1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Nghiên cứu biến động của giá dầu và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam

94 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này được tiến hành với mẫu các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2012-2015, nhằm đánh giá ảnh hưởng của biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh bên cạnh đó bài nghiên cứu tiến hành xem xét ảnh hưởng của độ trễ biến động giá dầu ảnh hưởng như thế nào đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp khi xem xét các yếu tố như độ trễ biến động giá dầu, ngành hoạt động của các doanh nghiệp hoặc thậm chí là quy mô của các doanh nghiệp.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

_

ĐINH DUY TRUNG

NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU VÀ TỶ SUẤT SINH LỢI CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh –2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

_

ĐINH DUY TRUNG

NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG GIÁ DẦU VÀ TỶ SUẤT

SINH LỢI CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng

Mã số: 60340201

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG

TP Hồ Chí Minh –2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng bài nghiên cứu này là do chính tôi thực hiện bằng sự hiểu biết, vận dụng kiến thức đã học và sự hỗ trợ tận tình từ giảng viên hướng dẫn Các số liệu

sử dụng trong bài nghiên cứu được thu thập từ thực tế, đáng tin cậy và có nguồn gốc

rõ ràng Kết quả chạy mô hình nghiên cứu là khách quan và trung thực

TP.Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2016

Đinh Duy Trung

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TÓM TẮT

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu 6

1.3 Kết cấu bài nghiên cứu 6

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY 8

2.1 Mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán 8

2.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới 10

2.2.1 Ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán 10

2.2.2 Ảnh hưởng của giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu khi xem xét đến các yếu tố ngành, độ trễ giá dầu và quy mô của doanh nghiệp 19

2.3 Nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng giá dầu đến thị trường chứng khoán Việt Nam 27

2.4 Tóm tắt chương II 28

CHƯƠNG III: DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 30

3.1 Dữ liệu nghiên cứu 30

Trang 5

3.2 Mô hình nghiên cứu 30

3.3 Quy trình hồi quy 33

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

4.1 Kết quả hồi quy giải thích cho ảnh hưởng của biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu khi phân loại ngành 35

4.2 Kết quả hồi quy giải thích cho ảnh hưởng của độ trễ biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu 43

4.3 Kết quả hồi quy giải thích cho ảnh hưởng của biến động giá dầu và độ trễ biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp được phân loại theo quy mô 52

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN 58

5.1 Kết luận 58

5.2 Hạn chế của đề tài 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Hình 1.1 Giá dầu thế giới giai đoạn 04.01.2010 cho đến 10.06.2015 (Nguồn website

tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC): http://www.opec.org 3 Hình 1.2 Chỉ số giá cổ phiếu của một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dầu khí (Nguồn sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) https://www.hsx.vn 3 Bảng 4.1 Kết quả hồi quy model (1), (2) và (3) dựa trên mô hình GARCH (1,1) mô tả ảnh hưởng của biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu các doanh nghiệp phân loại theo ngành 43 Hình 4.2 Phần trăm độ trễ của biến động giá dầu ảnh hưởng tới tỷ suất sinh lợi cổ phiếu bao gồm cả ảnh tích cực và tiêu cực 51 Bảng 4.2 Kết quả hồi quy model (3) dựa trên mô hình GARCH (1,1) mô tả ảnh hưởng của độ trễ biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp được phân loại theo ngành 51 Bảng 4.3 Kết quả hồi quy model (1), (2) và (3) dựa trên mô hình GARCH (1,1) mô tả ảnh hưởng của biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu các doanh nghiệp phân loại theo quy mô 53 Bảng 4.4 Kết quả hồi quy model (3) dựa trên mô hình GARCH (1,1) mô tả ảnh hưởng của độ trễ của biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu các doanh nghiệp phân loại theo quy mô 56

Trang 7

TÓM TẮT

Nghiên cứu này được tiến hành với mẫu các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2012-2015, nhằm đánh giá ảnh hưởng của biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh bên cạnh đó bài nghiên cứu tiến hành xem xét ảnh hưởng của độ trễ biến động giá dầu ảnh hưởng như thế nào đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp khi xem xét các yếu tố như độ trễ biến động giá dầu, ngành hoạt động của các doanh nghiệp hoặc thậm chí là quy mô của các doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có quá ít bằng chứng để chứng minh rằng biến động của giá dầu có ảnh hưởng ngay lập tức để giải thích được tỷ suất sinh lợi cổ phiếu cũng như khi xem xét đến các yếu tố ngành hoặc thậm chí là quy mô của các doanh nghiệp, tuy nhiên khi xem xét ảnh hưởng của độ trễ của biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán của các doanh nghiệp lại cho thấy rằng độ trễ của biến động giá dầu có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp ứng với mỗi quy mô khác nhau cùng với đó kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khi xét đến ảnh hưởng của

độ trễ biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp thuộc các ngành khác nhau dường như ảnh hưởng này có ý nghĩa thống kê đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành sau: sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất sản phẩm

từ khoáng phi kim loại khác, sản xuất kim loại; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; vận tải, kho bãi; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm

Trang 8

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu rất quan trọng trong nền kinh tế thế giới hiện nay, đặc biệt là trong các ngành sử dụng dầu như một nguyên vật liệu không thể thay thế được như vận tải, năng lượng, khai thác Bên cạnh đó, dầu còn là một nhân tố

có tác động khá quan trọng đến nền kinh tế thế giới, điều này được minh chứng khá cụ thể sau khi thế giới trải qua hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1973-1974 và 2005-2006 khiến cho nền kinh tế trên toàn cầu đi vào suy thoái Chính vì điều này đã khiến cho chủ đề ảnh hưởng của giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô hay là ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán nhận được rất nhiều sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới Cụ thể như những nghiên cứu của Jones và Kaul (1996), Huang (1996), Sadorsky (2001) về ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán các nước phát triển như Anh, Mỹ, Canada và Nhật Bản, hay là Ciner (2001) về mối quan

hệ của giá dầu đến biến động giá chứng khoán tại thị trường chứng khoán Mỹ và Anh Bên cạnh những nghiên cứu về ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán hay các yếu tố kinh tế vĩ mô của các nước phát triển cũng có một số các nghiên cứu về ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán các nước đang phát triển như Basher và Sadorsky (2006), Maghyereh (2004) hay Masih, Peters, De Mello (2011) Trong khi đó

đó thị trường chứng khoán Việt Nam và thị trường dầu mỏ Việt Nam cũng được đánh giá là khá tiềm năng, cụ thể thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển khá nhanh với mức độ tăng trưởng đáng kinh ngạc về số lượng công ty niêm yết từ 2 công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán năm 2000 cho đến hiện nay con số này đã là

678 công ty tính chung cho cả hai sàn giao dịch chứng khoán là sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội, cùng với đó là tổng mức

Trang 9

vốn hóa thị trường tăng từ 0.28% GDP năm 2000 lên mức 33% GDP như hiện nay1 Theo đánh giá từ bộ năng lượng Hoa Kỳ cho rằng Việt Nam không chỉ là một nước xuất khẩu dầu thô với mức sản lượng 316.000 thùng/ngày và đứng thứ 32 trong tổng số các nước xuất khẩu dầu trên thế giới vào năm 2014 mà còn là một nước nhập khẩu các sản phẩm được sản xuất từ dầu với mức tiêu thụ dầu tăng nhanh qua từng năm cụ thể mức tiêu thụ dầu mỏ tăng 70% từ 284.000 thùng/ngày vào năm 2004 đến 413.000 thùng/ngày năm 2013 do đó chính phủ Việt Nam2 phải nhập khẩu các sản phẩm tinh chế từ dầu để đáp ứng nhu cầu Bên cạnh đó, báo cáo của tổng cục thống kê Việt Nam cũng cho thấy điều này khi giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu từ những năm 2007 đến đầu năm 2015 dầu luôn là một mặt hàng nằm trong nhóm chủ yếu xuất khẩu và chủ yếu nhập khẩu do đó những biến động của giá dầu thế giới ít nhiều sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế Việt Nam đặc biệt là đến các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực có sử dụng dầu như một nguyên vật liệu đầu vào chủ yếu hoặc là các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực có sản phẩm đầu ra là dầu và cả đến hoạt động đời sống hằng ngày của người dân

Trong giai đoạn từ năm 2000 cho hiện nay giá dầu luôn có những biến động rất lớn, cụ thể vào thời điểm giá dầu đạt mức cao nhất vào năm 2012 với giá 124.64USD/thùng và thấp nhất vào 41.5USD/thùng vào đầu năm 2015 và tất nhiên điều này ảnh hưởng khá nhiều đến thị trường dầu mỏ Việt Nam Theo số liệu thống kê

từ tổng cục thống kê Việt Nam cho thấy rằng trị giá xuất khẩu dầu tại Việt Nam năm 2013-2014 có khuynh hướng giảm so với giai đoạn năm 2009-2012 và đặc biệt là giảm mạnh trong quý I năm 2015, cụ thể trị giá mặt hàng xăng dầu xuất khẩu quý I.2015: 1.292.781.000 USD so với trị giá mặt hàng xăng dầu xuất khẩu quý I.2014: 1.957.690.323USD, mức giảm giá trị từ mặt hàng xăng dầu do ảnh hưởng của giá dầu thế giới là -34%

1

Thông tin được thu thập từ cổng thông tin bộ tài chính Việt Nam báo cáo giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu qua

các năm website: http://www.mof.gov.vn

2

Thông tin thu thập từ bộ năng lượng Hoa Kỳ : https://www.eia.gov

Trang 10

Hình 1.1 Giá dầu thế giới giai đoạn 04.01.2010 cho đến 10.06.2015 (Nguồn website tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC): http://www.opec.org )

Hình 1.2 Chỉ số giá cổ phiếu của một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dầu khí (Nguồn sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) https://www.hsx.vn )

