Không khí học tập và các mối quan hệ trong nhóm, lớp: được thể hiện thông qua nội dung, nhiệm vụ và các hoạt động phù hợp với mức độ phát triển của học sinh,gần gũi với thực tế; đa
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TẠ THÚY VÂN
THIẾT KẾ TÌNH HUỐNG DẠY HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC PHƯƠNG TRÌNH VÀ BẤT PHƯƠNG TRÌNH MŨ - LOGARIT CHO
HỌC SINH LỚP 12 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TẠ THÚY VÂN
THIẾT KẾ TÌNH HUỐNG DẠY HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC PHƯƠNG TRÌNH VÀ BẤT PHƯƠNG TRÌNH MŨ - LOGARIT CHO
HỌC SINH LỚP 12 THPT
Ngành:Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Kiều
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi hoàn thành dưới
sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của PGS.TS Trần Kiều và nhiều thầy cô giáo Các sốliệu, kết quả nghiên cứu của luận văn là khách quan, trung thực và chưa từng được aicông bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2020
Tác giả luận văn
Tạ Thúy Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Kiều Tác giảxin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự hướng dẫn tận tình chu đáo của thầy trong suốtquá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn, các thầy giáo, cô giáo bộ môn Phương phápgiảng dạy Toán - Khoa Toán - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; Ban chủnhiệm khoa Toán, bộ phận Sau đại học- Phòng Đào tạo trường Đại học Sư phạm TháiNguyên - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quátrình quá trình học tập, nghiên cứu đề tài luận văn ở trường
Tác giả cũng xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu, quý Thầy, Cô giáo tổToán, trường THPT Bế Văn Đàn, Thành phố Cao Bằng, Tỉnh Cao Bằng đã nhiệt tìnhgiúp đỡ, trao đổi và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thựcnghiệm tại trường
Đặc biệt, tác giả muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, người thân, bạn bèđồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tác giả trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Dù đã rất cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế thiếusót Tác giả mong được sự đóng góp của thầy cô và các bạn
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2020
Tác giả
Tạ Thúy Vân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Nhu cầu và định hướng đổi mới phương pháp dạy học 5
1.2 Dạy học hợp tác 8
1.2.1 Quan niệm về dạy học hợp tác 9
1.2.2 Các yếu tố cơ bản của dạy học hợp tác 10
1.2.3 Đặc điểm của dạy học hợp tác 12
1.2.4 Kỹ năng dạy học hợp tác của giáo viên 13
1.2.5 Tình huống dạy học hợp tác 14
1.2.6 Tổ chức dạy học hợp tác 19
1.3 Vai trò của tình huống DHHT đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học Toán ở trường phổ thông 25
1.4 Dạy học phương trình, bất phương trình mũ - logarit ở trường THPT 29
1.4.1 Nội dung phương trình, bất phương trình mũ - logarit trong chương trình THPT 29 1.4.2 Mục đích, yêu cầu khi dạy học chủ đề phương trình, bất phương trình mũ-logarit ở trường THPT 30
1.5 Thực trạng về việc vận dụng dạy học hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trong dạy học môn Toán ở nhà trường phổ thông 30
Trang 61.5.1 Mục đích và phương pháp khảo sát 30
1.5.2 Nội dung và kết quả khảo sát 31
Kết luận chương 1 40
Chương 2: THIẾT KẾ TÌNH HUỐNG DẠY HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC PHƯƠNG TRÌNH, BẤT PHƯƠNG TRÌNH MŨ - LOGARIT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN TOÁN TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG 41
2.1 Một số yêu cầu khi thiết kế các tình huống gợi vấn đề trong dạy học hợp tác 41
2.2 Thiết kế một số tình huống DHHT theo các nội dung hợp tác 44
2.3 Thiết kế một số tình huống DHHT theo quy mô các nhóm 51
2.3.1 Tình huống theo quy mô hợp tác cặp đôi 51
2.3.2 Tình huống theo quy mô hợp tác nhóm nhỏ 55
2.3.2 Tình huống theo quy mô hợp tác nhóm lớn 60
Kết luận chương 2 62
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Mục đích thực nghiệm 63
3.2 Nội dung thực nghiệm 63
3.3 Tổ chức thực nghiệm 63
3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 63
3.3.2 Phương pháp thực nghiệm 64
3.3.3 Thời điểm thực nghiệm 65
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 65
3.4.1 Phân tích định tính kết quả thực nghiệm 65
3.4.2 Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm 70
Kết luận chương 3 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 80
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Kết quả kiểm tra 15 phút tại lớp TN và ĐC 72
Kết quả điều tra sự hiểu biết của GV về DHHT 31
Kết quả điều tra mức độ vận dụng dạy học hợp tác của GV trongdạy học môn Toán ở trường THPT
32
Kết quả điều tra mức độ cần thiết về việc tổ chức DHHT 32
Kết quả điều tra những khó khăn của GV khi tổ chức DHHT mônToán
32
Kết quả điều tra sự khó khăn của GV khi dạy các tình huống dạy học 33
Kết quả điều tra mức độ quan tâm của GV tới việc sử dụng các PPdạy học tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán
33
Kết quả điều tra hiệu quả của việc tổ chức DHHT ở trường THPTđối với người học
34
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán 34
Kết quả điều tra mức độ tự tin trình bày ý kiến của bản thân trướccác bạn trong lớp
35
Kết quả điều tra mức độ muốn học tập hợp tác theo nhóm thường
Trang 9Kết quả điều tra
hiệu quả của
Kết quả điều tra khả năng tự giải quyết vấn đề Toán học của HS 38
Kết quả điều tra về kỹ năng hoạt động nhóm của HS 38
Mức độ của GV thực hiện học tập hợp tác 38
Biểu đồ cột so sánh kết quả kiểm tra 15 phút của hai lớp TN và ĐC 72
vi
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực người học,trên cơ sở lấy người học làm trung tâm đang là định hướng chủ yếu trong hoạt độngdạy học của các trường phổ thông nước ta
Hiện nay đổi mới trong giáo dục đã và đang được toàn xã hội qua tâm, đặc biệtvấn đề đổi mới nội dung và phương pháp dạy học rất được chú trọng Xu hướng dạyhọc hiện nay là phải hướng vào người học, tập trung vào rèn luyện và phát triển khảnăng giải quyết vấn đề một cách năng động, độc lập sáng tạo cho học sinh ngay trongquá trình học tập ở nhà trường phổ thông Bởi vậy, người giáo viên cần phải áp dụngnhững phương pháp dạy học tích cực để phát triển cho học sinh năng lực tư duy sángtạo, năng lực giải quyết vấn đề Mỗi phương pháp với đặc điểm riêng đều có thể gópphần phát huy một hoặc một số năng lực nào đó được quy định trong mục tiêuchương trình DHHT hiện đang được các giáo viên, các nhà trường ở nước ta quantâm cũng đang đi theo xu thế đó
1.2 DHHT là cách thức hoạt động và giao lưu hợp tác của thầy gây nên hoạtđộng và giao lưu hợp tác của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học về kiến thức và kỹnăng DHHT không những giúp HS hiểu bài sâu hơn mà còn rèn luyện cho các em kỹnăng làm việc hợp tác và bồi dưỡng năng lực xã hội
Trong thực tiễn dạy học ở trường THPT, đa số giáo viên có nhu cầu dạy họcbằng phương pháp DHHT Tuy nhiên, còn nhiều GV khi được hỏi còn chưa rõ vềphương pháp này, vận dụng phương pháp này vào quá trình dạy học
1.3 Hiện nay, định hướng đổi mới PPDH nói chung và với môn Toán nói riêng
là tích cực hóa hoạt động học tập nhằm hình thành cho HS tư duy tích cực, độc lập,sáng tạo, nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề Để nâng cao hiệu quảgiảng dạy, người GV cần hỗ trợ HS tìm hiểu sâu nội dung kiến thức, rèn luyện kỹnăng, củng cố ôn tập kiến thức cũ, rèn luyện và phát triển tư duy logic toán học Đểđổi mới phương pháp và hình thức dạy học môn Toán, người GV cần thiết kế các tìnhhuống dạy học với mục đích: thay đổi vai trò của GV thành người tổ chức, điềukhiển, tác động lên HS; kiểm soát và đánh giá quá trình học tập của HS kịp thời; gópphần hình thành phẩm chất, đạo đức, tác phong hiện đại cho HS
Trang 11Theo Hoàng Lê Minh [5], một tình huống dạy học hợp tác cần thỏa mãn 3 điều kiên:
- Tình huống phải có tác dụng gợi ra vấn đề
- HS nhận thấy nhu cầu cần hợp tác, trao đổi, sự hợp tác có thể mang lại kết quả tốt
- Tạo môi trường học tập hợp tác, có mối quan hệ mật thiết giữa vai trò của các nhân với vai trò của tập thể
