1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

So sánh đứa con trai của hà thị cẩm anh và nghi lễ của leslie m silko từ góc nhìn phê bình sinh thái

108 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 226,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh một số khuynh hướng nghiên cứu văn học đã và đang được quan tâm trong thời gian qua như: phê bình phân tâm học, phê bình ký hiệu học, nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa, n

Trang 1

NGUYỄN THỊ TRANG

SO SÁNH ĐỨA CON TRAI CỦA HÀ THỊ CẨM ANH

VÀ NGHI LỄ CỦA LESLIE M.SILKO TỪ GÓC

NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN, 2019

Trang 2

NGUYỄN THỊ TRANG

SO SÁNH ĐỨA CON TRAI CỦA HÀ THỊ CẨM ANH

VÀ NGHI LỄ CỦA LESLIE M.SILKO TỪ GÓC

NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Hướng dẫn khoa học: TS BÙI LINH HUỆ

THÁI NGUYÊN, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan những luận điểm được trình bày trong Luận văn này là kếtquả của quá trình học tập và nghiên cứu của tôi Tôi xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm trước những luận điểm khoa học mà tôi nêu ra trong Luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Trang

Trang 4

Tôi cũng xin cảm ơn đơn vị công tác, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè

đã khuyến khích, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn!

Ngày 12 tháng 11 năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Trang

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Đóng góp mới của luận văn 13

7 Cấu trúc luận văn 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 14

1.1 Khái lược về tác giả Hà Thị Cẩm Anh và Đứa con trai 14

1.1.1 Khái lược về tác giả Hà Thị Cẩm Anh 14

1.1.2 Khái lược về truyện dài Đứa con trai 18

1.2 Khái lược về tác giả Leslie M Silko và Nghi lễ 19

1.2.1 Khái lược về tác giả Leslie M Silko 19

1.2.2 Khái lược về truyện dài Nghi lễ 20

1.3 Khái lược về phê bình sinh thái 23

1.3.1 Phê bình sinh thái là gì? 23

1.3.2 Phê bình sinh thái ở Việt Nam 27

1.4 Phê bình sinh thái nữ quyền và việc nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số 31

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 36

CHƯƠNG 2: KHÔNG GIAN TRONG ĐỨA CON TRAI VÀ NGHI LỄ TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI 37

2.1 Vấn đề không gian trong phê bình sinh thái 37

Trang 6

2.1.1 Bước ngoặt không gian trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn

37

2.1.2 Diễn ngôn về không gian trong phê bình sinh thái 39

2.2 Sự tương đồng giữa văn minh đô thị và người đàn ông 41

2.2.1 Sự tương đồng giữa hình ảnh kẻ ác và đô thị 41

2.2.2 Sự tương đồng giữa sự suy biến của nông thôn/vùng hoang dã với sự sa đọa của người đàn ông 50

2.3 Sự tương đồng giữa người phụ nữ với thiên nhiên 59

2.3.1 Sự tàn phá thiên nhiên và bi kịch người phụ nữ 59

2.3.2 Thiên tính nữ và sự bao dung của thiên nhiên 63

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 75

CHƯƠNG 3: CHẤT LIỆU DÂN GIAN TRONG CỐT TRUYỆN CỦA ĐỨA CON TRAI VÀ NGHI LỄ TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI 76

3.1 Cốt truyện đơn huyền thoại 76

3.1.1 Sự tái sinh cốt truyện đơn huyền thoại 76

3.1.2 Sự cải biến, sáng tạo cốt truyện đơn huyền thoại 78

3.2 Sự lồng ghép truyền thuyết và thần thoại 85

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Bên cạnh một số khuynh hướng nghiên cứu văn học đã và đang

được quan tâm trong thời gian qua như: phê bình phân tâm học, phê bình ký

hiệu học, nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa, nghiên cứu văn học từ bình diện xã hội học… hiện nay, các nhà nghiên cứu cũng không ngừng tìm tòi những cách tiếp cận mới nhằm chiếm lĩnh một cách tối ưu những vỉa tầng

giá trị ẩn chứa trong các tác phẩm văn học Một trong những cách tiếp cận ấy

là khuynh hướng nghiên cứu văn học dưới góc nhìn phê bình sinh thái Bởi lẽ,chưa bao giờ con người phải đối mặt với nhiều nguy cơ sinh thái như hiện

nay Cùng với các vấn đề nóng của thế giới hiện đại (quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, nạn phân biệt chủng tộc, sự dịch chuyển dân cư, chiến tranh…), môi trường cũng đang là vấn đề nóng bỏng được người dân trên

toàn cầu đặc biệt quan tâm Nhân loại sửng sốt bởi chưa bao giờ phải đối mặtvới những thảm họa nặng nề từ môi trường đến thế Văn học là tấm gươngphản ánh cuộc sống, do vậy ngày càng có nhiều văn nghệ sĩ đưa những vấn đềliên quan tới môi trường vào trong tác phẩm của mình với mong muốn thayđổi nhận thức, thức tỉnh hành động của con người trước các vấn đề liên quanđến thảm họa môi trường và biến đổi khí hậu

Theo tác giả Cheryll Glotfelty: “Bản chất của phê bình sinh thái là nghiên

cứu mối quan hệ giữa văn học với môi trường tự nhiên” Trào lưu này được khởi

phát từ Anh – Mĩ và trở thành một trào lưu năng động, thu hút sự quan tâm củakhông chỉ các nhà nghiên cứu phương Tây mà còn cả các quốc gia ở Châu Á(trong đó có Việt Nam) Sống ở một quốc gia thường xuyên phải đối mặt vớinhững đổi thay lớn lao của môi trường, các nhà văn Việt Nam cũng không tránhđược những xúc cảm trắc ẩn, suy tư khi nghĩ về môi trường và sự sống Đây là lý

do hình thành khuynh hướng tìm về biểu hiện mối quan hệ giữa con người và tự

Trang 8

nhiên trong lối tư duy sinh thái Lối tư duy này được các tác giả sử dụng khi nhìnnhận, phân tích và thể hiện những nỗi đau môi trường, số phận con người trongcuộc khủng hoảng môi sinh cũng như hướng con người sống có trách nhiệm vớithiên nhiên, cân bằng trong cuộc sống trong các tác phẩm văn học giàu giá trị…

1.2 Nếu như văn học là tấm gương phản ánh đời sống thì văn hoá lại được

coi là tấm gương nhân loại Bởi đặc trưng tâm hồn, tính cách của mỗi quốc gia,dân tộc đều được in dấu trong các khía cạnh vănhóa Dù ở lãnh thổ nào, phươngTây hay phương Đông, khi xã hội ngày càng phát triển thì vấn đề bảo tồn và pháthuy bản sắc văn hoá dân tộc của quốc gia càng có ý nghĩa cấp thiết Không ai cóthể phủ nhận việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc có liên quan mật thiết tới

sự tồn tại và phát triển của một dân tộc nói riêng và của một quốc gia nói chung.Đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc thì nền văn học của dân tộc đó cũng không thểtồn tại Vì vậy, một trong những tiêu chí quan trọng để xác định giá trị của tácphẩm văn học đó chính là bản sắc dân tộc của nó

1.3 Như đã phân tích ở trên, môi trường sinh thái có sự chi phối trực tiếp

và lâu dài đến sự sống của toàn nhân loại Đó là lý do mà các nhà văn tuy sống ởnhững nền văn hóa khác nhau, vùng lãnh thổ cách xa nhau nhưng vẫn có thể gặp

gỡ nhau trong quan điểm và cách nhìn về những vấn đề nhân bản có tính chất

thời đại Đây cũng là lý do chúng tôi lựa chọn so sánh tác phẩm Đứa con trai của

Hà Thị Cẩm Anh và Nghi lễ của Leslie M Silko dưới góc nhìn phê bình sinh thái

nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong hai khía cạnh nổi bật đólà: cách nhìn nhận và thể hiện không gian, kết cấu cốt truyện để thể hiện nhữngtriết lý sinh thái mà mỗi nhà văn muốn gửi gắm trong tác phẩm của mình Có thểnói, Hà Thị Cẩm Anh tuy là nhà văn thuộc thế hệ sau nhưng đã mang một phong

cách sáng tác rất riêng, đậm hương sắc Mường Tác phẩm Đứa con trai là một

trong những truyện ngắn tái hiện không gian sinh thái núi rừng của ngườiMường cùng những quan niệm nhân sinh về môi trường

Trang 9

sinh thái được gửi gắm kín đáo trên từng trang viết Còn Leslie Marmon Silko– nhà văn Mỹ gốc da đỏ lại lấy phong cảnh tuyệt đẹp của quê hương New

Mexico làm bối cảnh cho tiểu thuyết Nghi lễ (Ceremony) – một tác phẩm mê hoặc được đông đảo bạn đọc và được giới phê bình đánh giá rất cao Nghi lễ

là một cuốn “tiểu thuyết đầy nhạc tính” được cấu trúc trên nền các nghi thứcchữa bệnh của người Da đỏ Nó cũng ẩn chứa trong mình những hình ảnh vềkhông gian sinh tồn của cộng đồng người Da đỏ cùng những triết lý sâu xacủa tác giả cũng như cộng đồng này với vấn đề môi trường sinh thái nói trên

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Những nghiên cứu về sự nghiệp của Hà Thị Cẩm Anh và tác phẩm

“Đứa con trai”

Hà Thị Cẩm Anh là một nhà văn Việt Nam đương đại và là một nhàvăn nữ dân tộc thiểu số tiêu biểu với nhiều tác phẩm được giải thưởng vănhọc Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác phẩm của bà chưa nhiều kể cả về sốlượng và chiều sâu nội dung

Trong một số bài viết đăng trong lời tựa Khi đá cũng được giải oan, hay tập truyện ngắn Nước mắt của đá, Lã Thanh Tùng nhận xét: những niềm

vui và nỗi đau cũng mang nét riêng biệt trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh.Tác giả viết: “Trên tay các bạn đang là máu thịt chị, bảy truyện ngắn tròn trịa,

ấm nóng, bảy tiếng thở dài và bảy bài ca u buồn…Bảy truyện ngắn trong tậpNước mắt của đá giống như bảy chú lùn siêng năng kết đoàn cùng xây đắpmột tổ ấm ngăn nắp mời gọi, để mỗi độc giả khi lạc vào có thể tự mình thểnghiệm một vai Bạch Tuyết ê chề mà hạnh phúc” [4]

Tác giả Hoả Diệu Thuý đã nhận xét: “Quả là tình yêu đối với văn chươngcủa cô thôn nữ này rất lớn Tình yêu đã dẫn đường cho chị Tình yêu đã khiếnchị nỗ lực Và chị đã rất nỗ lực để trở thành một nhà văn như bây giờ” [5]

Trang 10

Nguyên Tĩnh trong bài “Hà Thị Cẩm Anh và thung lũng Si Dồ” nhậnđịnh rằng: “Có một thung lũng Sì Dồ trong tác phẩm của Hà Thị Cẩm Anhđang rõ nét được khắc họa Nó là hình bóng quê nhà bản Mường mà nhà văngửi gắm Là những câu chuyện của trai Mường yêu gái Mường gặp bao trắctrở phản bội nhưng vượt lên số phận để có tình yêu hồn hậu thủy chung củangười Mường Hà Thị Cẩm Anh đã có thung lũng Sì Dổ trong tác phẩm củamình đó là quê hương không có ở ngoài đời” [57] Nguyên Tĩnh đã chỉ ra “cáiMường trong văn học” rất riêng của Hà Thị Cẩm Anh Ông cho rằng Hà ThịCẩm Anh rời quê hương Cẩm Sơn của mình từ khá sớm nhưng cái sợi dây nốikết con người và văn hoá cội nguồn truyền thống giữa nhà văn với quê hươngchưa bao giờ đứt Theo tác giả, chính vốn sống phong phú của nữ nhà văn đãkhiến cho những câu chuyện của bà đậm chất văn hoá Mường mà không hềgượng ép, khiên cưỡng.