I II III IV I II III IV I II III IV I II III IV I II III IV I II

Vn-index

Trang 11

Theo dữ liệu được thu thập từ sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE),

về giá chỉ số VN-INDEX đại diện cho thị trường chứng khoán Việt và giá dầu thô thu thập từ tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) hình 1.1 và 1.2 cho thấy rằng dường như thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chịu nhiều ảnh hưởng bởi giá dầu thế giới và có xu hướng di chuyển cùng chiều với giá dầu thế giới Tuy rằng Việt Nam có quỹ bình ổn giá dầu tuy nhiên phải đối mặt với sự biến động cực kỳ cao của giá dầu thế giới luôn khiến cho chính phủ Việt Nam luôn phải có những điều chỉnh về giá dầu nội địa một cách thích hợp nhằm hạn chế bớt sự ảnh hưởng mạnh mẽ của giá dầu thế giới đến nền kinh tế Việt Nam, việc điều chỉnh này được thực hiện theo nghị định số 83/2014/NĐ-CP và thông tư liên tịch số 39/2014/TTLT-BCT-BTC tuy nhiên những ảnh hưởng của sự biến động giá dầu thế giới dù có bị giảm bớt ảnh hưởng bởi quỹ bình

ổn giá dầu tuy nhiên cũng tạo được những ảnh hưởng không chỉ nền kinh tế Việt Nam nói chung mà còn có ảnh hưởng nhất định đến thị trường chứng khoán Việt Nam

Do đó tại Việt Nam, chủ đề ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán cũng nhận được một số quan tâm nhất định từ giới học giả cụ thể như nghiên cứu của

PK Narayan, S Narayan (2010), CC Nguyen, MI Bhatti (2012) các kết quả của nghiên cứu này đều chỉ ra rằng giá dầu có ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Việt Nam và ảnh hưởng này theo chiều hướng tích cực có nghĩa là khi giá dầu tăng khiến cho thị trường chứng khoán Việt Nam có xu hướng tăng và ngược lại Tuy nhiên các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào phân tích ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán Việt Nam tức các nghiên cứu trước đây lấy một chỉ số để đại diện cho toàn thể thị trường chứng khoán Việt Nam khi chịu sự ảnh hưởng của thay đổi giá dầu chứ ít có nghiên cứu nào tiến hành kiểm tra ảnh hưởng của sự thay đổi giá dầu tác động như thế nào đến tỷ suất sinh lợi của các ngành, nhóm ngành khác nhau của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hoặc là chưa có một nghiên cứu nào xem xét đến yếu tố quy mô của các doanh nghiệp niêm niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam cùng với đó là trong khoảng thời gian trước đây có trên thị

Trang 12

trường chứng khoán Việt Nam có quá ít các doanh nghiệp niêm yết Chính vì lý do này tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu biến động của giá dầu và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam” và tập trong phân tích trong giai đoạn 2012-

2015 khi mà sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam có khá nhiều các doanh nghiệp niêm yết và điều này giúp cho kết quả của tác giả mang tính khách quan hơn Tác giả nhắm tới mục tiêu là tập trung phân tích ở góc độ vi mô hơn cụ thể là tác động của giá dầu,

đỗ trễ của giá dầu và yếu tố quy mô doan nghiệp đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp

Bên cạnh đó kết quả bài nghiên cứu này sẽ giúp các nhà đầu tư có một cái nhìn mới về ảnh hưởng của biến động giá dầu đến thị trường chứng khoán Việt Nam dưới góc độ vi mô hơn và xem xét sự thay đổi của giá dầu thế giới liệu có ảnh hưởng đến các danh mục cổ phiếu của họ đang nắm giữ hay không và nếu có ảnh hưởng thì ảnh hưởng này sẽ mang chiều hướng tích cực hay tiêu cực Những điều này sẽ giúp các nhà đầu tư xây dựng được một chiến lược phòng ngừa rủi ro tốt từ những ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán nói chung và danh mục đầu tư của nhà đầu tư nói riêng

Bài nghiên cứu này tập trung phân tích tác động của biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi của các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực, ngành khác nhau nhằm trả lời cho câu hỏi:

 Liệu sự biến động của giá dầu có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của doanh nghiệp khi xem xét đến yếu tố ngành, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp hay không?

 Ảnh hưởng của độ trễ giá biến động dầu có tác động đến tỷ suất sinh lợi

cổ phiếu của các doanh nghiệp hay không?

Trang 13

 Ảnh hưởng của biến động giá dầu và độ trễ biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp có khác nhau khi xem xét đến yếu

tố quy mô hay không?

1.2 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu

Để trả lời cho các câu hỏi trên tác giả tiến hành thu thập dữ liệu và phân tích trong giai đoạn năm 2012 cho đến năm 2015 Bài nghiên cứu sử dụng chỉ số giá chứng khoán của các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành khác nhau và dựa theo cách phân ngành đã được công bố bởi sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh “danh sách phân ngành các các công ty niêm yết trên HOSE 2014” thông qua website: https://www.hsx.vn Dữ liệu giá dầu là giá dầu thô trên thị trường giao ngay được thu thập từ tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC): http://www.opec.org được thể hiện dưới đơn vị tính USD/thùng Dữ liệu về tỷ giá hối đoái đồng Dollar Mỹ được thu thập từ ngân hàng thương mại ngoại thương Việt Nam thông qua website http://www.vietcombank.com.vn Lãi suất trái phiếu chính phủ ngắn hạn thời hạn 3 tháng được thu thập thông qua cơ sở dữ liệu Thomson Reuters http://thomsonreuters.com

Bài nghiên cứu ước lượng dựa trên mô hình GARCH (1,1) nhằm tìm ra ảnh hưởng của giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh với sự hỗ trợ của phần mềm Eview8

1.3 Kết cấu bài nghiên cứu

Bài nghiên cứu được chia làm 5 phần như sau:

Chương I: Giới thiệu

Trong chương này tác giả giới thiệu tổng quan về chủ đề giá dầu, xác định vấn

đề cần nghiên cứu và đưa ra câu hỏi nghiên cứu

Chương II: Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây

Trang 14

Dựa trên câu hỏi nghiên cứu được đưa ra trong chương I, tác giả tìm hiểu và trình bày về các nghiên cứu trước đây để chứng minh cho ảnh hưởng của biến động giá dầu đến thị trường chứng khoán nói chung và ảnh hưởng của biến động giá dầu đến tỷ suất sinh lợi giá chứng khoán của doanh nghiệp thuộc các ngành khác nhau

Chương III: Dữ liệu, phương pháp và mô hình nghiên cứu

Tác giả sẽ trình bày về cách thu thập dữ liệu nghiên cứu cũng như xây dựng mô hình nghiên cứu và lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp để trả lời câu hỏi nghiên cứu đã được đặt ra trong chương I

Chương IV: Kết quả nghiên cứu

Trong chương này tác giả sẽ trình bày về kết quả của mô hình đã đựa lựa chọn trong chương III và cùng với đó là phân tích về kết quả thu được khi tiến hành chạy mô hình

Chương V: Kết luận

Tác giả đưa ra kết luận của bài nghiên cứu và hạn chế của bài nghiên cứu

Trang 15

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU THỰC

NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY

2.1 Mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán

Theo quan điểm của học thuyết Keynes đã chỉ ra rằng có ba loại chính của lạm phát bao gồm lạm phát cầu kéo, lạm phát chi phí đẩy và lạm phát vốn có Trong đó nguyên nhân gây nên lạm phát chi phí đẩy là do sự sụt giảm của tổng cung, diều này có thể là do yếu tố tự nhiên hoặc do sự tăng giá của nguyên liệu đầu vào Ví dụ, sự sụt giảm đột ngột trong việc cung cấp dầu khiến cho giá dầu tăng lên, có thể gây ra lạm phát chi phí đẩy Đặc biệt, dầu thô là một trong những mặt hàng có thể gây ra lạm phát chi phí đẩy được vì dầu được sử dụng trong rất nhiều trong các hoạt động kinh tế như dầu là nhiên liệu chính cho giao thông vận tải và nền công nghiệp năng lượng Vì vậy, dầu ắt hẳn là một đầu vào quan trọng trong nền kinh tế và nếu giá dầu vì bất cứ một lý

do nào đó tăng lên sẽ khiến chi phí đầu vào tăng do đó sẽ dẫn đến sự gia tăng của chi phí của sản phẩm cuối cùng do đó có thể kéo theo sự gia tăng của lạm phát do chi phí đẩy Bởi vì lạm phát tăng cao sẽ khiến cho việc chi phí phải trả cho việc sử dụng vốn

sẽ tăng lên phù hợp với tốc độ tăng của lạm phát Cụ thể điều này khiến cho lãi suất huy động của các ngân hàng sẽ tăng và ảnh hưởng không chỉ đến hành vi của người tiêu dùng, nhà đầu tư mà còn là chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp Những điều này sẽ khiến các doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí đầu tư hoặc là tạo ra ít lợi nhuận vì sự gia tăng trong chi phí lãi vay hoặc do sự sụt giảm doanh thu vì hành vi của người tiêu dùng và cả hai điều này khiến cho dòng tiền kỳ vọng trong tương lai sẽ giảm Kết quả tất yếu sẽ là giá cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ sụt giảm Và nếu số lượng doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán chịu sự tác động nêu trên đủ lớn sẽ chỉ số chứng khoán đại diện cho toàn thị trường sẽ giảm Dựa trên quan điểm học thuyết của Keynes, giá dầu là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát cùng với đó đã có những nghiên cứu trước đây như Robert S.Pindyck (1983), Martin Feldstein (1978) đã

Trang 16

chứng minh rằng lạm phát ảnh hưởng thị trường chứng khoán Vì vậy, chúng ta có thể thấy rằng giá dầu và thị trường chứng khoán dường như có tồn tại một mối quan hệ với nhau

Ngoài ra sự ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán còn được truyền dẫn thông qua ảnh hưởng của giá dầu đến các yếu tố kinh tế vĩ mô những lập luận này