1.4 Chủ đề “Phương trình, bất phương trình mũ logarit” trong chương trình
Giải tích 12 là một trong những nội dung trình bày các kiến thức toán học có sự liênkết, xâu chuỗi, khái quát hóa các nội dung kiến thức về phương trình, bất phươngtrình của chương trình Đại số lớp 10, và một số kiến thức mà học sinh đã nghiên cứunhư: hàm số logarit, hàm số mũ Vì vậy thông qua dạy học chủ đề này, giáo viên cóthể thiết kế được nhiều tình huống dạy học hợp tác, đồng thời người học sẽ có cơ hộicùng hợp tác bàn bạc, thảo luận, xem xét, nghiên cứu giải quyết nhiều vấn đề trongviệc giải quyết các bài toán về phương trình, bất phương trình mũ -logarit cũng cácbài toán về thực tế
1.5 Vấn đề mà luận văn quan tâm chưa được nghiên cứu một cách tương đốitrọn vẹn trong các đề tài, luận văn, luận án thuộc lĩnh vực lí luận dạy học và phươngpháp dạy học toán ở nước ta
Xuất phát từ những lí do trên, đề tài được lựa chọn là: Thiết kế tình huống dạy
học hợp tác trong dạy học phương trình, bất phương trình mũ - logarit cho học sinh lớp 12 THPT.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp dạy học hợp tác, chủ yếu là hìnhthức dạy học hợp tác theo nhóm để thiết kế các tình huống dạy học hợp tác một số bàithuộc chủ đề ‘‘Phương trình, bất phương trình mũ - logarit” lớp 12 ở trường THPTnhằm góp phần phát huy tính tích cực, tăng cơ hội để học sinh giao lưu, học hỏi lẫnnhau, góp phần phát triển sự tự tin, tính đoàn kết, gắn bó, nâng cao hiệu quả dạy họcmôn Toán ở trường THPT
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Toán lớp 12 THPT
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu phương pháp, kỹ năng dạy học hợp tác vàthiết kế tình huống dạy học hợp tác theo nhóm trong dạy phương trình, bất phương trìnhmũ - logarit
- Phạm vi nghiên cứu: HS lớp 12 THPT
Trang 124 Giả thuyết khoa học
Trong dạy học môn toán nói chung, dạy học chủ đề phương trình, bất phươngtrình mũ nói riêng, nếu giáo viên quan tâm sử dụng phương pháp dạy học hợp táctrong quá trình tổ chức dạy học thì sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học vànâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở trường Trung học phổ thông
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học hợp tác Điều tra, đánh giá thực trạng tổchức dạy học hợp tác trong dạy học phương trình, bất phương trình mũ - logarit lớp 12 ởtrường THPT
- Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác vào thiết kế một số tình huống dạy họcmột số nội dung trong “Phương trình, bất phương trình mũ - logarit” lớp 12 ở trường
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu lí luận về DHHT, về thiết kế tình huống dạyhọc hợp tác trong dạy học toán, về nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán và một số vấn
đề khác liên quan tới đề tài qua một số văn bản, tài liệu liên quan đến phương pháp dạyhọc, tâm lí học, giáo dục học và lí luận dạy học bộ môn Toán…
- Nghiên cứu thực tiễn (quan sát, điều tra, phỏng vấn): Điều tra hoạt động dạycủa giáo viên, hoạt động học tập của học sinh bằng phiếu hỏi và phỏng vấn nhằm đánhgiá thực trạng tổ chức DHHT, thiết kế các tình huống DHHT trong quá trình dạy họcmôn Toán ở trường THPT
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lí kết quả điều tra trước và sau thực nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Nghiên cứu trên một số đối tượng họcsinh cụ thể để thấy được rõ hơn sự phát triển của năng lực học sinh đó sau tác động củabiện pháp sư phạm
- Thực nghiệm sư phạm: thực nghiệm dạy một số tiết trong chủ đề phương trình,bất phương trình mũ - logarit bằng các tình huống DHHT để kiểm nghiệm giả thuyết vàtính khả thi của một số biện pháp đã đề xuất
Trang 137 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung luận văn được trình bày theo ba chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2.Thiết kế một số tình huống dạy học hợp tác trong dạy học phương trình, bất phương trình mũ - logarit nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán.Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 14Do đó, định hướng cho việc đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay làphương pháp dạy học cần tạo cơ hội cho người học học tập trong hoạt động và bằnghoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo.
Việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học đã được sử dụng từrất sớm ở nhiều nước trên thế giới và mang lại hiệu quả rất cao Ở Việt Nam, việc sửdụng phương pháp dạy học tích cực đã được vận dụng từ lâu nhưng vẫn chưa được sửdụng và vận dụng một cách linh hoạt, hợp lý; một bộ phận giáo viên vẫn chưa nhậnthấy hết được vai trò của phương pháp dạy học tích cực trong hoạt động giảng dạy,những hiệu quả do phương pháp dạy học tích cực mang lại … Vì thế mà chất lượngdạy học chưa được nâng cao Do đó, một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra là mỗingười giáo viên phải hiểu và biết vận dụng một cách linh hoạt, hợp lý các phươngpháp dạy học tích cực vào trong từng bài học sao cho đem lại hiệu quả cao nhất chotừng bài học, cho học sinh
Để thiết kế và tổ chức dạy học hiệu quả, giáo viên cần suy nghĩ về những vấn đềsau [1]:
- Đâu là mối quan tâm hàng đầu của học sinh?
- Học sinh nên học như thế nào để hiệu quả?
- Điều gì tạo nên động cơ thúc đẩy học sinh học tích cực?
Như vậy, vấn đề quan trọng không chỉ là “Học sinh nên biết gì?” mà còn là “Điều
gì xảy ra với học sinh?” khi các em tham gia vào quá trình học tập Giáo viên cần quantâm đến quá trình học tập và việc xây dựng kiến thức của người học Khi lấy người họclàm trung tâm, giáo viên phải xác định thế nào là quá trình học tập hiệu quả nhất Trên
Trang 15cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động dạy học sao cho phù hợp với năng lực, sở thích vànhu cầu của người học Điều này đòi hỏi giáo viên có một cách nhìn nhận mới, cáchsuy nghĩ mới về công việc, về mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh cùng nhữngvấn đề liên quan.
Hai yếu tố cốt lõi của định hướng đổi mới phương pháp dạy và học theo hướngtích cực là sự tham gia và cảm giác thoải mái [2]:
Sự tham gia của người học vào quá trình dạy và học tích cực
Sự tham gia cho thấy học sinh tận dụng và khai thác môi trường học tập và kiếnthức như thế nào Khi quan sát, nếu thấy học sinh tập trung cao độ, miệt mài, say sưagiải quyết các nhiệm vụ học tập, bỏ qua yếu tố thời gian thì có thể khẳng định quátrình học tập tích cực đang diễn ra, học sinh tiếp thu kiến thức ở mức độ sâu
Dạy và học tích cực thực sự có hiệu quả khi giáo viên thực hiện tốt năm yếu tốtăng cường sự tham gia của học sinh:
1 Không khí học tập và các mối quan hệ trong nhóm, lớp: được thể hiện thông
qua nội dung, nhiệm vụ và các hoạt động phù hợp với mức độ phát triển của học sinh,gần gũi với thực tế; đa dạng về hình thức; tạo điều kiện cho học sinh tự do sáng tạo; môitrường học tập thân thiện, mang tính kích thích thể hiện qua việc bố trí bàn ghế, trang trítrên tường, cách sắp xếp không gian lớp học, quan tâm tới sự thoải mái về tinh thần,không căng thẳng, không nặng nề, không gây phiền nhiễu, có các hoạt động giải trí nhẹnhàng, truyện vui, hài hước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; hỗ trợ cá nhân một cáchtích cực; tạo cơ hội để học sinh giao tiếp, thể hiện quan điểm, giá trị, mơ ước, chia sẻkinh nghiệm,… và hợp tác trong các hoạt động học tập
2 Sự phù hợp với mức độ phát triển của học sinh: Nhiệm vụ, các hoạt động học
tập cần có sự phân hóa, quan tâm đến sự khác biệt về nhịp độ học tập, trình độ phát triểngiữa các đối tượng học sinh khác nhau; có sự thỏa thuận cam kết rõ ràng về những mongđợi của thầy đối với trò và ngược lại; các yêu cầu đối với học sinh cần rõ ràng, tránh mơ
hồ, đa nghĩa; Khuyến khích học sinh giúp đỡ lần nhau; quan sát học sinh học tập để tìm
ra phong cách và sở thích học tập của từng em, có sự hỗ trợ phù hợp, yêu cầu học sinhđộng não và hỗ trợ cá nhân, tạo điều kiện để học sinh trao đổi về nhiệm vụ học tập
Trang 163 Sự gần gũi với thực tế: nhiệm vụ học tập gắn với các mối quan tâm của học