Khi đọc tập truyện ngắn Một nửa người đàn bà của Hà Thị Cẩm Anh,

Thy Lan đã nhận xét :“Văn chương chị trong trẻo, tự nhiên như nước suối, lạiphong phú mượt mà như lá rừng, dung dị như nhà sàn, bếp lửa, đôi khi cũng

dữ dội như suối dâng, thác đổ và trần trụi, hoang dã như cây cổ thụ ngàn năm.Đọc truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh ta có được cái say của hương rượu cần, tanhìn thấy cái bảng lảng của gió thổi, mây bay, cái trùng điệp và vững trãi củanúi cao, rừng rậm” [29]: “Chín truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh trong tập

Một nửa của người đàn bà là chín cung bậc tình yêu núi rừng, yêu con người Nhà văn đã phóng bút bằng tâm hồn, ký ức và trải nhiệm” [29].

Nghiên cứu về phong cách của nhà văn Hà Thị Cẩm Anh, tác giả Đỗ Đức

trong lời tựa Đọc truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh viết cho tập truyện Bài xường ru

từ núi đã nhận xét: “Chị viết dữ dội, không mập mờ và luôn rạch ròi giữa thiện

và ác Thái độ của chị là thẳng băng rõ ràng Trong truyện ngắn của chị, cái áckhông ít lần thắng thế, nhưng chỉ là thắng thế nhất thời Cái thiện nhỏ

Trang 11

nhoi nhiều khi bị lép vế, bị bóp nghẹt nhưng cái thiện luôn là mầm sống bấtdiệt”[2].

Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền trong bài viết “Văn học hiện đại dân tộc Mường: những khuôn mặt” đã khẳng định sức sáng tạo bất ngờ và mạnh mẽ,

dữ dội của Hà Thị Cẩm Anh như sau: “Năm 1998, Hà Thị Cẩm Anh cầm búttrở lại và lần này thì quyết liệt Có ai ngờ người phụ nữ đã bước vào tuổi “lụcthập hoa giáp” lại có một trận maratông trong văn chương và gây bất ngờ nhưvậy Những gì chất chứa trong con người chị đã bung như nham thạch núi lửatuôn trào Chị viết liên tục, sôi động và trầm lắng những gì đã quan sát, trảinghiệm, để những Đêm Khua Luống dành cho người chết, Ngôi nhà sàn cũ kĩ,Gốc gội xù xì…để lại nhiều dư ba trong bạn đọc” [19]

Trong bài viết “Nhìn ra được mất - nhận xét về tập truyện Một nửa của người đàn bà”, Trọng Miễn cũng có những nhận định chính xác về giọng văn

của Hà Thị Cẩm Anh: “Văn của Hà Thị Cẩm Anh thấm đẫm hồn cốt củangười Mường…Phải là người hiểu văn hoá Mường, yêu quý văn hoá Mường

mới viết được như thế” [5; 8] Hoả Diệu Thuý trong bài viết “Hà Thị Cẩm Anh với những chuyện ở thung lũng Si Dồ” đã nhận định: “Người con của xứ

sở mụ Dạ Dần của ậu mo, 5 của Xường của Rang cũng đã gánh vác sứ mệnh

mà tổ tiên và cội nguồn giao phó Đó là phô diễn vẻ đẹp của sức sống quêhương bằng những tác phẩm văn chương”

Trong luận án Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi (2010),

Phạm Duy Nghĩa đã có những đánh giá về Hà Thị Cẩm Anh từ một khía cạnhnội dung cụ thể đó là thông điệp bảo vệ thiên nhiên trong các sáng tác của bà:

“Trong văn xuôi miền núi, cùng với Nguyễn Huy Thiệp, La Quán Miên vàHoàng Thế Sinh, Hà Thị Cẩm Anh là cây bút có ý thức tuyên ngôn về mối quan

hệ hoà hợp con người - tự nhiên và đặt ra vấn đề bảo vệ thiên nhiên một cách rõràng, kiên quyết Truyện ngắn của nhà văn dân tộc Mường này có môtíp:

Trang 12

Con người đến với thiên nhiên để tìm một chỗ dựa tinh thần khi bản thân bịcộng đồng xa lánh, hắt hủi và khi đó họ trở thành người tình nguyện bảo vệthiên nhiên” [36; 94].

Đề tài cấp Bộ Bản sắc dân tộc trong sáng tác của một số nhà văn dân tộc thiểu số và sau này phát triển thành cuốn sách Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số (2014) do tác giả Đào Thủy Nguyên (chủ biên) là công trình công phu và có nhiều ý nghĩa Cuốn sách đề

cập một cách hệ thống về các vấn đề lí luận, lý thuyết cơ bản làm cơ sở khoahọc cho công trình nghiên cứu rồi từ đó đi đến việc nghiên cứu sự thể hiệnbản sắc văn hóa tộc người trong các tác phẩm văn xuôi dân tộc thiểu số ởphương diện nội dung và nghệ thuật Trong sách, nhóm tác giả đã đề cập đếnnhững tên tuổi quen thuộc đã làm nên diện mạo của văn xuôi dân tộc thiểu sốtrong đó có nhà văn Hà Thị Cẩm Anh

Tuyển tập Văn xuôi Hà Thị Cẩm Anh do tác giả Trần Thị Việt Trung và Hà

Thị Cẩm Anh biên soạn cũng được coi là một công trình công phu tập hợp cáctác phẩm và phê bình về tác phẩm của Hà Thị Cẩm Anh Cuốn sách gồm 2 phần:phần I là tuyển tập các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh; phần II là những

ý kiến, đánh giá, phê bình về sáng tác của bà Cuốn sách tập trung giới thiệunhững sáng tác văn xuôi của Hà Thị Cẩm Anh, đó là những sáng tác mang đậm bảnsắc Mường Trong tác phẩm, bản sắc Mường được nhà văn thể hiện ở ba mạchnguồn cảm hứng cơ bản: (1) Con người mang đặc trưng tâm hồn, tính cách dân tộcMường (đặc biệt là qua hình tượng nhân vật người phụ nữ

Mường); (2) Những phong tục, tập quán truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa Mường; (3) Thiên nhiên tươi đẹp mang đặc trưng vùng miền

Luận văn Bản sắc văn hóa Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh của

tác giả Nguyễn Thị Bích Dậu đã tiến hành khảo sát 7 tập truyện của Hà Thị CẩmAnh từ đó phân tích làm rõ những nét đặc sắc của văn hoá Mường trong

Trang 13

sáng tác của bà ở các phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Chẳng hạn,luận văn đã chỉ ra các khía cạnh của phương diện nội dung (cảm hứng về conngười, phong tục tập quán, thiên nhiên mang đặc trưng, tính cách dân tộcMường), phương diện nghệ thuật (cốt truyện, yếu tố ngoài cốt truyện, nghệ thuậtxây dựng nhân vật, nghệ thuật ngôn từ) Nguyễn Thị Bích Dậu đã nhận xét: “Cóthể nói các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh đậm đà bản sắc văn hoá Mường.Những trang viết của nhà văn chan chứa nỗi niềm đối với mảnh đất quê hương.Tuy bây giờ Hà Thị Cẩm Anh đã sống ở thành phố nhưng mảnh đất xứ Mườngvẫn gắn bó máu thịt với nhà văn Hình bóng của quê hương bản Mường in dấutrong tuổi thơ của tác giả ngày nào vẫn hiện lên tươi nguyên chất sống Phảinặng tình với quê hương sâu sắc đến mức nào thì trang viết của nhà văn mới đằmsâu tình cảm đến thế khi viết về cuộc sống, con người và thiên nhiên xứ MườngThanh Hoá” [9; 25] Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính chất hệthống toàn diện và khái quát sâu sắc về vấn đề bản sắc văn hoá Mường trongsáng tác của Hà Thị Cẩm Anh Kết quả nghiên cứu đã góp phần khẳng địnhnhững nét riêng trong cách khám phá và thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc củanhà văn so với nhiều nhà văn dân tộc thiểu số khác cũng như vị trí của nữ nhàvăn trong nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.

Hầu hết những tác giả nghiên cứu về Hà Thị Cẩm Anh đều có một quanđiểm trùng hợp đó là họ đều nhận ra chất văn hoá Mường rất riêng và một sứchút diệu kì trong trang văn của bà Đọc những truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh,những ai chưa từng đặt chân đến mảnh đất của xứ sở người Mường đều ít nhiềuhiểu được cuộc sống và phong tục của con người nơi đây Chính vì có một tìnhyêu máu thịt với quê hương mà những trang viết của bà đậm đà bản sắc dân tộcđến thế Nhìn chung các ý kiến nghiên cứu đều khẳng định vị trí của nữ nhà văn

Hà Thị Cẩm Anh - nhà văn dân tộc thiểu số tiêu biểu, có những đóng góp đối vớinền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Giá trị

Trang 14

nổi bật làm nên dấu ấn Hà Thị Cẩm Anh đó là chất văn hoá Mường rất riêng - sức hút diệu kì trong những trang văn của bà.