đã được các nghiên cứu trước đây đã chứng minh như HC Bjørnland (2009); Syed Abul Bashera, Alfred A Haugb, Perry Sadorsky (2012); R Masih, S Peters, L De Mello (2011) Trong trường hợp là một nước xuất khẩu dầu, giá dầu cao có thể ảnh hưởng nền kinh tế trong thông qua sự gia tăng về thu nhập Cụ thể trong trường hợp các nước xuất khẩu, giá dầu cao hơn hiển nhiên là sẽ khiến cho thu thập của nước xuất khẩu tăng và hiệu quả của việc tăng giá dầu trong trung và dài hạn sẽ phụ thuộc vào những gì mà các các nước sản xuất dầu làm với thu nhập tăng lên do ảnh hưởng của việc tăng giá dầu Do đó, cùng với sự gia tăng giá dầu tiềm năng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dầu mỏ, năng lượng cũng có thể tạo ra nhiều lợi nhuận hơn và

có thể cung cấp các cơ hội đầu tư và kinh doanh rất lớn trong nền kinh tế với sự gia tăng nhu cầu về lao động và vốn và khi đó giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này đều

có xu hướng gia tăng do sự gia tăng trong lợi nhuận và mở rộng về hoạt động đầu tư và phát triển Bên cạnh đó nếu thu nhập tăng thêm được sử dụng để mua hàng hoá và dịch

vụ trong nước của nước xuất khẩu, giá dầu tăng cao tạo ra một mức độ cao hơn của hoạt động trong nền kinh tế trong nước vì vừa thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và hoạt động tiêu dùng và khi đó doanh thu của các doanh nghiệp trong nước sẽ tăng do tiêu dùng tăng và kéo theo đó là lợi nhuận tăng Ngược lại đối với các nước nhập khẩu dầu ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán là tiêu cực, cụ thể theo lập luận của các tác giả Arouri Nguyen 2010; Backus và Crucini 2000; Kim và Loungani 1992 cho rằng giá dầu tăng sẽ dẫn đến chi phí sản xuất ra các sản phẩm cao hơn bởi vì dầu như là một trong những yếu tố sản xuất rất quan trọng do đó khi đối mặt với giá dầu tăng các doanh nghiệp đối mặt với sự gia tăng trong chi phí và doanh nghiệp đối mặt với việc

Trang 17

tăng giá bán sản phẩm hoặc đối mặt với sự sụt giảm trong lợi nhuận Nếu doanh nghiệp chuyển giao chi phí do ảnh hưởng của giá dầu cho người tiêu dùng đồng nghĩa với việc tăng giá bán sản phẩm sẽ khiến nhu cầu thấp hơn và do đó người tiêu dùng ít chi tiêu đi

do việc tăng chi phí khi sử dụng sản phẩm Bên cạnh đó việc tiêu thụ hàng hóa ít đi có thể dẫn đến sản xuất thấp hơn và do đó có thể gia tăng tỷ lệ thất nghiệp và ảnh hưởng tới dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp điều này dẫn đến tác động tiêu cực đến giá chứng khoán của doanh nghiệp và nếu ảnh hưởng này tác động đến nhiều doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán sẽ ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán

2.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới

2.2.1 Ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán

Bjornland (2009) tiến hành nghiên cứu tác động của giá dầu lên thị trường chứng khoán ở một nước xuất khẩu dầu mỏ đó là Na Uy, sử dụng mô hình VAR cấu trúc (Structural Var) và các biến như lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất, tỷ giá, giá dầu

là biến độc lập và giá chứng khoán là biến phụ thuộc để đo lường ảnh hưởng các yếu tố lên thị trường chứng khoán Kết quả của tác giả chỉ ra rằng giá dầu có ảnh hưởng lớn hơn so với các yếu tố như tỷ giá, lãi suất, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát đến thị trường chứng khoán cụ thể khi giá dầu tăng 10% sẽ khiến giá chứng khoán tăng ngay lập tức 2%-3% và đạt mức tối đa 4%-5% sau 14-15 tháng sau đó

Mohamed El Hedi Arouri và Christophe Rault (2010) tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán tại các nước vùng vịnh xuất khẩu dầu

mỏ (GCC) Lý do được tác giả nêu ra là hầu hết các thành viên GCC là các nước xuất khẩu dầu lớn và các thành viên của tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) và quan trọng hơn nền kinh tế của các nước này phụ thuộc khá nhiều vào giá dầu Như vậy, khi có bất cứ một sự thay đổi nào trong giá dầu đều ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán tại các nước GCC và cũng có khả năng có mối tác động ngược lại từ giá chứng khoán lên giá dầu Chính vì mối nghi ngờ này tác giả kiểm định luôn mối quan

Trang 18

hệ nhân quả giữa giá dầu và giá chứng khoán, dữ liệu được tác giả thu thập theo tuần được thu thập từ ngày 07 tháng 06 năm 2005 đến ngày 25 tháng 10 năm 2010, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có bằng chứng thống kê mạnh rằng có tác động qua lại giữa giá chứng khoán và giá dầu cho thị trường Saudi Arabia Ở các nước khác thuộc khối GCC khi giá dầu thay đổi đều làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán nhưng khi giá chứng khoán thay đổi không có tác động tới giá dầu

Mohamed El Hedi Arouri, Amine Lahiani, Duc Khuong Nguyen (2011) tiến hành nghiên cứu sự truyền dẫn của giá dầu thế giới đến thị trường chứng khoán các nước GCC Dữ liệu được tác giả thu thập từ ngày 07 tháng 6 năm 2005 đến ngày 21 tháng 2 năm 2010 bao gồm giá dầu và chỉ số giá chứng khoán tại 6 nước bao gồm Vương quốc Bahrain, Nhà nước Kuwait, Vương quốc Oman, Vương quốc Qatar, Vương quốc Ả rập Saudi và các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất trong khi đó mô hình được tác giả sử dụng là VAR(1)-GARCH(1,1) Kết quả của tác giả chỉ ra rằng khi

có sự biến động trong giá dầu ảnh hưởng khá mạnh mẽ tới thị trường chứng khoán trên tất cả 6 nước Vương quốc Bahrain, Nhà nước Kuwait, Vương quốc Oman, Vương quốc Qatar, Vương quốc Ả rập Saudi và các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất

Sunil K.Mohanty, Mohan Nandha, Abdullah Q.Turkistani, Muhammed Y.Alaitani (2011) tiến hành nghiên cứu về sự thay đổi của giá dầu và biến động giá chứng khoán trên thị trường các nước GCC Dữ liệu nghiên cứu được tác gia thu thập theo tuần bắt đầu từ tháng 06 năm 2005 đến tháng 12 năm 2009 Kết quả của tác giả đưa ra phù hợp với các kết quả được đưa ra bởi Huang (1996); Jones và Kaul (1996); Driesprong (2008); Kilian và Park (2009), tác giả tiến hành kiểm tra thực nghiệm mối quan hệ giữa hai biến sự thay đổi trong giá dầu và sự thay đổi trong giá chứng khoán Tác giả lập luận rằng những thay đổi trong giá dầu có thể sẽ có tác động đáng kể đến nền kinh tế thực của các nước GCC và thị trường chứng khoán thông qua các kênh khác nhau do những thay đổi trong chi phí sản xuất biên, cũng như những thay đổi trong chi tiêu của người tiêu dùng

Trang 19

Bert Scholtens, Cenk Yurtsever (2011) tiến hành phân tích những phản ứng của các ngành công nghiệp châu Âu với những cú sốc giá dầu Tác giả điều tra 38 ngành công nghiệp ở châu Âu trong giai đoạn từ năm 1983 cho đến 2007 Tác giả sử dụng nhiều mô hình khác nhau để ước lượng và đánh giá phản ứng của ngành công nghiệp trước cú sốc giá dầu Cú sốc giá dầu có thể ảnh hưởng đến giá trị công ty thông qua ảnh hưởng của cú sốc giá dầu trên cả thu nhập dự kiến và tỷ lệ chiết khấu Tuy nhiên tác giả đã không thể cung cấp một câu trả lời cho câu hỏi làm thế nào các ngành công nghiệp phản hồi lại những cú sốc dầu Tác giả cho rằng sự phản ứng này phụ thuộc vào các đặc điểm ngành công nghiệp Tác giả khẳng định hầu hết các kết luận của nghiên cứu trước đây, cụ thể là dầu những cú sốc giá dầu nói chung là tiêu cực, nhưng dường như cú sốc về sự tăng giá dầu đem lại nhiều lợi ích cho ngành công nghiệp dầu như dầu

mỏ và sản xuất khí đốt, thiết bị dầu, kim loại công nghiệp, khai thác mỏ Tác giả chỉ ra rằng hầu hết các ngành công nghiệp dường như được hưởng lợi khi giá dầu giảm, trong khi các ngành công nghiệp lại không bị ảnh hưởng đáng kể khi giá dầu tăng Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp đặc biệt là khai thác mỏ, dầu khí, lại có phản ứng tích cực khi giá dầu tăng và tiêu cực khi giá dầu giảm Tác giả kiểm định đến sự khác biệt trong các phản ứng và độ nhạy của 38 ngành công nghiệp tại châu Âu với các cú sốc giá dầu, kết quả chỉ ra rằng không tìm thấy rằng có một quan hệ qua lại về ảnh hưởng của cú sốc giá dầu đến các ngành công nghiệp Tác giả cũng tìm thấy phản ứng mạnh nhất trong các ngành công nghiệp mà có dầu và năng lượng như một sản phẩm đầu ra như dầu, khí đốt, khai thác mỏ, điện Nhưng với những ngành công nghiệp có dầu hoặc năng lượng như một nguyên vật liệu đầu vào lại có ảnh hưởng khác nhau tùy vào loại hình công nghiệp Ví dụ, Trong các ngành công nghiệp với cả một nhu cầu năng lượng cao giống như hãng hàng không, vận tải, lâm nghiệp cũng như trong những ngành công nghiệp có rất cường độ năng lượng thấp vốn chủ sở hữu đầu tư, bất động sản, viễn thông Hơn nữa, có những ngành công nghiệp có nhu cầu dầu mỏ có vẻ như là khá nhạy cảm với giá dầu ví dụ như hóa học ngành công nghiệp

