1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1930 đến năm 1954 ở trường trung học phổ thông thành phố hạ long tỉnh quảng ninh​

144 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 701,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Các tác giả Berdn Meier và Nguyễn Văn Cường trong cuốn“Lí luận dạy học hiện đại- Một số vấn đề đổi mới PPDH” đã đưa ra quan niệm dạy học nhóm là mộ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

MAI HOÀI THU

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1954

THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

MAI HOÀI THU

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1954

THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được hoàn thànhvới sự hướng dẫn của TS Lê Thị Thu Hương Các số liệu, kết quả được trình bàytrong đề tài là trung thực Những kết luận khoa học của đề tài chưa từng được ai công

bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

MAI HOÀI THU

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn:

TS Lê Thị Thu Hương cùng các thầy cô trong Khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm

-Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, tổ Sử - Địa - Giáo dục công dântrường THPT Hòn Gai, thành phố Hạ Long - tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện thuậnlợi về mọi mặt để tôi học tập

Trong thời gian điều tra khảo sát và tiến hành thực nghiệm, tôi đã nhận được

sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám hiệu, đồng nghiệp và các em HS ở các trườngTHPT thành phố Hạ Long - tỉnh Quảng Ninh Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡquý báu đó

Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồngnghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tác giả luận văn

MAI HOÀI THU

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9

6 Giả thuyết khoa học và đóng góp của luận văn 10

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10

8 Cấu trúc đề tài 10

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1954 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH 12

1.1 Cơ sở lý luận 12

1.1.1 Một số quan niệm về tổ chức hoạt động nhóm 12

1.1.2 Đặc điểm, hình thức, ưu, nhược điểm của tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử 15

1.1.3 Xuất phát điểm của vấn đề nghiên cứu 21

1.1.4 Ý nghĩa của việc tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử ở trường THPT thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh 26

1.2 Cơ sở thực tiễn 28

1.2.1 Địa điểm, thời gian, đối tượng khảo sát 28

1.2.2 Kế hoạch và nội dung tiến hành điều tra, khảo sát 28

1.2.3 Kết quả điều tra, khảo sát 29

Trang 6

1.2.4 Nhận xét chung về thực trạng tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch

sử ở các trường THPT thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh 33

Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1954 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH 37

2.1 Mục tiêu và nội dung cơ bản của Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954 ở trường THPT 37

2.1.1 Mục tiêu 37

2.1.2 Nội dung cơ bản 37

2.2 Một số biện pháp tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954 ở trường THPT thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh 41

2.2.1 Yêu cầu khi tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954 41

2.2.2 Một số biện pháp tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954 ở trường THPT thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh 45

2.3 Thực nghiệm sư phạm 76

2.3.1 Mục đích của thực nghiệm 76

2.3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 76

2.3.3 Nội dung tiến hành thực nghiệm 76

2.3.4 Kết quả thực nghiệm 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

1 Kết luận 81

2 Kiến nghị 82

DANH MỤC BÀI BÁO CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng:

Bảng 1.1 Kết quả điều tra thái độ của học sinh trong giờ học lịch sử có tổ chức

hoạt động nhóm 30

Bảng 1.2 Kết quả điều tra về nhận thức của GV về sự cần thiết của việc tổ

chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử 32

Bảng 2.1 Kết quả các bài kiểm tra sau khi thực nghiệm ở trường THPT Vũ Văn Hiếu

77

Bảng 2.2 Tỉ lệ các bài kiểm tra sau khi thực nghiệm ở trường THPT Vũ Văn Hiếu

78

Bảng 2.3 Kết quả các bài kiểm tra sau khi thực nghiệm ở trường THPT Hòn Gai.78

Bảng 2.4 Tỉ lệ các bài kiểm tra sau khi thực nghiệm ở trường THPT Hòn Gai 79

Biểu đồ:

Hình 2.1 Biểu đồ so sánh tỷ lệ giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 79

Trang 9

v

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ từ những năm 40 của thế kỉ XX đã đưaloài người bước sang một thời đại mới - thời đại văn minh thông tin Với sự phát triểnnhư vũ bão của khoa học- công nghệ, xu thế toàn cầu hóa buộc chúng ta cần phải tăngcường hợp tác, giao lưu để học hỏi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ để phát triểnnếu như không muốn bị tụt hậu Mỗi một thời kì, lịch sử lại giao phó cho con ngườinhững nhiệm vụ khác nhau và con người cần phải thích ứng để hoàn thành tốt Có thểthấy, thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước hơn ai hết chính là lực lượngđảm nhận sứ mệnh lịch sử này

Trước những thay đổi của thời đại mới, giáo dục cũng cần phải có những cảicách phù hợp để đáp ứng tình hình mới, để tạo nên những con người mới có đủ kiếnthức, năng lực, phẩm chất, thích ứng được với xu thế chung của nhân loại, đáp ứngđược yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, công cuộc đổi mới đất nước

Về vấn đề đổi mới PPDH, Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, (Khóa

XI) đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

và đào tạo” Nghị quyết nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học

tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học” [1; tr.5] Như vậy, Nghị quyết khẳng định đổi mới giáo

dục là “chìa khóa” quan trọng mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước và là yêu cầu của cuộc sống.

Hiện nay, TCHĐN cho HS trong DHLS là một yêu của đổi mới PPDH Mục tiêucủa TCHĐN là giúp HS cùng làm việc để đạt được kết quả chung tốt nhất Thông quahoạt động nhóm, HS được tự mình nói lên ý kiến cá nhân, từ đó giúp các em biết lắngnghe, biết chia sẻ và tự tin trước đám đông, chủ động chiếm lĩnh tri thức, tự tin bảo vệquan điểm của mình Có thể nói, tổ chức dạy học theo nhóm là một sự lựa chọn

Trang 11

phù hợp để phát huy tính tích chực, chủ động, sáng tạo của HS trong DHLS, giúp các

em hiểu và nhớ kiến thức lâu hơn, có khả năng vận dụng để giải quyết các vấn đề củathực tiễn

Tuy nhiên trên thực tế, tại các trường THPT thành phố Hạ Long, tỉnh QuảngNinh, việc TCHĐN trong DHLS đã được triển khai nhưng chưa thật sự thường xuyên và

chưa mang lại hiệu quả cao Nhiều GV còn “ngại” thay đổi vì đã quen PP truyền thống

nên có TCHĐN nhưng chỉ mang tính hình thức, chưa biết cách tổ chức cho phù hợp đểcuốn hút HS vào việc học lịch sử, nhất là đối với khối 12 Một số GV đã quan tâm đếnviệc TCHĐN nhưng do chưa được trang bị lí luận nên thực hiện chưa hiệu quả Còn HSchịu ảnh hưởng lớn từ phía gia đình, chỉ tập trung vào các môn thi Đại học (rất ít HS lựachọn khối thi có môn lịch sử), dẫn đến học lệch, không quan tâm và dành thời gian chomôn Lịch sử… Điều này là trở ngại lớn cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng

đã đề ra là “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ GV và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp… Xây dựng

môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội”[46; tr.130-131] Từ đó dẫn đến kết quả thi THPT quốc gia môn Lịch sử những

năm gần đây luôn thấp hơn nhiều so với các môn học khác, chất lượng DHLS ngàycàng giảm sút

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954 ở trường trung học phổ thông thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu với hi

vọng góp phần nâng cao chất lượng DHLS hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Các tác giả Berdn Meier và Nguyễn Văn Cường trong cuốn“Lí luận dạy học

hiện đại- Một số vấn đề đổi mới PPDH” đã đưa ra quan niệm dạy học nhóm là một

hình thức dạy học, trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc, HS của một lớp sẽ được

phân chia các nhiệm vụ học tập Sau đó kết quả làm việc của nhóm được trình bày vàđánh giá trước cả lớp [4]

Trang 12

Tác giả Geoffrey Petty trong cuốn “Hướng dẫn thực hành dạy học ngày nay” (2002), chương 18 đã tập trung vào vấn đề “Tại sao lại chia nhóm” Theo tác giả, học

nhóm luôn luôn sổi nổi, nó tạo cơ hội cho HS sử dụng các PP, nguyên tắc từ vựng đượcdạy trong quá trình hợp tác Những HS ít phát biểu, nhút nhát sẽ có môi trường để thamgia phát biểu ý kiến, xây dựng bài… Đặc biệt hoạt động nhóm giúp các em sẽ đạt đượcnhững kết quả tốt hơn, điều mà các em không thể có được khi làm việc một mình [11]

Tác giả John C Maxwell trong cuốn “17 nguyên tắc vàng trong làm việc

nhóm” (2008) đã chỉ ra rằng nếu biết cách áp dụng các nguyên tắc vàng này trong

làm việc nhóm thì khả năng làm việc nhóm của HS sẽ tăng TCHĐN trong nhàtrường đã tạo cho HS những kĩ năng mà xã hội cần [21]

Tác giả Lawrence Holpp trong cuốn “Quản lí nhóm” (2007) đã nêu lên tổng

quát các kĩ năng liên quan đến việc xây dựng nhóm học tập và hoạt động nhóm như:xác định mục tiêu hoạt động nhóm, tạo môi trường làm việc nhóm…[12]

Các tác giả Robert J Marzano, Debra J.Pickering và Jane E Pollock trong

cuốn “Các PPDH hiệu quả”đã dành 7 chương để giới thiệu về cách học phối kết hợp trong tổ nhóm như: Nghiên cứu lí thuyết về việc học nhóm phối hợp, hướng dẫn thực

hành hoạt động nhóm trên lớp… [38; tr.106]

Tác giả Mila Novich trên Tạp chí Kiến thức mới số 3/2000 có đăng bài “Kĩ

thuật làm việc nhóm- Kĩ thuật học tập tiên tiến”, cho rằng nhóm học tập được hiểu là

các hoạt động chung của một nhóm từ 3 đến 9 HS để cùng nhau thực hiện một số

nhiệm vụ từ GV Cũng theo tác giả, làm việc nhóm nhằm nâng cao nhận thức và tăngcường sự hiểu biết lẫn nhau của các thành viên trong nhóm; học tập nhóm sẽ làm pháttriển các ý tưởng mới, đề ra các giải pháp tích cực để giải quyết vấn đề [31]