sinh và với thế giới thực tại xung quanh; tận dụng mọi cơ hội để học sinh tiếp xúc với vậtthực, tình huống thực; Sử dụng các công cụ dạy học hấp dẫn (trình chiếu, video, tranhảnh,…) để “đưa” HS lại gần đời sống thực tế; giao các nhiệm vụ vận dụng kiến thức, kĩnăng vào thực tế; khai thác các đề tài vượt ra ngoài giới hạn của các môn học riêng lẻ
4 Mức độ và sự đa dạng của hoạt động:Trong các hoạt động học tập, hạn chế tối đa thời gian chết và thời gian chờ đợi; tạo ra các thời điểm hoạt động và trải nghiệm
tích cực; tích cực các hoạt động học mà chơi (các trò chơi giáo dục), thay đổi xen kẽ cáchoạt động và nhiệm vụ học tập; tăng cường các trải nghiệm thành công; tăng cường sựtham gia tích cực; đảm bảo hỗ trợ đúng mức (học sinh hỗ trợ lẫn nhau và hỗ trợ từ giáoviên); đảm bảo đủ thời gian thực hành
5 Phạm vi tự do sáng tạo:HS được tạo điều kiện lựa chọn hoạt động theo sở
thích, được tham gia xây dựng kế hoạch và đánh giá bài học (tự đánh giá, đánh giá đồngđẳng); Trong khuôn khổ một số nhiệm vụ nhất định, học sinh được khuyến khích tự doxác định quá trình thực hiện và xác định sản phẩm; Học sinh được tạo điều kiện tham giavào các hoạt động học tập
Cảm giác thoải mái:
Dạy học tích cực chỉ thực sự diễn ra khi học sinh có được cảm giác thoải mái cảm giác như được ở nhà, được quan tâm, cảm thấy an toàn, được thể hiện bản thân
-và cảm giác yên bình bên trong Cảm giác thoải mái là dấu hiệu thể hiện sự phát triểntâm lý tốt Cảm giác này tồn tại khi học sinh tự tin vào bản thân, nghĩa là có lòng tựtôn cao Biết rõ mình có thể mắc lỗi là yếu tố quan trọng có thể mang lại sự tiến bộ và
sự phát triển, giúp học sinh đương đầu với khó khăn tốt hơn Sự hỗ trợ, phản hồi tíchcực và mong đợi thực tế cần trở thành một phần của cuộc sống trong nhà trường.Một trong những yếu tố để tạo ra cảm giác thoải mái là tính hài hước Tính hàihước giúp nhìn rõ mọi sự việc trong khả năng nhận thức, giúp vượt qua những tìnhhuống khó khăn, mang lại sức mạnh và tầm nhìn để tìm ra giải pháp mới Chúng ta đãlàm cho trẻ cười đủ chưa? Giáo viên đã cười đủ với học sinh và đồng nghiệp chưa? Đó lànhững câu hỏi đặt ra đối với mỗi giáo viên khi thực hiện dạy học tích cực
Trang 17Học sinh học tập hiệu quả nhất khi có một cộng đồng học tập gắn kết và có sựquan tâm lẫn nhau Đây chính là nền tảng cho cảm giác thoải mái của học sinh.Những giáo viên dạy học có hiệu quả thường quan tâm đến từng học sinh với tư cách
là những cá nhân độc lập và với tư cách người học Họ biết về cuộc sống, những sởthích, nơi ở và hoàn cảnh gia đình của học sinh, nắm bắt được khó khăn trong học tậpcủa từng em Để tạo ra một môi trường học tập tích cực, các hoạt động học tập cầnđược liên hệ với những kiến thức đã biết của học sinh
Những giáo viên dạy học có hiệu quả thường quan tâm đến quá trình học tậpcủa học sinh và coi những lỗi các em mắc phải là một phần tự nhiên của quá trìnhnày Trong môi trường học tập tích cực, an toàn, có sự hỗ trợ và quan tâm của giáoviên, học sinh có thể thoải mái thể hiện nhận thức của mình, đặt câu hỏi mà không lo
sợ bị chế nhạo hay coi thường
Cảm giác thoải mái gắn liền với môi trường học tập và cách thức tổ chức dạy họcphù hợp với những nhu cầu của người học Có thể nhận thấy cảm giác thoải mái của mộthọc sinh thông qua sự cởi mở và tiếp thu kiến thức tốt Học sinh dễ dàng thích nghi, hòanhập với môi trường, không bị băn khoăn hay chán nản Học sinh bộc lộ sự nhận thức vềbản thân - sự tự tin và có khả năng bênh vực, bảo vệ cái đúng, lẽ phải, coi trọng bản thân
và những người xung quanh Như vậy, cảm giác thoải là điều kiện để đạt được mức độtham gia cao và tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập
Cảm giác thoải mái và sự tham gia tích cực có thể trở thành tiêu chuẩn cơ bảnđể đánh giá chất lượng của quá trình giáo dục Điều đó có nghĩa là, giáo viên cần phảithiết kế những hoạt động học tập nhằm đảm bảo mức độ tham gia cao và tham giatích cực của học sinh; đồng thời, tác động đến tình cảm, thái độ và đem đến niềm vuicũng như hứng thú trong học tập cho học sinh
Những định hướng này sẽ làm thay đổi vai trò của người dạy và người học,trong đó, giáo viên giữ vai trò là người tạo môi trường học tập thân thiện, tư vấn, chỉdẫn, động viên, kèm cặp, đưa đến những thông tin phản hồi cần thiết, định hướng quátrình lĩnh hội tri thức và cuối cùng là người thể chế hóa kiến thức
1.2 Dạy học hợp tác
Trang 181.2.1 Quan niệm về dạy học hợp tác
Theo nghĩa từ điển Tiếng Việt (2008) [6], “Hợp tác có nghĩa là cùng chung sức với nhau để tiến hành một công việc nhằm một mục đích chung Hợp tác là điều rất quan trọng đóng góp vào sự thành công của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào; là điều không thể thiếu được trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, giữa các
tổ chức kinh tế xã hội”.
Sự hợp tác trong dạy học thể hiện thông qua các mối quan hệ hợp tác tích cựcgiữa thầy và trò, và giữa trò với trò Vì vậy quan niệm DHHT được xem xét ở cả haigóc độ: người dạy và người học Xét trên góc độ người học, DHHT là cách thức họctập của HS được thực hiện thông qua sự hợp tác tích cực của các thành viên trong cácnhóm để hoàn thành nhiệm vụ học tập chung mà người ta thường gọi là “học tập hợptác” Xét trên góc độ người dạy, DHHT có thể xem là một phương pháp dạy học mà
GV tổ chức các hoạt động học tập hợp tác để học sinh cùng tham gia tìm hiểu và chia
sẻ kiến thức
Ở thế giới, xu thế DHHT được khởi xướng vào đầu những năm 1900 do nhàgiáo dục John Dewey và đã được rất nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu như:D.W.Johnson, RogerT.Johnson & Holubec,… Tiếp thu hình thức dạy học này ở ViệtNam trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu vềDHHT của các nhà giáo dục và lí luận dạy học như: Hoàng Lê Minh, Nguyễn Hữu Châu,Hoàng Công Kiên, Nguyễn Trọng Sửu, Nguyễn Thị Thanh, Mỗi nhà giáo dục khinghiên cứu về dạy học hợp tác đều có cách nhìn nhận và quan niệm khác nhau phươngpháp dạy học này Vì thế mà DHHT được gọi theo nhiều tên khác nhau như: học hợp tác,học tập hợp tác, dạy học theo nhóm,…
Theo Hoàng Lê Minh [5]:“Phương pháp dạy học hợp tác là cách thức hoạt động và giao lưu hợp tác của thầy gây nên hoạt động và giao lưu hợp tác của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học về kiến thức và kĩ năng xã hội”.
Theo Nguyễn Hữu Châu [7]: “Học hợp tác là việc sử dụng các nhóm nhỏ để học sinh làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của bản thân mình cũng như người khác”
Trang 19Theo Nguyễn Trọng Sửu (2007) [8]: “DHHT là một hình thức xã hội của dạy học Trong đó học sinh một lớp được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm được trình bày và đánh giá trước lớp” Theo Hoàng Công Kiên (2013) [9]: “DHHT là một phương pháp dạy học trong
đó mỗi học sinh được học tập trong một hoặc nhiều nhóm có sự hợp tác giữa các thành viên, giữa các nhóm và với sự hướng dẫn của giáo viên để đạt được mục đích chung”
Xuất phát từ những quan niệm trên, ta có thể thấy cho dù các tác giả tiếp cậntheo góc độ nào thì khi đưa ra quan niệm về DHHT đều có sự thống nhất với nhau ởmột số đặc điểm sau:
- Trong DHHT, GV là người tổ chức, thiết kế các hoạt động học tập để học sinh tham gia, các hoạt động học tập này có sự “ràng buộc” với nhau
- Các hoạt động học tập của học sinh được tiến hành trong môi trường học tậpgồm các nhóm nhỏ Mỗi thành viên trong nhóm đều phải tích cực suy nghĩ, tham gia vàoquá trình học tập của nhóm, cùng bàn bạc, trao đổi, giúp đồng đội hiểu và hoàn thành cácnhiệm vụ học tập của nhóm
- Kết quả đạt được của mỗi cá nhân thể hiện qua kết quả đạt được của cả nhóm
Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm DHHT: “DHHT là một phương pháp dạy
học dưới sự thiết kế, tổ chức và điều khiển của GV gây nên việc học của học sinh thông qua học tập hợp tác, mỗi học sinh sẽ được học tập theo nhóm, có sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm, giữa các nhóm với nhau để đạt được mục đích chung Kết quả đạt được của mỗi thành viên thể hiện qua kết quả đạt được của cả nhóm”.