Trang 20

Paresh Kumar Narayan và Rangan Gupta (2014) tiến hành xem xét lại các mối quan hệ giữa giá dầu và biến động giá chứng khoán Tác giả sử dụng dữ liệu lịch sử chuỗi thời gian dài nhất có thể Tập hợp dữ liệu của bài nghiên cứu kéo dài hơn 150 năm bắt đầu từ tháng 10 năm 1859 cho đến tháng 12 năm 2013, bao gồm toàn bộ thời

kỳ hiện đại của ngành công nghiệp dầu khí, trong đó bao gồm các giếng dầu khoan đầu tiên ở Titusville, Pennsylvania vào năm 1859 Tập hợp dữ liệu của của tác giả bao gồm chỉ số giá thị trường chứng khoán tại thị trường Mỹ (S&P 500), và giá giao ngay dầu thô (West Texas Intermediate - WTI), dữ liệu được thu thập theo tháng Chính vì điều này cho phép chúng tác giả hiểu được rõ ràng hơn mối quan hệ giữa giá dầu và lợi nhuận chứng khoán Tiếp đó, tác giả xem xét các mối quan hệ giữa giá dầu và lợi nhuận chứng khoán bằng cách sử dụng một chuỗi thời gian mô hình hồi quy tiên đoán dựa trên một mô hình ước lượng được đề xuất bởi Westerlund và Narayan (2012, 2014) Kết quả của tác giả chỉ ra hai ý nghĩa quan trọng, hàm ý thứ nhất liên quan đến tính chất lịch sử của mối quan hệ giữa giá dầu và biến động giá chứng khoán Trong khi cập nhật bằng cách sử dụng các nhịp ngắn của dữ liệu tác giả chỉ ra rằng giá dầu có thể dược dùng để dự đoán lợi nhuận của chứng khoán, tác giả cho thấy rằng khả năng

dự báo về mối quan hệ giữa giá dầu và lợi nhuận của chứng khoán vẫn được giữ ngay

cả khi chúng ta xem xét mối quan hệ này trong một khoảng thời gian mẫu trải dài 150 năm Hàm ý thứ hai liên quan đến bản chất phi tuyến của các mối quan hệ giữa dầu giá

cả và giá chứng khoán Tác giả thấy rằng sự thay đổi trong giá dầu dẫn đến những ảnh hưởng ngược chiều đến biến động giá chứng khoán Điều này có nghĩa rằng các tín hiệu được phát ra từ các thị trường dầu là tương đối quan trọng cho việc dự đoán biến động chứng khoán

Basher, Sadorsky (2006) tiến hành bài nghiên cứu nhằm nục đích để đóng góp cho lý thuyết về những tác động của thay đổi giá dầu trong những biến động của thị trường chứng khoán mới nổi, dữ liệu của bài nghiên cứu này được tác giả thu thập bao gồm giá chỉ số giá chứng khoán theo dạng chuỗi dữ liệu ngày trên 21 thị trường tài

Trang 21

chính mới nổi, dữ liệu được thu thập từ nguồn dữ liệu từ Datadtream bắt đầu từ ngày

31 tháng 12 năm 1992 đến ngày 31 tháng 10 năm 2005 Những quốc gia trong nghiên cứu này là Argentina (ARG), Brazil (BRA), Chile (CHL),Colombia (COL), India (IND), Indonesia (IDN), Israel (ISR), Jordan (JOR), Korea (KOR),Malaysia (MYS), Mexico (MEX), Pakistan (PAK), Peru (PER), Philippines (PHL), Poland (POL), South Africa (ZAF), Sri Lanka (LKA), Taiwan (TAI), Thailand (THA), Turkey (TUR) và Venezuela (VEN) Những nước này được tác giả lựa chọn để đưa vào cơ sở dữ liệu vì

dữ liệu trên thị trường chứng khoán của các quốc gia này là tương đối dài và tương đối đầy đủ không như hai quốc gia quốc gia Trung Quốc và Nga không được sử dụng bới

vì dữ liệu từ thị trường chứng khoán của hai quốc gia này không đủ để tiến hành đưa vào mẫu nghiên cứu cụ thể là sàn giao dịch The Moscow Times Index tại Nga mới chỉ

có giao dịch từ năm 1995 Dữ liệu mẫu được lấy thường xuyên hơn sẽ thể hiện được nhiều thông tin hơn nên báo cáo này do đó tác giả đã chọn dữ liệu hàng ngày để phân tích Bài nghiên cứu sử dụng những phân tích từ cả rủi ro có điều kiện và rủi ro không điều kiện để phân tích mối quan hệ giữa biến động giá dầu và biến động giá chứng khoán tại 21 thị trường tài chính mới nổi Kết quả chỉ ra rằng mối quan hệ giữa rủi ro không điều kiện và thị trường chứng khoán mới nổi trở lại là có ý nghĩa thống kê tuy nhiên mối quan hệ này biểu thị sự tiêu cực, bằng cách so sánh rủi ro giá dầu đóng vai trò quan trọng trong biến động giá chứng khoán trên thị trường mới nổi Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy rằng sử dụng dữ liệu hàng ngày và hàng tháng có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê giữa những hệ số rủi ro thị trường và biến động giá chứng khoán trong thị trường mới nổi, những kết quả nghiên cứu này của tác giả hoàn toàn phù hợp với các lý thuyết trước đây trong việc thiết lập một mối quan hệ

có điều kiện giữa lợi nhuận thực và rủi ro trong thị trường phát triển Ngoài ra tác giả tìm kiếm thấy bằng chứng mạnh mẽ rằng rủi ro giá dầu có tác động đến biến động giá chứng khoán trong những thị trường mới nổi mặc dù mối quan hệ thực sự dựa vào tần

số dữ liệu được sử dụng Đối với dữ liệu hàng ngày và hàng tháng, giá dầu tăng có tác

Trang 22

động tích cực đến sự biến đồi giá chứng khoán trên các thị trường mới nổi Đối với dữ liệu hàng tuần và hàng tháng, giá dầu giảm có tác động tích cực và đáng kể trên biến động của thị trường mới nổi Thêm vào đó có một vài bằng chứng về mối quan hệ có điều kiện phi tuyến tính giữa rủi ro thị trường và biến động cũa thị trường mới nổi và mối quan hệ phi tuyến tính có điều kiện giữa rủi ro giá dầu và biến động giá thị trường chứng khoán

Jungwook Parka, Ronald A Ratti (2008) nghiên cứu về tác động của cú sốc giá dầu và biến động giá dầu tới lợi nhuận chứng khoán thực của Mỹ và 13 quốc gia châu

Âu trong khoảng thời gian tháng 01 năm 1986 đến tháng 12 năm 2005, bằng cách sử dụng mô hình một phân tích vector tự hồi quy VAR Tác giả tìm thấy bằng chứng thực nghiệm chứng tỏ rằng cú sốc giá dầu có ảnh hưởng đáng kể và có nghĩa về mặt thống

kê trên lợi nhuận thực chứng khoán ngay trong cùng tháng xảy ra cú sốc giá dầu hoặc trong trễ hơn một tháng so với thời điểm xảy ra cú sốc giá dầu Tác giả chỉ ra rằng cú sốc giá dầu thực tính được bằng giá dầu thực của thế giới thay vì giá dầu thực quốc gia

và giá dầu thực này có ảnh hưởng đáng kể và có ý nghĩa về mặt thống kê đến lợi nhuận thực của chứng khoán trên tất cả các nước trong dữ liệu nghiên cứu, điều này ngụ ý rằng những dự đoán về cú sốc giá dầu sẽ có hiệu ứng lan tỏa và ảnh hưởng đến hầu hết các nước trong mẫu dữ liệu của tác giả và nó được phản ánh thông qua sự thay đổi của giá chứng khoán Khi hiệu ứng lan tỏa xảy ra, cú sốc giá giá dầu có tác động tiêu cực

và có ý nghĩa về mặt thống kê lên giá chứng khoán tại nền kinh tế Anh Kết quả phân

rã phương sai cho thấy khi xảy cú sốc giá dầu cho một kết quả có ý nghĩa về mặt thống

kê và giải thích đến 6% của sự biến động trong lợi nhuận chứng khoán thực Tác giả chỉ ra rằng các kết quả là khác cho hiệu quả của cú sốc giá dầu lên giá chứng khoán khác giữa các quốc gia, đối với nhiều nước châu Âu sự tăng lên trong sự biến động của giá dầu có ảnh hưởng đáng kể đến áp lực giá chứng khoán thực trả giảm trong tháng hoặc tháng tới Tác giả cho rằng đối với Hoa Kỳ và các quốc gia châu Âu đóng góp của các cú sốc giá dầu vào sự biến động của lợi nhuận của chứng khoán thực sự là lớn hơn

Trang 23

hơn so với ảnh hưởng của lãi suất Một một gia tăng độ lệch chuẩn trong thế giới giá dầu thực có ảnh hưởng đáng kể đến việc tăng lãi suất ngắn hạn ở Mỹ và 8 trong số 13 nước châu Âu với độ trễ một tháng hoặc hai tháng

Rumi Masiha, Sanjay Peters, Lurion De Mello (2011) tiến hành thu thập số liệu quan sát hàng tháng từ tháng 5 năm 1988 đến tháng 1 năm 2005 bao gồm chỉ số giá trường chứng khoán Hàn Quốc, chỉ số sản xuất công nghiệp, lãi suất và giá dầu Dữ liệu nghiên cứu bao gồm cả giai đoạn của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm

1997 và sự biến động giá dầu trong đầu những năm 1990 sau khi chiến tranh vùng Vịnh nhằm cho phép tác giả tính toán lợi nhuận thực chứng khoán và sự biến động của giá dầu Đầu tiên, kết quả của tác giả chỉ ra rằng có tồn tại mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa các biến trong mô hình Thêm vào đó là hệ thống kinh tế của Hàn Quốc

ổn định trong suốt thời gian được nghiên cứu điều này có nghĩa rằng cuộc khủng hoảng tài chính không ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ thống nền kinh tế kèm theo đó là hệ thống ngân hàng đã có ảnh hưỡng thấp lên đặc tính xu hướng ngẫu nhiên của các biến lãi suất, chỉ số giá công nghiệp, giá dầu, biến động giá dầu và lợi nhuận thực của chứng khoán Kết luận chính của tác giả là biến động giá dầu có ảnh hưởng đáng kể đến thị trường chứng khoán Hàn Quốc Phân tích của tác giả chỉ ra rằng lợi nhuận thực của chứng khoán là kênh truyền dẫn chủ yếu của điều chỉnh ngắn hạn đến trạng thái cân bằng dài hạn Sau những biến động giá dầu dẫn đến việc trường chứng khoán tăng nhẹ

và sau đó chậm lại,thị trường chứng khoán phục hồi chậm và đạt mức cân bằng sau một khoảng thời gian khoảng 9 tháng Trong thời gian này lãi suất kỳ hạn và giá dầu ảnh hưởng lên thị trường chứng thị trường Kết luận chỉ ra rằng có mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô, công cụ của chính sách tiền tệ và thị trường chứng khoán Kết quả từ mô hình VECM của tác giả cho thấy rằng lợi nhuận thực của chứng khoán là chính kênh điều chỉnh ngắn hạn để đạt mức cân bằng dài hạn, những cú sốc giá dầu gây ra hai tác động tiêu cực khác nhau lên giá trị của các doanh nghiệp Đầu tiên, giá dầu có ảnh hưởng xấu đến giá trị doanh nghiệp bởi vì giá dầu tăng sẽ làm tăng chi phí

