ cơ sở ở tỉnh Quảng Nam 652.3.2 Những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 81 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT TRONG VIỆC THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY 82
3.1 NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN TRONG VIỆC NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở TỈNH QUẢNG NAM 823.1.1 Tiếp tục thực hiện QCDC ở cơ sở gắn với các nhiệm vụ phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn tỉnh 823.1.2 Đổi mới việc thực hiện QCDC một cách sáng tạo, phù hợp với từng địa phương, từng xã, phường 833.1.3 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp Đảng bộ với chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm đưa việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở thành nề nếp thường xuyên 84
Trang 63.2 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO Ý THỨC PHÁP LUẬT NHẰM THỰC HIỆN TỐT DÂN CHỦ CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM THỜI GIAN TỚI 863.2.1 Đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật 873.2.2 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật 903.2.3 Nâng cao trình độ nhận thức, năng lực thực hành dân chủ cho cán bộ, đảng viên và nhân dân 933.2.4 Củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở 953.2.5 Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, trao đổi kinh nghiệm giữa các địa phương, các cơ sở 1023.2.6 Kiện toàn Ban chỉ đạo đồng thời củng cố hoạt động của Ban thanh tra nhân dân nhằm tiếp tục và nâng cao chất lượng việc thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" 104
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 106 KẾT LUẬN 107 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7BCH: Ban chấp hành BCĐ: Ban chỉ đạo CNH: Công nghiệp hóa CNXH: Chủ nghĩa xã hội HĐH: Hiện đại hóa HĐND: Hội đồng nhân dân MTTQ: Mặt trận Tổ quốc QCDC: Quy chế dân chủ VKS : Viện kiểm sát TBCN: Tư bản chủ nghĩa UBND: Ủy ban nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi cuộc sống của con người ngày càng được nâng lên, trình độ trí tuệ của
con người ngày càng được phát triển thì nhu cầu tự do, dân chủ ngày càng được nâng cao Lịch sử phát triển dân chủ là lịch sử đấu tranh cho quyền sống, quyền mưu cầu tự do và hạnh phúc của con người, từng bước xây dựng một nền dân chủ theo lý tưởng giải phóng xã hội, giải phóng con người, đưa con người từ trói buộc đến
tự do, từ nô lệ đến làm chủ, từ thụ động đến sáng tạo Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động cần phải thực hiện và đảm bảo ngày càng tốt hơn những điều kiện thực hiện dân chủ cho cá nhân và cộng đồng xã hội Do đó, dân chủ là xu hướng, là khát vọng ngàn đời của con nguời Dân chủ là động lực và mục tiêu của tiến bộ và phát triển Đó không những là một lý tưởng cao đẹp của con người và loài người mà còn là con đường và phương thức phát triển của xã hội hiện đại
Ở Việt Nam, sau khi Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 30/CT-TƯ ngày 18/02/1998 về
xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã cụ
thể hóa một bước chỉ thị này bằng các Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10, số 55/1998/NQ-UBQH10 và số 60/1998/NQ-UBTVQH10 về thực hiện dân chủ ở ba loại hình đơn vị cơ sở chủ yếu là đơn vị hành chính cấp cơ sở; các cơ quan nhà nước và các cơ sở kinh tế Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Hiến pháp năm 2013 nhằm cụ thể Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó lần đầu tiên, một văn bản pháp lý cao nhất của nước ta quy định rõ ràng về việc kiểm soát quyền lực nhà nước: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2) Kiểm soát quyền lực nhà nước là một tất yếu nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước không vượt quá tầm kiểm soát của nhân dân, trở thành lực lượng đe dọa nhân dân - chủ sở hữu quyền lực nhà nước, xâm phạm đến quyền làm chủ và
Trang 9địa vị làm chủ của nhân dân Chính vì thế, việc hiến định kiểm soát quyền lực nhà nước là một bước tiến dài trong quá trình phát huy dân chủ XHCN và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN
Tuy nhiên, bộ máy nhà nước hiện nay hoạt động còn kém hiệu quả, ý thức trách nhiệm của nhiều cán bộ công quyền chưa cao, nạn hách dịch, cửa quyền gây phiền hà và nhiều biểu hiện khác vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, tệ quan liêu, nạn tham nhũng ngày càng nghiêm trọng và phức tạp Những vụ việc tham nhũng gần đây càng gây bức bối cho xã hội về nạn lạm quyền của một số quan chức cấp tỉnh, thành Cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý vẫn chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, phương châm "sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật" vẫn chưa đi vào cuộc sống, đời sống pháp luật thấp, ý thức pháp luật và dân chủ của nhân dân, như Đảng ta chỉ rõ:
"Quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng và phát huy đầy
đủ trong đời sống xã hội Không ít hiện tượng mất dân chủ, dân chủ hình thức, có nơi rất nghiêm trọng Bệnh quan liêu, tư tưởng phong kiến, gia trưởng còn nặng Đồng thời, cũng xuất hiện khuynh hướng dân chủ cực đoan, dân chủ không đi liền với thực hiện kỷ luật và pháp luật,
cơ chế và pháp luật bảo đảm thực hiện dân chủ chưa được cụ thể hóa đầy đủ"[14, tr.41- 42]
Tình trạng này có nguyên nhân từ ý thức pháp luật thấp kém, pháp luật chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa trở thành cái không thể thiếu khi điều chỉnh các quan hệ xã hội Ý thức pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế và bản thân hệ thống pháp luật chưa theo kịp sự phát triển của xã hội, mặt bằng dân trí thấp, trình
độ văn hóa pháp lý còn thấp kém
Ở Quảng Nam, từ khi tái lập tỉnh năm 1997 cho đến nay, việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở làm chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội về
Trang 10mở rộng dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Tuy nhiên, việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở một số nơi vẫn còn bất cập, hình thức, không liên tục, hiệu quả chưa cao, chưa theo kịp đòi hỏi từ thực tiễn đặt ra
Cho đến nay, ngoài "Báo cáo tổng kết 17 năm việc thực hiện Chỉ thị
30-CT/TƯ của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở
cơ sở 1997- 2015" của Tỉnh ủy, chưa có công trình khoa học nào đề cập riêng đến
việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Vì vậy, tôi chọn đề tài: "Ý thức pháp luật với việc thực hành dân chủ cơ sở ở tỉnh Quảng Nam hiện nay"
làm chủ đề nghiên cứu luận văn Thạc sỹ khoa học Triết học của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn sẽ tập trung làm rõ:
- Ý thức pháp luật và vai trò của nó trong quá trình thực hiện dân chủ ở nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khái niệm về dân chủ rất rộng, do yêu cầu của luận văn, xin được đi sâu khía cạnh dân chủ là một hình thức nhà nước, nó có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật
Trang 11- Khái niệm ý thức pháp luật được hiểu rất rộng, kết cấu gồm: Hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật Nội dung đề tài tập trung đi sâu một số khía cạnh tâm
lý pháp luật: trình độ nhận thức am hiểu pháp luật, tình cảm thái độ chấp hành pháp luật của người dân
- Từ góc độ triết học, vấn đề ý thức pháp luật và dân chủ nghiên cứu thực hiện ở tỉnh Quảng Nam từ năm 1997 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
- Luận văn dựa trên cơ sở quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các vấn đề
lý luận có liên quan đến đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Trên cơ sở phương pháp luận triết học mác xít, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp, lôgíc - lịch sử, hệ thống - cấu trúc, điều tra khảo sát, thống kê - so sánh trong nghiên cứu và trình bày
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Những nội dung liên quan đến vấn đề ý thức pháp luật, vấn đề dân chủ, đã được một số nhà nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố dưới dạng đề tài khoa học, chuyên đề, khảo sát, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các bài đăng tải trên các tạp chí, sách báo Chẳng hạn, như những công trình sau đây:
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc
đổi mới, Đề tài Khoa học cấp bộ (1995) của Bộ Tư pháp nghiên cứu những vấn đề
lý luận chung về pháp luật, khái quát thực tiễn ý thức pháp luật trong đời sống xã
Trang 12hội và trong công tác giáo dục pháp luật hiện nay ở nước ta, đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị và trong nhân dân
- Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay (một số vấn đề
lý luận và thực tiễn), Đề tài khoa học cấp bộ, PGS.TS Nguyễn Cúc (chủ biên),
Phân viện Hà Nội - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002 Tác giả đã tập trung làm sáng tỏ một số khía cạnh chủ yếu về lý luận và thực tiễn của việc thực hiện QCDC ở cơ sở trong tình hình hiện nay ở nước ta
- Ý thức pháp luật của PGS.TS.Nguyễn Minh Đoan, Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2011 đã làm rõ khái niệm, đặc điểm, chức năng và các cấp độ biểu hiện của ý thức pháp luật, cũng đã phản ánh thực trạng ý thức pháp luật của Việt Nam và đề xuất các giải pháp nâng cao ý thức pháp luật nói chung ở nước
ta hiện nay
- PGS.TS Dương Xuân Ngọc: "Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã - Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 Tác giả đã làm
rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã cả về mặt lý luận và thực tiễn
- Luận án Tiến sỹ triết học của Nguyễn Thúy Vân “Logic khách quan của
quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật ở Việt Nam” (Hà Nội, 2000), đã
làm sáng tỏ vai trò của logic khách quan trong quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật ở Việt Nam
- Ý thức pháp luật với việc xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam hiện
nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, tác giả Mai Thị Minh Ngọc, năm 2003 Đề tài
nghiên cứu những về ý thức pháp luật, về dân chủ XHCN, về vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội và trong việc xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước
ta Trên cơ sở khái quát tình hình ý thức pháp luật trong các tầng lớp nhân dân, tác
Trang 13giả đã đề xuất các giải pháp nâng cao ý thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức và nhân dân nhằm xây dựng và thực hiện dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay
Có thể nói, mỗi công trình có những giá trị nghiên cứu khác nhau, tuy nhiên
ý thức pháp luật được nghiên cứu trên bình diện triết học, là một hình thái ý thức xã hội, liên quan trực tiếp đến con người với tư cách là một công dân Công dân có thực hiện quyền dân chủ của mình hay không điều đó phải ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình trước pháp luật Vì vậy, để pháp luật đi vào cuộc sống, thì việc nâng cao ý thức pháp luật cho các thành viên trong xã hội có một ý nghĩa hết sức to lớn Đây là một vấn đề mới mẻ, cơ sở lý luận và thực tiễn chưa nhiều và cũng khá phức tạp khi tìm hiểu dưới góc độ triết học Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở quý báu để tác giả luận văn đi vào nghiên cứu chủ đề này trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Trang 14CHƯƠNG 1
Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT
TRONG XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XHCN
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1.1.1 Ý thức pháp luật: quan niệm và kết cấu
1.1.1.1 Một số quan niệm về ý thức pháp luật
Quan niệm về ý thức pháp luật có nhiều điểm khác nhau, khi nó được nghiên cứu dưới những góc độ, những cách tiếp cận khác nhau của những ngành khoa học khác nhau, như triết học, luật học hay xã hội học pháp luật
Từ góc độ triết học, ý thức pháp luật được hiểu là một trong những hình thái của ý thức xã hội (ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức thẩm
mỹ, ý thức tôn giáo, ý thức xã hội) Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức xã hội, ra đời từ thực tiễn đời sống xã hội và phản ánh tồn tại xã hội Ý thức xã hội xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế -
xã hội, mà trước hết, là những quan hệ sản xuất được thể hiện trong các luật lệ nhà nước Ý thức pháp luật xuất hiện cùng với sự xuất hiện của pháp luật, nó là sản phẩm của quá trình phát triển xã hội, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các hệ tư tưởng, quan điểm, quan niệm trong xã hội.“Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết,
tư tưởng, quan điểm, quan niệm pháp lý tồn tại trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật, đối với quá trình điều chỉnh pháp luật, sự đánh giá
về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong xử sự của cá nhân, cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội”[2, tr 373-374] Quan niệm này đã làm rõ được chủ thể ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết đối với pháp luật và thái độ, sự đánh giá, điều chỉnh hành vi của con người theo pháp luật
Trang 15Ý thức pháp luật là bộ phận của ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại xã hội
từ góc độ pháp luật, thể hiện trình độ hiểu biết pháp luật và thái độ đối với pháp luật của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong xã hội có giai cấp Theo đó, ý thức pháp luật và pháp luật là những bộ phận của kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định và bị chi phối bởi các yếu tố trong cơ sở hạ tầng mà quan trọng nhất là các điều kiện kinh tế Vì thế, những nội dung của ý thức pháp luật và những quy định của pháp luật xét đến cùng, chính là sự phản ánh đời sống hiện thực khách quan, phản ánh sự vận động, biến đổi và phát triển của đời sống mà trong đó ý thức pháp luật thể hiện ra Với tư cách là một bộ phận của ý thức xã hội, ý thức pháp luật xuất hiện, nảy sinh trên nền tảng tồn tại xã hội nhất định Vì thế, tồn tại xã hội và ý thức pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau
Ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội từ góc độ pháp luật, thể hiện trình
độ hiểu biết pháp luật và thái độ đối với pháp luật của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong xã hội có giai cấp Do đó, những nội dung của ý thức pháp luật và các quy định của pháp luật, xét đến cùng, chính là sự phản ánh đời sống hiện thực khách quan, phản ánh sự vận động, biến đổi và phát triển của đời sống mà trong đó
ý thức pháp luật được thể hiện bằng các hành vi cụ thể
C.Mác đã khẳng định:
“Nhà lập pháp phải coi mình như nhà khoa học tự nhiên Ông ta không làm ra pháp luật, ông ta không phát minh ra chúng mà chỉ nêu chúng lên; ông ta biểu hiện những quy luật nội tại của những mối quan hệ tinh thần thành những đạo luật thành văn có ý thức Chúng ta sẽ phải chê trách nhà lập pháp và vô cùng tùy tiện, nếu như ông ta thay thế bản chất của sự việc bằng những điều bịa đặt của mình”[Dẫn theo: 6; tr 232] Mọi sự vận động, biến đổi và phát triển của ý thức pháp luật đều có căn nguyên từ những thay đổi, vận động và phát triển của đời sống xã hội Bởi lẽ, trong mối quan hệ với tồn tại xã hội, ý thức pháp luật là cái bị quy định Và, mặc dù là
Trang 16cái ổn định hơn so với sự biến động của đời sống xã hội, nhưng cuối cùng dù sớm hay muộn, ý thức pháp luật cũng phải thay đổi theo sự biến đổi của xã hội C.Mác nói: “Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của các cuộc cải cách xã hội tách biệt với pháp luật Một khi pháp luật bị đặt ra ngoài các quá trình biến đổi xã hội, hoặc bị hạ thấp hay phớt lờ thì tất yếu các cải cách ấy hoặc là mang tính nữa vời, thậm chí chết yểu, hoặc là gây nên những đảo lộn nghiêm trọng đối với đời sống xã hội, xô đẩy xã hội vào những nguy cơ khủng hoảng” [8; tr 254]
Ý thức pháp luật hiểu theo nghĩa hẹp, theo nghĩa thông thường là ý thức chấp hành những quy định pháp luật của con người Vì thế khi đánh giá ý thức pháp luật của một tập thể, cá nhân nào đó người ta thường so sánh giữa hành vi chấp hành của những đối tượng đó với yêu cầu của những quy định trong văn bản pháp luật để đánh giá ý thức pháp luật cao hay thấp, tốt hay kém của họ Quan niệm này đồng nhất ý thức pháp luật với một hình thức biểu hiện cụ thể của nó, như vậy
sẽ quá hẹp, thiếu toàn diện, chưa thể hiện rõ được bản chất, vai trò năng động, sáng tạo của ý thức pháp luật
Trong lý luận khoa học, ý thức pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng Tuy nhiên do mục đích và phương diện nghiên cứu khác nhau mà cho đến nay cũng xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về ý thức pháp luật