DHHT là một chiến lược dạy học tích cực, trong đó các thành viên tham giahoạt động và học tập cùng nhau trong các nhóm nhỏ (mỗi nhóm bao gồm các thànhviên có trình độ và khả năng khác nhau) nhằm mục đích phát triển sự hiểu biết vàchiếm lĩnh một nội dung học tập nào đó
1.2.2 Các yếu tố cơ bản của dạy học hợp tác
Hợp tác vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu dạy học, hoạt động trong giờ dạyhọc hợp tác bao gồm: Hợp tác giữa các HS trong một nhóm, hợp tác giữa các nhóm
và hợp tác giữa HS với GV
Trang 20So với các phương pháp dạy học truyền thống, DHHT mang những yếu tố cơ bảnsau:
Thứ nhất, sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực giữa các TV thông qua làm việc nhóm trên cơ sở cùng hướng đến mục đích chung
Trong DHHT, GV cần phải tạo ra cho HS sự phụ thuộc về mục đích học tập sản phẩm chung; sự phụ thuộc về thành tích của các thành viên trong nhóm; sự phụthuộc về phân công công việc; sự phụ thuộc về vai trò của mỗi cá nhân; sự phụ thuộc
-về môi trường… Sự phụ thuộc này sẽ khuyến khích các TV trong nhóm cùng nhaulàm việc, chia sẻ thông tin và giúp đỡ nhau để các cá nhân và cả nhóm đều hoànthành công việc một cách tốt nhất, góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quảhoạt động học tập của HS, phát triển các mối quan hệ tình cảm giữa các cá nhân vàxây dựng một tập thể đoàn kết trên cơ sở hướng đến những mục đích chung
Thứ hai, sự tương tác qua lại trực tiếp tác động đến sự thành công của nhau
Sự tương tác qua lại trực tiếp giúp HS dành cho nhau những sự hỗ trợ và cộngtác có ý nghĩa và hiệu quả, trao đổi thông tin, kiến thức và cách lập luận về kiến thức.Lắng nghe và phản hổi, bác bỏ hay bảo vệ các ý kiến nhằm đưa ra được kết luận đúngđắn về nội dung học tập Thông qua sự tương tác này, HS được đánh giá, nhận xét ýkiến của bạn đồng thời tự đánh giá, nhận xét kiến thức của bản thân Trong sự tươngtác không tránh khỏi những ý kiến đối lập, song qua thảo luận vì lợi ích chung, những
ý kiến đối lập dễ dàng tìm được tiếng nói chung Sự tương tác trực tiếp có tác dụngtốt đối với HS như: tăng cường động cơ học tập, kích thích sự giao tiếp, lập luận vàkết quả Tăng cường bản năng xã hội như: thái độ, cách biểu đạt, khích lệ các thànhviên tham gia phát triển mối quan hệ gắn bó, quan tâm đến nhau
Thứ ba, kết hợp giữa trách nhiệm cá nhân và tập thể
Trách nhiệm cá nhân được thể hiện thông qua ý thức tự giác của mỗi cá nhântrong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của nhóm Trách nhiệm của cá nhân chỉtồn tại khi có sự đánh giá nhóm, mỗi cá nhân phải nhận thấy được vai trò và tráchnhiệm của bản thân để từ đó nỗ lực đóng góp sức mình trong việc thực hiện công việcchung và góp phần vào sự thành công của nhóm Trách nhiệm của tập thể là giúp chocác thành viên phát huy được tối đa khả năng học tập của bản thân
Trang 21Thứ tư, đòi hỏi ở người học kĩ năng giao tiếp và khả năng hợp tác
DHHT yêu cầu HS phải có kĩ năng giao tiếp và khả năng năng hợp tác Kĩ nănggiao tiếp của HS giúp cho HS có thể truyền đạt được toàn bộ thông tin liên quan tớivấn đề nghiên cứu tới người khác, để người khác hiểu vấn đề và có được những chia
sẻ cần thiết Khả năng hợp tác của HS giúp mỗi cá nhân xây dựng và duy trì bầukhông khí tin tưởng lẫn nhau, giải quyết các bất đồng quan điểm trong học tập gópphần nâng cao hiệu quả của hoạt động nhóm Để hình thành các kĩ năng trên, ngườihọc không chỉ cần nắm vững cách thức hành động mà còn phải hiểu mục đích,phương tiện và điều kiện hành động
Thứ năm, kết quả đạt được của mỗi cá nhân phụ thuộc vào hiệu quả làm việc của nhóm
Trong quá trình HTHT, sự tác động qua lại trực tiếp giữa các cá nhân đòi hỏingười học phải nỗ lực không ngừng để hoàn thành phần việc của mình vì sự thànhcông của cá nhân tạo nên thành công của cả nhóm Ngược lại, thông qua hiệu quả làmviệc của nhóm giúp cho mỗi cá nhân có những sự tiến bộ nhất định trong nhận thức,thái độ, hành động và kĩ thuật học tập, cá nhân được rèn luyện khả năng giao tiếp vàtrang bị thêm những kĩ năng xã hội cần thiết
1.2.3 Đặc điểm của dạy học hợp tác
Theo quan điểm của lí luận dạy học hiện đại, quá trình tổ chức DHHT có một sốđặc điểm cơ bản như sau:
- Về nhiệm vụ học tập: DHHT không chỉ truyền thụ cho HS những kiến thức quy định trong chương trình, mà còn hướng vào việc phát triển tư duy, hình thành các kỹ
năng thực hành sáng tạo, chuẩn bị cho HS sớm thích ứng và hòa nhập với đời sống xãhội
- Về nội dung: Nội dung quá trình tổ chức DHHT không chỉ là những tri thức,
mà còn bao gồm các dạng bài tập nhận thức dưới dạng các tình huống, các dạng thực
hành tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề
- Về phương pháp: DHHT coi trọng rèn luyện cho HS thói quen tự học, hoạt động độc lập cá nhân hoặc hợp tác tập thể thông qua thảo luận nhóm và thực hành Vận
dụng DHHT thông thường qua các pha dạy học cho nên cần phối hợp với các phươngpháp dạy học khác
Trang 22- Về đánh giá: HS tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, cho nên cùng với việc kiểm tra đánh giá của GV, HS được tham gia vào quá trình đánh giá, tự
đánh giá và đánh giá đồng đẳng
1.2.4 Kỹ năng dạy học hợp tác của giáo viên
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở cấp THPT, người GV cầnphải đổi mới cách dạy DHHT là một trong những hướng tiếp cận quan trọng trongđổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở nước ta Nó có ảnh hưởng tích cực đến kếtquả học tập cũng như phát triển năng lực người đọc, đồng thời cũng tác động mạnh
mẽ tới sự phát triển nghề nghiệp của GV
Theo Trịnh Văn Biều [10]: Muốn DHHT thành công, GV cần có những kỹ năngdạy học nhất địnhvà những kỹ năng ấy đều thích hợp với các nguyên tắc và yêu cầuDHHT bao gồm:
học, vị trí của bài học trong chương trình và kế hoạch và dạy học Xác định mục tiêu
môn học sẽ giúp cho GV không bị chệch hướng, GV sẽ có cái nhìn tổng thể để lựachọn các tri thức cần dạy, xác định mối liên hệ giữa kiến thức đã học và kiến thức cầndạy tạo ra những tình huống dạy học hợp lý, phát huy sự sáng tạo độc lập suy nghĩcủa HS
- Kỹ năng thiết kế nội dung bài học theo mô hình DHHT: Phân tích nội dung bài
học, xác định những tư tưởng chính trong bài học, xây dựng cấu trúc nội dung bài học.Người GV cần xác định rõ các tri thức chính và tri thức phụ trong bài học, tìm ra mối liên
hệ giữa các đơn vị tri thức theo một trình tự hợp lý về cấu trúc bài học; xác định trình độ
và năng lực nhận thức của HS để xây dựng tình huống phù hợp, khi thiết kế vật cản cầnquan tâm đến mức độ từ thấp đến cao giúp cho tư duy HS thích ứng với cách giải quyếtvấn đề, GV thiết kế vật cản nên biết rõ những khó khăn mà HS phải vượt qua
nhiều PPDH khác một cách khéo léo, nhuần nhuyễn Một tiết học 45' cần có sự kết hợp củanhiều PPDH, trong đó có PPDH chủ yếu và PPDH phụ trợ Vì mỗi phương pháp đều có ưuđiểm, nhược điểm khác nhau, việc kết hợp giữa các PPDH nhằm phát huy
Trang 23ưu điểm và hạn chế nhược điểm của nhau Mặt khác, trong một tiết học, nếu chỉ sửdụng duy nhất một PPDH sẽ dẫn đến nhàm chán, HS không tập trung, từ đó sẽ ảnhhưởng xấu đến kết quả học tập.
- Kỹ năng thiết kế phương tiện dạy - học tập theo mô hình DHHT: Để đạt được
hiệu quả dạy học trong một thời gian ngắn cần sự hỗ trợ của các phương tiện dạy họcnhư: phiếu học tập được chuẩn bị trước, máy chiếu để HS các nhóm trình bày đượcnhanh chóng, máy tính để GV thể chế hóa kiến thức và các phương tiện dạy học khácnhư giấy khổ lớn, trang vẽ chuẩn bị trước Mặt khác, việc sử dụng các phần mềm dạyhọc sẽ trợ giúp cho HS dễ dàng có cái nhìn trực quan để công nhận kiến thức mà GVkhông tốn nhiều thời gian để giải thích
phân loại HS theo 5 mức: giỏi, khá, trung bình khá, trung bình, yếu, kém; nhóm gồm cácthành viên có năng lực đa dạng va khả năng nhận thức ở các mức độ khác nhau
- Kỹ năng điều hành các hoạt động học tập hợp tác: Trong giờ học hợp tác, để
cho các hoạt động nhịp nhàng và có hiệu quả, người GV cần khé léo dẫn dắt các hoạtđộng của HS sao cho họ luôn cảm thấy mình tự tìm ra được kiến thức mà không có sự ápđặt của GV, hướng dẫn HS cách học tập hợp tác, cách tổ chức và phân công nhiệm vụcủa từng thành viên trong nhóm, các vai trò chính trong nhóm như nhóm trưởng, thư ký
- Kỹ năng tổng kết giờ học: đây là khâu cuối cùng trong giờ học hợp tác: GV cóthể dùng các phương tiện dạy học để củng cố, khắc sâu kiến thức nhằm nâng cao sứcthuyết phục đối với HS đồng thời tiết kiệm được thời gian Ngoài ra GV cần nhận xét vềcác hoạt động hợp tác của các nhóm Trong giờ học hợp tác, các khí cạnh GV đưa rakhông phải giờ học nào, cá nhân nào cũng có thể tiếp thu và giải quyết được hết trongthời gian 45' nên kết luận của GV là sự gợi ý, dẫn dắt HS tự học và ôn tập ở nhà có trọngtâm
1.2.5 Tình huống dạy học hợp tác
1.2.5.1 Khái niệm về tình huống dạy học
Xét về mặt khách quan, tình huống dạy học là tổ hợp những mối quan hệ xã hội cụ thể được hình thành trong quá trình dạy học, khi mà người học đã trở thành chủ thể
Trang 24hoạt động của đối tượng nhận thức trong môi trường dạy học, nhằm mục đích dạyhọc cụ thể Xét về mặt chủ quan, tình huống dạy học chính là trạng thái bên tròn đượcsinh ra do sự tương tác giữa chủ thể với đối tượng nhận thức.
Một tình huống thông thường chưa phải là một tình huống dạy học Nó chỉ trởthành tình huống dạy học khi người GV đưa những nội dung cần truyền thụ vào trongcác sự kiện tình huống và cấu trúc các sự kiện sao cho phù hợp với logic sư phạm, đểkhi người học giải quyết nó sẽ đạt được mục tiêu dạy học
Theo Trịnh Văn Biểu [10], "dạy học tình huống là phương pháp dạy học được
tổ chức theo những tình huống có thực của cuộc sống, trong đó người học được kiến tạo tri thức qua việc giải quyết các vấn đề có tính xã hội của việc học tập".
Theo Phan Trọng Ngọ [11], " dạy học bằng tình huống là thông qua việc giải quyết những tình huống, người học có những khả năng thích ứng tốt nhất với môi trường xã hội đầy biến động, dạy học bằng tình huống rất gần với dạy học giải quyết tình huống có vấn đề nhưng vẫn có nhiều điểm khác nhau Dạy học bằng tình huống
có cơ sở lý luận và phạm vi ứng dụng rộng hơn".
1.2.5.2 Khái niệm tình huống dạy học hợp tác
Tình huống DHHT là một dạng tình huống gợi vấn đề mà GV thiết kế nhằm tạo
ra các hoạt động hợp tác của HS Mỗi tình huống DHHT thể hiện ý đồ sư phạm củangười dạy nhằm gợi động cơ cho HS trong quá trình phát hiện và GQVĐ
Theo Hoàng Lê Minh[5], một tình huống dạy học hợp tác cần thỏa mãn 3 điều kiện:
- Tình huống phải có tác dụng gợi ra vấn đề
- HS nhận thấy nhu cầu cần hợp tác, trao đổi, sự hợp tác có thể mang lại kết quả tốt
- Tạo môi trường học tập hợp tác, có mối quan hệ mật thiết giữa vai trò của các nhân với vai trò của tập thể
Nhiệm vụ cơ bản của của việc xây dựng tình huống DHHT là phải tạo ra cơ hội để
HS được suy nghĩ cá nhân, cùng thảo luận trong nhóm để khẳng định mình và rèn luyện
tư duy hội thoại, phê phán Các tình huống DHHT phải vưa sức, phù hợp với mục đích
và nội dung bài học; tình huống phải chính xác, đưa ra đúng lúc, đúng chỗ nhằm thu hút
sự chú ý của HS; tình huống phải có tác dụng gợi động cơ và dẫn dắt HS hoạt động đểphát triển một số kỹ năng trình bày, diễn đạt, tư duy hội thoại, tư duy phê
Trang 25phán Để tạo tình huống DHHT trong dạy học phương trình và bất phương trình
mũ-logarit nên dựa vào một số hoạt động trí tuệ như: Dự đoán kết quả nhờ nhận xét trực
quan và thực nghiệm, lật ngược vấn đề, xem xét tương tự, khái quát hóa, giải bài tập
mà HS chưa biết thuật giải, tìm sai lầm trong lời giải, phát hiện nguyên nhân và sửa
chữa sai lầm trong giải toán, tìm nhiều cách giải cho một bài toán
1.2.5.3 Cấu trúc của tình huống dạy học hợp tác
Cấu trúc của một tình huống DHHT gồm các hoạt động dạy của GV, hoạt động
học của HS qua các pha hợp tác hoạt động được thể hiện thông qua sơ đồ sau:
Thành lập nhóm và giao nhiệm
Hoạt động cá nhân(trong nhóm)
Thảo luận, hợp tác trong nhóm
Thảo luận, hợp tác với các bạntrong lớp, giữa các nhóm
Kiểm tra, đánh giá kết quả
Mặc dù có cấu trúc nhìn chung như trên, tuy nhiên, trong từng tình huống cụ
thể, các hoạt động có thể được lồng ghép vào nhau, có thể được giảm bớt đi (tùy vào
mức độ phức tạp của nội dung kiến thức)
1.2.5.4 Quy trình thiết kế tình huống dạy học hợp tác
Để thiết kế một tình huống dạy học hợp tác, GV cần thực hiện các bước sau:
Bước 1 Xác định mục tiêu dạy học:
Trong mỗi tình huống DHHT được thiết kế GV cần phải xác định được rõ mục
tiêu dạy học Nó bao gồm: mục tiêu chiếm lĩnh tri thức (kiến thức, kĩ năng, tư duy,
thái độ) và mục tiêu rèn luyện cách học và cách giao tiếp cho học sinh
Trang 26Bước 2 Chọn nội dung dạy học:
Nội dung thiết kế tình huống DHHT thường là: Nội dung gợi mở nhiều hướngsuy nghĩ khác nhau; khối lượng kiến thức lớn mà cần giải quyết trong một thời gianngắn; các nội dung có tác dụng hình thành nhu cầu hợp tác, tạo tình huống cần tranhluận trong tập thể Trong dạy học môn Toán, nội dung có thể thiết kế được các tìnhhuống dạy học hợp tác là: tình huống tiếp cận khái niệm, định lí,hệ thống kiến thứccho ôn tập chương, đề xuất các phương pháp giải cho một bài toán, giải bài toán theonhiều cách khác nhau, tìm sai lầm trong lời giải và sửa chữa,…
Bước 3.Thiết kế các tình huống cụ thể:
Sau khi đã lựa chọn các nội dung thích hợp để dạy học hợp tác, GV cần phải thiếtcác nội dung thành các tình huống hợp tác cụ thể Tình huống đó có thể được thiết kếthông qua một tình huống thực tế, một bài toán, một video, một câu chuyện,…nhằmhướng người học theo dụng ý của GV Tình huống có thể được thiết kế trên phiếu họchọc tập dưới dạng bảng, sơ đồ, câu hỏi, bài tập, hình vẽ… hoặc sử dụng máy chiếu.Khi thiết kế tình huống dạy học hợp tác, GV cần phải thực hiện các công việc sau:
- Đề ra nhiệm vụ cho học sinh và chuẩn bị các câu hỏi phụ gợi ý khi cần thiết
-Dự kiến được phương án trả lời và các cách giải quyết
- Dự kiến được các mẫu thuẫn có thể xảy ra trong thảo luận nhóm
Bước 4 Dự kiến cách tổ chức học tập hợp tác:
Tùy vào đặc điểm của nội dung, mục tiêu bài học và tình huống được thiết kế
mà giáo viên GV lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học hợp tác hợp để tất cả các HStrong nhóm đều có cơ hội trao đổi, thảo luận, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong suốt quátrình học tập hợp tác
Ví dụ 1: Thiết kế tình huống DHHT rèn luyện cho HS giải phương trình,
bất phương trình mũ bằng phương pháp đặt ẩn phụ:
Bước 1 Xác định mục tiêu dạy học: rèn luyện cho HS giải phương trình, bất
phương trình mũ bằng phương pháp đặt ẩn phụ
Bước 2 Chọn nội dung dạy học: đưa ra một số phương trình, bất phương trình
sử dụng cách giải đặt ẩn phụ nhằm luyện tập cho HS kỹ năng giải thuần thục.
Trang 27Bước 3 Thiết kế tình huống cụ thể: Tình huống được thể hiện qua phiếu học tập
với nội dung học tập hợp tác
Giải phương trình ta được 2 nghiệm: 1 = 9, 2 = −5
Chỉ có 1 = 9 thỏa mãn điều kiện > 0
Trang 28- Dự kiến thời gian thực hiện: 15 phút
- Dự kiến hình thức thực hiện: Làm việc theo nhóm khoảng 4-6 HS
1.2.6 Tổ chức dạy học hợp tác
1.2.6.1 Các điều kiện để tổ chức dạy học hợp tác
Để tổ chức DHHT thành công cần phải quan tâm tới ba yếu tố: người dạy, ngườihọc và môi trường học tập
- Đối với GV cần phải có kiến thức sâu rộng về môn học; năng lực giao tiếp tốt;biết cáchthiết kế các tình huống hợp tác; có năng lực và kinh nghiệm trong việc tổ chứcDHHT như: có khả năng điều khiển tốt, có kinh nghiệm trong việc lựa chọn hình thức
tổ chức DHHT sao cho phù hợp với từng nội dung bài học, kinh nghiệm trong việclựa chọn các thành vào một nhóm, chia nhóm, phân công nhiệm vụ cho các thànhtrong nhóm, kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động học tập, theo dõi và điềuchỉnh tiến trình hợp tác nhóm;…
- Đối với HS: khi tổ chức dạy học hợp tác cần phải đảm bảo được sự tự nguyệntham gia của các thành viên; Các thành viên phải có ý thức tổ chức kỉ luật và có thái
độ tích cực và tinh thần trách nhiệm cao trong việc thực hiện nhiệm vụ của nhóm đảmbảo mỗi người đều có được lợi ích trong học tập; Xác định được quyền hạn và vai tròlợi ích của nhóm và cá nhân
- Môi trường học tập: cần phải đảm bảo đầy đủ phương tiện học tập (thiết bị dạy vàhọc, phòng, điều kiện về nhiệt độ, ánh sáng, không khí …); Không khí làm việc giữa cácthành viên trongnhómthân thiện, cởi mở trên tinh thần giúp đỡ, tôn trọng lẫn nhau
và khuyến khích các thành viên hoạt động
1.2.6.2.Một số hình thức tổ chức DHHT
Dựa trên qui mô nhóm, mức độ yêu cầu của vấn đề cần được giải quyết, các yếu tốtương tác trong quá trình dạy học Các hình thức tổ chức DHHT trong một số nghiên cứucủa các tác giả Hoàng Lê Minh [5], Nguyễn Thị Thu Trang [15], Nguyễn Trung
Trang 29Dũng [17], Nguyễn Thùy Dung [14], theo tôi có ba hình thức tổ chức DHHT cơ bản sau:
Bước 1 Suy nghĩ: GV đặt câu hỏi hoặc một vấn đề kết hợp với bài hoc để HS
suy nghĩ trong vài phút cho câu trả lời về vấn đề
Bước 2 Làm việc theo cặp: GV giao nhiệm vụ và yêu cầu HS làm việc theo cặp
và thảo luận những gì HS suy nghĩ Việc tương tác trong suốt quá trình này có thểgiúp HS chia sẻ câu trả lời cho câu hỏi hoặc ý kiến cho một tình huống cụ thể
Bước 3 Chia sẻ: GV yêu cầu các cặp đôi chia sẻ với cả lớp những gì HS đã thảo luận.
Khi tổ chức DHHT thì hình thức trên thường được sử dụng khi vấn đề đưa ở mức độ đơn
giản cần giải quyết trong thời gian ngắn, tạo điệu kiện thuận lợi cho viêc HTHTtrong điều kiện không gian lớp học chật hẹp Đặc biệt cách tổ chức làm viêc theo cặpthường được sử dụng nhiều khi giao cho học sinh chấm bài, sửa bài nhau qua phiếuhọc tập qua các bài tập lựa chọn trong sách giáo khoa,…
phân chia số lượng nhóm và số lượng thành viên trong nhóm phụ thuộc vào sĩ số của lớp(thông thường mỗi nhóm khoảng từ 4-10 HS) GV có thể lựa chọn một hoặc một số cáchthức tổ chức làm việc theo nhóm trong quá trình DHHT như sau:
+ Thi kiến thức theo đội: Hình thức này được tổ chức trong cả giờ học hoặc
trong một khoảng thời gian nhất định Gồm các bước thực hiện như sau:
Bước 1 Thành lập các đội chơi tùy theo số lượng thành viên trong lớp để đảm
bảo mỗi thành viên đều có cơ hội tham gia
Bước 2 Thông báo thể lệ cuộc thi, thời gian thực hiện, cách chấm điểm đối với từng nội dung thi, phần thưởng dành cho đội chiến thắng
Bước 3 Đưa ra các nội dung kiến thức liên quan tới bài học để mỗi đội suy nghĩhợp tác thực hiện và trả lời Đồng thời giáo viên nhận xét, chính xác hóa kết quả trảlời của từng đội
Bước 4 Tổng kết thi đua, xếp hạng giữa các nhóm để động viên thi đua
Việc tổ chức cho HS thi kiến thức theo đội sẽ giúp xây dựng tính cạnh tranh tíchcực, tạo môi trường học tập thoải mái dễ chịu, kích thích sự ham hiểu biết, khả năngtìm tòi và tạo sự hứng thú cho HS trong quá trình GQVĐ
Trang 30+ Thảo luận hợp tác: Hình thức này liên quan tới việc nhiều học sinh cùng nghiên
cứu nội dung bài học Việc thảo luận hợp tác có thể được thực hiện giữa các TV trong nhómhoặc giữa HS các nhóm với nhau trong quá trình GQVĐ từ việc nhận diện vấn
đề, phân tích vấn đề, trao đổi bàn bạc để tìm giải pháp cho vấn đề, thảo luận để thốngnhất phương án chung,…Để tổ chức cho học sinh thảo luận hợp tác thì GV cần phảithực hiện các bước sau:
Bước 1.Thành lập nhóm thảo luận hợp tác, mỗi nhóm có khoảng từ 4-10 TV Bước 2 Giao nhiệm vụ thảo luận:GV đưa ra vấn đề thảo luận cho HS bằng cáchđặt một hoặc một số câu hỏi Các câu hỏi có thể hỏi trực tiếp hoặc hỏi thông quaphiếu học tập Việc đặt câu hỏi hay nhiệm vụ học tập cho các nhóm dựa theo hai hoạtđộng: hoạt động trao đổi và hoạt động so sánh Trong hoạt động trao đổi, mỗi nhómthảo luận để giải quyết một vấn đề khác nhau nhưng cùng một chủ đề; sau đó trao đổivấn đề và GQVĐ của nhóm mình với nhóm khác Trong hoạt động so sánh, tất cả cácnhóm thảo luận cùng giải quyết một vấn đề; sau đó so sánh cách giải quyết khác nhaugiữa các nhóm
Bước 3 Cùng nhau suy nghĩ:Nhiệm vụ học tập sau khi được giao cho các nhóm,tùy theo mức độ các yêu cầu GV đưa ra là dễ hay khó mà các TV trong nhóm có thểtrực tiếp thảo luận với nhau hoặc phân công cho từng TV trong nhóm làm việc độclập sau đó trình bày cho nhóm Nhóm thảo luận, tổng kết để tìm ra đáp án chính xáccho câu trả lời
Bước 4 Trả lời: GV gọi một hoặc một số học sinh đại diện cho các nhóm trìnhbày câu trả lời trước lớp Học sinh trong nhóm hoặc ngoài nhóm cùng GV đánh giáphần trình bày, nội dung kiến thức để chính xác hóa kết quả làm việc của nhóm
+Học ghép: Đây là sự kết hợp giữa học tập cá nhân và học tập hợp tác Hình thức này gồm các bước như sau:
Bước 1 Thành lập nhóm và phân công cụ thể cho từng thành viên trong nhómnghiên cứu một phần trong nội dung nhiệm vụ của nhóm
Bước 2 Mỗi cá nhân trong nhóm trình bày kết quả làm việc trước cả nhóm Bước 3 Các thành viên trong nhóm thảo luận, hợp tác, tổng kết kết quả làm việccủa mỗi cá nhân thành thành kiến thức chung
Trang 31Bước 4 Nhóm trình bày kết quả tổng kết trước lớp trước sự đánh giá của cáchọc sinh trong lớp và GV.
Bước 5 Mỗi thành viên có trách nhiệm học toàn bộ nội dung đã được tổng kết.Đảm bảo cho mọi thành viên của nhóm đều nắm vững nội dung
Việc tổ chức cho HS học ghép tạo điều kiện cho mỗi cá nhân HS đều tham giagiải quyết vấn đề khác nhau trong nhiệm vụ chung của nhóm, các cá nhân có cơ hộixem xét lại các vấn đề đã giải quyết thông qua sự đánh giá và phản biện của các TVtrong nhóm Nó không chỉgiúp cho mỗi cá nhân hiểu sâu sắc vấn đề,mà còn giúp họthấy được vai trò, trách nhiệm của bản thân trong việc giải quyết vấn đề chung củanhóm Hình thức này đề cao tương tác bình đẳng và tầm quan trọng của từng thànhviên trong nhóm, loại bỏ gần như triệt để hiện tượng ăn theo, có thể áp dụng trong giờ
ôn luyện, luyện tập, tổng hợp kiến thức
+ Kiểm tra theo nhóm: đây là hình thức GV tổ chức để cho học sinh trong nhóm
hợp tác tự kiểm tra kiến thức của nhau Hình thức này giúp cho mỗi HS có thể chia sẻkiến thức, bổ sung các kiến thức chưa biết vào hệ thống tri thức của bản thân Từ đó, nâng cao khả năng phân tích, giải quyết các vấn đề học tập
Đây là hình thức GV tổ chức cho HS cả lớp hợp tác Trong DHHT hình thứcnày ít được sử dụng hơn bởi nó khó phát huy được vai trò và trách nhiệm của tất cảcác thành viên của nhóm trong việc giải quyết nhiệm vụ học tập bởi số lượng thànhviên nhóm tương đối lớn
Trong quá trình dạy học, căn cứ vào nội dung bài học, đối tượng học sinh, điềukiện học tập mà giáo viên có thể lựa chọn các hình thức thích hợp để có thể nâng caohiệu quả của việc tổ chức dạy học hợp tác
Ví dụ 2: Tình huống DHHT tiếp cận phương pháp giải phương trình mũ
bằng cách đưa về cùng cơ số (Giải tích 12-CB, trang 80)
Tình huống 1: Tiếp cận phương pháp giải phương trình mũ bằng cách đưa về
cùng cơ số:
Bước 1 Mục tiêu: HS tiếp cận được cách giải phương trình mũ bằng cách đưa
về cùng cơ số.
Trang 32Bước 2 Nội dung tình huống: Giải phương trình mũ bằng cách biến đổi phương
trình đưa về dạng ( ) = ( ) và giải phương trình ( ) = ( ).
Bước 3 Thiết kế tình huống:
Bạn Lan giải bài toán trên như sau:
Bạn Nam nói: khi nhìn vào kết quả của bạn Lan ta thấy:
− = ⇒ − = ⇔ =
Em có nhận xét gì về bài giải của bạn Lan và nhận xét của bạn Nam?
- Dự kiến cách thực hiện của HS: phân tích, thảo luận tình huống và đưa ra câu trảlời hợp lý nhất Có thể xảy ra mâu thuẫn giữa ý kiến của từng cặp HS, có HS sẽ cho là cả 2cách giải đều đúng nhưng cũng có thể có HS ý kiến chỉ có cách của bạn Lan là đúng
- Kết quả mong đợi: Thay vì giải phương trình dựa vào định nghĩa logarit ta có thể biến đổi phương trình sao cho 2 vế của phương trình có cùng cơ số
- Dự kiến thời gian thực hiện: 5 phút
- Dự kiến hình thức thực hiện: GV trình chiếu tình huống, HS làm việc theo cặp đôi, 2 HS cùng thảo luận đưa ra câu trả lời GV gọi đại diện bất kỳ trả lời câu hỏi
Tình huống 2: Củng cố phương pháp giải
Bước 1 Mục tiêu: HS nắm được cách giải phương trình mũ bằng cách đưa
về cùng cơ số và có thể vận dụng vào bài tập cụ thể.
Bước 2 Nội dung tình huống: Giải phương trình mũ bằng cách biến đổi phương trình đưa về dạng ( ) = ( ) và giải phương trình ( ) = ( ).
Trang 33Bước 3 Thiết kế tình huống:
PHIẾU HỌC TẬP
Câu hỏi 1: Giải các phương trình sau bằng cách đưa 2 vế của phương tình
về cùng cơ số:(1,5)5x−7 = (2)x+1
Câu hỏi 2: Tính tổng tất cả các nghiệm của phương trình:
- Dự kiến cách thực hiện của HS:
sẽ xảy
ra 2 luồng ý kiến là biến đổi bài toán về cơ số 1,5 hoặc đưa về cơ số 23 GV sẽ định hướng cho HS tùy vào sự thống nhất của cả nhóm có thể đưa về cơ số nào cũng được và sẽ có kết quả như nhau.
+ Câu hỏi 2:Vì cách là tương tự câu hỏi 1 nên HS có thể dễ dang thực hiện được
- Kết quả mong đợi:
Trang 34+ Dự kiến thời gian thực hiện tình huống: 10 phút
+ Dự kiến hình thức tổ chức: chia lớp thành 4 nhóm, mỗi HS được phát riêngtừng phiếu và làm bài tập trong phiếu học tập Sau đó mỗi nhóm cùng thảo luận và tổng
và trình bày kết quả chung ra phiếu A0, nhóm nhanh nhất sẽ cử đại diện lên trình bày.Đại diện nhóm sẽ trả lời trước sự đánh giá và nhận xét của HS trong và ngoài nhóm, GVtổng kết và chính xác hóa kết quả
1.3 Vai trò của tình huống DHHT đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học Toán
ở trường phổ thông
Để nâng cao hiệu quả dạy học, người GV cần xây dựng được những tình huốngdạy học nhằm vào tính hiệu quả của hoạt động học tập Tuy nhiên điều đó cần đếnhiểu biết của GV về tình huống dạy học hiệu quả
Tình huống dạy học hiệu quả là tình huống dạy học làm cho HS hứng thú học tậpthông qua các hoạt động học tập bằng trải nghiệm, không những kiến tạo được kiến thức,
kỹ năng cần thiết mà còn hình thành thói quen và khả năng tích hợp vận dụng kiến thứcvào các vấn đề trong thực tiễn, tạo điều kiện để HS đạt được những mục tiêu dạy học với
sự tác động phù hợp của GV cũng như các điều kiện dạy học khác
Như vậy một tình huống dạy học hiệu quả cần có những đặc điểm sau:
- Mục tiêu dạy học được xác định một cách đúng đắn, đầy đủ và được thể hiện qua nội dung, cách thức tổ chức hoạt động học, đảm bảo kết quả học tập tốt cho HS;
- Lôi cuốn được người học tập trung vào các hoạt động thực hành hướng tớimục tiêu bài học Có nghĩa là nhiệm vụ học tập giao cho HS phải thú vị tạo ra được độnglực học tập, đồng thời có tính thách thức, khó khăn nhất định
- Tạo môi trường học tập thân thiện, ở đó mọi ý tưởng đều được tôn trọng Sự chủđộng của HS thể hiện tích tích cực khi tham gia các hoạt động trải nghiệm, được đưa
Trang 35ra những ý tưởng sáng tạo trong môi trường hợp tác, tạo cơ hội phát triển những nănglực cần thiết cho HS.
Theo PISA (2015) [13]: “năng lực của một cá nhân tham gia tích cực và hiệu quả vào một quá trình mà hai hay nhiều người nỗ lực cùng giải quyết một vấn đề bằng cách chia sẻ sự hiểu biết và nỗ lực cần có để đưa ra giải pháp và sử dụng các kiến thức, kĩ năng và nỗ lực để có được giải pháp đó”.
Một tình huống dạy học hiệu quả trong môn Toán ở trường phổ thông cần thỏamãn các yêu cầu:
- Tạo được mối liên kết giữa tri thức mới trong môn Toán cần hình thành theomục tiêu bài học với hệ thống tri thức và kinh nghiệm vốn có của HS cách nhuần nhuyễn,
tự nhiên nhằn gây hứng thú, tạo nhu cầu nhận thức của HS, từ đó HS tích cực tham giaphát hiện và GQVĐ học tập;
- Tích hợp một cách linh hoạt các kiến thức và kỹ năng của môn Toán với cácmôn học khác có liên qua cũng như các kinh nghiệm thực tế trong đời sống hàng ngàycủa HS, tạo điều kiện gắn môn Toán với nguồn gốc và ứng dụng của Toán học trong thựctiễn;
- Có những hoạt động của HS trong môi trường hợp tác để hình thành kiến thức,
kỹ năng và phát triển các năng lực chung, tròn đó chú trọng phát triển năng lực GQVĐ,năng lực tự học, năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn;
- Làm cho HS thấy được ý nghĩa thiết thức của các tri thức môn Toán và hình thànhthói quen khả năng vận dụng kiến thức Toán học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn (trongnội bộ môn Toán, trong các môn học khác có liên quan, trong đời sống)
Tình huống dạy học hợp tác trong Toán học giúp người học tham gia vào quátrình học tập một cách chủ động, phát huy được tính sáng tạo trong nhận thức và tưduy, người học được làm việc hợp tác với nhau theo các nhóm để giải quyết các vấn
đề, các tình huống dạy học mà GV đưa ra Vì vậy tham gia vào tình huống DHHTkhông chỉ giúp người học lĩnh hội được các kiến thức môn học mà còn phát triển ở HSđược một hoặc một số năng lực quan trọng cần thiết như năng lực GQVĐ, năng lực tựhọc Trong quá trình thực tiễn dạy học ở nhà trường THPT, tôi nhận thấy việc tổ chứcdạy học thông qua các tình huống DHHT có thể góp phần nâng cao hiệu quả dạy họcmôn Toán vì các lí do sau đây:
Trang 36Thứ nhất, việc tổ chức dạy học theo tình huống DHHT giúp cho người học có
sự chia sẻ các thông tin, kiến thức liên quan tới vấn đề toán học cần quan tâm, làm
cho thông tin liên quan tới vấn đề trong nhiệm vụ của nhóm được mỗi cá nhân hiểumột cách đầy đủ hơn, từ đó giúp hình thành ở mỗi cá nhân các giả thiết cho vấn đề,
hỗ trợ quá trình phân tích và tìm giải pháp
Thứ hai, qua các tình huống DHHT có rất nhiều ý tưởng và lời giải giúp cho việc giảm thời gian cũng như có nhiều cách để lựa chọn trong giải quyết vấn đề Thứ ba, trong quá trình trình bày giải pháp, thông qua học tập hợp tác dưới dạng
các tình huống mà các thành viên trong nhóm học tập có thể đưa ra các ý kiến, bác bỏcác phương án không tối ưu, phương án sai; có sự lựa chọn và sắp xếp các thông tincho từng bước thực hiện giải pháp một cách logic và chặt chẽ
Thứ tư, qua tổ chức dạy học theo tình huống DHHT, giải pháp của vấn đề mà mỗi nhóm học tập đưa ra sẽ được đại diện nhóm phát biểu, hoặc trình bày có sự đánh
giá, phản biện của các thành viên trong lớp từ đó giúp cho học sinh nhìn lại, rút kinhnghiệm để chính xác hóa kết quả giải quyết vấn đề
Thứ năm, một số vấn đề giáo viên đưa ra có thể cung cấp cho HS các cách giải
quyết theo những phương án khác nhau và khai thác nó theo nhiều khía cạnh khácnhau Vì vậy, việc tổ chức cho học sinh học tập thông qua các tình huống DHHT sẽ
hỗ trợ các em trong việc nghiên cứu sâu giải pháp, linh hoạt hơn trong việc vận dụngvấn đề vừa giải quyết trong các tình huống tương tự hoặc nghiên cứu vấn đề mới
Từ những phân tích trên, chúng ta thấy so với các phương pháp dạy học khác,DHHT cũng như việc thiết kế các tình huống DHHT trong Toán học góp phần rất lớntrong việc nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán trong trường phổ thông
Để các tình huống DHHT góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán cầnphải đảm bảo những yêu cầu sau:
+ GV cần lựa chọn, xây dựng một hệ thống tình huống DHHT có tính khoa học,thiết thực, hấp dẫn: tình huống DHHT phải phù hợp và phục vụ cho việc thực hiện mục đích,nội dung của bài học, nội dung tình huống phải đảm bảo chính xac, khoa học, bám sát kiếnthức chuẩn của sách giáo khoa; tình huống phải hấp dẫn, khơi dạy sự hứng thú, khơi dạy khảnăng hợp tác giữa các thành viên trong nhóm Ngoài ra tình huống
Trang 37còn phải mang tính khả thi, bảo đảm những điều kiện cần và đủ để đưa đến giải pháp hợp lý, dễ chấp nhận.
+ GV cần chuẩn bị tốt các câu hỏi dẫn dắt gợi mở: khi đưa ra tình huống, câuhỏi dẫn dắt gợi mở là hết sức quan trọng, nhiều khi là một trong những yếu tố quyết địnhchất lượng của tình huống và khả năng lĩnh hội kiến thức của người học Câu hỏi thườngchứa đựng phương hướng giải quyết vấn đề, có định hướng rõ ràng, logic, phù hợp vớitrình độ người học
+ GV cần khéo léo dẫn dắt, điều khiển, sử dụng thời gian hợp lý, không để thờigian chết, không để cho người học từ tâm trạng háo hức muốn tìm ra lời giải đáp chuyểnsang bế tắc, chán nản Bên cạnh đó, GV phải luôn theo dõi, bám sát mọi hoạt động hợptác của HS để có sự tác động kịp thời trong việc hỗ trợ những khó khăn HS trong quá trình giải quyết vấn đề
+ Phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo của người học, tạo điều kiện cho ngườihọc hoạt động, tạo bầu không khí thân thiện, thoải mái nhưng nghiêm túc cho người họccùng hợp tác giải quyết vấn đề
+ Cần đảm bảo cho từng thành viên trong nhóm không trốn tránh công việc vàtạo điều kiện để họ thấy rõ trách nhiệm của mình với tập thể và vai trò của tập thể vớitừng cá nhân Việc tối ưu hóa hoạt động học tập của từng thành viên sẽ giúp GV cóthể phát hiện khả năng của HS từ đó có những biện pháp thích hợp giúp đỡ các em đểđạt được kết quả học tập cao nhất
+ Yêu cầu mỗi HS phải được trang bị các kĩ năng cần thiết để có thể hoạt độngnhóm có hiệu quả trong giải quyết vấn đề như:kĩ năng giao tiếp với các bạn bè trong lớptrong việc trao đổi và chia sẻ thông tin cho vấn đề, giao tiếp với giáo viên khi gặp khó khăncần sự hỗ trợ giúp đỡ, kĩ năng hợp tác giải quyết vấn đề, kĩ năng lãnh đạo để điều khiển hoạtđộng nhóm trong suốt quá trình giải quyết vấn đề, kĩ năng đưa ra quyết
định để thống nhất giải pháp cho vấn đề, …
Để dạy học hợp tác một cách hiệu quả, ngoài công tác chuẩn bị, khâu thiết kế và tổchức các hoạt động cho HS của GV thì yếu tố người học rất quan trọng Nếu người họckhông có thái độ hợp tác tích cực, thiếu một số kĩ năng cần thiết, đặc biệt hạn chế vềnăng lực giải quyết vấn đề thì quá trình hợp tác của mỗi cá nhân trong nhóm học tập
Trang 38sẽ không đạt được kết quả cao Ngược lại, mỗi cá nhân có năng lực giải quyết vấn đềtốt thì mọi vấn đề giáo viên đưa ra cho các nhóm sẽ luôn luôn được trao đổi thảo luận
và giải quyết một cách triệt để Từ đó sẽ giúp nâng cao hiệu quả của quá trình dạyhọc hợp tác
1.4 Dạy học phương trình, bất phương trình mũ - logarit ở trường THPT
1.4.1 Nội dung phương trình, bất phương trình mũ - logarit trong chương trình THPT
Trong chương trình THPT, theo phân phối chương trình chuẩn lớp 12, nội dungphương trình, bất phương trình mũ và logarit được thực hiện cụ thể như sau:
Phân phối
chương trình
Tiết 30, 31 §3.Phương trình mũ, - Nêu dạng phương trình cơ bản
phương trình logarit - Giúp HS nhận dạng và giải được phương
trình mũ và logarit cơ bản
- Hướng dẫn HS giải phương trình mũ vàlogarit bằng một số phương pháp được đềcập Bước đầu giúp HS nhận dạng, giảithành thạo những phương trình mẫu mực.Tiết 32 Luyện tập phương - Tạo cơ hội cho HS vận dụng các tính chất
trình mũ, phương của hàm số mũ và logarit để giải những bàitrình logarit toán không mẫu mực
Tiết 33,34 §3 Bất phương trình - Nêu dạng bất phương trình cơ bản
mũ, bất phương trình - Giúp HS nhận dạng và giải được bấtlogarit và luyện tập phương trình mũ và logarit cơ bản
- Hướng dẫn HS giải bất phương trình mũ vàlogarit bằng một số phương pháp được đề cập.Bước đầu giúp HS nhận dạng, giải thành thạonhững bất phương trình mẫu mực
- Tạo cơ hội cho HS vận dụng các tính chấtcủa hàm số mũ và logarit để giải những bàitoán không mẫu mực
Trang 39mũ - logarit phương trình mẫu mực lẫn phương trình,
bất phương trình không mẫu mực
- Có thể mở rộng, đưa vào thêm một sốphương pháp giải mà trong sách chưa đề cậptới, chẳng hạn dùng bất đẳng thức
1.4.2 Mục đích, yêu cầu khi dạy học chủ đề phương trình, bất phương trình logarit ở trường THPT
phụ, phương pháp đồ thị và sử dụng tính chất đồng biến nghịch biến của hàm số mũ,phương pháp đoán nghiệm và chứng minh nghiệm duy nhất
đặt ẩn phụ, phương pháp đồ thị và sử dụng tính chất đồng biến nghịch biến của hàm sốlôgarit
Với mục đích giảm tải của chương trình sách giáo khoa mới thì nội dung PT vàBPT mũ, lôgarit ở trường trung học phổ thông không yêu cầu HS giải những PT vàBPT mũ, lôgarit có chứa ẩn ở cơ số hay những PT và BPT quá phức tạp
1.5 Thực trạng về việc vận dụng dạy học hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trong dạy học môn Toán ở nhà trường phổ thông
Trang 401.5.2 Nội dung và kết quả khảo sát
1.5.2.1 Nội dung khảo sát
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát như sau:
- Tiến hành điều tra với 30 GV và 120 HS của các trường THPT Bế Văn Đàn,
THPT Cao Bình, trường THPT Thành phố Cao Bằng nằm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
- Dự giờ một số tiết dạy của một số GV tại trường THPT Bế Văn Đàn
02/11/2019 30 Phương trình mũ - logarit Trần Thị Trúc Quỳnh11/11/2019 34 Luyện tập Bất phương trình mũ - logarit Nguyễn Hồng Ngân
- Phỏng vấn và trò chuyện với một số GV và HS 1.5.2.2 Kết quả khảo sát
a Kết quả thu được từ phiếu khảo sát GV và phiếu khảo sát HS
Phiếu khảo sát GV -HS được trình bày trong phụ lục 2
Qua kết quả khảo sát GV- HS, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- Đối với giáo viên:
+ Các GV được điều tra đã có những hiểu biết nhất định về DHHT Phần lớn GV
đều thống nhất với quan điểm là: Trong DHHT, bên cạnh yếu tố hợp tác giữa các HS với nhau trong việc giải quyết các nhiệm vụ được giao thì cần sự tương tác của người dạy từ việc thiết kế các tình huống gợi vấn đề, tổ chức và điều khiển việc học của HS thông qua học tập hợp tác.
90 80 70 60
50 50
Tỉ lệ % đồng ý 40
30
16.7