Trang 24

sản xuất của doanh nghiệp từ đó làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Và thứ hai, giá dầu có một tác động xấu nhưng gián tiếp khác đó là khiến cho nhà đầu tư dự đoán sự suy giảm trong lợi nhuận của doanh nghiệp và từ đó các nhà đầu tư đưa ra những quyết định có ảnh hưởng đến các chỉ số thị trường chứng khoán cụ thể là bán cổ phiếu

Abdallah Fayyad, Kevin Daly (2010) tiến hành thu thập dữ liệu hàng ngày lấy

từ thị trường chứng khoán của bảy nước bao gồm Kuwait, Oman, United Arab Emirates (UAE), Bahrain, Qatar, Anh và Mỹ, và giá dầu giao ngay Dữ liệu được thu thập từ giai đoạn ngày 21 tháng 09 năm 2005 đến ngày 12 tháng 02 năm 2010 và tác giả mô hình tự hồi quy VAR để kiểm tra tác tác động của sự thay đổi giá dầu lên thị trường chứng khoán các nước GCC, Anh và thị trường chứng khoán Mỹ Để nghiên cứu tập trung vào các mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán chứng khoán, dữ liệu được tác giả chia làm giai đoạn bao gồm giai đoạn giá dầu ít có biến động, giai đoạn giá dầu tăng và giai đoạn giá dầu giảm Các kết quả của tác giả cho thấy rằng Biến động của giá dầu không thể dự đoán được biến động của thị trường chứng khoán các nước GCC, Anh và thị trường chứng khoán Mỹ trong giai đoạn đầu tiên Tuy nhiên, sau khi giá dầu tăng mạnh trong giai đoạn thứ hai, biến động của giá dầu dầu có thể dự đoán được thị trường chứng khoán Kuwait, UAE và thị trường chứng khoán Mỹ nhưng không thể dự đoán được thị trường chứng khoán Qatar, Bahrain, Oman và Anh Trong giai đoạn ba tất cả biến động giá chứng khoán thuộc tất

cả các thị trường đều có thể được dự đoán bởi sự biến động giá dầu ngoại trừ Kuwait

và Bahrain Các phản ứng xung chỉ ra rằng trong giai đoạn kỳ đầu tiên, phản ứng của thị trường chứng khoán các nước GCC trước các cú sốc giá dầu là yếu và không đáng

kể Trong giai đoạn thứ hai và thứ ba thị trường chứng khoán của các nước GCC, Mỹ

và Anh chịu sự ảnh hưởng đáng kể hơn rất nhiều so với giai đoạn đầu tiên Tóm lại kết quả cho thấy rằng giá dầu có ảnh hưởng đáng kể đến thị trường chứng khoán các nước GCC và thị trường chứng khoán Anh, Mỹ thêm vào đó là mức độ của giá dầu đến các thị trường chứng khoán là khác nhau

Trang 25

Yu dong Wang, Chong feng Wu, Li Yang (2013) tiến hành nghiên cứu để so sánh các tác động của các cú sốc giá dầu trên thị trường chứng khoán ở các nước nhập khẩu dầu mỏ với những người ở các nước xuất khẩu dầu Đầu tiên, tác giả kiểm tra xem liệu mối quan hệ giữa các cú sốc giá dầu và lợi nhuận chứng khoán có phải là mối quan hệ phi tuyến, bằng cách thực hiện kiểm định mối quan hệ nhân quả phi tuyến Granger Kết quả cho thấy rằng có rất ít bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ phi tuyến đối với hầu hết các nước trong mẫu của tác giả, cho thấy rằng các mô hình tuyến tính có thể nắm bắt được mối quan hệ giữa sự thay đổi giá dầu và lợi nhuận chứng khoán Thứ hai, tác giả kiểm tra xem liệu các cú sốc giá dầu có tác động khác nhau trên thị trường chứng khoán ở các nước xuất khẩu và nước nhập khẩu, tác giả sử dụng phương pháp VAR cấu trúc của Kilian và Park (2009) đã đề xuất để kiểm định điều này, kết quả của tác giả cho thấy rằng cường độ, thời gian và thậm chí hướng của phản ứng rất khác nhau, tùy thuộc vào việc nước đó là một nước xuất khẩu dầu mỏ hoặc dầu nhập khẩu Thứ ba, dựa trên kết quả của kiểm định phân rã phương sai, tác giả đã xác định tỷ lệ đóng góp của biến cú sốc giá dầu đến lợi nhuận chứng khoán là khá lớn Điều này thể hiện rằng cả trong ngắn và dài hạn, khả năng giải thích của biến cú sốc giá dầu đến biến động giá chứng khoán ở các nước xuất khẩu dầu mạnh hơn ở các nước nhập khẩu dầu Ngoài ra, tác giả còn tìm thấy rằng số lượng tương đối các khoản đóng góp cho từng loại cú sốc phụ thuộc vào tầm quan trọng của dầu cho nền kinh tế quốc gia Nhìn chung, các cú sốc giá dầu được hiển thị để giải thích khoảng 20-30% của biến biến động giá chứng khoán toàn cầu Thứ tư, tác giả điều tra tác động của sự không chắc chắn giá dầu đến biến động giá chứng khoán Những phát hiện của tác giả chỉ ra rằng nguồn cung dầu không chắc chắn có thể làm ảnh hưởng xấu đến thị trường chứng khoán ở cả những nước nhập khẩu dầu và các nước xuất khẩu dầu Một kết quả đáng chú ý khác là các tác động của cầu không chắc chắn là mạnh hơn và kéo dài hơn

ở các nước xuất khẩu dầu mỏ so với các nước nhập khẩu dầu Một lời giải thích khác được tác giả đưa ra là sự gia tăng bất ổn trong kinh doanh gây áp lực lên các yếu tố

Trang 26

kinh tế ở các nước nhập khẩu dầu, dẫn đến nhu cầu dầu giảm và giá dầu thấp hơn có thể dẫn đến giảm chi phí ngành công nghiệp trong nước nhập khẩu dầu Tóm lại, kết quả của tác giả cho thấy rằng thị trường dầu có ảnh hưởng trọng yếu trên thị trường chứng khoán và điều này giúp giải thích cho mối quan hệ của giá cổ phiếu và giá dầu Một ví dụ điển hình là Trung Quốc, có thị trường chứng khoán vẫn là giảm ngay cả với nền kinh tế quốc gia mạnh mẽ của mình Những phát hiện của tác giả còn chỉ ra rằng nhu cầu phòng ngừa khi thị trường chứng khoán suy giảm trong ngắn hạn và sự bất ổn trong cung lâu dài có ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường chứng khoán ở các nước nhập khẩu dầu Mức độ ảnh hưởng, thời gian và thậm chí là khuynh hướng của phản ứng của lợi nhuận chứng khoán trước những cú sốc giá dầu trong một đất nước rất phụ thuộc vào việc nước này là nước nhập khẩu ròng hoặc xuất khẩu tại các thị trường dầu mỏ thế giới

2.2.2 Ảnh hưởng của giá dầu đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu khi xem xét đến các yếu tố ngành, độ trễ giá dầu và quy mô của doanh nghiệp

David C Broadstock, Hong Cao, Dayong Zhang (2012) nghiên cứu mối quan hệ giữa giá dầu thế giới và giá chứng khoán của ngành công nghiệp năng lượng tại Trung Quốc Dữ liệu được thu thập theo tuần bắt đầu từ ngày 07 tháng 01 năm 2000 đến ngày

27 tháng 05 năm 2011 bao gồm giá dầu thô và chỉ số giá cổ phiếu các ngành liên quan đến năng lượng như điện, khai khoáng, dầu và gas Kết quả của tác giả chỉ ra rằng giá dầu quốc tế thay đổi đến lợi nhuận cổ phiếu của các ngành năng lượng, nhưng mối ảnh hưởng này khác nhau theo thời gian, đặc biệt trong giữa năm 2008 mối ảnh hưởng của giá dầu đến lợi nhuận cổ phiếu của các ngành năng lượng tại Trung Quốc rất rõ nét

Kiseok Leea, Shawn Nib (2001) tập trung vào phân tích ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu các ngành công nghiệp trong giai đoạn khủng hoảng về dầu những năm 1973-1974 và 1978-1981 tại nền kinh tế Mỹ Kết quả chỉ ra rằng tác động của cú sốc giá dầu đến các ngành công là tương đối giống nhau, hầu hết các ngành công nghiệp

Trang 27

đều cắt giảm sản lượng nhằm để đối phó với ảnh hưởng của cú sốc giá dầu Tác giả nhận thấy rằng khi có cú sốc giá dầu điều này ảnh hưởng đến cung và cầu của các ngành công nghiệp với mức độ khác nhau, ảnh hưởng này là khá đáng kể với ngành công nghiệp ô-tô Tác giả cho rằng kết quả của bài nghiên cứu sẽ góp phần củng cố lý thuyết ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán thông qua sự gia tăng trong chi phí sản xuất và vận chuyển hàng hóa