2.2 Những nghiên cứu về tác phẩm của Leslie M Silko và Nghi lễ

Ở Việt Nam, có rất ít nghiên cứu về tác phẩm của Leslie M Silko nói

chung và tác phẩm Nghi lễ nói riêng Qua tìm hiểu, tác giả luận văn xin được điểm

qua một số nghiên cứu về vấn đề này như sau:

Trần Hữu Thục trong bài viết Nhìn qua một số nền văn học da màu ở Hoa Kỳ: Văn chương thổ dân có đề cập đến một số sáng tác và đóng góp của

nhà văn Leslie M Silko trong nền văn học da màu ở Mỹ Điều này cũng đượcthể hiện trong bài viết “Văn xuôi Mỹ từ 1845: Chủ nghĩa hiện thực và sự thểnghiệm” của tác giả [63]

Bài viết Chủ nghĩa hiện thực trong văn chương Mỹ đương đại cũng đưa

ra một số nhận định khẳng định giá trị nội dung cũng như sức ảnh hưởng của

tác phẩm Nghi lễ trong dòng chảy văn chương Mỹ đương đại: "một đất nước

mà sự kì thị và phân biệt chủng tộc lớn như Mỹ, nhưng văn chương của cáctộc người thiểu số Da đen, Da đỏ vẫn có đất để tồn tại và phát triển là mộtđiều hết sức ngạc nhiên Không những thế nó còn là nguồn lực quí báu bổsung vào sự phong phú đa dạng vốn có của dòng văn học hiện thực Mỹ đương

đại Nghi lễ (Ceremony) là cuốn tiểu thuyết viết về người Mỹ Da đỏ của nữ nhà văn Da đỏ Leslie Marmon Silko đã được giới phê bình đánh giá rất cao và

đã được dịch ra tiếng Việt” [79]

Dịch giả Linh Thụy trong bài giới thiệu của cho cuốn Lễ hội mặt trời (một cách dịch khác tên tác phẩm Nghi lễ) cũng đã khái quát một số giá trị tư tưởng,

hình thức của tác phẩm này như: nhân sinh quan lành mạnh, đầy nhân văn củangười da đỏ thể hiện trong mối quan hệ với tự nhiên, với cái ác và giữa con

Trang 15

người với nhau; nghệ thuật tả cảnh xuất sắc, nghệ thuật phân tích tâm lý nhânvật tinh tế, nghệ thuật phối hợp tài tình giữa thơ và văn [48].

Cuốn Phác thảo Văn học Mỹ của tác giả Kathryn Vanspanckeren do Lê

Đình Sinh và Hồng Chương dịch đã ca ngợi “chất thơ” và tính nhạc của cuốntiểu thuyết cũng như chỉ ra nghi lễ là một nhân tố cấu trúc tác phẩm Tác giảcũng đã đưa ra nhận định về phong cách của Leslie Marmon Silko đó là:

“Leslie Marmon Silko có một phần gốc gác là bộ lạc Laguna Bà ưa sử dụngngôn ngữ nói và những câu chuyện truyền thống để sáng tác những bài thơ trữtình, có sức ám ảnh khó quên” [72]

Trong bài giới thiệu cuốn Văn xuôi hư cấu Mỹ hậu hiện đại – Tuyển tập của Norton (Postmodern American Fiction: A Norton Anthology) của Paula

Geyh, Fred G Leebron và Andrew Levy, Phan Tấn Hải nhiều lần dẫn chứng

tiểu thuyết Nghi lễ như một tác phẩm hậu hiện đại Mỹ đặc thù và chỉ ra một

đặc điểm cấu trúc của tiểu thuyết này: “Văn chương hậu hiện đại Mỹ ảnhhưởng từ các nền văn hóa hợp chủng, bên cạnh các quan tâm về bút pháp phitruyền thống… Khi văn hóa Mỹ càng trở nên phân mảnh hơn, văn chương của

nó càng thêm đa dạng… Cuốn Ceremony của Silko kết hợp hình thức của một

cuốn tiểu thuyết với hình thức của một bài ca Laguna Pueblo” [12; 9] Các tácgiả cuốn tuyển tập cũng khẳng định sự phối kết những chất liệu và kĩ thuật kểchuyện truyền thống và hiện đại, châu Âu và văn hóa ngoài châu Âu là nétđặc sắc của dòng văn học mới mẻ này

Trong luận văn Kết cấu tiểu thuyết Pháp lễ của Leslie Marmon Silko, tác

giả Bùi Linh Huệ đã có những đánh giá và nhận định về vị trí cũng như phongcách sáng tác của nữ tác giả này như sau: “Leslie M Silko (1948 - ) được coi làmột trong những người tiên phong mở ra một thời kỳ “Phục hưng” cho văn họccủa cộng đồng mình – nền văn học dưới những áp lực của văn minh châu Âutrên đất Mỹ đã bị lãng quên và cớm nắng” [27; 1] Trong luận văn

Trang 16

này, tác giả Bùi Linh Huệ đã phân tích nghệ thuật kết cấu tiểu thuyết này để chỉ

ra sự tiếp thu và sáng tạo từ sự kết hợp truyền thống văn hóa, văn học Mỹ da đỏ

và châu Âu Qua đó, luận văn góp phần hình dung thế giới sống động của vănhọc đa văn hóa hiện đại – muôn màu sắc và đầy nhựa sống Đây cũng là nhữnggợi dẫn cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này Cũng trong luậnvăn này, tác giả Bùi Linh Huệ đã có công trong việc hệ thống hóa một số nghiêncứu khác (bằng tiếng Việt và tiếng Anh) về tác giả L M Silko và tiểu thuyết

Pháp lễ - một trong những tác phẩm rất nổi tiếng của nữ nhà văn.

2.3 Những nghiên cứu về văn học dân tộc thiểu số từ góc nhìn phê

bình sinh thái

Phê bình sinh thái gần đây đã được giới thiệu và bước đầu ứng dụng vàonghiên cứu văn học Việt Nam Tuy nhiên, việc ứng dụng phương pháp phêbình này vào nghiên cứu văn học thiểu số Việt Nam vẫn còn rất hạn chế

Luận văn thạc sĩ Cái tự nhiên từ điểm nhìn phê bình sinh thái (Qua tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư) (2012,

Đại học Sư phạm Hà Nội) của Đặng Thị Thái Hà là một trong những nghiêncứu chuyên sâu đầu tiên ứng dụng phương pháp phê bình sinh thái vào nghiêncứu văn học Việt Nam [14]

Luận án Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975

từ góc nhìn phê bình sinh thái (2015) của Trần Thị Ánh Nguyệt và sau này được tác giả phát triển lên thành cuốn sách Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái (2018) đã hệ thống hóa khuynh hướng và phương pháp phê bình sinh thái cũng như diện

mạo sự thể hiện vấn đề sinh thái trong văn học Việt Nam Công trình tuy có

đề cập tới một số nhà văn dân tộc thiểu số nhưng mới mở mức độ giới thiệu

mà chưa có sự phân tích sâu sắc về tác phẩm của các nhà văn này

Trang 17

Tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu văn họcdân tộc thiểu số Việt Nam từ góc nhìn phê bình sinh thái Một trong những

công trình ít ỏi đó là luận văn thạc sĩ Tiểu thuyết Vi Hồng từ góc nhìn phê bình sinh thái Luận văn này đã phân tích sự thể hiện sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn trong tiểu thuyết Vi Hồng cũng như những thủ pháp nghệ

thuật góp phần thể hiện triết lí sinh thái trong tiểu thuyết của ông

Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào có tính hệ thống về vănxuôi của Hà Thị Cẩm Anh từ góc nhìn phê bình sinh thái nói chung và so sánh

tác phẩm Đứa con trai của bà với tác phẩm Nghi lễ của Leslie Marmon Silko

từ góc nhìn này Đây là một trong những lý do để chúng tôi quyết định lựachọn đề tài này để nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Băn khoăn với câu hỏi: “Liệu các nhà văn dân tộc thiểu số, đặc biệt là các nhàvăn nữ người dân tộc thiểu số trên thế giới có găp gỡ nhau trong cách nhìn tựnhiên và cũng như trong cách thể hiện vấn đề đó?”, chúng tôi đã lựa chọn so

sánh một tác phẩm tiêu biểu của Hà Thị Cẩm Anh và Leslie Silko là Đứa con trai và Nghi lễ Luận văn của chúng tôi sẽ làm rõ ảnh hưởng của văn hóa dân

tộc thiểu số và thiên tính nữ tới cách nhìn nhận và thể hiện vấn đề mối quan

hệ giữa con người và tự nhiên trong hai tác phẩm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát hai tác phẩm Đứa con trai của Hà Thị Cẩm Anh và Nghi lễ của

Leslie M Silko từ đó vận dung phương pháp phê bình sinh thái để tiến hành so sánh,phân tích sự giống và khác nhau trong cách quan niệm và thể hiện vấn đề

sinh thái trong hai tác phẩm

- Khẳng định giá trị của hai tác phẩm cũng như vị trí của hai nhà văn trong

Trang 18

dòng chảy văn học của mỗi dân tộc.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tác phẩm Đứa con trai của Hà Thị Cẩm Anh và Nghi lễ của Leslie

M.Silko từ góc nhìn phê bình sinh thái

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát 2 bình diện của khuynh hướng văn xuôi sinh thái được thể hiện

trong hai tác phẩm Đứa con trai của Hà Thị Cẩm Anh và Nghi lễ của Leslie

M.Silko: Đó là sự tổ chức không gian và sử dụng chất liệu dân gian trong cốttruyện trong hai tác phẩm này từ góc nhìn của phê bình sinh thái

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu diễn ngôn: Từ góc nhìn văn bản văn học là

những diễn ngôn, chúng tôi nghiên cứu hai tác phẩm Đứa con trai của Hà Thị

Cẩm Anh và Nghi lễ của Leslie M.Silko trong bối cảnh văn hóa, chính trị và

đặc biệt là cuộc khủng hoảng sinh thái và bản sắc văn hóa mà tác phẩm ra đời

- Phương pháp phê bình sinh thái: Tác giả luận văn sử dụng phương phápnày để chỉ ra cái nhìn sinh thái đã chi phối cách hai nhà văn tổ chức không gian, cốttruyện và các yếu tố kì ảo như thế nào Từ đó, luận văn đưa ra những nhận

định về giá trị của tác phẩm từ góc nhìn phê bình sinh thái

- Phương pháp của văn học so sánh: Tác giả sử dụng phương pháp này để

so sánh những điểm tương đồng và khác biệt về sự tổ chức không gian và sửdụng chất liệu dân gian trong cốt truyện và các yếu tố kỳ ảo được thể hiện thông

qua hai tác Đứa con trai của Hà Thị Cẩm Anh và Nghi lễ của Leslie M.Silko.

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Để đạt được được mục đích

nghiên cứu, luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành đó là

Trang 19

kết hợp góc nhìn của các lĩnh vực văn học, xã hội học, lịch sử, địa lý,văn hóa học để soi chiếu hai tác phẩm.