Có thể thấy, nhiều nhà giáo dục trên thế giới gần đây ngày càng quan tâm nhiềuhơn đến việc TCHĐN để phát huy tính hiệu quả trong học tập Họ đã đưa ra những quanđiểm, khái niệm, hướng dẫn về cách thức, quy trình, kĩ thuật tổ chức dạy học theo nhómcho cả HS và GV để nâng cao hiệu quả dạy học Họ chỉ ra được rằng cách học theonhóm đóng vai trò rất lớn trong việc nâng cao vai trò tích cực của HS, đào sâu vốn trithức và phát triển tư duy độc lập của HS.Tuy nhiên, để áp dụng thành công TCHĐN cònphụ thuộc vào nhiều yếu tố và cần có thêm thời gian để kiểm chứng

Trang 13

2.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước

- Tác giả Nguyễn Thị Oanh trong cuốn “Làm việc theo nhóm” đã chỉ ra thế

nào là một nhóm, nhóm trong đời sống chúng ta, truyền thông trong nhóm… Mụcđích xuất bản cuốn sách, tác giả mong muốn nâng cao hiểu biết của các bạn trẻ vềnhóm để có thể vận dụng các kĩ năng hoạt động nhóm vào đời sống [35]

- Tác giả Nguyễn Văn Hồng trong cuốn “Dạy học hợp tác - nhóm (2010) đã chỉ

ra một số vấn đề cơ bản về dạy học hợp tác nhóm: Khái niệm, bản chất, quy trình, tácdụng, bất cập của dạy học hợp tác - nhóm và đã thiết kế một số giáo án minh họa theohướng hợp tác nhóm của môn Sinh học (10,11), Công nghệ (10), Hóa học (10), Toán(10), Giáo dục công dân 10 Tác giả đã góp phần vào việc rèn luyện cho HS kĩ nănglàm việc nhóm thông qua tổ chức DHHT - nhóm tại lớp, đồng thời giúp GV biết cáchxây dựng quy trình tổ chức DHHT- nhóm [17]

- Tác giả Nguyễn Hữu Châu trong cuốn “Đổi mới nội dung và PP đào tạo GV trung học cơ sở” đã viết một chuyên đề “Dạy học hợp tác” nêu lên khái niệm “Hợp tác

là gì?”, các hình thức học tập hợp tác… [3]

- Trong cuốn “Dạy học lấy HS làm trung tâm”, tác giả Trần Bá Hoành đã

đưa

ra khái niệm: “Nhóm là một tập thể nhỏ được hình thành để thực hiện một nhiệm vụ

nhất định trong một thời gian nhất định” [16; tr.55].

- Tác giả Phan Trọng Ngọ trong cuốn “Dạy học và PPDH trong nhà trường”

đã đề cập đến PP thảo luận theo nhóm nhỏ, định nghĩa hoạt động nhóm, những ưuđiểm và hạn chế của việc hoạt động nhóm và cũng chỉ ra các hình thức tổ chức nhómhọc tập [34]

- Tác giả Phan Ngọc Liên (chủ biên), Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng trong

giáo trình “PPDH lịch sử” đã đề cập đến những yêu cầu, biện pháp nhằm nâng cao hiệu

quả bài học lịch sử, trong đó các tác giả đã bắt đầu đề cập đến hình thức TCHĐN

trong DHLS [28]

- Hay trong cuốn “Đổi mới PPDH lịch sử ở trường PT”, tác giả Phan Ngọc

Liên đã đưa ra những yêu cầu của việc đổi mới PPDH trong đó nêu lên hình thức làmviệc nhóm để HS tự trao đổi, thảo luận và tự giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quátrình học tập [24; tr 323]

Trang 14

- Tác giả Trần Quốc Tuấn trong cuốn sách chuyên khảo “Nâng cao năng lực

DHLS ở trường THPT” (2017), đã nêu ra được lí luận chung về dạy học nhóm, thực

trạng của việc dạy học nhóm trong môn Lịch sử ở trường THPT và minh họa một sốbài tập tình huống dạy học rèn luyện kĩ năng tổ chức bài học lịch sử trên lớp Đây làcông trình nghiên cứu được tiến hành dựa trên thực nghiệm sư phạm tại các trườngTHPT trên địa bàn các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ [43] Tuynhiên công trình mới chỉ minh họa được một số cách thức chia nhóm trong hoạt độnghọc tập trên lớp chủ yếu thuộc các bài nằm trong chương trình lịch sử khối 10 và 11

TCHĐN còn được các tác giả đề cập đến trong các bài báo đăng trên các tạp chí:

- Tác giả Trần Thị Thu Mai trong bài viết “Về PP học theo nhóm” ở tạp chí

nghiên cứu giáo dục số 12/2000 đã đề cập đến khái niệm, vai trò, hệ thống biện pháp…của học theo nhóm Tuy nhiên tác giả vẫn chỉ xây dựng cơ sở lý thuyết chứ chưa đivào vận dụng cụ thể [30; tr.12]

- Tác giả Trần Quốc Tuấn cũng đã có bài đăng trên Tạp chí khoa học giáo dục

“Tổ chức dạy học theo nhóm trong giờ lên lớp môn Lịch sử ở trường THPT” đã nêu

lên những nhận thức về dạy học theo nhóm nói chung và môn Lịch sử nói riêng, chỉ

ra một số hình thức, biện pháp tiến hành tổ chức dạy học theo nhóm [44; tr.111-118]

- Cùng bàn về việc nâng cao hiệu quả của làm việc nhóm trong DHLS, tác giảTrần Thị Hải Lê trường Đại học Sư phạm- Đại học Huế đã có bài viết đăng trên Tạp

chí Khoa học và giáo dục (Số 01 / 2014)“Sử dụng phiếu học tập kết hợp với dạy học

nhóm khi tiến hành các bài ôn tập, sơ kết, tổng kết trong DHLS ở trường THPT” Tác

giả đã phân loại các loại phiếu học tập và chỉ ra các hình thức dạy học nhóm và cách

sử dụng các phiếu học tập kết hợp với dạy học nhóm qua một số bài ôn tập, sơ kết cụthể của phần Lịch sử 10 và 11 [22; tr 56-62]

Trang 15

- Liên quan đến vấn đề sử dụng phiếu trong dạy học nhóm, tác giả Lê Văn Giáo

và tác giả Văn Thị Gái trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế đã có bài viết đăng

trên Tạp chí Thiết bị giáo dục số 88- 12/2012 “Phối hợp thí nghiệm và phiếu học tập

trong dạy học nhóm” chỉ ra các bước thiết kế phiếu học tập và phối hợp tổ chức

nhóm Bài viết minh họa 04 phiếu học tập ở môn Vật lí THPT [13; tr 34].

- Trên Tạp chí Giáo dục số 164 kì 1-6/2007, tác giả Hoàng Thị Nga, Khoa Giáo

dục chính trị trường Đại học Vinh có bài đăng “Sử dụng PPDH nhóm trong chương trình Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông” nêu lên quy trình tổ chức dạy

học nhóm và thiết kế bài dạy mẫu trong chương trình công dân 10, bài 15 Đồng thời tácgiả cũng chỉ ra một số vấn đề cần lưu ý khi sử dụng PPDH nhóm [33; tr 39- 40]

- Góp phần vào việc sử dụng các PPDH tích cực trong dạy học, tác giả Nguyễn

Trọng Sửu có bài viết “Dạy học nhóm- PPDH tích cực” số 171 kì 1-9 (2007) đăng trên

Tạp chí Giáo dục nêu lên những vấn đề cơ bản trong dạy học nhóm, mục đích, côngdụng và chia tiến trình dạy học nhóm thành 3 giai đoạn, đồng thời cũng chỉ ra các tiêuchí thành lập nhóm và nhược điểm của dạy học nhóm…[39; tr 21-23]

Ngoài ra, vấn đề này còn được đi sâu nghiên cứu ở nhiều Luận văn, Luận án:

- Trong Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Dạy học bằng PP TCHĐN nhằm nâng cao chất lượng lĩnh hội kiến thức cho HS lớp 10 nâng cao qua chương nhóm Ô xi” của học viên Phan Đồng Châu Thủy, Đại học Sư phạm Huế (2006) đã đề ra được một số

biện pháp TCHĐN cho các dạng bài trên lớp, thuộc chương Nhóm Ô xi, chương

trình Hóa học nâng cao cho HS lớp 10 như: Dạng bài thực hành; dạng bài truyền thụ kiếnthức mới có TCHĐN thông qua bài tập, thí nghiệm; dạng bài luyện tập hình thức trắcnghiệm khách quan và tự luận có TCHĐN Tác giả đã thiết kế được 11 giáo án nâng caocho chương trình hóa học 10 có TCHĐN và cũng đã thực nghiệm để đánh giá hiệu quảcủa phương pháp TCHĐN qua một số bài kiểm tra 15 phút và 45 phút Đề tài góp phầnvào đổi mới PPDH Các hình thức hoạt động nhóm góp phần nâng cao chất lượng dạyhọc và phát huy được tính tích cực, chủ động, khả năng tư duy của HS [41]

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “TCHĐN trong dạy và học môn Hóa học ở trường THPT- chương trình nâng cao” của Hỉ A Mổi - Học viên Khóa 17, trường ĐH

SP TPHCM (2009) đã nghiên cứu về cơ sở lí luận của PPDH nhóm với việc áp dụnghình thức DHHT cho HS thông qua các thí nghiệm và TCHĐN ngoài giờ lên lớp, có

Trang 16

giáo án minh họa cụ thể Luận văn đã đề xuất cách đánh giá hoạt động của mỗi cánhân HS thông qua hoạt động nhóm và thiết kế thực nghiệm 6 giáo án cụ thể để đánhgiá hiệu quả của PPDH theo nhóm theo tư tưởng hợp tác ở trường THPT Tác giả đãlàm nổi bật ưu điểm của PP hoạt động nhóm trong dạy học theo quan điểm hợp tác,chứng minh được hình thức dạy học theo nhóm là có thể thực hiện được và mang lạihiệu quả giáo dục cao Tuy nhiên luận văn chưa đánh giá được khả năng hợp tác củamỗi cá nhân trong quá trình hoạt động nhóm Luận văn góp phần làm thay đổi cáchnhìn nhận về đổi mới PPDH [32].

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục “Vận dụng dạy học hợp tác trong dạy học

Sinh học lớp 11” của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang, Đại học Sư phạm- Đại học Thái

Nguyên (2009) đã nghiên cứu: Cơ sở lí luận về DHHT; Quy trình tổ chức một giờhọc theo PPDH hợp tác và thiết kế 9 giáo án và thực nghiệm 4 giáo án trong số đó,đồng thời thiết kế hoạt động nhóm dựa vào phiếu học tập và thí nghiệm Tác giả đãcung cấp một số thông tin về DHHT của một số nước trên thế giới nhưng chưa phântích rõ được theo ý kiến của mình Tác giả cũng chưa đề xuất được giải pháp khắcphục hạn chế trong hoạt động nhóm- một số cá nhân vốn chỉ quen ỷ lại người khác.Tuy nhiên, tác giả mới chỉ chú ý đến hoạt động nhóm nhỏ trong thời gian 3-5 phút,chưa chú ý đến kĩ năng chia nhóm và rèn kĩ năng làm việc nhóm cho HS và chưađánh giá được sự đóng góp của mỗi cá nhân trong thành tích chung của cả nhóm [42]

Tác giả Phạm Thị Hằng trong Luận văn “TCHĐN trong DHLS ở trường THPT

(qua thực tế lớp 11)” đã đề cập đến cơ sở lí luận và thực tiễn của việc TCHĐN trong

DHLS ở trường THPT; mối quan hệ giữa PP TCHĐN với PP khác; quy trình TCHĐN

và tiến hành thực nghiệm trong DHLS 11 với 02 giáo án Tuy nhiên tác giả chưa làm

rõ môi trường học tập cũng như nhiệm vụ quản lý lớp học của GV trong TCHĐN Ởphần thực nghiệm tác giả chưa đưa ra được mục tiêu, nội dung chương trình, đốitượng trước khi tiến hành thực nghiệm [15]

Tác giả Tạ Thị Dung, trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội trong

Luận văn Thạc sĩ “TCHĐN trong DHLS Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX ở trường THPT Hoài Đức B, Hà Nội” đã nêu lên được những vấn đề lí luận cơ bản về

TCHĐN ở trường THPT, chỉ ra được đặc trưng, thực trạng, nguyên nhân của thực trạngviệc TCHĐN trong DHLS ở trường THPT Hoài Đức B, Hà Nội; Luận văn cũng xây

Trang 17

dựng được quy trình TCHĐN tại lớp để dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốcđến giữa thế kỉ XIX ở trường THPT Hoài Đức B, Hà Nội, đồng thời tác giả cũng thiết

kế được 02 giáo án thực nghiệm - Bài 19 và bài 20 Lịch sử 10 (chương trình chuẩn)minh họa [7]

Luận án tiến sĩ giáo dục học “TCHĐN trong DHLS ở trường THPT” của

nghiên cứu sinh Hà Thị Lịch, Đại học Sư phạm Hà Nội (2013) đã có những đóng gópmới về mặt thực tiễn cho việc TCHĐN trong dạy học môn Lịch sử ở trường THPTnói riêng và trong dạy học nói chung Luận án cũng đã thiết kế thử nghiệm được một

số dạng TCHĐN trong DHLS ở THPT (Phần lịch sử thế giới từ nguồn gốc đến giữathế kỉ XVI lớp 10, chương trình chuẩn) và đề xuất để phát huy hình thức dạy học này

Mặc dù có nhiều cuốn sách, bài viết có giá trị, các luận văn, luận án nghiên cứu vềvấn đề TCHĐN trong dạy học nói chung, DHLS nói riêng nhưng chưa có công trình nào

đi sâu nghiên cứu về TCHĐN trong DHLS Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954

ởtrường THPT TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh một cách có hệ thống Tuy vậy, nhữngcông trình nghiên cứu trên đây là cơ sở quan trọng để chúng tôi tham khảo trong việcnghiên cứu vấn đề này

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp TCHĐN trong DHLS Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954

ởtrường THPT thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Trang 18

- Chúng tôi chọn các trường THPT sau để tiến hành thực nghiệm sư phạm toànphần: THPT Hòn Gai, THPT Vũ Văn Hiếu.

4.1 Mục đích

Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc TCHĐN trong DHLS ở trườngTHPT hiện nay, luận văn tập trung nghiên cứu việc TCHĐN trong bài nghiên cứukiến thức mới nhằm phát triển năng lực học sinh Đồng thời luận văn cũng đưa ra một

số yêu cầu nhằm thực hiện có hiệu quả những hình thức TCHĐN và các biện pháp cụthể trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954, nhằm góp phầnnâng cao chất lượng DHLS ở trường THPT

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu lí luận tâm lí học, giáo dục học, giáo dục lịch sử viết về việc

TCHĐN trong DHLS

- Khai thác nội dung chương trình, sách giáo khoa Lịch sử lớp 12, đề xuất một

số hình thức, biện pháp TCHĐN trong DHLS Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954

- Điều tra thực tiễn việc TCHĐN trong DHLS Việt Nam từ năm 1930 đến năm

1954 ở các trường THPT thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Đề xuất một số biện pháp TCHĐN trong DHLS Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954 ở trường THPT thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Thiết kế giáo án, tiến hành thực nghiệm và rút ra kết luận sư phạm

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Cơ sở PP luận của đề tài là dựa trên cơ sở những quan điểm lý luận của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, Nhà nước

về công tác giáo dục, những vấn đề liên quan đến lý luận dạy học và những tài liệuliên quan đến đề tài nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu tâm lí học, giáo dục học, giáo dục lịch sử PPDH bộ môn

- Nghiên cứu về chương trình, nội dung SGK lịch sử lớp 12 (phần Lịch sử Việt Nam).

Trang 19

- Nghiên cứu thực tiễn việc DHLS ở trường PT qua dự giờ, quan sát, điều tra xãhội học, phỏng vấn GV, HS, cán bộ quản lí Ngoài ra, chúng tôi còn lắng nghe ý kiếnchia sẻ của đồng nghiệp, các thầy cô giáo đang trực tiếp DHLS ở trường THPT để biếtđược thực trạng việc TCHĐN trong DHLS Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954 ở trường THPT thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Soạn bài thực nghiệm theo những biện pháp đã đề xuất trong đề tài

- Sử dụng PP thống kê toán học, tập hợp và xử lí số liệu đã thu được để phân tích, nhận xét, rút ra kết luận và kiến nghị

6.1 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng các biện pháp TCHĐN trong DHLS Việt Nam từ năm 1930 đếnnăm 1954 đáp ứng những yêu cầu đưa ra sẽ góp phần nâng cao chất lượng DHLS ởtrường THPT thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh hiện nay

6.2 Đóng góp của đề tài

- Khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc TCHĐN trong DHLS Việt Nam từ năm

1930 đến năm 1954 ở THPT thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Phác họa bức tranh thực trạng việc TCHĐN trong DHLS Việt Nam từ năm

1930 đến năm 1954 ở trường THPT thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

- Đề xuất một số biện pháp TCHĐN trong DHLS Việt Nam (1930 - 1954) ở trường THPT thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

* Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu góp phần làm phong phú thêm lí luận và PPDH bộ môn vềvấn đề TCHĐN trong DHLS nói chung và DHLS Việt Nam (1930-1954) nói riêng ởtrường PT hiện nay

* Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo giúp cho bản thân và GV lịch

sử ở các trường THPT thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh sử dụng trong quá trìnhdạy học bộ môn để nâng cao chất lượng dạy học

8 Cấu trúc đề tài

Trang 20

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luậnvăn bao gồm hai chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề tổ chức hoạt động nhóm trongdạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1954 ở trường trung học phổ thôngthành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

Chương 2: Các biện pháp tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử ViệtNam từ năm 1930 đến năm 1954 ở trường trung học phổ thông thành phố Hạ Longtỉnh Quảng Ninh

Trang 21

1.1.1 Một số quan niệm về tổ chức hoạt động nhóm

* Tổ chức

“Tổ chức” được hiểu là sự sắp xếp các yếu tố của một phức hợp trong mối tác

động qua lại của chúng, hoặc là sự xác định trật tự cấu trúc của một hoạt động, baogồm cả ý nghĩa chức năng của cấu trúc đó

Trong quá trình dạy học, tổ chức được hiểu là sự sắp xếp, phối hợp hoạt độngdạy của thầy với hoạt động học của trò để cùng đạt được nhiệm vụ học tập đặt rabằng cách đưa ra những biện pháp có cơ sở khoa học để tổ chức các mối quan hệ giữacác thành tố cơ bản của quá trình dạy học, bao gồm: hoạt động dạy, hoạt động học vànội dung dạy học để nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học

*Nhóm, nhóm học tập:

Theo Từ điển tiếng Việt: “Nhóm” là “tập hợp một số ít người hoặc sự vật được

hình thành theo những nguyên tắc và tiêu chí nhất định” [37; tr.153].

Theo tác giả Trần Quốc Tuấn thì “nhóm học tập là tập hợp một số ít người

được hình thành nên nhằm cùng tiếp nhận và giải quyết những nhiệm vụ đặt ra trong quá trình học tập” [43; tr.78] “Nhóm học tập” là môi trường, là phương tiện để GV

chuyển các hoạt động dạy học đến HS Đối với HS, nhóm học tập không chỉ là môi

trường học tập tích cực mà còn là đối tượng học tập của HS

Còn theo tác giả Trần Duy Hưng thì “Nhóm học tập là một đơn vị cấu thành

của tập thể lớp học, bao gồm một tập hợp những cá nhân HS được liên kết với nhau trong một hoạt động chung nhằm thực hiện những nhiệm vụ học tập chung, đồng thời trong quá trình liên kết đó sẽ hình thành và tích hợp các quan hệ tình cảm, các chuẩn mực và quy tắc nhóm” [20; tr 20].

Nhìn chung, nhóm học tập của HS là một hệ thống luôn vận động và phát triểntrong sự tương tác giữa các thành viên để thực hiện các nhiệm vụ học tập liên tiếpđược đặt ra cho nhóm

Trang 22

* Quan niệm về tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về TCHĐN trong lí luận dạy học Một sốnhà giáo dục coi TCHĐN là một PPDH, là một cách thức, con đường để đạt đượcmục đích của việc dạy học Có quan điểm lại cho rằng TCHĐN là một hình thức củadạy học Vì vậy TCHĐN được coi như một cách thức tổ chức tiến hành hoạt độngdạy học cho phù hợp với nội dung, mục tiêu bài học Cũng có quan niệm cho rằngTCHĐN vừa mang đặc điểm của PPDH lại vừa mang đặc điểm của hình thức tổ chứcdạy học Nhưng dù tiếp cận theo cách nào thì vẫn có điểm chung là: TCHĐN là cáchthức tổ chức để tiến hành hoạt động dạy và học trong điều kiện HS được chia ra thànhnhiều nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi thành viên trong nhóm tự lựchoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quảlàm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp Bản chất của tổchức dạy học theo nhóm là sử dụng các mối quan hệ mang tính tương tác trực tiếp, đachiều ở nhiều cấp độ khác nhau giữa các chủ thể để tổ chức dạy học Mối quan hệ nàyđược thể hiện ở hai mặt: Mặt nội dung nói lên tính chất của các mối quan hệ trongdạy học đó là hợp tác và cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể học tập, sự cộnghưởng của nhiều người để tạo nên sức mạnh của trí tuệ Mặt hình thức bao gồm tổngthể các mối quan hệ xã hội đa dạng giữa các chủ thể học tập

Từ nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn, chúng tôi tiếp cận nghiên cứu TCHĐNdưới góc độ là một dạng tổ chức dạy học Với cách tiếp cận này, TCHĐN đượcnghiên cứu với các dấu hiệu sau:

Trang 23

- Sự tương tác qua lại đó diễn ra trong từng nhóm nhỏ, ngay trong giờ học với cácloại bài để tổ chức cho HS tiếp thu kiến thức mới nằm trong chương trình giáo dục.

- HS luôn là chủ thể học, tích cực sáng tạo, chủ động dưới sự dẫn dắt, tổ chứccủa GV, HS tìm cách trao đổi để giải quyết vấn đề theo nhóm dựa trên tình huống củagiáo viên đưa ra Các em biết cách trình bày, phản biện sản phẩm của nhóm trước GV

và các nhóm khác Trên cơ sở đó HS không bị thụ động trong việc tiếp thu kiến thức

mà chủ động lĩnh hội tri thức của bài học

- GV trong TCHĐN là người dẫn dắt, điều khiển, tổ chức HS tiếp thu tri thứcbên cạnh việc truyền đạt, cung cấp kiến thức cho HS dưới sự hỗ trợ của các tài liệubiên soạn hay công nghệ thông tin GV định hướng giúp HS được học tập, trao đổi,thảo luận với nhau để cùng rút ra các kiến thức cần lĩnh hội Đôi khi có những vấn đềtranh luận không có được sự thống nhất thì GV làm trọng tài hoặc làm cố vấn giúp

HS tìm ra vấn đề Như vậy dù HS là trung tâm của hoạt động dạy học nhưng GVđóng vai trò quan trọng giúp HS khám phá tri thức, ứng dụng vào cuộc sống để hìnhthành phát triển nhân cách, năng lực cho HS vừa chủ động, năng động, tích cực, tựchủ, vừa có năng lực tự học, giải quyết vấn đề, sáng tạo

Khi tổ chức các hoạt động dạy học, để HS lĩnh hội kiến thức một cách tíchcực, chủ động, GV cần chia HS thành từng nhóm nhỏ để các em hợp tác với nhau,bằng sức mạnh trí tuệ của cá nhân và tập thể mà các em hoàn thành nhiệm vụ học tập.Trong dạy học, khi TCHĐN, GV phải tiến hành theo các bước sau: Hình thành nhóm(tùy theo số lượng HS và mức độ nội dung cần giải quyết mà chia nhóm thành nhữngquy mô khác nhau), giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm; trong quá trình HS làm việc nhóm,

GV cần quan sát để kịp thời giúp đỡ và kiểm soát hoạt động của HS; sau khi hết thờigian thảo luận, GV yêu cầu các nhóm báo cáo kết quả của nhóm; các nhóm phảnbiện, đánh giá bổ sung cho nhau; cuối cùng GV sẽ là người đánh giá kết quả chung

Từ đó có thể hiểu, TCHĐN là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó dưới sự

tổ chức và điều khiển của GV, HS được chia thành từng nhóm nhỏ, liên kết lại vớinhau, với phương thức tác động qua lại giữa các thành viên, bằng trí tuệ của cả tậpthể để hoàn thành các nhiệm vụ học tập được giao

Trang 24

1.1.2 Đặc điểm, hình thức, ưu, nhược điểm của tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử

1.1.2.1 Đặc điểm

TCHĐN trong dạy học là một hình thức, PPDH góp phần phát huy tính tíchcực và tương tác của HS Đó là một định hướng giáo dục chú trọng khai thác tối đamối quan hệ và tác động đa chiều trong quá trình dạy học Theo quan điểm của cácnhà lí luận dạy học hiện đại, quá trình TCHĐN trong dạy học có những đặc điểm sau:

- Về nhiệm vụ: TCHĐN trong DHLS không chỉ truyền thụ cho HS những kiến

thức quy định trong chương trình, mà còn giúp HS tiếp thu kiến thức một cách chủđộng, nhận được nhiều thông tin phản hồi từ GV và các HS khác Dưới sự hướng dẫn của

GV, HS được thu hút vào các hoạt động học tập, tiếp thu kiến thức bằng chính khả năngcủa mình Đồng thời, hoạt động này hướng vào việc phát triển tư duy, hình thành

các kỹ năng thực hành, giao tiếp, sáng tạo, làm việc tập thể, chuẩn bị cho HS sớmthích ứng và hòa nhập với đời sống xã hội

-Về nội dung: Nội dung của TCHĐN trong DHLS không chỉ là những tri thức,

mà còn bao gồm các bài tập nhận thức dưới dạng các tình huống, các dạng thực hànhtìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề

- Về phương pháp: TCHĐN trong DHLS coi trọng việc rèn luyện cho HS thói

quen và PP tự học, hoạt động độc lập cá nhân hoặc hợp tác trong tập thể thông qua thảoluận nhóm và thực hành HS không chỉ chịu tác động một chiều từ GV như PPDH truyềnthống mà tiếp nhận kiến thức trong mối quan hệ đa chiều giữa GV với HS, HS với GV,

HS với HS HS trở thành chủ thể tích cực của quá trình lĩnh hội tri thức, thông qua tựnghiên cứu, trao đổi, thảo luận, rút kinh nghiêm… Lúc này GV trở thành người tổchức, thiết kế các hoạt động, thành lập các nhóm học tập và đề ra nhiệm vụ cho từngnhóm, chủ trì các hoạt động và tổng kết, định hướng kiến thức cho HS

- Về đánh giá: HS tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, vì vậy cùng

với việc kiểm tra, đánh giá của GV và nhà trường thì HS được tham gia vào quá trìnhđánh giá, tự đánh giá

Như vậy, TCHĐN có tác dụng phát huy tính tích cực học tập của HS trong dạyhọc Chỉ khi nào thầy giáo đóng vai trò là người điều khiển, tổ chức hoạt động, trò là

Trang 25

người chủ động trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập thì dạy học mới đạt đượcmục tiêu đặt ra.

1.1.2.2 Hình thức

Tác giả Nguyễn Văn Hồng đã chỉ ra “hình thức của TCHĐN trong dạy học là

hình thức tổ chức học tập có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân, trong đó HS của nhóm dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của GV trao đổi những ý tưởng, kiến thức với nhau; tương trợ và giúp đỡ nhau trong việc lĩnh hội kiến thức, hình thành và phát triển kỹ năng cùng những phẩm chất nhân cách cần thiết” [17; tr.65] Đặc trưng của

TCHĐN trong dạy học là sự tác động trực tiếp của HS với nhau, sự tương trợ và phối

hợp hoạt động với nhau TCHĐN trong DHLS được tiến hành cả trong nội dung nộikhóa, ngoại khóa, trên lớp, ở nhà, ở bảo tàng, thực địa…

TCHĐN trong dạy học sử dụng phối hợp và linh hoạt các dạng tổ chức dạyhọc: nhóm- tập thể, nhóm- cá nhân Trong đó dạng tổ chức dạy học nhóm- cá nhân có

ưu thế trong việc phát huy tính tích cực, chủ động của HS và giúp HS chủ động tiếpthu kiến thức mới Đồng thời, thiết bị dạy học, không gian tổ chức dạy học, cơ sở vậtchất lớp học được bố trí cơ động, linh hoạt phù hợp với yêu cầu của từng tiết học

Như vậy, có thể nêu ra một số hình thức tiến hành TCHĐN trong DHLS tronggiờ lên lớp (tiếp thu kiến thức mới) ở trường THPT như sau:

Một là, mỗi nhóm tìm hiểu, trao đổi về một đơn vị kiến thức riêng nhưng yêu

cầu thực hiện thì như nhau Đây là một hình thức rất hiệu quả được thực hiện trongquá trình nghiên cứu kiến thức mới GV có thể chia lớp thành 3 đến 4 nhóm, phâncông mỗi nhóm tìm hiểu một đơn vị kiến thức riêng nhưng trong phạm vi một chủ đềchung cho cả lớp

Hai là, một số nhóm trao đổi, thảo luận về một đơn vị kiến thức riêng nhưng yêu

cầu thực hiện thì như nhau Hình thức này được sử dụng khi dạy học những bài có

2đơn vị kiến thức khác nhau, nhưng PP tìm hiểu để nhận thức thì giống nhau Tức là

có thể GV chia lớp thành 4- 6 nhóm nhỏ, sau đó giao nhiệm vụ cho 2 nhóm mộtgiống nhau về cùng một nội dung (có 2- 3 nội dung) Các nhóm tiến hành thảo luận

và viết ý kiến của nhóm ra phiếu học tập Sau đó, từng nhóm cử thành viên đại diệntrình bày, các thành viên còn lại trong nhóm và nhóm khác cùng nhiệm vụ tham giathảo luận chung GV nhận xét, tổng kết

Trang 26

So với hình thức trên thì hình thức này do có 2 đến 3 nhóm cùng tìm hiểu vềmột đơn vị kiến thức nên việc tranh luận góp ý, bổ sung ý kiến diễn ra sôi nổi hơn,chất lượng cũng tốt hơn.

Ba là, tất cả các nhóm cùng tìm hiểu, thảo luận một đơn vị kiến thức và yêu cầu

thực hiện công việc như nhau, tức là thống nhất về nhiệm vụ Do đó, các nhóm sẽ cóchung một sản phẩm Với hình thức này thì số lượng các nhóm nhiều hay ít là phụ thuộcvào nội dung cần làm rõ và mức độ phức tạp của nhiệm vụ được giao Có thể hình thànhnhóm theo mỗi bàn, hai bàn một nhóm Vì tất cả các nhóm cùng thực hiện một nhiệm vụnên thuận tiện cho việc thảo luận, nhận xét, bổ sung giữa các nhóm, tránh tình trạng thảoluận HS chỉ biết đến nội dung của nhóm mình Hình thức tổ chức này sẽ góp phần làmtăng sự cạnh tranh giữa các nhóm Đây là loại hình tổ chức nhóm đơn giản, dễ thực hiệnnhưng quan trọng là GV phải biết lựa chọn nội dung kiến thức cơ bản, trọng tâm và đưa

ra hệ thống câu hỏi có giá trị kích thích để gây hứng thú, buộc HS phải tìm hiểu Ở hìnhthức này, GV nên thành lập các nhóm hỗn hợp, gồm nhiều HS có trình độ và năng lựckhác nhau để HS có điều kiện học hỏi, bổ sung cho nhau

Tuy nhiên, hình thức này cũng có thể có hạn chế là chỉ một số nhóm đượctrình bày, còn lại sẽ cùng ý kiến với nhóm khác Điều này khiến HS các nhóm không

có điều kiện để thể hiện trước bạn bè, không rèn được kĩ năng trình bày Vì vậy GVcần tổ chức thường xuyên và lựa chọn nhiều nhóm khác nhau báo cáo trong mỗi lầnthảo luận và giữa các lần thảo luận để HS được phát triển năng lực của bản thân

Bốn là, mỗi nhóm trao đổi, thảo luận về một phần trong một đơn vị kiến thức

và yêu cầu thực hiện công việc thì khác nhau Đây là hình thức trao đổi thảo luận

nhóm hiện nay được GV sử dụng phổ biến trong DHLS ở trường THPT Tuy nhiên,mặt hạn chế của hình thức thảo luận này là HS chỉ tập trung trao đổi vào vấn đề màmình được phân công nên việc thảo luận, tranh luận trong cả lớp ít sôi nổi Vì vậy mà

HS đôi khi cũng không nắm được hết các đơn vị kiến thức của bài Để khắc phục tìnhtrạng này, trong quá trình hướng dẫn, thảo luận, tổng hợp, nhận xét, đánh giá và rút rakết luận, GV cần dành nhiều thời gian hơn để khắc sâu kiến thức cho HS

Nhìn chung, để thực hiện có hiệu quả các hình thức TCHĐN trong DHLS ởtrường THPT, nhất là trong điều kiện không gian và thời gian khá hạn chế, GV cầnphải tổ chức hợp lí các hoạt động và rèn cho HS quen với các hình thức này thì mới

Trang 27

mang lại hiệu quả Mỗi tiết GV nên dành khoảng 5- 10 phút cho hoạt động nhóm vànên chia thành nhiều nhóm, còn tổ chức theo hình thức nào thì phụ thuộc vào mụctiêu, nội dung từng bài học Hiệu quả của TCHĐN trong dạy học phụ thuộc rất nhiềuvào tinh thần trách nhiệm, sự nhiệt tình, thái độ tích cực và sự hợp tác của HS Điềunày giúp HS rèn luyện năng lực hợp tác, làm việc theo nhóm - một trong những nănglực cần thiết cho nguồn lao động chất lượng cao, vì ở đó người ta sẽ tạo ra được sứcmạnh tập thể để hiệu quả công việc đạt được tốt nhất Tuy nhiên cũng cần tránh hiệntượng lạm dụng hoạt động nhóm, hoạt động chỉ mang tính hình thức, không hiệu quả,mất thời gian, gây nhàm chán.

Để TCHĐN trong DHLS ở trường THPT đạt hiệu quả cần tuân theo một sốnguyên tắc như:

+ Đảm bảo tính hiệu quả của dạy học theo nhóm, nghĩa là phù hợp với mục tiêugiáo dục, nội dung bài học, với đối tượng HS, với điều kiện của nhà trường Để làmđược điều này GV cần lưu ý:

Thứ nhất, trong dạy học cần tạo điều kiện tốt nhất cho việc TCHĐN về không

gian, thời gian, sắp xếp nội dung bài học một cách khoa học, đặc biệt phải phân bổ đủthời gian cho HS thảo luận, tránh vội vàng sợ hết thời gian

Thứ hai, khi TCHĐN cần xác định đúng yêu cầu của từng hoạt động, tránh

làm việc kiểu hình thức, minh họa, đối phó Do đó GV phải khuyến khích được tất cả

HS tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến, tranh luận trước lớp

Thứ ba, GV cần tạo cho HS cơ hội được tranh luận, suy nghĩ để tìm hướng giải

quyết, nghĩa là chấp nhận giờ học sôi nổi, nhiều ý kiến trái chiều GV cần chia nhómngẫu nhiên và GV cũng có thể thay đổi theo từng nội dung, từng thời điểm để HSđược hoạt động trong phạm vi rộng hơn, linh hoạt hơn

Thứ tư, GV cần sử dụng đa dạng các hình thức, biện pháp TCHĐN trong DHLS:

+ Kết hợp TCHĐN với các hình thức dạy học và PPDH khác

Mỗi một PP hay một hình thức dạy học đều có ưu điểm và hạn chế nhất định

Vì vậy việc kết hợp các hình thức, PPDH là cần thiết để phát huy tính chủ động, tíchcực của HS và nâng cao hiệu quả dạy học

+ Đảm bảo tính tương tác: Nghĩa là phải có sự trao đổi qua lại tích cực giữa các

HS trong cùng một nhóm và giữa các nhóm Trong một nhóm, sự tương tác sẽ góp phầnlàm tăng động cơ học tập, kích thích sự giao tiếp, chia sẻ những ý tưởng; tăng

Trang 28

cường các kĩ năng xã hội, tăng cường sự phản hồi của HS thông qua những hình thứckhác nhau như lời nói, cử chỉ, ánh mắt Từ đó khích lệ các thành viên gắn bó, đoànkết, chia sẻ, quan tâm lẫn nhau…

+ Đảm bảo tính bình đẳng, khách quan: Nghĩa là trong nhóm, mỗi thành viên

đều có vai trò, vị trí ngang nhau, không có người áp đặt ý kiến lên người khác, tất cảthành viên trong nhóm đều phải có trách nhiệm hoàn thành công việc chứ không phải

do một hoặc hai cá nhân làm việc cho cả nhóm Việc đánh giá, nhận xét kết quả nhóm

sẽ được tiến hành công khai qua sự nhận xét của các thành viên trong nhóm, giữa cácnhóm và của GV GV cũng không nên ưu ái với nhóm nào mà cần đánh giá kháchquan, công bằng GV cũng nên thay đổi thường xuyên người phụ trách nhóm, khôngnên cố định một người làm nhóm trưởng cho tất cả các hoạt động của nhóm hay GVcũng nên có nhiều cách thức tổ chức nhóm như: Chia nhóm ngẫu nhiên, chia theobàn, chia theo giới tính,…

1.1.2.3 Ưu điểm và nhược điểm

*Về ưu điểm:

- TCHĐN trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng giúp HS phát huy nănglực tư duy, sáng tạo, tính tích cực, độc lập trong học tập Thông qua việc nghiên cứubài học, trao đổi, thảo luận, bảo vệ ý kiến của mình, bác bỏ ý kiến người khác HS sẽtiếp thu được kiến thức một cách chủ động, sâu sắc và khách quan nhất

- Hoạt động nhóm trong DHLS giúp HS kích thích tư duy, phát triển các kĩnăng phân tích, tổng hợp so sánh, khái quát hóa, giải thích, tạo hứng thú học tập, khảnăng tìm tòi kiến thức cho HS

- TCHĐN có ưu thế trong việc phát triển năng lực, rèn kĩ năng giao tiếp, phốihợp giữa các cá nhân trong nhóm, phát hiện, trao đổi, tiếp nhận, trình bày, giải quyếtvấn đề… HS tự tin trước bạn bè nói lên ý kiến của mình, thể hiện bản lĩnh, tráchnhiệm của cá nhân, biết cách tự đánh giá và điều chỉnh nhận thức, hành vi Từ đó các

em có cơ hội tự khẳng định bản thân trước bạn bè, thầy cô để sau này có thể tự mìnhtrình bày, diễn đạt vấn đề trước đám đông, giúp các em tự tin trong cuộc sống

- TCHĐN trong học tập giúp HS hình thành những phẩm chất tốt đẹp như tôntrọng người khác, hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong học tập, thừa nhận người khác, học hỏi

từ người xung quanh, khiêm tốn, tôn trọng chính bản thân mình…

Trang 29

- TCHĐN giúp GV nhận được những ý kiến phản hồi từ HS để điều chỉnhPPDH của chính mình; giúp GV thực hiện mục tiêu dạy học nói chung và môn Lịch

sử nói riêng

* Về nhược điểm:

- TCHĐN mất nhiều thời gian Một tiết học được quy định có 45 phút, khiTCHĐN gồm nhiều công đoạn: chia nhóm, phân công nhiệm vụ, làm việc nhóm,trình bày báo cáo kết quả từng nhóm, các nhóm phản biện, nhận xét, GV đánh giá…Tất cả những việc này rất khó để có thể thực hiện một cách thỏa đáng trong 1 tiết học

- TCHĐN có thể dẫn đến việc nhóm đi chệch hướng nhiệm vụ được giao, thảoluận sai nội dung, tranh thủ thảo luận để nói chuyện, làm việc riêng gây mất trật tựnếu GV quản lí không tốt giờ học

- TCHĐN có thể còn có hiện tượng HS dựa vào ưu thế của mình lấn át các HS

khác, áp đặt ý kiến cá nhân cho nhóm; phân công nhiệm vụ không hợp lí, có HS bấtbình vì ý kiến cá nhân không được thừa nhận dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng; cũng có

HS dựa vào hoạt động nhóm là việc làm của tập thể nên ỷ lại, không chịu làm việc,không hợp tác…

- Nếu GV quản lí và tổ chức giờ học không tốt có thể dẫn đến việc HS chỉ nắmđược nội dung thảo luận của nhóm mình mà không lắng nghe, tiếp thu được nội dungthảo luận của nhóm khác dẫn đến không nắm được nội dung toàn bài mà chỉ hiểu mộtphần nội dung bài học Hoặc giữa các nhóm không có được sự thống nhất ý kiến,không thừa nhận ý kiến của nhau dẫn đến không đạt được kết quả như mong muốn…

Vì vậy, để khắc phục những hạn chế của việc TCHĐN cần:

- GV và HS phải có sự chuẩn bị chu đáo về tài liệu, phương tiện dạy học

- Những nội dung GV đặt ra đối với HS phải đảm bảo tính vừa sức: Nếu quá khó,

HS không thực hiện được; nếu quá dễ sẽ dẫn đến nhàm chán, mục tiêu đề ra khôngđạt được

- GV phải bao quát, phát hiện và điều chỉnh hoạt động của HS, không để gâymất trật tự, làm việc riêng; đồng thời khuyến khích HS tham gia thảo luận, nhất lànhững HS còn hạn chế về năng lực

Trang 30

- GV phải thường xuyên động viên, nhắc nhở, hỗ trợ kịp thời HS trong quá trình thảo luận.

- GV cần TCHĐN thường xuyên để HS hình thành kĩ năng, đồng thời GV cầnrèn luyện cho mình kĩ năng tổng hợp, kết nối HS trong các hoạt động, kết hợp nhiều

PP, hình thức dạy học khác nhau để HS nắm được kiến thức, kể cả những kiến thức

mà HS không tham gia thảo luận

1.1.3 Xuất phát điểm của vấn đề nghiên cứu

1.1.3.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục phổ thông

Đảng ta luôn coi giáo dục luôn được coi là “quốc sách” hàng đầu Trong xu

thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cáchmạng khoa học - công nghệ hiện đại đã đưa đến sự phát triển mạnh mẽ của công nghệthông tin và truyền thông Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển chung củanền giáo dục thế giới

Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, bên cạnh thời cơ do cuộc cáchmạng khoa học- công nghệ hiện đại đem lại luôn phải đối mặt với những thách thức

Để thích ứng với thời đại thông tin, trí tuệ nhân tạo thì việc đổi mới đất nước là mộtyêu cầu cấp thiết, trong đó đổi mới giáo dục cần phải đi đầu Yêu cầu của đổi mới đãđược Đảng đề ra cụ thể qua các văn kiện của các kì Đại hội và thông qua Luật giáodục Việt Nam

Thực tế, Việt Nam đã nhiều lần thực hiện cải cách giáo dục- đào tạo, mục tiêu,chương trình cho phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước và đã đạt được một sốthành tựu đáng kể Tuy nhiên việc đổi mới còn diễn ra khá chậm và chưa đồng bộ.Trong các nhà trường phần lớn các tiết học vẫn được giảng dạy theo PP truyền thốngmang tính áp đặt của thầy mà coi nhẹ vai trò, hoạt động của trò Điều này là một trở

ngại lớn cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng đã đề ra là “đào tạo người

lao động tự chủ, năng động, sáng tạo”; làm ảnh hưởng đến sự nghiệp công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một yêu cầu

bức thiết, trong đó có sự đổi mới mạnh mẽ về PPDH

Tại điều 24.2 của Luật Giáo dục nước ta năm 2005 đã qui định: “PP giáo dục

PT phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc

Trang 31

điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng PP tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của HS” Đồng thời, mục tiêu giáo dục cũng được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và

Đào tạo, đặc biệt là chương trình giáo dục PT ban hành kèm theo Quyết định số16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu:

“Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho HS

PP tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2013) tiếp tục khẳng định để

đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo cần “…thực hiện đồng bộ các giải pháp

phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, PPDH, PP thi, kiểm tra theo hướng hiện dại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo lí, lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống và năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành và tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” [46; tr.216].

Văn kiện Đảng ngày 04 tháng 11 năm 2013, Ban Chấp hành Trung ương

(khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện

giáo dục và đào tạo” đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ PP dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực nghiên cứu…” [1; tr.5].

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta giai đoạn từ năm 2011 đếnnăm 2020 đã khẳng định phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước côngnghiệp theo hướng hiện đại; chính trị- xã hội ổn định, dân chủ, kỉ cương, đồng thuận;đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền,thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc

tế tiếp tục được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạnsau Chiến lược cũng xác định rõ một trong ba đột phá là phát triển nhanh nguồn nhân

Trang 32

lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàndiện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển

và ứng dụng khoa học, công nghệ Như vậy, sự phát triển của đất nước trong giaiđoạn mới sẽ tạo ra những cơ hội to lớn và nảy sinh những thách thức mới đối với sựnghiệp giáo dục trong tương lai

Nhìn chung, cốt lõi của đổi mới giáo dục là đổi mới PP dạy học, hướng tớiviệc học tập tích cực, chủ động, khắc phục thói quen học tập thụ động- đọc chép Đổimới PPDH ở trường PT loại bỏ tình trạng HS thụ động nghe giảng, ghi chép rồi trảlời theo đúng ý của thầy mà cần hướng tới cách thức dạy người học tự phát hiện vấn

đề học tập dưới sự hướng dẫn của GV

Thực tế cho thấy, việc đổi giáo dục mới chỉ thực sự hiệu quả khi được thựchiện đồng bộ giữa đổi mới nội dung, PP, hình thức tổ chức dạy học với đổi mới kiểmtra, đánh giá Hình thức tổ chức dạy học phải phong phú, tạo hứng thú cho HS,chuyển tải được mục tiêu, nội dung chương trình, nâng cao chất hiệu quả dạy học.Trong đó TCHĐN là một hình thức tổ chức dạy học hiệu quả, tích cực, phát huy nănglực học tập của HS, góp phần thực hiện những định hướng mà Đảng cũng như BộGiáo dục và Đào tạo đã đề ra

1.1.3.2 Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông

Mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường THPT được xây dựng dựa trên cơ sở mụctiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, quan điểm, đường lối của Đảng về giáo dục và sửhọc DHLS ở trường THPT phải quán triệt mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêumôn học cụ thể nói riêng Mục tiêu của bộ môn Lịch sử được xác định trên cả ba mặt:kiến thức, kĩ năng, thái độ

*Về kiến thức: Bộ môn Lịch sử cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản của

khoa học lịch sử được xây dựng một cách có hệ thống về sự phát triển của lịch sử dân tộc

và lịch sử thế giới từ thời nguyên thủy đến nay, bao gồm: những sự kiện lịch sử cơ bản,nhân vật tiêu biểu, các khái niệm, thuật ngữ, những vấn đề về PP nghiên cứu và học tậpphù hợp với yêu cầu và trình độ của HS Đồng thời, bộ môn lịch sử còn giúp HS hiểuđược những ảnh hưởng, tác động của tình hình thế giới đến Việt Nam, hiểu

Trang 33

được quy luật vận động của lịch sử, vai trò của quần chúng nhân dân, lao động sản xuất đối với sự phát triển của xã hội

* Về kĩ năng: Phát triển cho HS năng lực tư duy (so sánh, phân tích, khái quát,

tổng hợp, đánh giá các sự kiện, hiện tượng ), năng lực thực hành trên cơ sở hoàn chỉnh

và nâng cao những năng lực đã được hình thành ở trường trung học cơ sở; kĩ năng họctập và thực hành bộ môn: Sử dụng SGK, các tài liệu tham khảo; khả năng trình bày; khaithác và sử dụng lược đồ, tranh ảnh; làm và sử dụng đồ dùng trực quan; khả năng trìnhbày nói và viết; kĩ năng hợp tác, thảo luận nhóm, giải quyết vấn đề, vận dụng kiếnthức đã học vào cuộc sống

* Về tư tưởng, thái độ: Giáo dục cho HS quan điểm, tư tưởng, tình cảm, phẩm

chất đạo đức, nhân cách, góp phần đào tạo con người Việt Nam toàn diện Qua họctập Lịch sử, HS được bồi dưỡng về: Lòng yêu quê hương, đất nước, tự hào dân tộc,biết ơn và trân trọng những thành quả của cha ông Giáo dục cho HS tinh thần đoànkết, hữu nghị với các dân tộc vì độc lập tự do, hòa bình, dân chủ, văn minh và tiến bộ

xã hội Ngoài ra môn lịch sử còn bồi dưỡng cho HS niềm tin vào sự phát triển hợp quiluật của xã hội loài người và dân tộc, tin vào sự lãnh đạo của Đảng, dù trong tiếntrình lịch sử có những bước quanh co, thụt lùi tạm thời, đồng thời bồi dưỡng cho HS

có ý thức và nghĩa vụ công dân, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ quốc tế, những phẩmchất cần thiết trong cộng đồng: đoàn kết, trung thực, nhân ái khoan dung Từ đó gópphần đào tạo con người Việt Nam đủ sức, đủ tài để tham gia vào công cuộc xây dựng

Trang 34

lập các câu lạc bộ để các em có điều kiện thể hiện bản thân, được giao lưu học hỏi,

mở rộng các mối quan hệ trong và ngoài nhà trường; được trang bị các thiết bị hiệnđại để hỗ trợ việc học như máy tính, máy chiếu, bảng thông minh kết nối Ipad đểtương tác ) Với điều kiện kinh tế gia đình khá giả, hầu hết các em được tạo điềukiện tốt nhất cho việc học mà không phải phụ giúp cha mẹ kiếm sống Vì vậy học tập

là hoạt động chủ đạo của các em

Ngoài việc học, các em còn được tạo điều kiện vui chơi giải trí nên đời sống tinhthần cũng khá phong phú Với điều kiện sống như vậy, các em HS ở thành phố Hạ Longkhá năng động, linh hoạt, tiếp thu nhanh, có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đềmột nhanh chóng, dễ thích ứng với sự thay đổi, có khả năng tư duy độc lập Đây là điềukiện thuận lợi cho GV lịch sử trong việc đổi mới PPDH, áp dụng những hình thức vàbiện pháp dạy học tích cực trong dạy học để nâng cao chất lượng dạy và học

Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển ở thành phố chính là sự xuất hiện củanhiều luồng văn hóa, nhiều cám dỗ mà các em dễ bị lôi kéo mà không tập trung vàoviệc học tập, nhất là học môn lịch sử Cũng do tác động từ phía gia đình và xã hội màcác em ở lứa tuổi này thường chỉ quan tâm đến môn học liên quan đến việc thi mà saonhãng các môn học khác và chỉ chú trọng lựa chọn những nghề nghiệp có thu nhậpcao, có cơ hội giao lưu lớn Trong khi đó việc học lịch sử ít mang lại cơ hội cho HSlựa chọn nghề nghiệp như mong muốn Vì vậy, việc học lịch sử của các em chỉ là đểđối phó, để lấy điểm, để đỗ tốt nghiệp Đây là một trở ngại lớn cho GV dạy lịch sử ởcác trường THPT thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Để HS yêu thích môn Lịch sử, GV cần phải biết lôi kéo, thu hút HS, thậm chíđịnh hướng nghề nghiệp cho các em gắn với việc học lịch sử; GV phải làm cho các

em HS hiểu ý nghĩa và chức năng giáo dục PT đối với giáo dục nghề nghiệp và đốivới sự phát triển nhân cách toàn diện của HS bởi nhận thức về nghề nghiệp của các

em còn khá phiến diện, thậm chí mơ hồ về nghề nghiệp tương lai Các em chưa biếtmình thích gì và năng lực của mình đến đâu Vì vậy, GV đóng một vai trò quan trọngtrong việc giúp đỡ, định hướng cho HS lựa chọn nghề nghiệp sao cho phù hợp vớihứng thú và năng lực, cũng như phù hợp với yêu cầu của xã hội

Trang 35

Muốn đạt được hiệu quả cao trong DHLS, trước hết GV cần phải kích thíchđược sự hứng thú của HS trong giờ học GV chỉ có thể làm được điều này khi tíchcực đổi mới PPDH, tạo điều kiện cho các em được chủ động tham gia vào hoạt độnghọc tập, được thể hiện bản thân, được phát huy các năng lực, sở trường của mình.TCHĐN là PPDH có vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy, phát huy tính tíchcực, chủ động của HS, tạo điều kiện cho HS chủ động chiếm lĩnh kiến thức, qua đótạo nên giờ học hiệu quả.

Có thể nói, làm việc theo nhóm mang lại nhiều lợi ích cho các em như: biếtchia sẻ, biết lắng nghe, biết học hỏi, giải quyết các tình huống phát sinh trong cuộcsống, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau,… Những kĩ năng này rất quan trọng cho các em khibước vào môi trường lao động tập thể sau này Bởi sự hợp tác của nhiều người baogiờ cũng nảy sinh nhiều ý kiến, bổ sung cho nhau, khắc phục hạn chế của nhau để tạo

ra sản phẩm mang tính sáng tạo, hoàn hảo thể hiện trí tuệ của tập thể

Cũng trong hoạt động tập thể, các em thấy được vị trí, trách nhiệm của mình

và các em cũng cảm thấy mình cần cho tập thể Khi giao tiếp trong nhóm bạn sẽ xảy

ra hiện tượng: có những người được nhiều người yêu mến và có những người ít được

bạn bè yêu mến Điều đó làm cho các em phải suy nghĩ về nhân cách của mình, nhậnthức bản thân mình và tìm cách điều chỉnh bản thân

Học tập tốt các môn học chính là “chìa khóa” thành công trong tương lai, giúp

các em sẽ có cơ hội việc làm tốt hơn, nhất là ở thành phố du lịch như Hạ Long

1.1.4 Ý nghĩa của việc tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử ở trường THPT thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

- Về kiến thức:

TCHĐN trong DHLS giúp HS THPT thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninhhiểu sâu sắc những kiến thức lịch sử quan trọng của Lịch sử Việt Nam Trên cơ sở đóhình thành những biểu tượng chân thực về các sự kiện, hiện tượng quá khứ; nhữngthành tựu lớn mà trong quá trình lịch sử dân tộc ta đã đạt được; những đóng góp củacác cá nhân điển hình đã làm nên những kì tích vẻ vang cho đất nước Từ đó, HS hiểuđược bản chất của sự kiện, hiện tượng,biết đặt chúng trong mối quan hệ phụ thuộc,tác động qua lại lẫn nhau

Trang 36

- Về tư tưởng, tình cảm:

Hoạt động nhóm trong DHLS sẽ giúp các em được làm việc trực tiếp với nhau,làm quen nhau, học hỏi lẫn nhau, từ đó hiểu và thông cảm với nhau hơn Điều nàygiúp tạo nên một tập thể thân thiện, tin cậy, giúp đỡ và chia sẻ cùng nhau ViệcTCHĐN trong dạy học còn giúp tạo ra môi trường học tập để HS được phát huy tínhtích cực, chủ động của bản thân, vừa có khả năng làm việc độc lập lại vừa có thể rèn

kĩ năng làm việc tập thể Qua đó sẽ giúp các em tự tin hơn, làm việc say mê, hứngkhởi, khơi dậy tinh thần đoàn kết Cũng thông qua qua đó, HS có thể tự điều chỉnhhành vi và thái độ bản thân cho phù hợp với môi trường tập thể, các em có động lựchọc tập để chứng tỏ bản thân trước bạn bè và thầy cô

- Về phát triển:

TCHĐN trong DHLS sẽ góp phần thúc đẩy sự tích cực học tập, tính tráchnhiệm của cá nhân, tạo ra môi trường học tập mang tính tập thể Khi giải quyết cácmâu thuẫn phát sinh trong quá trình học tập, HS hình thành năng lực giải quyết vấn

đề, biết học hỏi và lắng nghe người khác; Đây cũng là những kĩ năng cần thiết chocuộc sống sau này của các em, là tiền đề quan trọng cho các em khi tham gia vào môitrường làm việc tập thể

Học tập theo nhóm cũng có tác dụng hình thành năng lực đánh giá, tự đánh giá, tự

ýthức, năng lực tư duy, tổ chức, lãnh đạo, nhất là vai trò nhóm trưởng trong các hoạt động.Qua đó, các em có thể phát huy năng lực tư duy sáng tạo, hoạt động độc lập, phântích, tổng hợp trong quá trình làm việc

Tham gia hoạt động học tập theo nhóm còn giúp HS ở thành phố Hạ Long tỉnhQuảng Ninh rèn kĩ năng thuyết trình, kĩ năng giao tiếp, trình bày vấn đề trước đámđông, biết phê phán ý kiến của người khác và bảo vệ ý kiến của mình Đây là những

kĩ năng cơ bản mà HS ở thành phố Hạ Long còn yếu Từ đó rèn luyện cho các em sự

tự tin trong cuộc sống

Học tập theo nhóm còn giúp phát triển năng lực hợp tác làm việc của HS như:Tinh thần tập thể, sự quan tâm đến người khác; tạo ra các mối quan hệ tốt trong nhóm

và những thành viên khác ngoài nhóm; các em có thể cởi mở hơn và nhận ra nhữngđiểm mạnh cũng như hạn chế của mình; mỗi thành viên cùng nỗ lực để giải quyết vấn

Trang 37

đề sẽ tạo ra cách giải quyết tốt nhất, cùng hướng đến mục đích chung; sẵn sàng giúp

đỡ lẫn nhau và giúp đỡ người khác Thông qua quá trình làm việc độc lập và làm việchợp tác, giúp HS rèn luyện, phát triển PP làm việc hiện đại

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Địa điểm, thời gian, đối tượng khảo sát

- Địa điểm, thời gian: Chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát ở một sốtrường THPT trên địa bàn thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh trong năm học 2018-

2019 Cụ thể:

+ Trường THPT Hòn Gai

+ Trường THPT Vũ Văn Hiếu

+ Trường THPT Lê Thánh Tông

+ Trường THPT Bãi Cháy

+ Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm

+ Trường THPT Văn Lang

- Đối tượng: Là HS các khối lớp 12 và GV dạy môn Lịch sử ở các trường THPT

kể trên

1.2.2 Kế hoạch và nội dung tiến hành điều tra, khảo sát

- Kế hoạch tiến hành điều tra, khảo sát: Chúng tôi soạn sẵn các phiếu điều tra,

sau đó phát cho GV và HS Sau đó, tiếp xúc, phỏng vấn, trao đổi trực tiếp

- Nội dung điều tra, khảo sát:

+ Đối với GV: Chúng tôi tìm hiểu về mức độ sử dụng các PPDH tích cực,

quan điểm về TCHĐN, mức độ áp dụng TCHĐN trong giờ lên lớp, vai trò của

TCHĐN, cách thức chia nhóm, mục đích TCHĐN, hạn chế của việc TCHĐN, khókhăn gặp phải khi TCHĐN, các yếu tố để TCHĐN hiệu quả, đánh giá thái độ của HSkhi tham gia hoạt động nhóm, lắng nghe kiến nghị của GV khi TCHĐN trong DHLS

ở trường THPT thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

Trang 38

+ Đối với HS: Chúng tôi tìm hiểu những hiểu biết của HS về hoạt động nhóm,

tác dụng, ý nghĩa của học tập theo nhóm, nguyên nhân làm cho nhóm hoạt động hiệuquả, cách thức phân công công việc trong nhóm, vai trò của GV trong TCHĐN, mức

độ sử dụng PPDH nhóm của GV, lắng nghe ý kiến của HS khi tham gia hoạt độngnhóm trong học tập lịch sử trong bài tìm hiểu kiến thức mới, nhận xét của HS về giờhọc lịch sử của lớp và mong muốn của các em về việc DHLS của thầy (cô) để kịpthời đề xuất các biện pháp giải quyết nhằm nâng cao chất lượng DHLS ở trườngTHPT thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

1.2.3 Kết quả điều tra, khảo sát

* Kết quả điều tra HS:

Chúng tôi tiến hành khảo sát 387 HS lớp 12 ở 09 trường THPT trên địa bànthành phố Hạ Long Sau khi phân tích số liệu, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Một là, về mức độ yêu thích môn lịch sử, chúng tôi đưa ra câu hỏi: Em có thích học lịch sử không? Có 12,4 % HS trả lời rất thích; 50,6% HS trả lời bình thường

22,5% thích học và 14,5 % HS không thích học lịch sử Kết quả trên cho thấy, phần

lớn các em HS ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh có thái độ bình thường vớimôn lịch sử, coi đó là môn phụ và không quan tâm Tuy nhiên, cũng từ quá trình điềutra, chúng tôi thấy cũng có nhiều HS vẫn thích lịch sử nhưng do PPDH của thầy côchưa thu hút, hấp dẫn, HS chưa có PP học hiệu quả trong khi kiến thức lịch sử lại khónhớ nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc học lịch sử của HS

Hai là, để đánh giá giờ học lịch sử, chúng tôi đã đặt câu hỏi: “Em có nhận xét

gì về giờ học lịch sử lớp em?” Kết quả chúng tôi thu được là: 12,9 % HS trả lời hay,

hấp dẫn; 59,6% HS trả lời bình thường; 27,5% cho rằng tẻ nhạt Và để kiểm tra độkhách quan về PPDH mà GV thường sử dụng trong DHLS, chúng tôi đã đưa ra câu

hỏi: Trong các giờ học lịch sử, GV thường sử dụng PPDH nào?, đa số HS chọn PP

thuyết trình (82,9%) và đọc cho HS chép (83,4%), còn PP nhóm chỉ có 7,9% GV sửdụng thường xuyên Như vậy, ở các trường THPT thành phố Hạ Long, Quảng Ninh,

PP nhóm chưa được GV sử dụng thường xuyên, chỉ có một số ít GV thực sự tâm huyết

làm được Có lẽ cũng vì nguyên nhân này mà chất lượng DHLS ở các trường THPT thành phố Hạ Long chưa cao, HS không hứng thú với việc học lịch sử

Trang 39

Ba là, để tìm hiểu về thái độ của các em đối với hoạt động nhóm trong giờ học

lịch sử, chúng tôi đưa ra câu hỏi: Em có hứng thú với giờ học lịch sử TCHĐN không?

Kết quả thu được kết quả như sau:

Bảng 1.1 Kết quả điều tra thái độ của học sinh trong giờ học lịch sử có tổ chức

hoạt động nhóm Thái độ

Số lượng

Tỉ lệ

Có đến 57,1% HS hứng thú đối với các giờ học Lịch sử có tổ chức hoạt độngdạy học theo nhóm, có 38,2% HS bình thường, chỉ có 4,7% HS không hứng thú vớitiết học lịch sử TCHĐN Như vậy, dựa vào kết quả khảo sát cho thấy đây là một dấuhiệu đáng mừng Điều này khẳng định ưu thế của PPDH lịch sử theo nhóm

Tuy nhiên, cũng xuất phát từ thực tế dạy học và tâm lí HS, nhiều khi các emcũng ngại hoạt động, sức ỳ lớn vì các em đã học năm cuối cấp Hơn nữa đây cũng làthời điểm mà việc lựa chọn khối thi đã khá rõ ràng nên các em chỉ tập trung cho cácmôn thi đại học, không chú ý đối với môn phụ, nhất là các em lựa chọn tổ hợp cácmôn khoa học tự nhiên để thi tốt nghiệp

Đối với những HS lựa chọn tổ hợp khoa học xã hội để tốt nghiệp, chúng tôi đã

tiến hành phỏng vấn 45 HS với câu hỏi: Em có thật sự quan tâm đến việc học lịch sử

không? Vì sao? Có tới 37 HS (82,2%) cho rằng thi trắc nghiệm theo hình thức thi và

cách tính điểm hiện nay thì không cần học nhiều cũng đỗ nên cũng không quan tâmđến việc học môn phụ Chỉ có 08 HS (17,8%) thi khối có môn Lịch sử thì tích cựchọc và quan tâm đến môn học, nhưng các em lại tỏ ra khá rụt rè, không tự tin

Bốn là, để kiểm tra nhận thức của HS về TCHĐN, chúng tôi đặt ra một số câu hỏi: Theo em làm việc nhóm có nghĩa là gì? (38,7% HS chọn là mỗi người đóng góp một

ý kiến để cùng hoàn thành công việc chung; 28,8% HS chọn là nhóm trưởng phân công

nhiệm vụ cho các thành viên sau đó tổng hợp lại); Theo em, làm việc nhóm có tác dụng gì?(100% HS lựa chọn là để phát huy được trí tuệ của tập thể; Tạo thói quen làm việc cho mỗi người; Giải quyết công việc hiệu quả hơn); Theo em yếu tố tác động lớn nhất đến hiệu quả của hoạt động nhóm là gì? (42,5% lựa chọn là ý thức làm việc của

Trang 40

mỗi thành viên, 24,8% HS lựa chọn PP và hình thức hoạt động nhóm); Theo em đểthực hiện phân công công việc trong hoạt động nhóm cần? Đa số HS cho rằng cần tập

trung vào các cá nhân xuất sắc, tích cực); Trong hoạt động nhóm vai trò của giáo

viên như thế nào? (76,5 % HS cho rằng GV có vai trò quan trọng, không có HS phủ

nhận vai trò của GV); Theo em, trong học tập, hoạt động nhóm có hiệu quả không?

(77,5 % HS đồng ý là hiệu quả và rất hiệu quả) Kết quả này cho thấy HS đã có

những nhận thức nhất định về TCHĐN, tuy nhiên nhận thức của các em chưa thật sựđầy đủ và sâu sắc Những điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc TCHĐN trongDHLS ở các trường THPT thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

Năm là, để tìm hiểu về những khó khăn của HS khi học tập LS, chúng tôi đưa

ra câu hỏi: Trong khi học môn lịch sử em thấy có những khó khăn gì? Kết quả thu

được là 82,4% cho rằng có nhiều sự kiện, khó nhớ; 85,6 % cho là PPDH chưa thu hút,hấp dẫn; 84,3 % cho là chưa có PP học hiệu quả; 16,7% cho là chưa dám trình bàyquan điểm cá nhân vì nhút nhát Kết quả này cho thấy, khó khăn lớn nhất của các em

là PPDH chưa thu hút, hấp dẫn người học và các em chưa có PP học tập hiệu quả.Nhưng đa số các em mạnh dạn, linh hoạt Đây là điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng

PP nhóm trong DHLS ở trường THPT thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

* Kết quả điều tra GV:

Chúng tôi tiến hành khảo sát 21 giáo viên dạy Lịch sử ở 09 trường THPT trênđịa bàn thành phố Hạ Long và kết quả thu được như sau:

Một là, trong phần thông tin cá nhân, chúng tôi điều tra để biết được thời gian

công tác của GV ở các trường THPT thành phố Hạ Long Từ thực tế điều tra khảo sát,chúng tôi nhận thấy, 18 GV (85,7%) giảng dạy môn Lịch sử ở thành phố Hạ Long cótuổi nghề từ 10 năm trở lên Như vậy, nhìn chung GV đã có nhiều kinh nghiệm trongdạy học

Hai là, để tìm hiểu về mức độ sử dụng các PPDH của GV, chúng tôi đưa ra câu hỏi: Trong DHLS, Thầy (cô) sử dụng những phương pháp dạy học sau đây ở mức độ như thế nào? Kết quả thu được là: PP thuyết trình có đến 85,7% GV thường xuyên sử dụng;

PP đọc cho HS chép vẫn chiếm tỉ lệ cao với 65,7% GV sử dụng thường xuyên; 57,6%

GV sử dụng công nghệ thông tin thường xuyên trong dạy học; Các PP khác được sửdụng ở mức độ thấp hơn, trong đó PP nhóm chỉ có 14,3% GV thường xuyên

Ngày đăng: 08/06/2021, 15:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Hỏi- đáp về một số nội dung đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và đào tạo, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi- đáp về một số nội dung đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
3. Nguyễn Hữu Châu và các tác giả (2007), Đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo GV trung học cơ sở theo chương trình Cao đẳng sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo GV trung học cơ sở theo chương trình Cao đẳng sư phạm
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu và các tác giả
Năm: 2007
4. Bernd Meirer, Nguyễn Văn Cường (2005), Lí luận dạy học hiện đại- Một số vấnđề đổi mới phương pháp dạy học, Potsdam- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hiện đại- Một số vấn"đề đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Bernd Meirer, Nguyễn Văn Cường
Năm: 2005
5. Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Xuân Trường (2008), Giới thiệu giáo án Lịch sử 12, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu giáo án Lịch sử 12
Tác giả: Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Xuân Trường
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2008
6. Nguyễn Thị Côi (2008), Các con đường biện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường PT, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các con đường biện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường PT
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2008
7. Tạ Thị Dung (2014), Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX ở trường THPT Hoài Đức B, Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học Lịch sử ViệtNam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX ở trường THPT Hoài Đức B, Hà Nội
Tác giả: Tạ Thị Dung
Năm: 2014
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần 2 Ban Chấp hành Trungương Đảng khóa VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần 2 Ban Chấp hành Trung"ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
10. Phạm Văn Đồng (1999), Về vấn đề giáo dục- đào tạo, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề giáo dục- đào tạo
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốcgia
Năm: 1999
11. Goeffrey Petty (2002), Hướng dẫn thực hành dạy học ngày nay, NXB Stanleyn Thornes, United Kingdom Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hành dạy học ngày nay
Tác giả: Goeffrey Petty
Nhà XB: NXB Stanleyn Thornes
Năm: 2002
12. Lawrence Holpp (2007), Quản lí nhóm, NXB Lao động-Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí nhóm
Tác giả: Lawrence Holpp
Nhà XB: NXB Lao động-Xã hội
Năm: 2007
13. Lê Văn Giáo, Văn Thị Gái (2012), “Phối hợp thí nghiệm và phiếu học tập trong dạy học nhóm”, Tạp chí Thiết bị giáo dục, số 88, tr.34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phối hợp thí nghiệm và phiếu học tập trong dạy học nhóm”", Tạp chí Thiết bị giáo dục
Tác giả: Lê Văn Giáo, Văn Thị Gái
Năm: 2012
14. Lê Mậu Hãn (chủ biên) (2005), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III
Tác giả: Lê Mậu Hãn (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29-NQ-TW, ngày 04/11/2013 Khác
15. Phạm Thị Hằng (2006), Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học ở trường THPT Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w