Su-Fang Li, Hui-Ming Zhu, Keming Yu (2012) tiến hành điều tra các mối quan

hệ động giữa giá dầu và thị trường chứng khoán Trung Quốc từ góc độ ngành, thông qua việc sử dụng dữ liệu theo tháng giá dầu thực tế, lãi suất và chỉ số giá cổ phiếu thực

sự cho các lĩnh vực chính bao gồm là nông nghiệp, khai thác mỏ, sản xuất, điện, xây dựng, giao thông vận tải, công nghệ thông tin, thương mại, tài chính, bất động sản, dịch

vụ xã hội và truyền thông Nhóm các ngành ở Trung Quốc được tác giả nghiên cứu theo dạng dữ liệu bảng để tiến hành kiểm định đồng liên kết và kiểm định nhân quả Granger Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng có bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về việc giá dầu thực tăng có tác động tích cực đến giá cổ phiếu của nhóm nghành trong dài hạn Giá dầu ảnh hưởng giá chứng khoán một cách tích cực được tác giả cho rằng không phù hợp với mong đợi của tác giả và lý thuyết liên quan Điều này có thể cho thấy mối quan hệ tích cực này là do sự gia tăng đầu tư khi sử dụng đòn bẩy chứng khoán Mặt khác điều này cũng có thể chỉ ra rằng tác động của các nguồn năng lượng thay thế khác (ví dụ, than) hoặc các các yếu tố trong nước khác vào giá cổ phiếu chiếm

ưu thế hơn so với ảnh hưởng của giá dầu Tác giả cũng tìm thấy một mối quan hệ một chiều trong ngắn hạn và dài hạn về mối quan hệ nhân quả Granger, xuất phát từ giá dầu

và giá cổ phiếu ngành đến lãi suất trong giai đoạn tháng 07 năm 2001 đến tháng 10 năm 2005 Trong khi đó đối với giai đoạn tháng 12 năm 2005 đến tháng 06 năm 2007 chỉ có một mối quan hệ nhân quả Granger một chiều trong dài hạn xuất phát từ giá chứng khoán đến giá dầu cũng như từ giá chứng khoán đến lãi suất Tuy nhiên, tác giả lại mong đợi rằng giá chứng khoán nên được dẫn dắt theo khuynh hướng giá dầu chứ

Trang 28

không phải giá chứng khoán dẫn dắt giá dầu theo xu hướng của thị trường chứng khoán Do đó kết quả đưa ra không phù hợp với những kỳ vọng này của tác giả Để lý giải cho việc này tác giả cho rằng nguyên nhân là do ảnh hưởng của tần số dữ liệu và thời gian của dữ liệu, đó là kiểm định quan hệ nhân quả Granger được dựa trên số liệu hàng tháng do đó không thể nắm bắt được tác động của giá dầu đến giá chứng khoán trong ngắn hạn Mặt khác, tác giả cho rằng kết quả của tác giả một lần nữa có thể ngụ ý rằng giá dầu và các lãi suất không phải là những yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến giá chứng khoán Trung Quốc Sau giai đoạn tháng 07 năm 2007, kết quả kiểm định mối quan hệ nhân Granger đã có thay đổi so với các giai đoạn trước, tác giả chỉ ra rằng trong dài hạn và ngắn hạn ảnh hưởng giữa giá dầu, lãi suất và giá chứng khoán có hai chiều ảnh hưởng Tuy nhiên, không có mối quan hệ nhân quả Granger trong ngắn hạn giữa từng cặp biến như giá dầu và giá chứng khoán hay lãi suất và giá chứng khoán

Mohamed El Hedi Arour (2011) tác giả sử dụng chỉ số chứng khoán theo tuần thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1998 cho đến ngày 30 tháng 06 năm 2010, dữ liệu tuần có thể giúp tác giả nắm bắt được đầy đủ mối tương quan giữa giá dầu và giá chứng khoán Tác giả tiến hành thu thập chỉ số DJ Stoxx 600 và 12 chỉ số ngành tại khu vực châu Âu bao gồm các ngành: Ôtô và phụ tùng, thực phẩm và đồ uống, dầu và gas, chăm sóc sức khỏe, công nghiệp, các ngành cơ bản, vật liệu, hàng gia dụng và tiêu dùng cá nhân, dịch vụ khách hàng, công nghệ, viễn thông và các ngành tiện ích và dữ liệu được từ dữ liệu Datastream Các chỉ số Dow Jones Stoxx 600 đại diện cho các công ty lớn nhất châu Âu trong các ngành công nghiệp quan trọng nhất và hiện tại là

Áo, Bỉ, Đan mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ai xo len, Ai len, Ý, Lúc-xăm-bua,

Hà Lan, Na UY, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh Đối với giá dầu, tác giả sử dụng giá dầu thô giao ngay theo dạng tuần thu được từ EIA và thể hiện giá dầu thô giao ngay bằng đồng Euro và tỷ giá hối đoái từ Datastream Kết quả của ngành Ôtô và phụ tùng Ôtô cho thấy rằng giá dầu tăng ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu ngành Kết quả cho thấy rằng: Giá dầu tăng cao làm cho lợi nhuận nhà sản xuất

Trang 29

Ôtô thấp hơn Sự thật là giá dầu tăng có thể dẫn đến ít người lái xe hơn hoặc yêu cầu hiệu quả phương tiện cao hơn Hơn nữa giá dầu tăng ảnh hưởng trực tiếp mạnh đến ngành Ôtô va phụ tùng công nghiệp bởi vì ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và lợi nhuận công ty (ảnh hưởng từ phía cung) Tuy nhiên, tác giả thấy rằng ảnh hưởng tiêu cực của giá dầu tăng đến biến động giá chứng khoán ngành Ôtô và phụ tùng chỉ ở mức yếu, phát hiện này phù hợp với các chiến lược quản lí rủi ro ngắn hạn đối với giá dầu rất thường xuyên trong ngành công nghiệp Ôtô và phụ tùng công nghiệp Ảnh hưởng yếu của sự thay đổi giá dầu đến biến động giá chứng khoán ngành Ôtô và phụ tùng có thể cũng được giải thích một phần từ luật pháp châu Âu, trong đó luật pháp khuyến khích các loại xe tiết kiệm nhiên liệu hiệu quả hơn cũng như viện trợ của chính phủ cho ngành công nghiệp Ôtô trong thời kỳ khủng hoảng Phát hiện này cho thấy có một mối quan hệ tiêu cực mạnh mẽ giữa sự thay đổi giá dầu và biến động giá chứng khoán của một số ngành công nghiệp không chuyên về dầu, như là tài chính mà đa số là những ảnh hưởng chính về phía cầu: giá tăng ảnh hưởng đến khách hàng và sự tư tin của đầu

tư và nhu cầu về các sản phẩm tài chín Giá dầu tăng cũng có ảnh hưởng tiêu cực đến lãi cổ phiếu trong ngành thực phẩm và đồ uống Điều này không hề gây được bất ngờ khi mà thực phẩm và các mặt hàng khác đều chịu ảnh hưởng mạnh từ thị trường dầu và những sản phẩm dầu mỏ Dầu và sản phẩm liên quan được sử dụng trong tất cả giai đoạn sản xuất thực phẩm, sự tăng giá dầu ảnh hưởng trực tiếp đến lương thực Chi phí sản xuất cũng như vận chyển và chi phí thương mại và vì vậy làm giảm lợi nhuận của các công ty thực phẩm và đồ uống Tác giả cũng đề cập rằng ảnh hưởng của giá dầu tăng đến thực phẩm và đồ uống không chỉ dựa vào khả năng tăng chi phí biên mà còn khả năng dẫn đến những thay đổi có thể có trong chi tiêu của người tiêu dùng Kết quả nghiên cứu trong ngành dầu mỏ và khí đốt cho thấy mối liên hệ tích cực mạnh mẽ giữa biến động giá dầu và lãi cổ phiếu bởi vì đặc thù của các công ty dầu khí là giá trị của

họ phụ thuộc vào giá dầu Giá dầu giảm có nghĩa là lợi nhuận biên giảm và chi phí sử dụng vốn giảm, trong khi giá dầu cao nghĩa là lợi nhuận biên tăng lên và có thể làm

Trang 30

tăng chi phí sử dụng vốn Vì vậy việc tăng giá dầu làm tăng giá trị cổ phiếu của các công ty dầu khí, điều đó giải thích được phản ứng tích cực của biến động giá chứng khoán của dầu khí để biến động giá dầu Kết quả đối với ngành chăm sóc sức khỏe, biến động giá dầu có ảnh hưởng tiêu cực, tỷ lệ nghịch trong ngắn hạn Theo đó việc giảm (tăng) của giá dầu dẫn đến giảm (tăng) trong sản xuất chi phí sản phẩm, chi phí sản xuất và chi phí vận tải, trong khi việc đầu tư vào các công ty chăm sóc sức khỏe cũng như nhu cầu khách hàng đối với những công ty đó có thể tăng (giảm) Kết quả trong ngành công nghiệp cho thấy chỉ có 1 mối liên hệ nhỏ từ dầu đến biến động giá chứng khoán Kết quả từ những doanh nghiệp trong ngành công nghiệp cho thấy rằng các doanh nghiệp này là người tiêu dùng chủ yếu dầu mỏ và các sản phẩm liên quan Tuy nhiên, do được hình thành lâu đời và mối quan hệ được ước tính giữa sử dụng dầu các ngành công nghiệp có khả năng là các công ty này có chiến lược phát triển phòng ngừa hiệu quả chống lại các tác động của thay đổi giá dầu và quản lý sự phụ thuộc vào dầu đúng cách Đối với ngành vật liệu cơ bản, kết quả của tác giả cho thấy một phản ứng tích cực không đối xứng ngắn hạn giữa biến động giá chứng khoán và biến động giá dầu Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành này bao gồm khai thác và tinh chế các kim loại cơ bản và quý giá, các nhà sản xuất hóa chất, và sản phẩm lâm nghiệp và

có đặc điểm giống như ngành dầu khí trong điều kiện bản chất của các hoạt động khai thác Việc gia tăng giá dầu có thể tăng nhu cầu các sản phẩm và làm các công ty vật liệu cơ bản có thêm lợi nhuận Các chiến lược phòng ngừa rủi ro hiệu quả có thể hạn chế những tác động của sự giảm giá dầu Ngành hàng cá nhân và hàng hóa gia dụng bao gồm các sản phẩm gia dụng, xây dựng nhà, hàng hóa giải trí và đồ dùng cá nhân và thuốc lá Giá dầu tăng ảnh hưởng đến cả cung và cầu những sản phẩm trên một cách tiêu cực Tuy nhiên, các công ty trong ngành có thể vượt qua một phần tác động của việc tăng giá dầu cho người tiêu dùng của họ và vì thế giảm thiểu tác động đến lợi nhuận của họ Kết quả của tác giả xác nhận quan điểm này và cho thấy mối quan hệ tiêu cực tỷ lệ nghịch giữa biến động giá chứng khoán trong ngành và biến động giá