6 Đóng góp mới của luận văn

- Tổng thuật các nghiên cứu về phê bình sinh thái và triển vọng ứng dụng phê bình sinh thái vào nghiên cứu văn học thiểu số Việt Nam

- Phân tích không gian, cốt truyện từ góc độ diễn ngôn và phê bình sinh thái

- Chỉ ra sự gặp gỡ và khác biệt của hai nhà văn nữ dân tộc thiểu số thuộchai quốc gia khác nhau trong sự quan niệm và cách thể hiện vấn đề sinh thái

dưới ảnh hưởng văn hóa dân tộc trong bối cảnh đa văn hóa

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Không gian trong Đứa con trai và Nghi lễ từ góc nhìn phê bình

sinh thái

Chương 3: Chất liệu dân gian trong cốt truyện của Đứa con trai và Nghi lễ từ

góc nhìn phê bình sinh thái

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Khái lược về tác giả Hà Thị Cẩm Anh và Đứa con trai

1.1.1 Khái lược về tác giả Hà Thị Cẩm Anh

Hà Thị Cẩm Anh (tên thật là Hà Thị Ngọ) sinh ngày 10 tháng 10 năm

1948, Quê ở Cẩm Sơn, Cẩm Thủy, Thanh Hóa, bà là nữ nhà văn dân tộcMường cả cuộc đời gắn bó sâu nặng với quê hương xứ Mường yêu dấu Bàcông tác tại Hội Văn học – Nghệ thuật Thanh Hoá, là hội viên Hội Nhà vănViệt Nam, hội viên Hội Văn học – Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam

Nữ nhà văn được biết đến như một cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn họcDTTS Việt Nam thời kỳ Đổi mới với mười tập truyện ngắn và ký đã xuất bản

Hà Thị Cẩm Anh thể hiện là người có năng khiếu sáng tác từ nhỏ Tác phẩm

đầu tay - Thím Cò Khoai được ra đời khi nữ văn sĩ mới 13 tuổi Sau đó, bà đã

theo học lớp Bổ túc văn hoá Công Nông và được giới thiệu đi học khoá VITrường Viết văn Nguyễn Du Nhưng sau một thời gian, vì hoàn cảnh quá khókhăn, bà không thể tiếp tục theo học nữa Khi trở về quê nhà, bà được giớithiệu vào Ban vận động thành lập Hội Văn nghệ Thanh Hoá và trở thành mộttrong những hội viên tham gia sáng lập của Hội Văn học Nghệ thuật ThanhHoá

Từ năm 2000 đến nay, khi công tác tại Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnhThanh Hoá, Hà Thị Cẩm Anh cầm bút trở lại và đã cho ra đời nhiều tác phẩmchứa đựng những nét đặc trưng hồn cốt của một cây bút Mường hiện đại Bàđược đánh giá là một trong những gương mặt tiêu biểu của xứ Mường đã cónhiều tác phẩm đề lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc Với cảm hứng bất tận

về thiên nhiên, con người quê hương xứ Mường, bà không chỉ xuất bản sách màcòn viết cả kịch bản điện ảnh Có thể kể đến các tác phẩm chính của bà như:

Trang 21

Thím Cò khoai (tập truỵên ngắn, 1964); Người con gái Mường Biện (tập truyện và ký, NXB Văn hoá dân tộc, 2002); Những đứa trẻ mồ côi (truyện dài, NXB Kim Đồng, 2003); Bài xường ru từ trong hang núi (tập truyện ngắn, NXB Văn hoá dân tộc, 2004); Nước mắt của đá (tập truyện ngắn, NXB Văn hoá dân tộc, 2005); Lão thần rừng nhỏ bé (truyện dài, NXB Kim Đồng, 2007); Mưa bụi (tập truyện ngắn NXB Văn hoá dân tộc, 2008); Một nửa của người đàn bà (tuyển tập truyện ngắn, NXB Văn hoá dân tộc, 2014); Chẫu chàng Cóc tía và Cư dân xóm Bờ Ao (truyện thiếu nhi NXB Kim Đồng, 2014); Bình Minh Xanh (tập truyện ngắn NXB QĐND, 2017).

Ngoài ra, bà còn viết các tác phẩm kịch bản điện ảnh như: Con đường dài lắm (kịch bản phim truyện, đề tài thiếu nhi năm 2005); Bài xường ru từ trong hang đá (kịch bản phim truyện nhựa - Cục điện ảnh Việt Nam đã sản xuất năm 2007); Huyền thoại Hàm rồng (kịch bản phim truyện nhựa, phát sóng ngày 4 tháng 4 năm 2015); Ngọc trạo mùa thu 1941 (kịch bản phim

truyện nhựa, đề tài chiến tranh về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đếquốc Mỹ, sản xuất năm 2017)

Các các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh thường đi sâu phản ánh cuộc sốngcủa con người xứ Mường Thanh Hoá Bà không chỉ say sưa viết về vẻ đẹp vănhoá truyền thống, về cảnh sắc thiên nhiên, về phong tục tập quán của dân tộcmình bằng một tình yêu mãnh liệt, thẳm sâu “Tác giả vẫn đi về cùng quê hương,quan sát lắng nghe, chia sẻ Trái tim của tác gải thấp thỏm quặn thắt mỗi lầnchứng kiến một phong tục, một tập quán – một nét văn hoá của dân tộc mìnhđang dần dần bị mai một, bị biến dạng đi” [5] mà khi viết về cuộc sống conngười nơi xứ Mường, bà còn kín đáo gửi gắm đó thái độ trân trọng, tấm lòng yêuthương, cảm thông sâu sắc với từng hoàn cảnh, từng số phận của những conngười bất hạnh nhưng lúc nào cũng giàu nghị lực sống Nhà văn viết nhiều vềhình tượng người phụ nữ Mường những người luôn phải chịu nhiều nỗi

Trang 22

buồn, nỗi khổ đau cùng bao oan khuất trong cuộc đời; về những đứa trẻ sốngvất vưởng tuy ít tuổi nhưng đã phải lăn lộn với cuộc sống thậm chí trở thànhchỗ dựa cho mế khi mế của em bị bệnh Các truyện ngắn của Hà Thị CẩmAnh đi sâu khẳng định vẻ đẹp của lòng nhân ái, vị tha, đức hy sinh và tìnhđoàn kết của đồng bào dân tộc Mường Dường như chính những câu chuỵên

cổ tích của người Mường do người mẹ gieo vào tâm hồn từ thời thơ bé đãthấm sâu vào máu thịt của nhà văn để mỗi trang viết của bà sau này luôn chứachan niềm tin vào những điều kì diệu trong cuộc sống như lời chia sẻ củachính tác giả: “Khi các em tôi đã ngủ say Mẹ bắt đầu dọn cho tôi một mâmcơm đầy và những món ăn thịnh soạn mà mẹ biết tôi rất thích: Đó là nhữngcâu chuyện cổ tích có hậu của bà” [3; ?],“Tôi tin tưởng vào cuộc sống này.Tôi tin tưởng vào bạn bè Tôi tin tưởng từ lẽ công bằng” [2; ?]

Truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh có lời văn tự nhiên giàu hình ảnh, giàuchất thơ Trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện và khắc hoạ nhân vật, nhà vănvừa kể thừa những yếu tố truyền thống của văn học các dân tộc thiểu số (DTTS)(sử dụng ngôn ngữ theo lối diễn đạt của dân tộc mình), vừa có sự bứt phá đểsáng tạo Đó là trong cách xây dựng cốt truyện được sắp xếp theo lối kết cấu thờigian đảo ngược, (kết thúc có hậu hoặc không có hậu) Nhiều truyện ngắn dựatrên các tình huống xác thực nên cốt truyện của nhà văn thường rõ ràng và lôicuốn người đọc Trong cách xây dựng nhân vật, sự phân cực giữa cái thiện và cái

ác cũng được coi là một nét đặc sắc trong truyện ngắn của bà bởi nó chứng tỏ lốiviết mạnh bạo, bản lĩnh, khai thác hiện thực ở cả hai mảng sáng – tối, bộc lộthẳng thắn quan điểm của chính nhà văn Ngoài ra, cách xây dựng nhân vật của

bà cũng thể hiện sự ảnh hưởng của thi pháp xây dựng nhân vật của các cây bútvăn xuôi DTTS giai đoạn trước đổi mới ở chỗ: chú ý khắc hoạ miêu tả nội tâmnhân vật vừa chân thực vừa sinh động vừa đa chiều Trong cách dựng truyện vàxây dựng tình huống truyện, nhà văn Hà Thị Cẩm Anh cũng có

Trang 23

những dấu ấn sáng tạo riêng Đó là những tình huống truyện hấp dẫn, ly kỳ,lôi cuốn người đọc với nhiều cảm xúc cung bậc khi đi theo tiến trình, diễnbiến của câu chuyện.

Đặc biệt, Hà Thị Cẩm Anh đã khẳng định phong cách riêng của mình quanghệ thuật sử dụng ngôn ngữ lấy chất liệu từ sử thi dân gian Đó là việc sử dụngcác câu những câu thành ngữ, tục ngữ, những câu hát dân ca (xường), cách sửdụng biện pháp tu từ so sánh, phóng đại và câu văn trùng điệp, sóng đôi trongnghệ thuật sử thi Chính cách sử dụng đầy sáng tạo và hiệu quả những nét đặctrưng của ngôn ngữ dân tộc và cách tư duy, cách diễn đạt theo lối nói của dân tộcmình đã giúp bà viết lên những trang văn đầy duyên dáng và hấp dẫn…

Hàng loạt giải thưởng của Trung ương và địa phương dưới đây đã khẳngđịnh vị trí của nữ nhà văn Hà Thị Cẩm Anh trong nền văn học các dân tộc thiểu

số hiện đại: Giải thưởng của Hội Nhà văn và Uỷ ban toàn quốc các Hội VHNTViệt Nam Giải nhất cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Namnăm 2004- 2005, Giải B cuộc thi viết về môi trường: Qua thơ và truyện: Hànhtinh xanh mãi xanh do Hội Nhà văn Việt Nam cùng Báo Thiếu niên Tiền Phong

tổ chức năm 2001, Giải thưởng đặc biệt của UBTQ các hội Văn học – nghệ thuậtViệt Nam tặng cho tác giả là Hội viên Hội Văn học – nghệ thuật các Dân tộcThiểu số Việt Nam (đạt giải cao nhất – giải A) cho tập truyện ngắn Một nửangười đàn bà, Giải B cuộc vận động Sáng tác và công bố các tác phẩm Văn học –Nghệ thuật có tư tưởng và chất lượng cao về hai cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp và đế quốc Mỹ giai đoạn 1930 – 1975 do UBTQ các Hội VH – NTViệt Nam phát động năm 2014 – 2015 Giải thưởng của Hội VHNT các dân tộcthiểu số Việt Nam: Giải B năm 2000, Giải C năm 2002, Giải B năm 2003, Giải Bnăm 2004, Giải B năm 2005, Giải C năm 2007, Giải B năm 2008, Giải A năm

2014 Giải thưởng của bộ ngành Trung ương: Giải C cho kịch bản Phim truyệnTiếng hát 20 trong hang núi của Bộ Văn hoá thông tin, Giải B cuộc thi viết về:

“Sự hy sinh thầm lặng” của bộ Y tế, năm 2012, Giải B cuộc thi viết

Trang 24

về Giao thông vận tải của Bộ Giao thông vận tải, năm 2014 Giải thưởng củaHội Văn học – Nghệ thuật & các ban ngành tỉnh Thanh Hoá: Giải thưởng 5năm của UBND tỉnh Thanh Hoá về VHNT năm 2005, Giải thưởng Lê ThánhTông của Hội VHNT Thanh Hoá năm 2003, 2004, 2007, 2008