Quan niệm thứ nhất cho rằng: "ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã
hội, biểu thị mối quan hệ của con người đối với pháp luật" [9, tr 147] Đây là quan niệm mang tính khái quát cao, nhưng lại quá chung chưa phản ánh kết cấu nội dung của ý thức pháp luật
Quan niệm thứ hai: Thường nhấn mạnh mặt này hay mặt khác của ý thức
pháp luật Có quan niệm tập trung nhấn mạnh cơ cấu của ý thức pháp luật như "ý thức pháp luật là tổng hợp những tư tưởng, quan điểm pháp luật và tâm lý pháp luật Hay nói cụ thể hơn, là tổng hợp những nhận thức, những hiểu biết quan điểm pháp lý, những tình cảm pháp luật, cùng với sự tôn trọng và thói quen chấp hành
Trang 17nghiêm chỉnh pháp luật" [54, tr 235] Một số ý kiến khác lại thu hẹp cơ cấu của ý thức pháp luật, chỉ nhấn mạnh mặt tri thức pháp luật như:
Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm và quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ thông qua sự hiểu biết của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội [10, tr 229]
Quan niệm thứ ba: Đề cập tới ý thức pháp luật một cách đầy đủ, toàn diện
hơn Nó không những chỉ ra được tính chất, cơ cấu và nội dung của ý thức pháp luật mà còn đề cập đến cả nguồn gốc, mối liên hệ phổ biến, tất yếu của ý thức pháp luật đối với đời sống xã hội Theo quan niệm này:
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, là tổng thể những quan điểm, khái niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) thể hiện thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, trật tự pháp luật, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật
đã qua và pháp luật trong tương lai, và hành vi hợp pháp, hành vi không hợp pháp của cá nhân, các cơ quan nhà nước, tổ chức [43, tr 290]
Trên cơ sở nghiên cứu các ý kiến nêu trên, cùng với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn, chúng tôi quan niệm:
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc phản ánh một cách tích cực, sáng tạo và trực tiếp đời sống pháp luật, hình thành những khái niệm, quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) đối với pháp luật, thể hiện sự hiểu biết, thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, pháp luật trong quá khứ và pháp luật trong tương lai, quyền và nghĩa vụ
Trang 18của các chủ thể pháp luật, tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của cá nhân, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội
Quan niệm trên đã chỉ rõ nguồn gốc trực tiếp của ý thức pháp luật là đời sống pháp luật, đồng thời cũng nêu lên tính chất, cơ cấu và nội dung của ý thức pháp luật, qua đó thấy được vai trò to lớn của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội, để có thái độ xử sự đúng đắn như nó đang tồn tại
Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật tuân thủ quy luật chung của
sự hình thành ý thức xã hội phản ánh đời sống pháp luật, mà trước hết là nhu cầu pháp lý đặt ra của đời sống xã hội, thông qua chuẩn mực pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, nhằm thiết lập trật tự kỷ cương xã hội theo ý chí của giai cấp cầm quyền
Ý thức pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác, nhất là đối với ý thức chính trị, và ý thức đạo đức
Ý thức chính trị phản ánh mối quan hệ giữa các tập đoàn người trong xã hội đối với quyền lực nhà nước Còn ý thức pháp luật phản ánh mối quan hệ của còn người đối với các quy tắc được chấp nhận trong xã hội nhất định Ý thức pháp luật chịu sự tác động trực tiếp của ý thức chính trị bởi vì bản chất pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền được thể hiện thành "luật lệ" mà mỗi chế độ xã hội có giai cấp, chỉ có một hệ thống pháp luật duy nhất thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền
Ý thức đạo đức phản ánh mối quan hệ giữa các cá nhân và những quan điểm theo đó con người đánh giá chính "cái tôi" của mình, nghĩa vụ công bằng mang tính nội tâm và tự nguyện Còn ý thức pháp luật nghĩa vụ và công bằng dân chủ được Nhà nước quy định, do đó mang tính cưỡng chế
Nếu ý thức chính trị tác động chi phối ý thức pháp luật nhất là hệ tư tưởng chính trị thì ngược lại ý thức pháp luật là sự phản ánh những yêu cầu chính trị dưới góc độ pháp luật Bên cạnh đó, ý thức pháp luật và ý thức đạo đức đều cùng hướng vào việc điều chỉnh hành vi con người, nên chúng chịu ảnh hưởng và hỗ trợ nhau
Trang 19rất lớn Như vậy ý thức pháp luật, ý thức chính trị và ý thức đạo đức có mối quan
hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, mặc dù khác nhau nhưng chúng cùng phản ánh và chịu sự quy định của tồn tại xã hội, nhất là sự quy định của chế độ kinh tế
1.1.1.2 Kết cấu của ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là cơ sở hình thành văn hóa pháp lý của chủ thể pháp luật, giúp cho chủ thể có khả năng và kỹ năng sử dụng cơ chế điều chỉnh pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bản thân mình, cho Nhà nước và cho xã hội, nhằm xử sự đúng đắn và phù hợp trong các mối quan hệ Ý thức pháp luật được tạo nên bởi hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật, cụ thể:
Thứ nhất, Tư tưởng pháp luật là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm và học
thuyết về pháp luật còn được gọi là nhận thức pháp lý, bao gồm các tri thức của con người về pháp luật, các hiện tượng liên quan đến pháp luật và quá trình điều chỉnh pháp luật…được khái quát hóa thành lý luận, học thuyết về nhà nước và pháp luật
Tư tưởng pháp luật là kết quả của sự phản ánh một cách tự giác, có mục đích, có tính tổ chức cao của các hoạt động tư duy lý luận Chính vì vậy, mà tư tưởng pháp luật là bộ phận chủ yếu của ý thức pháp luật, được hình thành một cách tự giác, phản ánh tồn tại xã hội một cách sâu sắc, khách quan mang tính hệ thống và khoa học có tác dụng soi sáng, định hướng cho tâm lý pháp luật Những chủ thể có tri thức pháp luật cao sẽ có khả năng nhận thức pháp luật chính xác và có ý thức tuân thủ tốt các quy định của pháp luật Bởi hạt nhân của tư tưởng pháp luật là những tri thức pháp luật (sự nhận thức, hiểu biết khoa học và nắm bắt các quy định pháp luật) được biểu hiện thông qua hành vi, hành động của con người trong cuộc sống Trong đời sống xã hội, tri thức pháp luật giữ vai trò vô cùng quan trọng đặc biệt đối với mỗi cá nhân, đó là yếu tố tạo thành nhân cách, năng lực và trình độ hiểu biết, đối với xã hội có tác dụng phát huy sức mạnh và năng lực sáng tạo của mỗi thành viên, đối với quốc gia là động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội
Trang 20Ở Việt Nam, các tư tưởng pháp luật là sự kế thừa và kết hợp hài hòa của nhiều quan niệm, quan điểm pháp luật khác nhau Bao gồm các quan niệm, quan điểm pháp luật dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được củng cố và phát triển, các quan điểm pháp luật tiến bộ của các đối tác trong quan hệ song phương, đa phương và với quốc tế lẫn các quan niệm quan điểm vẫn còn tồn tại làm cho tư tưởng pháp luật Việt Nam thêm phong phú, đa dạng
Thứ hai, tâm lý pháp luật là sự phản ánh những tâm trạng, cảm xúc, thái độ,
tình cảm đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý cụ thể khác Tâm lý pháp luật
bị chi phối bởi hệ tư tưởng pháp luật, nó phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm và trình
độ nhận thức lý luận của cá nhân Nhưng đồng thời cũng là tiền đề thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các quan điểm, tư tưởng pháp luật phù hợp Tâm lý pháp luật có ảnh hưởng rất lớn tới việc thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp của chủ thể và góp phần nâng cao phẩm giá, nhân cách con người, từ đó hình thành trách nhiệm của mỗi người với bản thân, với gia đình và với quê hương đất nước Bởi tâm lý pháp luật chứa đựng trong nó những rung động về tâm hồn của con người, điều chỉnh hành vi bằng niềm tin, sự hiểu biết, sự trân trọng hay thù hằn, định kiến, ác cảm….đối với pháp luật, quá trình điều chỉnh pháp luật do ảnh hưởng của những giao tiếp trong đời sống thực tiễn xã hội
Ở nước ta trong thời gian qua, chưa quan tâm đúng mức vai trò quan trọng của tâm lý pháp luật, chúng ta chủ yếu tập trung vào xây dựng hệ tư tưởng pháp luật mà chưa thật sự chú ý tới việc củng cố, định hướng để hình thành thái độ, tình cảm pháp luật đúng đắn trong đời sống xã hội Do đó, mà tâm lý pháp luật ở nước ta diễn biến khá phức tạp, biểu hiện một bộ phận không nhỏ dân cư chưa có thói quen sống và làm việc theo pháp luật, thậm chí xem nhẹ hay coi pháp luật chỉ là sự trói buộc hành vi của con người và tìm mọi cách để trốn tranh, không tuân thủ các quy định của pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống Vì vậy, việc thay đổi những tình cảm, thái độ pháp lý không phù hợp nhằm tạo dựng, củng cố tâm lý pháp luật đúng
Trang 21đắn là việc làm hết sức khó khăn ở nước ta hiện nay Bởi tính chất bền vững của tâm lý trong ý thức của mỗi con người Muốn làm được điều đó, phải kiên trì, không ngừng nâng cao ý thức pháp luật, điều chỉnh hành vi của con người theo đúng quy định của pháp luật
1.1.2 Vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội
1.1.2.1 Ý thức pháp luật với sự tồn tại và phát triển của xã hội
Ý thức pháp luật ra đời từ những điều kiện xã hội nhất định, phản ánh nhu cầu điều chỉnh cũng như quá trình điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ xã hội Vì vậy, ý thức xã hội nói chung và ý thức pháp luật nói riêng có vai trò to lớn đối với quá trình vận động và phát triển của xã hội Trong đời sống pháp lý, ý thức pháp luật giúp chủ thể thực hiện đúng các quy định pháp luật, tránh được các hành động thiếu suy nghĩ, đi ngược với lợi ích chung của xã hội Đối với mỗi cá nhân cụ thể, ý thức pháp luật là nhân tố quan trọng góp phần tạo thành nhân cách, phẩm giá, năng lực và trình độ của con người Đối với tập thể, ý thức pháp luật tạo nên sự đoàn kết, gắn bó trong quan hệ giữa người với người Đối với quốc gia, ý thức pháp luật của nhân dân trở thành động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội, biểu hiện:
Thứ nhất, ý thức pháp luật trong đời sống kinh tế: Ý thức pháp luật góp phần
thúc đẩy đời sống kinh tế phát triển Bởi ý thức pháp luật là tiền đề trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhà nước Đồng thời pháp luật là công cụ pháp lý kinh tế của đất nước thông qua việc thể chế hóa các chính sách, kế hoạch phát triển thành hệ thống quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế đạt hiệu quả Vì vậy, ý thức pháp luật được nâng cao sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật để điều chỉnh phù hợp với các quan hệ kinh tế Do
đó, nhà nước với tư cách là người trực tiếp sáng tạo pháp luật, trước hết phải nhận thức được những đòi hỏi khách quan của đời sống kinh tế - xã hội Thực tiễn, những yêu cầu đặt ra trong quá trình phát triển của kinh tế để phản ánh kịp thời vào
hệ thống pháp luật Nhờ hệ thống pháp luật, các chủ thể kinh tế được đảm bảo
Trang 22quyền tự do và lợi ích hợp pháp, đồng thời họ cũng xác định được nghĩa vụ và quyền hạn của mình trong mọi mặt của đời sống Chẳng hạn, khi lưu thông trên đường mà tất cả mọi người đều ý thức được rằng, việc tuân thủ theo đúng các quy định Luật giao thông đường bộ là không chỉ đảm bảo an toàn cho tính mạng của bản thân mình mà còn đảm bảo an toàn tính mạng cho người khác và toàn xã hội, góp phần giảm thiểu thương vong do tai nạn giao thông gây ra
Thứ hai, ý thức pháp luật trong đời sống chính trị: Giữ vị trí quan trọng là
bộ phận ý thức xã hội chủ đạo trong hệ thống ý thức xã hội Ý thức pháp luật giúp con người có khả năng nhận thức, đánh giá về đời sống pháp luật với các vấn đề như tình trạng pháp chế, công tác tổ chức áp dụng và thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước, tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của cá nhân, sự công bằng trong việc áp dụng pháp luật đối với các cơ quan tổ chức xã hội
Ý thức pháp luật và hành vi pháp luật của cán bộ, công chức có ảnh hưởng rất lớn đến bộ phận dân cư, chỉ cần một hành vi rất nhỏ để mưu cầu lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức sẽ làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào chế độ, vào nhà nước Vì vậy, những hành vi tiêu cực trong lĩnh vực giao thông đường bộ như: nạn mãi lộ, bảo kê, quen biết….đặc biệt phê phán, lên án kịch liệt, xử lý theo đúng quy định của pháp luật và ngược lại, nếu đội ngũ cán bộ, công chức có ý thức cao, có thái độ tôn trọng pháp luật và có hành vi tích cực chấp hành pháp luật thì sẽ tác động rất tốt đến đời sống góp phần duy trì trật tự, kỷ cương xã hội
Thứ ba, ý thức pháp luật trong đời sống văn hóa – tư tưởng: Ý thức pháp luật
có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hình thái ý thức xã hội khác Những quan điểm tư tưởng pháp luật tiến bộ, khoa học góp phần củng cố, phát huy nhân tố tích cực ở các hình thái ý thức xã hội khác, đồng thời khắc phục những quan niệm không phù hợp, ảnh hưởng xấu đến lợi ích của các giai cấp, đến đời sống của cộng đồng và tiến bộ xã hội Ý thức pháp luật quyết định hiệu quả việc thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống Ý thức pháp luật là cơ sở văn hóa của con người khi con
Trang 23người có ý thức tôn trọng nhau thông qua việc nghiêm chỉnh chấp hành, tuân thủ pháp luật
Ý thức pháp luật được xem là điều kiện quan trọng, tiền đề tư tưởng trực tiếp cho việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật Ý thức pháp luật cao là điều kiện để việc biên soạn, ban hành pháp luật được tiến hành nhanh chóng
và thuận lợi Nếu có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tình hình kinh tế - xã hội, xác định đúng những quan hệ xã hội cơ bản cần có sự điều chỉnh của pháp luật, có quy trình và kỹ thuật lập pháp khoa học, phù hợp thì hệ thống pháp luật của đất nước sẽ được hoàn thiện
Tóm lại, ý thức pháp luật có vai trò to lớn trong đời sống Song, để phát huy
tối đa các vai trò đó của ý thức pháp luật, chúng ta cần phải nâng cao ý thức pháp luật của mọi tầng lớp dân cư Đặc biệt trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
1.1.2.2 Ý thức pháp luật với sự hình thành nhân cách con người
Nhân cách là những phẩm chất mang tính đặc trưng của mỗi cá nhân được biểu hiện ra bên ngoài thông qua những hành vi cụ thể của chủ thể Bởi con người luôn luôn tự chủ và ý thức được hành động của mình, và mỗi một hành vi của con người klhi tham gia vào đời sống thực tiễn đều thể hiện quy mô và năng lực tư duy của mình Quá trình hình thành và phát triển nhân cách là một quá trình lâu dài, đầy biến động phức tạp của con người Nhân cách chính là thước đo của quá trình nhận thức của con người khi hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng Trong quá trình đó, ý thức pháp luật có tác dụng điều chỉnh hành vi con người thông qua yếu tố tư tưởng, tâm lý Sức mạnh điều chỉnh ý thức pháp luật là sức mạnh tiềm ẩn trong nội tâm con người Đó là sức mạnh của lý trí, tình cảm có trong con người Thực tế, người
có ý thức pháp luật đúng đắn, tiến bộ cũng sẽ là người có hành vi chuẩn mực trong cuộc sống, ngược lại người có ý thức pháp luật hạn chế thì thường có những hành
vi nông cạn, vi phạm đến các quy định của pháp luật, gây mất trật tự xã hội
Trang 24Ý thức pháp luật là một trong những nhân tố giúp chủ thể tự điều chỉnh hành
vi của mình sao cho phù hợp với các quy định pháp luật Bởi hành vi của chủ thể vừa là hệ quả, vừa là thước đo đối với ý thức pháp luật Và các giá trị mà ý thức pháp luật đem lại trong hoạt động thực hiện pháp luật là biến tính bắt buộc của pháp luật thành tính tự giác, tự nguyện thực hiện pháp luật của mọi người Một xã hội ổn định, có kỷ cương phải là một xã hội mà trong đó có những con người với những nhân cách hoàn thiện, ý thức pháp luật cao và mọi tầng lớp dân cư đều ý thức được rằng, tự do và lợi ích chính đáng của mình được đảm bảo bằng sự tôn trọng tự do và lợi ích chính đáng của người khác Tôn trọng và thực hiện đúng các quy định của pháp luật nhằm tăng cường sự hiểu biết pháp luật, tạo năng lực đánh giá đúng đắn các hành vi trong xã hội Thực tế, nhiều người dân chưa có nhận thức đúng và đầy đủ về pháp luật, họ chỉ thực sự quan tâm đến khi lợi ích của bản thân
bị xâm phạm hoặc bản thân họ đã có hành vi vi phạm pháp luật và muốn sử dụng chính nó để làm giảm nhẹ tội cho mình Một bộ phận nhân dân vì kém hiểu biết nên
vi phạm pháp luật, họ thường có tâm lý thờ ơ, lãnh đạm thậm chí coi thường pháp luật, vi phạm các quy định của pháp luật đặc biệt vi phạm các quy định Luật giao thông đường bộ, ví dụ như: Mặc dù biết rằng vượt đèn đỏ là vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính và nó cũng rất nguy hiểm cho tính mạng của bản thân và những người đang tham gia giao thông nhưng họ cứ vô tư vi phạm nhiều lúc còn cho rằng đó là hành vi thể hiện bản lĩnh hơn người Đó là những hành vi kém văn hóa ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa, văn minh đô thị hiện nay
1.2 VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT TRONG XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.2.1 Nội dung cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
1.2.1.1 Khái niệm nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ là một phạm trù chính trị - xã hội xuất hiện khá sớm trong nền văn minh nhân loại, gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển lịch sử qua các thời
Trang 25đại, các chế độ xã hội khác nhau, nó là một vấn đề rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Khoảng thế kỷ thứ VII - VI trước công nguyên (tr.CN) thuật ngữ "dân
chủ" đã ra đời
Theo Aristotle (khoảng năm 384-322 tr.CN) người đầu tiên đặt nền móng cho nguyên lý dân chủ là Solon (khoảng năm 638-559 tr.CN) Solon muốn xây dựng một nhà nước trên cơ sở một nền dân chủ - thông qua tuyển cử và hòa
nhập sức mạnh với pháp luật
Những nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại cho rằng, để có một xã hội tốt đẹp thì dân phải có quyền lực mạnh nhất, cao nhất, từ đó xuất hiện khái niệm "dân chủ" (Demokratia) Xét về mặt ngữ nghĩa (Demokratia) trong tiếng Hy Lạp cổ đại là từ ghép, được cấu từ hai từ gốc: Demos nghĩa là nhân dân và Kratos nghĩa là quyền
lực Như vậy dân chủ (Demokratia) có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân
Với định nghĩa trên chúng ta thấy đã tồn tại ba vế trong hiện thực, đó là: Nhân dân, quyền lực công cộng và mối quan hệ giữa hai yếu tố đó Ở mỗi thời đại lịch sử khác nhau thì cách hiểu về khái niệm nhân dân và tính chất trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng sẽ khác nhau
Điểm khác nhau căn bản giữa cách hiểu về dân chủ thời cổ đại với thời hiện đại là ở tính chất trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng và cách hiểu còn hạn hẹp về khái niệm nhân dân Ngày nay, dân chủ hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, như dân chủ với tư cách là hình thức nhà nước, dân chủ với tư cách là hình thức phi nhà nước, dân chủ là giá trị xã hội… Nhưng dân chủ với tư cách là nhà nước vẫn là cốt lõi
Nhà nước Aten ra đời, thuật ngữ "chế độ dân chủ" mới xuất hiện Khi xã hội có giai cấp và Nhà nước thì dân chủ mang hình thức chính trị, trở thành một chế độ chính trị - chế độ dân chủ "Chế độ dân chủ là chế
độ chính trị trong đó quyền lực của nhân dân được thừa nhận và được
Trang 26thực hiện thông qua các tổ chức dân cử, các quyền tự do và bình đẳng của
công dân được pháp luật ghi nhận" [69, tr 149]
Trong hình thức chính trị, các giá trị của dân chủ được thực hiện chủ yếu qua các thiết chế chính trị, mà cơ bản là thông qua nhà nước Tự do, bình đẳng, công bằng trở thành quyền của công dân trên cơ sở sự thừa nhận của Nhà nước Như vậy, nói đến hình thức chính trị của dân chủ phải gắn với Nhà nước và nó cũng là một trong những hình thức của Nhà nước
Trong luận văn này, tác giả đề cập tới dân chủ là một hiện thực toàn vẹn (hay nền dân chủ) Dân chủ được thể chế hoá thành chế độ dân chủ và chế độ dân chủ được thực hành trong đời sống xã hội thành nền nếp, thành lối sống, thành văn hóa thì đó là nền dân chủ Nghĩa là nói đến nền dân chủ là nói đến một cơ cấu xã hội với tư cách là một hệ thống, một chỉnh thể được vận hành theo quy trình, cơ chế và nguyên tắc khách quan nhất định Từ việc xây dựng những quyền dân chủ đến thiết chế dân chủ, rồi đến nền dân chủ: Từ dân chủ trong chính trị đến dân chủ trong kinh tế, trong đời sống văn hóa xã hội: từ ý thức, khái niệm dân chủ đến năng lực làm chủ là một quá trình lâu dài
Do đó, tác giả đồng ý với quan điểm: Nền dân chủ là lĩnh vực thâu tóm mọi
khía cạnh vật chất và tinh thần của dân chủ từ kinh tế, chính trị, xã hội cho đến văn hóa, tư tưởng Nhà nước chỉ là một bộ phận trong đó, mặc dù nó rất quan trọng
Dân chủ, xét từ bản chất ngữ nghĩa của nó, là quyền lực thuộc về nhân dân Song khi lý giải vấn đề này chúng ta phải thấy rằng: Nếu dân chủ có trong thời đại chiếm hữu nô lệ, trong xã hội tư bản chủ nghĩa và trong xã hội XHCN thì tất yếu phải có cái gì chung đặc trưng cho cái riêng đó, mà đã là cái chung thì nó không còn là của một thời đại nào, giai cấp nào Nó là một giá trị mang tính nhân loại Hơn nữa, với tính cách là một giá trị xã hội phản ánh khát vọng của con người, dân chủ là một giá trị mang tính nhân văn, là nấc thang mà nhân dân đã, đang và sẽ đi tới một xã hội thực sự văn minh tiến bộ Điều cốt yếu ở đây cần hiểu đúng thực
Trang 27chất cái chung trong cái riêng đó chính là giá trị đích thực của dân chủ Đã là một nền dân chủ thì nó phải chứng tỏ quyền lực thuộc về nhân dân Nói cách khác, dân chủ chỉ là một nhưng nó bị chế ước bởi những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau
Chế độ dân chủ nào Nhà nước cũng là của nhân dân, nhưng sự khác nhau giữa chế độ dân chủ này với chế độ dân chủ khác là ở chỗ nhân dân là ai và ai trong nhân dân có thực quyền Điều này nói lên nội dung bản chất giai cấp của dân chủ Không có dân chủ trừu tượng, bao giờ dân chủ cũng có nội dung cụ thể, xác định Trong xã hội ai là nhân dân mới có dân chủ, và trong nhân dân quyền lực thực sự, cuối cùng không phải trong thời đại nào cũng thuộc về tất cả nhân dân Quyền lực thực sự trước hết và chủ yếu bao giờ cũng thuộc về giai cấp thống trị, thuộc và những kẻ có thế lực
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, cộng đồng thị tộc được hình thành trên
cơ sở huyết thống, công hữu tài sản, chung ngôn ngữ và những tập quán Trong thị tộc này toàn thể các thành viên của thị tộc đều là những người tự do, có nhiệm
vụ bảo vệ tự do của nhau cả tù trưởng lẫn thủ lĩnh quân sự đều không đòi hỏi những quyền ưu tiên nào cả, họ kết thành một tập thể thân ái gắn bó với nhau bởi những quan hệ dòng máu Tự do bình đẳng, bác ái, tuy chưa bao giờ được nêu thành công thức nhưng vẫn là nguyên tắc cơ bản của thị tộc
Khi chế độ tư hữu xuất hiện gắn liền với nó là sự ra đời giai cấp và Nhà nước, thì dân chủ được thể hiện dưới hình thức chính trị Các nhà nước dân chủ Hy Lạp cổ đại có quan niệm về dân chủ rất thô sơ, theo họ khái niệm nhân dân (các công dân) là dùng chỉ một nhóm người hay thiểu số người trong xã hội (những chủ nhân và đồng thời là người có quyền năng áp đặt ý chí lên Nhà nước) Trong Nhà nước Athens, công dân là những người bản địa tự do, còn phụ nữ, kiều dân và nô lệ không phải là công dân Một nghịch lý lớn nhất của chế độ chiếm hữu nô lệ, nô lệ là lực lượng sản xuất tạo ra của cải cho xã hội - giai cấp nô lệ bị coi là những "công cụ
Trang 28biết nói" và không có một quyền lợi chính trị nào Như vậy, thực chất của dân chủ thời
kỳ này là nền dân chủ cho số ít nó không phải là nền dân chủ thực sự Bởi vì chỉ có giai cấp chủ nô mới được coi là nhân dân, quyền lực thuộc về giai cấp chủ nô - đây là chế độ dân chủ chủ nô
Trong thời đại phong kiến, nô lệ đã được trở thành "người tự do" nhưng quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước nằm trong tay chúa đất và nhà thờ Ph Ăngghen đã mô tả chế độ phong kiến Châu Âu như "đêm trường trung cổ" kéo dài
từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ XIV Những tư tưởng tự do, bình đẳng đã bị các giáo lý kinh thánh bóp nghẹt, pháp luật là pháp luật của nhà thờ, xét xử là do tòa án của giáo hội
Đây là thời kỳ ngừng trệ của tư tưởng dân chủ, thậm chí như phản dân chủ,
do vậy lịch sử loài người đã xem thời đại phong kiến có rất ít dân chủ, nó được gọi
là "chế độ chuyên chế phong kiến"
Trong thời đại tư sản, nền dân chủ đã đưa quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trở về mảnh đất hiện thực, tức là dựa trên cơ sở kinh tế và thế tục (khác với chế
độ phong kiến, quyền lực nhà nước được coi là mệnh trời và có quyền thế tập) Nền dân chủ tư sản đã ra đời trên cơ sở biến nhà nước chuyên chế tập quyền phong kiến thành nhà nước pháp quyền, biến xã hội thần dân thành xã hội công dân Về mặt lý thuyết, nền dân chủ ấy đã chỉ ra rằng quyền lực công cộng hiện đang tồn tại dưới hình thái nhà nước và pháp luật bắt nguồn từ mỗi cá thể cấu nên cộng đồng đó Lần đầu tiên trong lịch sử nền dân chủ tư sản đã xây dựng các thể chế, các quy tắc để thực thi quyền lực nhà nước bằng các cách thức phù hợp Nhưng trên thực tế nền dân chủ đó, các quan hệ kinh tế và chính trị, đã mở đường cho sự thống trị của những người có của (giai cấp hữu sản), sự thống trị của những người giàu có đối với những người không có của hoặc có của ít mà đây là bộ phận chủ yếu (đa số) của nhân dân Trong xã hội tư bản, nền dân chủ chỉ được thừa nhận về mặt chính trị
Trang 29mà không được thừa nhận về mặt kinh tế Như vậy giai đoạn này chưa phải là nền dân chủ trong chỉnh thể
Để khắc phục những giới hạn của dân chủ tư sản, để thay đổi nó, nhân loại
đã và đang tìm một con đường khác, một kiểu dân chủ khác thay thế cho nền dân chủ tư sản, đó là nền dân chủ XHCN
1.2.1.2 Đặc trưng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ XHCN ra đời, tồn tại và phát triển dựa trên nền tảng sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất và sự bình đẳng của mọi thành viên trong xã hội Trên cơ
sở có sự thống nhất cơ bản trên các lĩnh vực chính trị - xã hội, tư tưởng, đạo đức Trên cơ sở liên minh giữa các giai cấp, các tập đoàn, tầng lớp xã hội cơ bản dưới sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp công nhân; trên cơ sở xã hội không còn đối kháng giai cấp cơ bản Sự ra đời của nền dân chủ XHCN được bắt đầu từ thắng lợi của cách mạng XHCN tháng Mười Nga vĩ đại, tiếp đó ở một loạt nước do thắng lợi của cách mạng XHCN và giải phóng dân tộc Loài người đang bước vào thời kỳ thực hiện sự giải phóng con người một cách triệt để, đưa con người đến kỷ nguyên
tự do và bình đẳng
Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và việc phát triển nền dân chủ XHCN sâu rộng, thực hiện toàn bộ quyền lực về tay nhân dân, không hề mâu thuẫn và bài trừ nhau Ngược lại, chúng làm điều kiện cho sự tồn tại của nhau, không có sự lãnh đạo của Đảng sẽ không có nền dân chủ thực sự, dân chủ cho đa số nhân dân Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lợi thuộc về nhân dân" [14, tr 19]
Ở các nước XHCN đã có sự thay đổi sâu sắc trong quan hệ con người, quyền lực thuộc về tay nhân dân lao động, quan hệ bình đẳng, hợp tác, tương trợ thay cho quan hệ áp bức bóc lột giữa con người và giữa các dân tộc với nhau
Trang 30Người dân có quyền tham gia công việc Nhà nước, tham gia các quyết định trọng đại của đất nước, có quyền lao động, học hành, chữa bệnh, hưu trí, bình đẳng nam
nữ, dân tộc Thành tựu to lớn của chủ nghĩa xã hội và dân chủ XHCN là đã giành được và đảm bảo quyền sống, quyền độc lập tự do cho dân tộc Từ thân phận của những người dân mất nước, bị nô lệ, bị áp bức bóc lột, nhân dân lao động ở các nước đó đã trở thành người chủ của một nước tự do và độc lập
Nội dung đầy đủ của dân chủ XHCN được thể hiện ở những điểm sau:
- Dân chủ XHCN là quyền lực thuộc về nhân dân
- Bản chất của nền dân chủ XHCN mang bản chất của giai cấp công nhân
- Nền tảng kinh tế của nền dân chủ XHCN dựa trên công hữu là chủ yếu
- Chủ thể của dân chủ XHCN là toàn bộ quần chúng nhân dân, trước hết là quần chúng nhân dân lao động Quyền công dân được bảo đảm bằng kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ chức, pháp luật, trong đó đảm bảo bằng kinh tế là cái quan trọng nhất
- Quyền lợi và trách nhiệm gắn liền chặt chẽ với nhau, dân chủ đi đôi với công bằng, tự do, bình đẳng, kỷ luật, kỷ cương
- Yêu cầu cao nhất của dân chủ vô sản là xóa bỏ giai cấp
- Dân chủ XHCN được hình thành, nuôi dưỡng và phát triển bằng toàn bộ những giá trị văn hóa chân thực của nhân loại, nó tiếp thu, kế thừa và phát triển những truyền thống tốt đẹp của quá khứ
- Trong nền dân chủ XHCN, con người và nhu cầu đa dạng của họ bao giờ cũng là trung tâm trong sự chú ý của Đảng Cộng sản và Nhà nước XHCN
Dân chủ XHCN là hình thức chính trị của Nhà nước XHCN, nó bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa xã hội và chế độ XHCN Dân chủ XHCN là nền dân chủ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Đại hội VII khẳng định:
Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
Trang 31hội thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm [14, tr 19]
Bên cạnh những thành tựu lớn lao mà nền dân chủ XHCN đã đạt được, chúng ta cũng phải khẳng định rằng trong giai đoạn đầu của quá trình xây dựng nền dân chủ đó cũng gặp phải rất nhiều khó khăn và còn nhiều khuyết tật Biểu hiện của chế độ XHCN trong hiện thực là bệnh tập trung quan liêu, là tình trạng vi phạm dân chủ, quyền lực của nhân dân bị hạn chế Những hiện tượng độc đoán chuyên quyền, đặc quyền đặc lợi, sùng bái cá nhân diễn ra biểu hiện dưới những mức độ khác nhau Quyền con người bị vi phạm, công bằng xã hội không được đảm bảo Quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân bị sứt mẻ, tiềm năng sáng tạo của con người bị kìm hãm, kinh tế phát triển chậm, xã hội trì trệ Thực trạng trên đây là do nhiều nguyên nhân Song, chủ yếu là do điểm xuất phát để xây dựng nền dân chủ XHCN còn thấp; hầu hết các nước XHCN đều chưa qua chế độ dân chủ tư sản, một
số nước mới ở giai đoạn CNTB chưa phát triển, do vậy ý thức dân chủ chưa phát triển, và còn ảnh hưởng bởi ý thức hệ phong kiến nặng nề Một nguyên nhân nữa là
do điều kiện thấp kém về kinh tế - xã hội Yếu tố tập trung lấn át dân chủ, say mê quyền lực, thích mệnh lệnh Duy trì một thiết chế lạc hậu với hoàn cảnh mới khá lâu cho nên bộ máy ngày càng tập trung quan liêu
Từ những khuyết tật trên chúng ta nhận thức được rằng, nếu không đổi mới, không cải tổ thì CNXH sẽ không thể thoát ra khỏi khủng hoảng và dân chủ XHCN
sẽ phát triển không đúng mục tiêu CNXH đã đặt ra Thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị là xây dựng nền dân chủ XHCN Theo đó dân chủ là quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của hệ thống chính trị XHCN Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới hiện nay
Theo chúng tôi, dân chủ XHCN có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Trang 321- Dân chủ XHCN là Nhà nước của nhân dân lao động, là quyền lực thực sự của nhân dân lao động
Trong chế độ XHCN, hạn chế về quyền công dân và những mâu thuẫn có tính chất đối địch giữa công dân và nhà nước giữa các công dân với nhau như trong
xã hội tư bản bị xóa bỏ Thay vào đó là một nền dân chủ, trong đó quyền công dân
có sự thay đổi về chất, cao hơn là quyền làm chủ của mỗi người với Nhà nước của mình Nhà nước với công dân thống nhất với nhau Nhà nước là của nhân dân lao động, đó là Nhà nước của đa số, của tất cả các giai cấp, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân Thông qua nhà nước, bằng nhà nước mà thể hiện và thực hiện các quyền công dân và chính trị rộng rãi của mình Trong chế độ XHCN, tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về nhân dân lao động thì quyền lực thực sự cũng thuộc về nhân dân, cơ sở của quyền lực, xét đến cùng là do kinh tế quyết định V.I.Lênin đã chỉ ra rằng, bất cứ một nền dân chủ nào xét đến cùng, cũng đều phục vụ sản xuất và xét đến cùng, đều do quan hệ sản xuất trong xã hội nhất định quyết định Trong chế độ XHCN, quyền lực nhà nước là thống nhất vì toàn bộ quyền lực ấy thuộc về nhân dân Nhân dân giao các chức năng khác nhau của quyền lực ấy cho những cơ quan nhà nước khác nhau nắm giữ
2- Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ mà ở đó bản chất giai cấp và bản chất nhân loại thống nhất với nhau
Nền dân chủ XHCN đã khắc phục được những hạn chế về tự do, bình đẳng của chế độ tư hữu - chế độ người bóc lột người, con người đã có điều kiện để thể hiện
tự do, bình đẳng thực sự và dân chủ thực sự C Mác đã nhấn mạnh rằng: Cuộc cách mạng đấu tranh để giải phóng giai cấp công nhân là cuộc đấu tranh không phải là những đặc lợi và đặc quyền giai cấp, mà vì những quyền và nghĩa vụ bình đẳng và sự thủ tiêu mọi sự thống trị giai cấp Như vậy đấu tranh giai cấp là con đường đi tới tự
do, bình đẳng nó thuận chiều với chiều hướng tiến bộ Khi nền dân chủ XHCN phát triển đến giai đoạn cao nhất của nó và bắt đầu tiêu vong, thì bản chất xã hội, bản
Trang 33chất nhân loại thông qua bản chất giai cấp công nhân mà được thể hiện Bởi vì giai cấp công nhân do bản chất và địa vị lịch sử của mình đã trở thành giai cấp đại diện cho nhân loại Cũng cần lưu ý rằng, biểu hiện cuối cùng và hoàn thiện nhất của chế
độ dân chủ là chế độ dân chủ vô sản một giai đoạn phát triển cao trên đường tiến hóa của loài người, chỉ có chế độ dân chủ vô sản mới có thể tiêu vong được thôi còn các chế độ dân chủ khác trước đó không thể tự tiêu vong
3- Nền dân chủ XHCN không đối lập tuyệt đối với dân chủ tư sản mà có
sự kế thừa theo tinh thần phủ định biện chứng nền dân chủ tư sản hiện đại
Nền dân chủ XHCN không nảy sinh một cách tự phát trong lòng xã hội
tư bản Nhân dân lao động muốn làm chủ được vận mệnh của mình, thì trước hết phải lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, giành chính quyền về tay mình Đó là điều kiện tiên quyết để cho một nền dân chủ kiểu mới - dân chủ của số đông
ra đời Mặc dù nền dân chủ tư sản đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử loài người bởi những thành quả vĩ đại mà nó đạt được, mọi người đều là công dân, bình đẳng với nhau trước pháp luật Hiến pháp, pháp luật tư sản trịnh trọng tuyên bố những quyền thiêng liêng của con người - đó là quyền sống, quyền tự do và bình đẳng, nhưng bên cạnh đó nó cũng còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục
Do vậy nền dân chủ XHCN ra đời trên cơ sở kế thừa những giá trị tiến bộ của nền dân chủ tư sản và khắc phục những hạn chế của nó
Mác – Ăngghen- Lênin và các lãnh tụ khác của quốc tế cộng sản đều đánh giá cao ý nghĩa của sự ra đời của nền dân chủ tư sản và vai trò lớn lao của nền dân chủ đó Tuy nhiên, cũng ngay lúc đó các ông cũng đã vạch ra những mâu thuẫn, hạn chế của nền dân chủ tư sản và khẳng định một cách đanh thép, cần phải có một nền dân chủ mới ra đời thay thế cho nền dân chủ tư sản - đó là dân chủ XHCN
Những đặc trưng trên đây của nền dân chủ XHCN là sự khái quát nhất
về bản chất Nền dân chủ đó phải được tạo ra trong quá trình lâu dài, trải qua nhiều bước mới có được Nhiệm vụ của các nước xây dựng CNXH là phải tìm
Trang 34ra các hình thức dân chủ, tương ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển kinh
tế, xã hội dân trí và văn minh Đối với những nước đã qua chủ nghĩa tư bản
đã có nền dân chủ tư sản thì cần phải tiếp tục hoàn thiện, phát triển nền dân chủ theo mục tiêu chủ nghĩa xã hội, theo những đặc trưng cơ bản của nền dân chủ XHCN Còn đối với những nước chưa qua chủ nghĩa tư bản, chưa có nền dân chủ tư sản thì nhiệm vụ nặng nề hơn, đó là quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN vừa mang ý nghĩa dân chủ lại vừa mang ý nghĩa xây dựng nền dân chủ XHCN Quá trình ấy đương nhiên là lâu dài, khó khăn, phức tạp
Ở Việt Nam mầm mống tư tưởng dân chủ đã có từ lâu, như một nhu cầu tự nhiên mang bản tính người của con người trong đấu tranh tồn tại Song người Việt Nam chỉ biết đến và hưởng quyền dân chủ thực sự từ khi Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản lãnh đạo nhân dân làm Cách mạng tháng Tám năm 1945 lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Khẳng định điều đó Hiến pháp năm 1946 ghi: Cuộc Cách mạng tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa, đặc biệt Hiến pháp nhấn mạnh: Đảm bảo các quyền tự
do dân chủ, thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là sự kế thừa sáng tạo tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin, truyền thống dân chủ tốt đẹp của người Việt Nam và tinh hoa văn hóa của nhân loại Đó là nền dân chủ mang bản chất giai cấp công nhân, dân chủ nghĩa
là dân là chủ và dân làm chủ, giải phóng con người và xã hội trên cơ sở giải phóng
giai cấp và giải phóng dân tộc Dân chủ ở đây được thể hiện không chỉ ở phương diện chính trị mà còn thực hành rộng rãi trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng con người mới, lối sống mới Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý tới xây dựng thể chế dân chủ, xây dựng Nhà nước dân chủ pháp quyền và Người chủ trương thực hiện dân chủ trong Đảng để làm gương cho dân chủ trong tất cả các lĩnh vực khác Hiến pháp 1959 ghi nhận rõ sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các dân tộc (Điều 3); tất cả quyền lực thuộc về nhân dân (Điều 4); sự bình đẳng của công dân
Trang 35trước pháp luật (Điều 22) Hiến pháp 1980 khẳng định người chủ tập thể là nhân dân lao động (Điều 3); quyền lực thuộc về nhân dân (Điều 6); sự bình đẳng của các dân tộc (Điều 5); sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 55) Hiến pháp 1992 trên cơ sở đổi mới toàn diện của đất nước nền tảng dân chủ đó là "Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân", "tất cả quyền lực thuộc về nhân dân"
Thuật ngữ nền dân chủ XHCN được Đảng ta khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như là một mục tiêu hành động cách mạng, một hệ quả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh viết: "Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân" [11, tr 9]
Nền dân chủ XHCN sau 30 năm đổi mới vẫn mang tính chất quá độ, nó chưa đầy đủ, chưa chín muồi, đang từng bước hoàn thiện Mặc dù những năm đổi mới này đã mở ra một thời kỳ dân chủ mới thực sự ở Việt Nam, nhân dân lao động được và biết làm chủ cuộc sống của mình trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội mức sống của người dân được cải thiện có nhiều tiến bộ Như vậy nền dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay đang phát triển trên cơ sở hoàn thiện nền dân chủ nhân dân và bước đầu xây dựng nội dung thiết chế dân chủ XHCN Song, nhìn thẳng vào sự thật, ở nước ta hiện nay lúc này, lúc khác, chỗ này, chỗ khác vừa có dân chủ, vừa chưa có đầy đủ dân chủ, vừa tôn trọng dân chủ, vừa vi phạm dân chủ
Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: "Điều cần nhấn mạnh là tình trạng tham nhũng
và suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, gây bất bình và giảm lòng tin trong nhân dân" [16, tr 67]
Trang 36Những nguyên nhân trên cũng chính là những cản trở lớn cho quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta Trên cơ sở khắc phục những cản trở đó, tư duy mới của Đảng ta về dân chủ thể hiện ở chỗ: Dân chủ hiện nay gắn liền với đoàn kết toàn dân, với trí tuệ mới và với chính quá trình đổi mới Đây cũng là đặc điểm của nền dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay
1.2.2 Vai trò của ý thức pháp luật trong quá trình xây dựng nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa
1.2.2.1 Ý thức pháp luật trong xây dựng nền dân chủ
Trong lịch sử hình thành các nhà nước, một trong những việc Nhà nước dân chủ quan tâm là bảo vệ các quyền tự do Nhưng muốn bảo vệ tự do cho con người, muốn phát triển dân chủ thì điều được xem như một nghịch lý là Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào đời sống con người, không nên "Nhà nước hóa" toàn bộ các hoạt động trong xã hội, nhất là các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế Một nghịch lý nữa là, Nhà nước lại phải bằng pháp luật, một công cụ sắc bén, có uy quyền, có hiệu lực đảm bảo cho mỗi người, mọi người trong xã hội không được xâm phạm tự do của nhau, mọi người trong xã hội phải sống và hoạt động theo một thước đo hành vi chung đó là pháp luật, "pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử
sự do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo
ra trật tự và ổn định trong xã hội" [43, tr 160] Như vậy, pháp luật là công cụ bảo đảm tự do dân chủ thực sự cho tất cả mọi người trong xã hội Cho đến nay không ai bác bỏ sự cần thiết phải quản lý xã hội bằng pháp luật
Xét về bản chất thì chế độ dân chủ gắn liền với pháp luật, không thể có dân chủ mà không có pháp luật Một nước có dân chủ cũng là một nước có pháp luật,
có pháp chế, cũng như một nước thiếu pháp luật, thiếu pháp chế thì không thể có dân chủ đầy đủ Pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ
Trang 37luật, là sự tuân thủ và thực hiện đầy đủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan, đơn vị tổ chức và đối với công dân Như vậy pháp luật
có mối quan hệ khăng khít với dân chủ và có sự tác động lẫn nhau Pháp luật vừa là đối tượng nhận thức của ý thức pháp luật, vừa là sản phẩm hoạt động sáng tạo của
ý thức đó Pháp luật ra đời, tồn tại và phát triển thông qua ý thức pháp luật của con người, pháp luật chính là sự thể hiện những nhận thức về các hiện tượng pháp lý tồn tại trong đời sống xã hội, từ đó đưa ra những cách thức xử sự chung cho các chủ thể Điều đó chứng tỏ ý thức pháp luật thông qua hệ thống pháp luật thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình đối với dân chủ
Pháp luật là phương tiện của dân chủ Nhưng pháp luật không sinh ra từ dân chủ bởi dân chủ là kết quả đấu tranh lâu dài của nhân dân lao động, là kết quả của quá trình nhận thức, là tất yếu của tiến bộ xã hội Pháp luật sinh ra từ nhu cầu bảo
vệ lợi ích giai cấp thống trị và nhu cầu của Nhà nước để quản lý xã hội Bên cạnh
sự quyết định và chi phối của các nhân tố kinh tế và phi kinh tế, sự phát triển của pháp luật nhìn chung phụ thuộc vào trình độ nền dân chủ hiện thời hoặc ảnh hưởng
từ bên ngoài của các nền dân chủ khác Song, dân chủ lại phụ thuộc vào các điều kiện khách quan về kinh tế, chính trị, xã hội Pháp luật với ưu thế và hạn chế riêng của mình lại tác động trở lại đối với dân chủ Pháp luật có thể thúc đẩy dân chủ phát triển, hoặc ngược lại, kìm hãm sự phát triển của dân chủ dưới nhiều hình thức Chẳng hạn, một quy định pháp luật không rõ ràng, không minh bạch hay không đúng đắn sẽ là cơ hội cho người ta vi phạm, lợi dụng dân chủ Chúng ta đã nói nhiều đến vi phạm dân chủ, đến sự lợi dụng dân chủ thì cũng cần phải bổ sung thêm về lợi dụng pháp luật dưới nhiều hình thức: lợi dụng những sơ hở, những khoảng trống, hay sự chưa rõ trong pháp luật để vi phạm pháp luật và cũng có nghĩa là vi phạm dân chủ Pháp luật đảm bảo cho dân chủ vận động trong khuôn khổ, trật tự, hành lang hợp lý và nó là công cụ của mỗi cá nhân trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
Trang 38Sẽ không có dân chủ hoặc dân chủ bị vi phạm nếu như các quy định pháp luật về dân chủ không được thực thi hoặc thực thi sai lệch Việc áp dụng pháp luật, thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội mà trước hết là các cơ quan nhà nước là một phương thức đảm bảo dân chủ và cũng là thước đo trình độ, tiêu chí để nhận diện dân chủ Pháp luật muốn làm tốt được vai trò to lớn của mình là đại lượng và phương tiện của dân chủ thì pháp luật phải có chất lượng cao thực sự phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân lao động Giới hạn của dân chủ và tự do phải được xác định bằng quyền và lợi ích chính đáng của công dân, của xã hội Trong lĩnh vực kinh tế, tự do kinh doanh đã đem lại những hiệu quả to lớn cho đời sống xã hội và mỗi cá nhân Nhưng tự do kinh doanh lại cần đến những khuôn khổ của pháp luật để đảm bảo tự do, an toàn cho mỗi chủ thể kinh doanh và sự phát triển và hoàn thiện bền vững của đất nước Điều đó chứng tỏ pháp luật giữ vai trò quan trọng không thể thiếu được trong quá trình phát triển nền dân chủ nói chung
Tóm lại, dân chủ không thể tách rời pháp luật, bởi vì pháp luật là công cụ
hữu hiệu nhất điều chỉnh mọi quan hệ xã hội để cho nền dân chủ đó được tồn tại và phát triển Để có được pháp luật tốt thì ý thức pháp luật phải ở trình độ cao, sự phản ánh đời sống pháp luật phải chân thực, có như vậy hệ thống pháp luật mới xây dựng theo hướng tích cực phù hợp với nền dân chủ chân chính của dân, do dân và
vì dân Ngược lại, hiện thực khách quan cũng có lúc bị phản ánh sai lệch không chân thực, chính vì thế, trong thực tiễn đã có những quy định pháp lý không phù hợp Điều đó càng chứng tỏ vai trò to lớn của ý thức pháp luật trong việc đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân Và ngày nay chúng ta đang thực hiện nền dân chủ XHCN thì ý thức pháp luật lại có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết
1.2.2.2 Ý thức pháp luật trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Ý thức pháp luật là nhân tố không thể thiếu trong đời sống pháp luật của xã hội ở tất cả các giai đoạn phát triển của nó, nhất là từ khi xuất hiện nhà nước pháp quyền Ý thức pháp luật có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn
Trang 39thiện hệ thống pháp luật; đồng thời quyết định hiệu quả của việc thực hiện pháp luật, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống Nó là một trong những nhân tố có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân ở Việt Nam
Ý thức pháp luật được tạo nên bởi tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật Nếu tư tưởng pháp luật là kết quả của sự phản ánh tự giác, có mục đích, có tính tổ chức cao của hoạt động tư duy, thì tâm lý pháp luật là sự phản ánh những tâm trạng, cảm xúc, thái độ, tình cảm của con người với quá trình điều chỉnh của pháp luật Tâm lý pháp luật bị chi phối bởi tư tưởng pháp luật, nó phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm và trình độ nhận thức pháp luật của cá nhân Và ngược lại, tâm lý pháp luật là tiền đề thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các tư tưởng, quan điểm pháp luật phù hợp
Vai trò của hệ tư tưởng pháp luật
Trong các xã hội có giai cấp đối kháng không thể có ý thức pháp luật thống nhất, ý thức pháp luật của các giai cấp đối kháng luôn luôn đối kháng với nhau, trong đó chỉ có ý thức pháp luật thống trị được thể hiện trong pháp luật, ý thức pháp luật thống trị trong xã hội là ý thức pháp luật của giai cấp nắm chính quyền Trong xã hội XHCN, ý thức pháp luật thống trị là ý thức pháp luật của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Với thắng lợi của cách mạng vô sản, pháp luật bóc lột bị xóa bỏ, hệ thống pháp luật XHCN được hình thành, phát triển và tạo điều kiện cho ý thức pháp luật XHCN phát triển Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa
xã hội, ý thức pháp luật của các giai cấp sẽ ngày càng thống nhất với nhau và sẽ trở thành một hệ thống tư tưởng và quan điểm pháp luật chung thống nhất Ý thức pháp luật XHCN cũng như toàn bộ hệ tư tưởng của giai cấp vô sản nói chung là tiền đề tư tưởng trực tiếp để giai cấp công nhân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, thiết lập một trật tự xã hội mới bằng cách xây dựng một hệ thống pháp luật phù hợp với những điều kiện của chủ nghĩa xã hội, củng cố nền pháp chế
Trang 40XHCN, phát huy hiệu lực của Nhà nước và pháp luật trong việc quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ý thức pháp luật XHCN nếu không phù hợp với bản chất
và những điều kiện cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của chủ nghĩa xã hội thì cũng không thể xây dựng được hệ thống pháp luật đồng bộ và phù hợp
Trong chủ nghĩa xã hội, hệ tư tưởng pháp luật được thể hiện ở các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà Đảng ta rất chú trọng tới việc phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, Đại hội Đảng lần thứ IX chỉ rõ: "Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật" [16, tr 135] Ở Việt Nam hiện nay Đảng cộng sản là hạt nhân của hệ thống chính trị, là người đảm bảo bản chất dân chủ của
xã hội Đảng thực hiện vai trò định hướng trong đời sống đất nước Đảng ta thường xuyên mở rộng quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, biến những lý tưởng nhân đạo, và nguyên tắc dân chủ thành một nét chủ đạo trong lối sống của xã hội ta Chính vì vậy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ảnh hưởng quyết định của nói đối với sự phát triển dân chủ là một vấn đề có tính nguyên tắc của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại hội Đảng lần thứ IX còn chỉ rõ:
Thực hiện tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng Khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình
thức Xây dựng Luật trưng cầu ý dân [16, tr 134]
Như vậy các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng luôn giữ vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN, định hướng cho nền dân chủ XHCN phát triển Mặt khác, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
xã hội chủ yếu thông qua nhà nước và nhà nước là chỗ dựa quan trọng nhất để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ xã hội Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, cho nên, nói đến nhà nước là nói đến pháp luật và ý thức pháp luật (trong đó