Trang 31

dầu Giá dầu có tác động trực tiếp và gián tiếp đối với ngành dịch vụ khách hàng, được nhận thấy rằng chi phí năng lượng gia đình và các công ty cạnh tranh với bán lẻ hàng hóa, giải trí, du lịch… vì thế, ảnh hưởng của giá dầu được mong đợi rằng việc tăng giá dầu ảnh hưởng một cách tiêu cực đến nhu cầu dịch vụ khách hàng Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm cho thấy biến động giá dầu tác động tích cực ngắn hạn trên biến động giá chứng khoán Đối với ngành công nghệ và viễn thông, tác giả thấy rằng có mối liên kết tiêu cực ngắn hạn giữa biến động giá chứng khoán và biến động giá dầu Các nhà đầu

tư vào công nghệ có nhiều mảng sản phẩm để đầu tư, bao gồm dầu và sản phẩm năng lượng mới, giá dầu cao và chi phí năng lượng cao dẫn đến sự không chắc chắn trong việc tăng nhu cầu liên quan đến việc đầu tư công nghệ và viễn thông Tăng giá dầu giảm hiệu suất của các công ty công nghệ và viễn thông và làm biến động giá chứng khoán của các doanh nghiệp này rủi ro hơn Cuối cùng, ngành hàng tiện ích bao gồm các công ty như điện nước và cung cấp dịch vụ tích hợp (liên hợp, hợp nhất …) những công ty đó sử dụng dầu và sản phẩm liên quan như đầu và giống những công ty ngành công nghiệp, tuy nhiên trong ngành tiện ích các doanh nghiệp có xu hướng sử dụng các nguồn khác để phòng chống tác động của giá dầu tăng và điều này dẫn đến ảnh hưởng tới lợi nhuận của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành này, kết quả cho thấy biến động giá dầu có ảnh hưởng yếu tiêu cực đến biến động giá chứng khoán ngành tiện ích, nhưng việc tăng hay giảm có ảnh hưởng không đối xứng Tóm lại, tác giả cho thấy rằng không phải tất cả các ngành đều phụ thuộc vào dầu và trong một số trường hợp việc tăng và giảm giá dầu ảnh hưởng không đối xứng với giá cổ phiếu, chính xác hơn, phát hiện của tác giả cho thấy rằng sự tồn tại của sự bất đối xứng kép trong quan hệ giữa giá dầu và giá chứng khoán: những phản ứng của giá chứng khoán và biến động giá dầu phụ thuộc vào cả ngành và dấu hiệu biến động giá dầu Thực tế kết quả thực nghiệm của tác giả cho thấy bởi chi phí sản xuất bị tác động và lợi nhuận công ty, biến động giá dầu có tác động trực tiếp mạnh mẽ đến cổ phiếu các ngành công nghiệp chuyên về dầu như thực phẩm và đồ uống và dầu khí Tác giả cũng cho thấy rằng biến

Trang 32

động giá dầu tác động đáng kể vào cổ phiếu của vài ngành công nghiệp không chuyên

về dầu như tài chính và công nghệ, chủ yếu là thông qua ảnh hưởng từ phía cầu: giá dầu tăng ảnh hưởng đến tự tin khi mua của người tiêu dùng và nhu cầu đối với hầu hết các sản phẩm Tuy nhiên, phát hiện của tác giả chỉ ra rằng việc tăng và giảm giá dầu có ảnh hưởng không đối xứng với biến động giá chứng khoán của vài ngành như vật liệu

cơ bản và ngành tiện ích Tác giả cung cấp 2 giải thích có thể xảy ra Đầu tiên, những công ty trong những ngành đó có thể vượt qua ảnh hưởng của cú sốc giá dầu bằng cách chuyển giao chi phí liên quan đến dầu sang cho khách hàng của các doanh nghiệp này

và vì vậy tối thiểu tác động của cú sốc với lợi nhuận của họ Thứ hai, những công ty đó

có thể phòng chống lại việc tăng giá dầu hơn những công ty trong những ngành hàng khác như vậy, những phát hiện của tác giả phù hợp với những nghiên cứu trước đây về những phản ứng bất đối xứng của nền kinh tế và biến động giá dầu và chỉ ra rằng các kênh chuyển giao từ giá dầu đến giá trị tài chính phần nào phản ánh các kệnh chuyển giao từ giá dầu đến nền kinh tế thực tại

Dinh Hoang Bach Phan, Susan Sunila Sharma, Paresh Kumar Narayan (2014) tập trung vào nghiên cứu sự ảnh hưởng của giá dầu đến biến động giá chứng khoán của các công ty sử dụng dầu mỏ như một nguồn lực đầu vào cho việc sản xuất hoặc tiêu thụ

và sự ảnh hưởng của giá dầu đến lợi nhuận cổ phiếu của các công ty sản xuất dầu mỏ Tác giả tìm thấy bằng chứng rằng giá dầu tăng tạo ra ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của các công ty sản xuất dầu mỏ nhưng lại tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận cổ phiếu của các công ty sử dụng dầu mỏ như một nguồn lực để sản xuất hoặc tiêu thụ, cùng với đó tác giả chỉ ra rằng các nhà sản xuất dầu mỏ phản ứng nhanh hơn so với những nhà tiêu thụ dầu mỏ khi có sự thay đổi trong giá dầu mỏ Thêm vào đó tác giả chỉ ra rằng ảnh hưởng của sự thay đổi giá dầu tới các công ty có phụ thuộc vào quy mô công ty, các công ty có quy mô càng lớn ảnh hưởng của việc thay đổi giá dầu tới biến động giá chứng khoán càng cao

Trang 33

Đặc biệt nghiên cứu của Paresh Kumar Narayan, Susan Sunila Sharma (2011)

đã đưa ra 4 lý thuyết và kiểm định 4 lý thuyết nhằm chỉ ra tác động giá dầu lên giá chứng khoán doanh nghiệp Thứ nhất giá dầu có ảnh hưởng khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực doanh nghiệp hoạt động, thứ hai sau một độ trễ nhất định thì ảnh hưởng của giá dầu đến lợi nhuận doanh nghiệp sẽ cực kỳ rõ nét, thứ ba có giá dầu có mức độ tác động khác nhau đến doanh nghiệp phụ thuộc vào hiệu ứng ngưỡng của giá dầu và lợi nhuận doanh nghiệp và cuối cùng giá dầu có mức độ ảnh hưởng khác nhau phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp Tác giả tiến hành kiểm tra những giả thuyết này với tổng số 560 doanh nghiệp Mỹ được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York Số liệu của được tác giả thu thập theo ngày và kéo dài từ ngày ngày 05 tháng 1 năm 2000 đến ngày 31 Tháng 12 năm 2008 thêm vào đó tác giả tiến hành phân loại các doanh nghiệp vào các lĩnh vực khác nhau cụ thể tác giả phân vào 14 ngành để tiến hành kiểm tra ảnh hưởng của giá dầu tới các doanh nghiệp thuộc từng ngành khác nhau

và liệu xem ảnh hưởng của giá dầu tới các ngành có đồng nhất hay không Khác với một số nghiên cứu trước đây đã xem xét ảnh hưởng của giá dầu trên các chỉ số thị trường tổng hợp, có giới hạn mà họ giả định các doanh nghiệp và thực sự ngành chiếm thị trường là đồng nhất Ở đây tác giả đã bỏ giả thuyết này và tiến hành nghiên cứu này bằng cụ kiểm tra hiệu quả của giá dầu trên doanh nghiệp thuộc từng ngành khác nhau Kết quả của tác giả củng cố thêm bằng chứng thực nghiệp để làm sáng tỏ bốn lý thuyết mà tác giả đã đề cập về mối quan hệ giữa giá dầu và lợi nhuận doanh nghiệp Đầu tiên, tác giả nhận thấy rằng giá dầu ảnh hưởng đến biến động giá chứng khoán của các doanh nghiệp khác nhau tùy thuộc về lĩnh vực này thuộc về các doanh nghiệp đó Phát hiện của tác giả cho thấy rằng lợi nhuận của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngành năng lượng và giao thông vận tải dường như chịu ảnh hưởng khá mạnh

mẽ bởi giá dầu, lợi nhuận của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực này dường như có xu hướng gia tăng khi giá dầu gia tăng trái lại với các doanh nghiệp thuộc 12 ngành còn lại, lợi nhuận của các doanh nghiệp thuộc 12 ngành còn lại có xu hướng giảm khi giá

Trang 34

dầu tăng Thứ hai, tác giả chỉ ra rằng giá dầu ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp sau một độ trễ nhất định, độ trễ thông thường nhất mà tại đó dầu giá ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp là tại độ trễ là 2 và 5; cho các doanh nghiệp thuộc 10 trong số 14 ngành, khi giá dầu có thay đổi thì sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến doanh nghiệp sau độ trễ

là 1, 2 hoặc 5 Lý thuyết thứ ba được tác giả củng cố là có được một hiệu ứng ngưỡng của giá dầu ảnh hưởng tới lợi nhuận của các doanh nghiệp, điều này là phù hợp với lý thuyết mô hình được trình bày trong nghiên cứu của Barberis (1998) Và phát hiện cuối của tác giả là giá dầu có ảnh hưởng với mức độ khác nhau đối với quy mô của doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp lớn, mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và giá dầu càng có ý nghĩa thống kê và thường là giá dầu có ảnh hưởng tiêu cực tới lợi nhuận các doanh nghiệp lớn

2.3 Nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng giá dầu đến thị trường chứng khoán Việt Nam

Paresh Kumar Narayan, Seema Narayan (2010) tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán Việt Nam, dữ liệu được tác giả thu thập theo ngày trong suốt giai đoạn 2000-2008 bao gồm các biến giá dầu, tỷ giá hối đoái danh nghĩa và chỉ số VN-INDEX Kết quả của tác giả chỉ ra rằng giá dầu có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê lên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2000-