Bằng ngòi bút sáng tạo đầy say mê, Hà Thị Cẩm Anh được đánh giá làgương mặt nữ hiếm hoi, tiêu biểu của người dân tộc thiểu số trong làng vănxuôi Việt Nam đương đại Đặc biệt, bà là một trong những nhà văn dân tộcMường hiện đại đã có những khám phá độc đáo về hiện thực cuộc sống vàcon người miền núi Các truyện ngắn của bà được viết nên thật tự nhiên - nhưhơi thở - như là chính cuộc sống vậy

Ngay từ những tác phẩm đầu tay của mình nhà văn Hà Thị Cẩm Anh đã

để lại ấn tượng sâu sắc về không gian, thời gian, con người vùng đất xứMường, để những chất men làm say lòng người cứ thể ngầm dần, ngấm dầnvào những ai đang bước vào nơi ấy Với những dòng chữ, những câu văn giản

dị nhưng lại để lại ấn tượng khó phai trong lòng người đọc

1.1.2 Khái lược về truyện dài Đứa con trai

Đứa con trai là một truyện dài được sáng tác năm 2006, in trong tập

truyện ngắn Mưa bụi của Hà Thị Cẩm Anh, xuất bản năm 2008 Câu chuyện kể

về cuộc đời của cậu bé In In là kết quả tình yêu giữa một chàng trai miền núinhưng lại say mê nghề thủy sản với một cô gái xinh đẹp, khỏe khoắn Họ đến vớinhau, xây dựng cuộc sống sung túc, đủ đầy Nhưng sự đời nghiệt ngã, việc nhanhchóng thành công, chóng vánh trở nên giàu có đã biến bố In thành một con ngườitha hóa, biến chất, bị những cám dỗ làm cho xa đọa Ông lấy người phụ nữ khác,mang theo tất cả tài sản và đẩy mẹ con In vào cuộc sống khốn cùng, đau khổ Mẹ

In tuyệt vọng, đau đớn đến phát điên Chứng kiến gia cảnh chia lìa, gia đìnhkhánh kiệt, bố bỏ đi, mẹ phát bệnh, cậu bé In nghỉ học, tìm mọi cách kiếm sống

để nuôi mẹ qua ngày Ở Mường Dồ có Ông Gấu Ngựa- kẻ luôn tỏ ra thươngngười, giúp người nhưng trong thâm tâm luôn mưu đồ lợi

Trang 25

dụng từ người già đến thanh niên, trẻ nhỏ ở Mường Dồ để thực hiện nhữngmưu đồ làm giàu bất chính của hắn Tàn ác hơn, hắn thò mãi bàn tay nhưmóng vuốt để bóc lột sức lao động của người dân trong bản, để khai thác đếncạn kiệt nguồn tài nguyên rừng, tài nguyên sông suối, tài nguyên đất đai ởMường Dồ Hắn không từ bất kỳ một thủ đoạn nào hòng bóc lột được nhiềunhất sức lao động, khai thác được nhiều nhất nguồn tài nguyên thiên nhiên.Hắn biết cậu bé In khó khăn lại hiếu thảo nên đã đưa cho mẹ con cậu bé ítgạo, ít cá sau đó đe dọa và bắt cậu phải làm theo yêu cầu của hắn Cậu bé Inkhông bằng lòng cung cấp các thông tin về nơi trú ẩn của các muông thú, nơi

ấn chứa nguồn khoáng sản quý hiếm vì cậu yêu rừng, yêu muôn loài Tuổi thơcủa cậu, kỷ niệm của cha mẹ cậu gắn với với vẻ đẹp của núi rừng nơi đây.Cậu hiểu rằng, rừng không chỉ là nơi trú ngụ của muôn loài mà rừng còn lànơi nuôi sống con người, mất rừng, mất sông là mất đi sự sống Cậu bé In đã

cố gắng gạt đi nỗi sợ hãi, cả những cơn đói cồn cào cùng lòng thương mẹ đếnquặn thắt để không tiết lộ những tin “tốt lành” về rừng cho Ông Gấu Ngựa.Vượt qua những đau khổ và thù hận, In và Mế đã quyết định ra đi để nhườnglại căn nhà cho bố, Dì hai và cô em gái cùng cha khác mẹ về sinh sống Nhờ

sự giúp đỡ của Bá chẻm Cao mà Mế con In đã có những ngày yên ổn ở Rừng

Pù Có Kết thúc tác phẩm là khung cảnh nghi lễ ăn mừng của bầy voọc chàođón sự ra đời của chú voọc con và những xúc cảm nghẹn ngào của mẹ con Incũng như Bá chẻm Cao khi chứng kiến khung cảnh ấy!

1.2 Khái lược về tác giả Leslie M Silko và Nghi lễ

1.2.1 Khái lược về tác giả Leslie M Silko

Leslie M Silko (1948 -) sinh ra và lớn lên tại vùng đất Albuquerque, NewMexico, miền Tây Nam nước Mỹ, vùng đất tự trị (reservation) mà chính phủ Mỹ

đã cắt cho các bộ lạc da đỏ còn sót lại của vùng này cư ngụ Bà mang trong mình

cả dòng màu da đỏ Laguna, da nâu Mexico và da trắng Dường như chính điềuđặc biệt này đã góp phần hình thành trong văn chương của bà cảm hứng

Trang 26

bất tận về vấn đề dân tộc cũng như góp phần tạo nên một phong cách nghệthuật độc đáo có sự đan xen giữa giữa truyền thống và hiện đại, giữa di sảnnghệ thuật của nhiều dân tộc trong ngòi bút của bà Leslie M Silko được coi

là một trong những nhà văn tiên phong mở ra một bước ngoặt mới cho vănhọc của cộng đồng mình – văn học của người Mỹ bản địa

Với những sáng tác độc đáo mang phong cách và nội dung tư tưởng rấtriêng, Silko đã nhận được nhiều giải thưởng quý như: giải thưởng từ Quỹ Bảotrợ nghệ thuật Quốc gia Mỹ (1974), giải Pushcart cho thơ (1977), giảiMacArthur (1981), giải thưởng Văn học Lannan (2000)… Bà còn được Hiệphội Khoa học Nhân văn New Mexico tôn vinh như một di sản văn hóa cònsống Bởi vậy, nghiên cứu tác phẩm của Leslie Marmon Silko, sẽ góp phầntìm hiểu nền văn học đa văn hóa đặc sắc của Mỹ Hơn nữa, cùng là nhà văn

nữ người dân tộc thiểu số, liệu Silko và Hà Thị Cẩm Anh có gặp nhau ở điểmnào trong cách nhìn vấn đề bản sắc dân tộc và vấn đề khủng hoảng môitrường Luận văn này hi vọng sẽ trả lời được câu hỏi đó thông qua việc sosánh hai tác phẩm tiêu biểu của hai nhà văn

1.2.2 Khái lược về truyện dài Nghi lễ

Truyện dài Nghi lễ còn được dịch với một số tiêu đề khác như: Pháp lễ, Lễ

hội mặt trời Trên cơ sở đối chiếu với nguyên bản tiểu thuyết Ceremony của

Leslie Marmon Silko do nhà xuất bản Penguin Books ấn hành năm 1986, tác giảluận văn khảo sát tác phẩm dựa trên bản dịch của dịch giả Linh Thụy, sách do

NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2002 dưới tên Lễ hội

mặt trời Tuy các trích dẫn chủ yếu dựa trên bản dịch này song chúng tôi không

sử dụng tên tác phẩm theo ý của dịch giả vì thấy rằng tên gọi trên gây nhầmtưởng về nội dung của tác phẩm (viết về lễ hội) Tác giả Bùi Linh Huệ trong luận

văn “Kết cấu tiểu thuyết Pháp lễ của Leslie Marmon Silko” đã chọn tên gọi

Pháp lễ Tuy nhiên, chúng tôi cũng không sử dụng tên gọi Pháp lễ mà

Trang 27

dùng tín gọi Nghi lễ để đúng hơn với tinh thần của nguyín tâc vă cũng dễ

hiểu với độc giả

Truyện dăi Nghi lễ được xuất bản lần đầu tiín năm 1977 đê thu hút sôi nổi sự quan tđm, đânh giâ của đông đảo bạn đọc vă câc nhă phí bình Từ điển Bâch khoa trực tuyến Wikipedia đânh giâ: “cho đến nay khó mă gặp một lời phí bình không hay năo về cuốn tiểu thuyết năy Đó vẫn lă cuốn tiểu thuyết

của văn học người Mỹ bản địa thường được câc trường cao đẳng vă đại họcđem văo giảng dạy nhiều nhất vă nghiín cứu nhiều nhất…Trín một đất Mỹđang trăn ngập những cựu chiến binh Việt Nam khủng hoảng, thông điệp củacuốn sâch về hăn gắn vă hòa hợp giữa câc dđn tộc vă con người nói chungkhiến cho nó đạt được những thănh công ngay lập tức vă lđu dăi”[78]

Trong lời giới thiệu, dịch giả Linh Thụy đê tóm lược nội dung tâc phẩm năynhư sau: Tâc phẩm lă cđu chuyện về một cựu chiến binh da đỏ bị vong thđn sauThế chiến II, vă tìm câch hồi phục, tìm lại con người thực của mình Nhưng nhìnkhía cạnh khâc, cđu chuyện lại rất phức tạp vă lớn lao: Vong thđn lă một sự kiệncực kỳ vi tế, phức tập vă tìm lại con người thực lă một đề tăi to tât Ở đđy, nhđnvật chính đê tìm con người thực của mình qua câi nhìn vă triết lý của người MỹNguyín thủy, tức người da đỏ Lễ hội đê được dùng để đưa nhđn vật vong thđn

về nguồn gốc thực của mình, rất gần gũi, hòa hợp cùng thiín nhiín, nhất lă mặttrời Tayo lă nhđn vật đầy phức cảm, anh ta bị vong thđn từ khi còn bĩ: lă mộtđứa trẻ lai không có cha, với người mẹ da đỏ hư thđn vă bị đăn ông da trắng dụ

dỗ - vă chết sớm – sống trong gia đình của bă ngoại, cùng bă dì rất ghĩt anh, vẵng cậu Nơi đó, Tayo lă một người “bân xa lạ” đê bị lạc loăi cùng cội nguồnngay từ đầu Tayo bị dì vă câc bạn trong cộng đồng da đỏ ghĩt bỏ khi còn bĩ,luôn luôn mang mặc cảm về nguồn gốc con hoang vă mău da nửa vời của mình,cho nín thiếu tự tin vă tự trọng ngay từ khi còn bĩ Tâc phẩm năy không chỉchứa chất những tiếng than vên của một bộ tộc mất nước mă còn trình băy rấtnhiều khía cạnh đẹp đẽ trong đời sống vă nhđn sinh quan của người

Trang 28

da đỏ Một thứ triết lý dầy dung hợp, hòa diệu cùng thiên nhiên, và rất giàutính nhân bản Thông điệp lớn nhất mà tác giả thể hiện trong tiểu thuyết này

đó là cái nhìn tâm linh, sâu sắc về chiến tranh và kẻ hủy diệt gắn với nhữnghuyền thoại của người Da đỏ

Robert Lee trong cuốn Văn học đa văn hóa Mỹ cũng khẳng định tác phẩm

Nghi lễ “xứng đáng là cuốn tiểu thuyết trung tâm của văn học người Mỹ bản địa”

[77; 105] Sức hấp dẫn ấy của thiên tiểu thuyết được nhiều lời ngợi ca này đến từnhững ý nghĩa nội dung tư tưởng phong phú, sâu sắc được chuyển tải bằng mộtthứ nghệ thuật đầy tính sáng tạo và tinh tế Nhà nghiên cứu này cũng dành một

số trang đáng kể cho Silko và tiểu thuyết Nghi lễ: “Những câu thơ mở đầu trong tiểu thuyết Nghi lễ (1977) của Leslie M Silko đã đưa ra điểm mấu chốt để hiểu

tiểu thuyết Đó là cách thức nối kết vấn đề nhân vật người cựu chiến binh Tayo

bị chiến tranh hủy diệt tinh thần, huyết thống pha tạp với cơn hạn hán trên cùng

tự trị Laguna cùng những vụ thí nghiệm hạt nhân gần Los Alamos trong tínhđương đại của chúng Cứ mỗi bước chuyển, trong cái khung khổ thời gian từbình minh tới bình minh, Silko lại hòa trộn tiểu thuyết của mình và đặt nó songsong với câu chuyện về huyền thoại sáng tạo và trợ giúp của vùng Laguna,chuyện kể về phù thủy, chuyện về những cuộc tìm kiếm và hàn gắn Kĩ thuật đóduy trì sự tương tác, tạo cảm giác giống như một cuốn tiểu thuyết đúp được kểhai lần, và khiến cho tác phẩm giành vị trí trung tâm trong văn học của người Mỹbản địa một cách xứng đáng” [77; 105] Trang web từ điển trực tuyến Wikipedia

cũng đánh giá: “Nghi lễ thường được gọi là một cuốn tiểu thuyết Chén Thánh

(Grail Fiction), trong đó người anh hùng vượt qua một loạt các thử thách để đạttới một mục đích đã xác định)” [79]

Như vậy, có thể thấy các công trình trên đều nhấn mạnh vai trò của các

chất liệu và kĩ thuật kể chuyện dân gian tới kết cấu của tiểu thuyết Nghi lễ và

các tác phẩm văn học cùng dòng với nó Tuy nhiên, những nội dung mà tiểuthuyết này đề cập đến còn rất nhiều điều mà chúng ta có thể khai thác Do đó,

Trang 29

việc vừa soi chiếu tác phẩm này dưới lăng kính của phê bình sinh thái, vừa đặt

nó trong sự đối sánh với các tác phẩm khác là hướng nghiên cứu mới mẻ vàthú vị mà chúng tôi lựa chọn để thực hiện luận văn này Bằng những khảo sát

cụ thể, chúng tôi sẽ phân tích và chỉ ra những tương đồng và khác biệt trongcách quan niệm và thể hiện vấn đề sinh thái trong hai tác phẩm đã nêu đồngthời khẳng định giá trị của hai tác phẩm cũng như vị trí của hai nhà văn trongdòng chảy văn học của mỗi dân tộc

1.3 Khái lược về phê bình sinh thái

1.3.1 Phê bình sinh thái là gì?

Sinh thái (oikos) theo nghĩa gốc tiếng Hy Lạp cổ là nhà ở, nơi cư trú Thuật ngữ sinh thái học (ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm oikos (chỉ nơi sinh sống) và logos (học thuyết, khoa học) Thuật ngữ “sinh thái học” chỉ

thật sự ra đời vào năm 1869 do nhà sinh vật học Ernst Haecker đưa ra Trảiqua hàng trăm năm phát triển, sinh thái học đã có rất nhiều định nghĩa nhưngchung nhất vẫn là học thuyết nghiên cứu về nơi sinh sống của sinh vật, mốitương tác giữa cơ thể sinh vật sống và môi trường xung quanh Ngày nay, sinhthái học không chỉ tồn tại trong sinh học mà nó còn là khoa học của nhiềungành khác, trong đó có khoa học xã hội và nhân văn

Trong lời giới thiệu cuốn Phê bình sinh thái là gì? tác giả Nguyễn Đăng

Điệp đã nhận định: “Văn học sinh thái là cách định danh thời nay đối với nhữngtác phẩm văn học ra đời trong bối cảnh môi trường sinh thái ngày càng xấu đi,nội dung của chúng thể hiện trách nhiệm xã hội của người viết đối với vấn nạnnày Dòng văn học này được tính từ thời kỳ văn học lãng mạn với các tác phẩm

kinh điển như: Frankenstein của Mary Shlley (1818), Walden của Henry David Thoreu (1854), Niên giám xứ cát của Aldo Leopold (1949), Dòng suối im lặng

của Rachel Louise Carson (1962)… Đó là thời kỳ chủ nghĩa tư bản với sự pháttriển vũ bão của công nghiệp đã làm hé lộ dần những mặt trái đen tối: sự tàn

Trang 30

phá, hủy hoại môi trường tự nhiên một cách khủng khiếp Các nhà lãng mạn

đã sớm dự cảm về những hư tổn mất mát này và đưa chúng vào văn họcđương thời… Văn học sinh thái không chỉ hướng đến các tác phẩm văn họcthời kỳ lãng mạn và sau này mà nó còn rọi cái nhìn xa hơn để tìm hiểu cả mốiquan hệ giữa con người với tự nhiên trong văn học của những giai đoạn trước

đó So với văn học sinh thái, thuật ngữ phê bình sinh thái ra đời muộn hơn vàgây nhiều thắc mắc hơn cho độc giả” [31; tr5,6]

Nếu như ở Anh người ta thường sử dụng thuật ngữ “phê bình xanh”(green criticism) thì ở Mỹ lại thích sử dụng thuật ngữ “phê bình sinh thái”(ecocritism) Nhiều thuật ngữ khác cũng thường được sử dụng như “thi phápsinh thái” (ecopoetics), “phê bình văn học môi trường” (environmentalliterary criticism), “nghiên cứu xanh” (green study) hay “nghiên cứu (vănhóa) xanh” (green (cultural) studies), sáng tác tự nhiên (nature writing), sinhthái học lãng mạn (Romantic Ecology)… Hiểu một cách đơn giản, nói nhưCheryll Glofelty, người khởi xướng phê bình sinh thái ở Mỹ: “Phê bình sinhthái là nghiên cứu văn học gắn liền với chủ đề môi trường”

Cũng theo tác giả Nguyễn Đăng Điệp: “Phê bình sinh thái (ecocritisim) làmột bước chuyển ngoạn mục, đầy tính thích ứng của một bộ phận phê bình vănhọc trong bối cảnh khủng hoàng môi trường toàn cầu Sự chuyển làn bất thườngnày được hiểu như là nỗ lực của các nhà nghiên cứu mong muốn tìm kiếm trongvăn học nghệ thuật những thông điệp môi trường hiển lộ hay ngầm ẩn, từ đókhơi ngợi nhu cầu tìm hiểu và khắc phục những thương tổn mà con người đã gây

ra cho giới tự nhiên Trong thế kỷ XX, nhiều ngành nghiên cứu nhân văn liênquan mật thiết tới nội dung bảo vệ môi trường liên tục xuất hiện: triết học môitrường, thuyết giải phóng động vật, mỹ học sinh thái…Và như một sự tiếp nốinhững hoạt động nghiên cứu sinh thái mang tính liên ngành này, phê bình sinhthái phát triển và gặp gỡ với nhiều diễn ngôn khác liên quan

Trang 31

đến như: hậu hiện đại sinh thái, nữ quyền luận sinh thái, hậu thuộc địa sinhthái…” [31; tr5].

Vào năm 1978, Wiliam Rueckert được coi là người đầu tiên sử dụng

thuật ngữ phê bình sinh thái trong chuyên luận Văn học và sinh thái học: một thử nghiệm mới trong phê bình sinh thái (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocritism) Ông sử dụng thuật ngữ này với mong muốn ứng

dụng sinh thái học và các thuật ngữ sinh thái học vào nghiên cứu văn học

Các nhà phê bình sinh thái đã công bố các tác phẩm nghiên cứu về vấn

đề này vào cuối những năm 1960 và 1970 Trong thời gian này, công trình của

Joseph Mecker là Bi kịch của sự sống sót (The Comedy of Survial, 1974) đã

đưa ra được một vấn đề mà sau này trở thành cốt yếu của phê bình sinh thái

và triết học môi trường: cuộc khủng hoảng môi sinh chủ yếu bắt nguồn từtruyền thống văn hóa phương Tây vốn chia tách văn hóa ra khỏi tự nhiên vàdành cho văn hóa thế ưu trội

Giữa thập kỉ 80 của thế kỉ XX, các học giả đã cộng tác với nhau xây dựngphê bình sinh thái trở thành một phong trào mạnh mẽ Người có công phát triểnphong trào phê bình sinh thái là Cheryll Glotfelty Ông cùng Harold Frommđồng biên tập tuyển tập cốt yếu các bài viết có tính định hướng quan trọng là

Tuyển tập Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học

(The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology, University of Georgia Press, 1996) Năm 1992, Cheryll Glotfelty cũng là nhà sáng lập ra

ASLE (the Association for the Study of Literature and Environment) – Hiệp hội

Nghiên cứu Văn học và Môi trường ASLE có một tờ báo riêng là ISLE (Interdisciplinary Studies in Literature and Environment – Nghiên cứu Liên

ngành Văn học và Môi trường) ra đời năm 1993 Nhờ đó phê bình sinh thái đã

chính thức trở thành một phong trào nghiên cứu hàn lâm vào đầu thập niên 1980.Thông qua nghiên cứu văn học để nhìn nhận lại toàn bộ văn hóa của con

Trang 32

người Chính thái độ ngạo mạn của con người đối với tự nhiên đã làm ảnh hưởngnghiêm trọng đến môi trường sinh thái Phê bình sinh thái đã thay đổi một cách

cơ bản cách nhìn nhận, tiếp cận đối tượng, tất cả các phong trào nghiên cứu vănhọc từ trước đến nay đều lấy con người làm trung tâm, còn phê bình sinh thái lấysinh thái làm trung tâm Để giải quyết vấn đề sinh thái, đòi hỏi con người phảinhìn nhận lại phương thức sống của mình, xem xét lại văn minh, văn hóa củamình để đề xuất và điều chỉnh, đánh giá lại thái độ của mình đối với tự nhiên.Đây là cuộc cách mạng về thế giới quan của con người: Sự sống phát triển khicon người được sống hài hòa, thân mật, hợp với tự nhiên

Được manh nha vào những năm 70 của thế kỷ XX nhưng phải đếnnhững năm 90 của thế kỷ XX phê bình sinh thái mới thực sự trở thành mộtkhuynh hướng nghiên cứu văn học ở Mỹ và tiếp đó lan ra toàn thế giới TheoScott Slovic, phê bình sinh thái khảo sát cặn kẽ những ngụ ý về môi trườngsinh thái và quan hệ giữa con người - tự nhiên trong bất kỳ văn bản vănchương nào, kể cả những văn bản (thoạt nhìn) dường như không để ý gì đếnthế giới con người Tuy nhiên, về sau, đối tượng của phê bình sinh thái khôngchỉ giới hạn trong văn học, nó còn mở rộng ra các ngành nghệ thuật khác như:hội họa, kiến trúc, điện ảnh…

Sang thế kỷ XXI, để tương thích hơn nữa với những diễn biến của thờicuộc, diện mạo phê bình sinh thái đã có những thay đổi đáng kể Khuynh hướngnày thiên về nhân chủng học và lấy trung tâm là bình diện xã hội Giới nghiêncứu phê bình sinh thái ngày càng quan tâm nhiều hơn đến vấn đề đô thị và quátrình công nghiệp hóa, vấn đề công bằng/ bất công môi trường, vấn đề về sắc tộc,các nhóm thiểu số, cộng đồng bản địa, chủ nghĩa hậu thực dân, cộng đồng lưuvong và chủ nghĩa thế giới trở thành mối quan tâm hàng đầu Hay nói cách khác,phê bình sinh thái chuyển mối quan tâm từ phạm vi địa phương sang phạm vixuyên quốc gia/toàn cầu Như vậy, đối tượng của phê bình sinh thái

Trang 33

giờ đây là “tất cả những hình thức truyền thống biểu hiện, từ các văn bản inđến sự trình diễn thị giác, âm nhạc, điện ảnh cũng như các tài liệu pháp lý vàcác báo cáo của các tooro chức phi chính phủ” [31; 7,8]

1.3.2 Phê bình sinh thái ở Việt Nam

Ở Việt Nam đến thời điểm hiện nay chưa có một dòng văn học được gọi làvăn học sinh thái, văn học bảo vệ môi trường” [20] Vấn đề đặt ra là liệu có thể

áp dụng nó để phân tích các tác phẩm văn học Việt Nam không? Giải pháp đượccác nhà phê bình sinh thái đưa là: không nhất thiết phê bình sinh thái chỉ có thể

áp dụng để phân tích dòng văn học sinh thái, mà có thể sử dụng để phân tích bất

kì tác phẩm nào có “những nhân tố thể hiện ý thức sinh thái” [20] Vì “trên thực

tế, tư tưởng sinh thái đã manh nha từ lâu, Trung Quốc cổ đại có tư tưởng “thiênnhân hợp nhất”, “đạo pháp tự nhiên”, châu Âu thế kỉ XVIII - XIX có trào lưutriết học trở lại với tự nhiên” [21] Những tư tưởng triết học đó hoặc ít hoặcnhiều đều in dấu trong sáng tác văn học cổ kim Đông Tây, có điều trong nghiêncứu văn học trước kia chưa thực sự chú ý đến hàm ý sinh thái trong đó Vì thếviệc vận dụng lí thuyết mới để nghiên cứu những vấn đề, hiện tượng trong vănhọc Việt Nam mang đến nhiều triển vọng về những kết quả mới

Từ sau đổi mới, giới nghiên cứu khá cởi mở trong việc tiếp thu cácluồng tư tưởng, học thuyết mới nhưng đối với phê bình sinh thái thì vẫn còn

nhiều dè dặt Lí giải hiện tượng đó, Đỗ Văn Hiểu trong bài viết Phê bình sinh thái – khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân đã chỉ ra những đặc điểm riêng khiến phê bình sinh thái gặp trở ngại cho sự phát triển, mở

rộng ở Việt Nam như: sự cách tân về tư tưởng nòng cốt, chuyển đổi từ tưtưởng “nhân loại trung tâm luận” sang lấy “sinh thái trung tâm luận” làm nềntảng, mang sứ mệnh mới là “nhìn nhận lại văn hóa nhân loại”, đồng thời cónguyên tắc mỹ học riêng và xác lập đối tượng, phạm vi nghiên cứu riêng

Theo một số nhà nghiên cứu, những dẫn nhập về phê bình sinh thái được

Trang 34

giới thiệu ở Việt Nam chủ yếu là qua các bài dịch của Đỗ Văn Hiểu và dịch giả

Hải Ngọc và bài viết Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học hiện

nay Trần Đình Sử Qua đó, tư tưởng sinh thái đã được vận dụng để xem xét quan

hệ giữa văn học và môi trường văn hóa, tinh thần xã hội Những bài viết trên lànguồn tư liệu quan trọng cho giới nghiên cứu Việt Nam vận dụng những lí thuyếtcủa phê bình sinh thái vào nghiên cứu văn học Đến nay, nghiên cứu văn họcdưới góc nhìn sinh thái học ở nước ta đã có những thử nghiệm với các bài viếtnhư: “Đọc cánh đồng bất tận từ điểm nhìn phê bình sinh thái” và “Bước đầu tìmhiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” của Đặng Thị Thái Hà, “Khí quyển thơsinh thái” của Mai Văn Phấn, “Thơ, bầu trời và những linh hồn” của NhãThuyên… trình bày tại một số hội thảo và một số nghiên cứu khác như chúng tôi

đã dẫn ở phần lịch sử vấn đề Những nghiên cứu này đó có

ý nghĩa như một thử nghiêṃ cho việc tìm tòi một hướng nghiên cứu mới và khátriển vọng ở Việt Nam

Trong bài viết “Phê bình sinh thái – vài nét phác thảo”, tác giả Trần ThịÁnh Nguyệt đã phác thảo về vấn đề này như sau: Từ năm 2011 đến nay, phê

bình sinh thái bắt đầu được chuyển dịch, giới thiệu và thực hành nghiên cứu

ngày một nhiều hơn ở Việt Nam Điều đó, xuất phát từ nhu cầu bức thiết của dântộc, nó cũng chứng tỏ sự hòa chung vào xu hướng toàn cầu hóa trong nghiên cứuvăn học Việt Nam Năm 2011, Viện Văn học tổ chức buổi thuyết trình về vấn đềphê bình sinh thái Karen Thronber sang Việt Nam trong khuôn khổ Hội thảoquốc tế 2011 “Tiếp cận văn học châu Á từ lý thuyết phương Tây hiện đại: vậndụng, tương thích, thách thức và cơ hội” Tại Viện Văn học, bà cũng đã có buổigiảng về Ecocriticism giới thiệu một cách tổng quan về bản chất, ý nghĩa và tiếntrình của nghiên cứu văn chương môi trường và sau đó phân tích 6 điểm cơ bản

mà phê bình sinh thái quan tâm Từ đó, phê bình sinh thái đã được giới thiệu,ứng dụng nghiên cứu tại Việt Nam với các tác giả như: Đỗ Văn Hiểu,

Trang 35

Huỳnh Như Phương, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Trần ThịÁnh Nguyệt, Đặng Thị Thái Hà… Hiện tại, có hai cuốn sách về phê bình sinh

thái đã được xuất bản: Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau

1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái (Trần Ánh Nguyệt và Lê Lưu Oanh, 2018), Rừng khô suối cạn, biển độc và văn chương (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2017) Các trường đại học, các Viện nghiên cứu cũng đã quan tâm đến phê

bình sinh thái nhiều hơn, bằng chứng là tại các hội thảo khoa học trong nước

và quốc tế, phê bình sinh thái đã xuất hiện trên diễn đàn trao đổi, đó cũng làkhuynh hướng mà nhiều học viên cao học, nghiên cứu sinh lựa chọn

Tuy nhiên, thành tựu về dịch thuật phê bình sinh thái còn khá khiêm

tốn Bài Phê bình sinh thái - cội nguồn và sự phát triển [21] của Đỗ Văn Hiểu

đã tổng hợp, giới thiệu phong trào phê bình sinh thái trên thế giới, đồng thờichỉ ra cội nguồn tư tưởng của các nhà triết học phương Tây làm tiền đề xuất

hiện phê bình sinh thái Trần Ngọc Hiếu với bản dịch Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học [60] đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn nhiều gợi ý về triển vọng của phong trào Các bản dịch của Đặng Thị Thái Hà (Phê bình sinh thái, Kate Rigby, 2014), Trần Thị Ánh Nguyệt (Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường, Cheryll Glotfelty, 2014) từ những văn bản khá quan trọng của phê bình sinh thái thể hiện sự nỗ lực giới thiệu phê bình sinh thái ở Việt Nam Gần đây là cuốn Phê bình sinh thái là gì? Đã được Viện Văn học chủ trì dịch, Hoàng Tố Mai chủ biên Tuy nhiên,

thành tựu dịch thuật mới chỉ dừng lại ở những bài viết, bài tổng thuật, cần cónhững công trình dịch dài hơi hơn về phê bình sinh thái

Cuối năm 2017, đầu 2018 có 3 hội thảo về phê bình sinh thái: Hội thảokhoa học quốc tế “Phê bình sinh thái: tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu” củaViện Văn học tổ chức (12/2017); Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ 2 “Sinh tháihọc trong văn học Đông Nam Á: Lịch sử, Huyền thoại và Xã hội” của Hiệp hội

Trang 36

nghiên cứu liên ngành Văn học và Môi trường Đông Nam Á (ASLE ASEAN)diễn ra tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội(01/ 2018); Hội thảo khoa học “Phê bình sinh thái: Lí thuyết và ứng dụng”của Khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (01/2018)chứng tỏ sự quan tâm ngày càng nhiều hơn với phê bình sinh thái của giớinghiên cứu Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng phê bình sinh thái cần được dịchthuật, giới thiệu và nghiên cứu một cách nghiêm túc, bài bản và toàn diện hơnnữa; các nhà văn cần có nhiều tác phẩm viết về đề tài này để thúc đẩy tươnglai sinh thái trong văn học Văn học quan tâm đến sự sống, sự khủng hoảngsinh thái ngày càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, vậy nên văn họccần có những tiếng nói mạnh mẽ hơn để bảo vệ sự sống trên Trái đất.

Qua tìm hiểu về phê bình sinh thái trên thế giới và ở Việt Nam, tác giảNguyễn Đăng Điệp đã chỉ ra những nét đặc thù riêng của khuynh hướng nàynhư sau:

1 Nhà phê bình luôn tìm kiếm mối quan hệ giữa “văn hóa” và “tự nhiên”(hay “văn minh” và “hoang dã”)

2 Lấy sinh thái làm trung tâm và coi đó là kim chỉ nam hoạt động củaphê bình sinh thái cũng như văn học sinh thái Xu hướng này muốn xem conngười như một nhân tố nằm trong hệ sinh thái, xem thiên nhiên là một thựcthể có tiếng nói, có quyền lợi riêng chứ không chỉ là đối tượng để con ngườikhai thác, áp đặt giá trị của mình vào nó

3 Trong nền tảng lý thuyết phê bình sinh thái: Nội hàm căn bản củaphương pháp phê bình sinh thái này là tính giải cấu trúc mạnh mẽ, biểu hiện ởcác đặc điểm như lệch tâm, tản quyền, cái chết của chủ thể, chất vấn và táithiết… Về bản chất, phê bình sinh thái vẫn là một phần của lý thuyết phươngTây hiện dại và hậu hiện đại Nó thực sự là một hướng nghiên cứu văn họ, nghệthuật mà điểm khác biệt lớn nhất so với các hướng nghiên cứu khác là sự định

Trang 37

hướng về chủ đề môi trường [31; 10].

Đây là những khung lý thuyết và định hướng nghiên cứu quan trọnggiúp chúng tôi triển khai luận văn này

1.4 Phê bình sinh thái nữ quyền và việc nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số

Một số sự tương đồng giữa phê bình sinh thái và phê bình nữ quyền đãdẫn đến việc kết hợp chúng để tạo thành một khuynh hướng gọi là phê bìnhsinh thái nữ quyền (ecofeminism)

Phê bình nữ quyền là một trường phái phê bình văn học thoát thai từ phongtrào chính trị xã hội, phát triển mạnh mẽ vào giữa thế kỷ XX, chủ trương xác lậpmột nền mỹ học, lý luận văn học và sáng tác văn học riêng cho nữ giới Cũngnhư các trường phái phê bình khác, phê bình nữ quyền được xây dựng trên một

hệ thống các khái niệm như: nữ quyền (feminism), giới tính (gender), phái tính(sex), chủng tộc (race) và giai cấp (class) Nữ quyền (Feminism, women’s right)hiểu một cách khái quát là khái niệm chỉ quyền lợi về chính trị và xã hội củangười phụ nữ Thông qua những hoạt động đấu tranh chính trị và xã hội, giới nữđòi lại những lợi ích chính đáng của mình để đạt đến sự bình đẳng với nam giới.Bên cạnh đó, dưới tư cách là một trào lưu chính trị - xã hội, theo quan điểm củacác nhà xã hội học thì chủ nghĩa nữ quyền được hiểu là “sự ủng hộ tính bìnhđẳng xã hội của hai phái, dẫn đến sự phản đối chế độ gia trưởng và phân biệt đối

xử giới tính” Trong khi giới tính (sex) là đặc điểm sinh học trời sinh, thì giới(gender) lại là một khái niệm động, được hình thành dưới những định kiến khácnhau ở những cộng đồng, xã hội khác nhau Đó là “những kiểu hành vi, quanđiểm, thái độ mà được xã hội trông đợi tạo nên mỗi giới tính Những vai trò nàybao gồm các quyền và các trách nhiệm được chuẩn hóa đối với từng giới tínhtrong một xã hội cụ thể”

Trang 38

Nếu như phê bình sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học vàmôi trường tự nhiên thì phê bình nữ quyền xem xét ngôn ngữ và văn học từgóc độ giới Góp phần nghiên cứu về mối quan hệ giữa phê bình sinh thái và

phê bình nữ quyền, tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy trong bài viết: Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: Sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học đã đưa ra những kiến giải một cách khá sâu sắc Theo tác giả bài viết, mối quan hệ giữa phê bình sinh thái và phê

bình nữ quyền đã tạo ra “một hệ hình phê bình mới: phê bình văn học từ chủnghĩa nữ quyền sinh thái - kết tinh của cuộc hôn phối giữa “cách mạng giới”

và “cách mạng xanh” trong phê bình văn học” Những điểm cơ bản về chủnghĩa nữ quyền sinh thái được tác giả Tịnh Thy nêu ra trong bài viết như sau:Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái (Ecofeminism) là một phong trào chính trị

- xã hội ra đời ở phương Tây cuối thập niên 70 và phát triển thành cao trào vàothập niên 90 của thế kỷ XX Đây là hợp lưu của hai dòng chảy sinh thái học và chủnghĩa nữ quyền Đại biểu tiêu biểu gồm có: Françoise d'Eaubonne (1920 - 2005),Karen J Warren (1947 - ), Val Plumwood (1939 – 2008), Karolyn Merchant (1936 -), Vandana Shiva (1952 - )

Qua hàng loạt các nghiên cứu, các tác giả theo chủ nghĩa nữ quyền sinhthái khẳng định: 1/ Phụ nữ gần gũi với tự nhiên, nam giới thì luôn coi tự nhiên

là thù địch 2/ Các sinh mệnh trên trái đất là một mạng lưới gắn kết với nhau,không phân chia cao thấp 3/ Xây dựng một hệ thống sinh thái lành mạnh, bềnvững bao gồm con người và các chủng loài khác 4/ Tuyên chiến với quanđiểm đối lập nhị nguyên, với sự phân tách con người và tự nhiên, nam và nữ

Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái phân thành ba trường phái chính: Chủ nghĩa

nữ quyền sinh thái văn hóa lấy việc xây dựng và chấn hưng văn hóa nữ giới làm

con đường căn bản của việc giải quyết nguy cơ sinh thái Chủ nghĩa nữ quyền

sinh thái triết học cho rằng trong mô hình phát triển kinh tế của chế độ

Trang 39

gia trưởng, phụ nữ và giới tự nhiên bị áp bức và cưỡng đoạt Vì vậy, chỉ dựavào mô hình kinh tế xã hội xây dựng theo nguyên tắc nữ giới mới có thể phát

triển bền vững, có thể giải phóng phụ nữ và giới tự nhiên Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái xã hội nghiên cứu quan hệ giữa việc thống trị phụ nữ và tự nhiên từ quan niệm thứ bậc, cho rằng áp bức giới và nguy cơ sinh thái đều có

nguồn gốc từ thế giới quan của chế độ gia trưởng

Cũng theo tác giả Tịnh Thy, tiếp thu tinh hoa của sinh thái học và lý luậncủa chủ nghĩa nữ quyền, các nhà nữ quyền sinh thái đã tích cực tìm kiếm và xâydựng một phương thức tư duy, thế giới quan và luân lý đạo đức mới Điểm có ýnghĩa cách mạng nhất của các nhà nữ quyền sinh thái là họ sớm tiếp thu quanđiểm khoa học hiện đại phương Tây để đề xuất sự hoài nghi và khiêu chiến, lật

đổ quan niệm giá trị cơ bản được thừa nhận lâu nay Chủ nghĩa nữ quyền sinhthái đưa ra một góc nhìn mới mẻ cho việc giải quyết nguy cơ sinh thái Đó là sựkết hợp, tương tác gữa tự nhiên và nữ giới; hai vấn đề này không nên tách rờinhau, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa Nhân loại nên đưa cả hai vấn đề nàykết hợp với nhiều vấn đề xã hội khác để giải quyết nguy cơ sinh thái từ gốc rễnhằm giảm bớt áp lực nguy cơ môi trường đối với xã hội

Phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái tiến hành phê bình vănhọc từ điểm nhìn đa trùng của tự nhiên, môi trường và giới tính; đặt phê bình vănhọc trong ngữ cảnh của phân biệt giới và nguy cơ sinh thái, liên kết các nhân tốnhư giới tính, tự nhiên, văn học, văn hóa để tiến hành khảo sát và phản đối sựphân biệt giống loài và phân biệt giới tính; hoài nghi và giải cấu trúc quan niệmđối lập nhị nguyên tồn tại phổ biến trong văn hóa phương Tây; phê phán chủnghĩa nhân loại trung tâm và văn hóa chế độ phụ quyền trung tâm Mục đích của

nó là thông qua nghiên cứu văn học để tiến hành nhìn nhận lại và phê phán vănhóa nhân loại, thay đổi vị trí “kẻ khác” và “bên lề” của tự nhiên và nữ giới, thứctỉnh ý thức chỉnh thể sinh thái và ý thức nam nữ bình đẳng của

Trang 40

mọi người, xây dựng một xã hội bình đẳng, hài hòa giữa nam và nữ, giữa cácgiống loài, giữa xã hội loài người với vạn vật trong tự nhiên, một thế giới rực

rỡ phồn vinh với đa dạng văn hóa, đa dạng sinh vật Nội hàm của phê bìnhvăn học từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái rất phong phú Nó vận dụng các quanđiểm của chủ nghĩa nữ quyền sinh thái như thuyết hữu cơ, quan điểm coitrọng mẹ tự nhiên và đề xướng xây dựng xã hội lý tưởng sinh thái, phê bìnhthuyết cơ giới và “cái chết của tự nhiên” vào phê bình văn học nghệ thuật.Cũng như phê bình sinh thái, phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyềnsinh thái thuộc phạm trù nghiên cứu văn hóa Nghiên cứu văn hóa vốn có tínhliên ngành, tính mở và tính phê phán Phê bình văn học từ chủ nghĩa nữ quyềnsinh thái là một nhánh của phê bình hậu hiện đại, nó thách thức, giải cấu trúc

và phê phán chủ nghĩa trung tâm Điều này biểu hiện ở hai phương diện: ởphương diện quan hệ giữa con người và tự nhiên, chủ nghĩa nữ quyền sinhthái phê phán, giải cấu trúc chủ nghĩa nhân loại trung tâm; ở phương diệnquan hệ giữa quyền lực và trật tự, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái phê phán, giảicấu trúc “chủ nghĩa dương vật trung tâm”

Trong luận án về phê bình sinh thái của mình, Trần Thị Ánh Nguyệt đãdành một phần nhỏ để giới thuyết phê bình sinh thái nữ quyền và ứng dụnggóc nhìn này để phân tích văn học Việt Nam:

“Phê bình sinh thái chỉ ra “những văn bản sáng tác đã hòa quyện như thếnào diễn ngôn về phụ nữ và môi trường với các dạng bất công xã hội” [111].Điều này trước hết thể hiện qua cách người đàn ông và người phụ nữ đối xử với

tự nhiên Người phụ nữ mang trong mình thiên tính giữ gìn và bảo vệ sự sốngnên có thái độ chăm sóc, nâng đỡ, che chở cho mọi sinh linh, trái lại, người đànông thường đối xử một cách độc đoán, chuyên quyền với tự nhiên và phụ nữ.Điều này tạo nên những bất công trong xã hội Các nhà phê bình sinh thái chorằng “Sự gắn kết truyền thống của phụ nữ với thế giới tự nhiên, được coi

Ngày đăng: 08/06/2021, 15:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w