2008 điều này được tác giả giải thích như sau Thứ nhất dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào thị trường Việt Nam tăng mạnh, cụ thể theo quỹ tiền tệ quốc tế ( IMF) dòng tiền đầu tư vào thị trường Việt Nam tăng từ 0.9 tỷ đô la năm 2005 lên 1.9 tỷ đô la năm 2006 và chiếm 3.5% tổng giá trị sản phẩm quốc nội ( GDP) Thứ hai các nhà đầu

tư địa phương tham gia thị trường đã thay đổi sở thích từ việcnắm giữ tài sản ở dạng ngoại tệ, tiền gửi ngân hàng sang đầu tư cổ phiếu do đó tác giả nhận định rằng ảnh hưởng trong thời gian này tại thị trường chứng khoán Việt Nam bị chi phối chủ yếu bởi các yếu tố địa phương hơn là ảnh hưởng được gây ra bởi giá dầu bởi vì cùng với thời điểm thị trường chứng khóan Việt Nam nở rộ trong giai đoạn 2000-2008 cũng chính là

Trang 35

lúc giá dầu tăng mạnh trên toàn cầu Do đó trong giai đoạn này nghiên cứu của tác giả chỉ ra rằng thị trường chứng khoán Việt Nam chịu ảnh hưởng tích cực bởi ảnh hưởng của giá dầu

Cuong C Nguyen, M Ishaq Bhatti (2012) đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán tại 2 nền kinh tế thuộc Châu Á đó là Việt Nam

và Trung Quốc, tác giả sử dụng 2 phương pháp mới nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán có tên là Plot (K- and chi-Plot) và Copula, 2 phương pháp này cung cấp một cách tiếp cận mới về mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán Việt Nam và Trung Quốc thông qua việc xác định mô hình đuôi phụ thuộc giữa giá dầu và giá chứng khoán Kết quả nghiên cứu của tác giả chỉ ra rằng tại thị trường Việt Nam khi giá dầu tăng hoặc giảm đều có khuynh hướng dẫn đến việc giá chứng khoán tăng hoặc giảm, hay nói một cách khác ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khóan Việt Nam là ảnh hưởng tích cực, trái lại tại thị trường Trung Quốc lại không tìm thấy bất cứ mối quan hệ nào giữa giá dầu và giá chứng khoán

Tuy nhiên, tại các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá ít đặc biệt là chưa có nghiên cứu nào xem xét

về ảnh hưởng của giá dầu đến các biến động giá chứng khoán của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành khác nhau hoặc là ảnh hưởng của độ trễ giá dầu đến các biến động giá chứng khoán doanh nghiệp hoạt động trong các ngành khác nhau hoặc là xem xét các vấn đề về quy mô của doanh nghiệp có góp phần đóng góp vào sự ảnh hưởng của giá dầu đến biến động giá chứng khoán của các doanh nghiệp hay không

2.4 Tóm tắt chương II

Từ các nghiên cứu trước đây, chúng ta có thể hiểu rằng có một mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, giá dầu không chỉ có tác động tích cực đến thị trường chứng khoán mà còn có tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán không chỉ ở các nước , bên cạnh

Trang 36

đó đã có một vài nghiên cứu gần đây đã tập trung hơn vào phân tích sâu hơn dưới góc

độ ngành, độ trễ và thậm chí là quy mô của các doanh nghiệp để tìm ra ảnh hưởng của giá dầu đến các tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của doanh nghiệp đặc biệt như nghiên cứu Paresh Kumar Narayan, Susan Sunila Sharma (2011) và chỉ ra rằng các ảnh hưởng của giá dầu đến giá chứng khoán của doanh nghiệp cũng phụ thuộc vào yếu tố ngành, độ trễ hay thậm chí là quy mô của doanh nghiệp Do đó tác giả lựa chọn bài nghiên cứu này làm bài nghiên cứu gốc và tiến hành nghiên cứu tại thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 37

CHƯƠNG III: DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.1 Dữ liệu nghiên cứu

Bài nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu bao gồm chỉ số giá chứng khoán của

210 trên tổng số 305 doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán đã được chia ngành theo công bố danh sách phân ngành của sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) 2014 (bảng 3.1 phụ lục), cùng với đó là chỉ số giá chứng khoán đại diện cho thị trường chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) được thu thập thông qua dữ liệu của sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh: https://www.hsx.vn và website http://vietstock.vn Lãi suất trái phiếu chính phủ ngắn hạn thời hạn 3 tháng được thu thập thông qua cơ sở dữ liệu lấy từ Thomson Reuters http://thomsonreuters.com Giá dầu được thu thập từ tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) website: http://www.opec.org Tỷ giá hối đoái đồng Dollar Mỹ được thu thập từ ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam website: http://www.vietcombank.com.vn

Các dữ liệu được thu thập theo ngày bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 cho đến ngày 30 tháng 06 năm 2015 Do việc thu thập dữ liệu bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 do đó các doanh nghiệp niêm yết sau ngày 01 tháng 01 năm 2012 sẽ không được tác giả chọn lựa và đưa vào mẫu nghiên cứu do đó trong bài nghiên cứu tác giả chỉ thu thập được 210 trên tổng số 305 doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh

3.2 Mô hình nghiên cứu

Để tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam, tác giả

đã tham khảo các mô hình nghiên cứu trước đây trên thế giới để lựa chọn mô hình phù hợp nhất Theo các nghiên cứu trước đây như đã đề cập trong chương II và để trả

Trang 38

lời cho các câu hỏi nghiên cứu đã được đưa ra trong chương I nên tác giả tiến hành xây dựng các biến bao gồm: biến tỷ lệ thay đổi giá dầu gOP sẽ là biến chính giải thích cho sự biến động của giá chứng khoán của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch Hồ Chí Minh, bên cạnh đó các biến như tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của sàn giao dịch Hồ Chí Minh , tỷ lệ thay đổi tỷ giá hối đoái gER, tỷ lệ thay đổi lãi suất trái phiếu chính phủ ngắn hạn 3 tháng gIR cũng góp phần vào sự tác động đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh do đó bài nghiên cứu sẽ đưa các biến này vào mô hình với vai trò là biến kiểm soát và chủ yếu tập trung phân tích vào ảnh hưởng của biến biến động giá dầu đến biến phụ thuộc là biến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu doanh nghiệp

Do đó để làm rõ và trả lời cho các câu hỏi nêu ra trong chương I mô hình nghiên cứu sẽ được xây dựng dựa trên mô hình Paresh Kumar Narayan, Susan Sunila Sharma (2011) và mô hình nghiên cứu tại Việt Nam sẽ được xây dựng như sau:

R : đại diện cho biến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của doanh nghiệp

gOP: đại diện cho biến tỷ lệ thay đổi của giá dầu

Trang 39

: đại diện cho tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của thị trường cụ thể là tỷ suất sinh lợi cổ phiếu sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (biến động chỉ số VN-INDEX)

gIR : đại diện cho biến tỷ lệ thay đổi lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 3 tháng

gER : đại diện cho biến tỷ lệ thay đổi tỷ giá hối đoái đồng đôla mỹ

Bên cạnh đó bài nghiên cứu ước lượng dựa trên mô hình GARCH và cụ thể là GARCH (1,1) Mô hình GARCH được phát triển bởi Bollerslev (1986) từ mô hình ARCH và đặt tên mô hình ARCH tổng quát (GARCH)

Mô hình GARCH (m,s) có dạng:

= μ +

=

Mô hình GARCH (m,s) bao gồm hai phương trình phương trình trung bình = μ +

+ … + Trong đó mô hình GARCH (m,s) cho thấy rằng phương sai trong mô hình phương sai không chỉ phụ thuộc vào độ trễ của cú shock trong quá khứ

mà còn phụ thuộc vào độ trễ của chính phương sai trong quá khứ với m là độ dài của

độ trễ ứng với (cú shock trong quá khứ) và s là độ dài độ trễ ứng với (độ trễ của chính phương sai trong quá khứ) do đó phương trình phương sai của GARCH (1,1) cho

cả ba model sẽ thể hiện như sau

=

Trang 40

Trong đó:

đại điện cho cú shock trong quá khứ ứng với độ trễ một kỳ

đại diện cho phương sai sai số thay đổi ứng với độ trễ một kỳ

Ý nghĩa thống kê của các hệ số tương ứng với các biến trong mô hình được tính toán dựa trên các phương pháp được đề xuất bởi Bollerslev và Wooldrige (1992) với giả định phần dư tuân theo quy luật phân phối chuẩn

3.3 Quy trình hồi quy

Để trả lời cho các câu hỏi đã đặt ra trong chương I Tác giả tiến hành hồi quy theo các bước sau:

Bước 1: Hồi quy mỗi model (1), (2) và (3) cho mỗi bộ dữ liệu ứng với từng doanh nghiệp khác nhau để tính toán hệ số ước lượng và mức ý nghĩa thống kê đối với hệ số ước lượng ứng với từng phương trình (1), (2) và (3) và tính toán tỷ lệ phần trăm các doanh nghiệp mà tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp này chịu ảnh hưởng bởi biến động giá dầu bao gồm cả ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực

Bước 2: Hồi quy model (3) cho mỗi bộ dữ liệu ứng với từng doanh nghiệp khác nhau để tính toán rút ra hệ số ước lượng , , , , , , , và mức ý nghĩa thống kê ứng với mỗi hệ số ước lượng và tính toán tỷ lệ phần trăm các doanh nghiệp

mà tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các doanh nghiệp này chịu ảnh hưởng bởi độ trễ của biến động giá dầu bao gồm cả ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực

Bước 3: Phân loại các doanh nghiệp thành ba loại có quy mô khác nhau bao gồm các doanh nghiệp có quy mô lớn, quy mô trung bình và quy mô nhỏ dựa trên giá trị vốn hóa thị trường của doanh nghiệp (các doanh nghiệp được phân loại thể hiện ở phần phụ lục trong đó các doanh nghiệp có giá trị vốn hóa thị trường trong khoảng 30-1,000 tỷ đồng thuộc doanh nghiệp có quy mô nhỏ, các doanh nghiệp có giá trị vốn hóa thị trường trong khoảng 1,000 – 10,000 tỷ đồng thuộc doanh nghiệp có quy mô vừa và

Ngày đăng: 08/06/2021, 15:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm