các cộng đồng và tổ chức, chính sách hỗ trợ về những loại hình văn hóa sángtạo… Do đó, việc GD&ĐT mỗi thế hệ là cần thiết để duy trì và phát triển ýnghĩa của các di sản văn hóa cho các t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ MAI HẬU
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC DI SẢN CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ
HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ MAI HẬU
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC DI SẢN CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ
HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Minh Huế
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trongbất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Mai Hậu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học
Sư phạm - Đại học Thái Nguyên; các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy,trang bị cho tôi hệ thống tri thức quý báu về khoa học quản lý giáo dục, nhữngphương pháp nghiên cứu khoa học
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩTrần Thị Minh Huế - Người hướng dẫn khoa học - đã trực tiếp tận tình giúp
đỡ, chỉ bảo ân cần và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoànthành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Sở GD&ĐT thành phố Hạ Long, Bangiám hiệu, tổ trưởng chuyên môn, các thầy, cô giáo cùng các em HS của cáctrường THPT trên địa bàn thành phố đã nhiệt tình, trách nhiệm cung cấp số liệu
và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn độngviên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập Mặc dù có nhiều cố gắngnhưng do thời gian và khả năng có hạn, luận văn khó tránh khỏi những thiếusót, kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy, cô cùng các bạnđồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hạ Long, tháng 11 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Mai Hậu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC DI SẢN CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2 Những khái niệm công cụ 10
1.2.1 Quản lý 10
1.2.2 Di sản 11
1.2.3 Giáo dục di sản 14
1.2.4 Hoạt động GDDS cho HS ở trường THPT 14
1.2.5 Quản lý hoạt động GDDS cho HS THPT 15
1.2.6 Biện pháp quản lý hoạt động GDDS cho HS ở trường THPT 15
1.3 Một số vấn đề lý luận về HĐGDDS cho HS ở trường THPT 16
1.3.1 Mục tiêu của GDDS cho HS ở trường THPT 16
Trang 61.3.2 Ý nghĩa của GDDS cho HS THPT trong bối cảnh CNH - HĐH và
hội nhập quốc tế 17
1.3.3 Nguyên tắc GDDS cho HS ở trường THPT 19
1.3.4 Nội dung GDDS cho HS ở trường phổ thông 20
1.3.5 Nhà giáo dục trong hoạt động GDDS cho HS phổ thông 25
1.3.6 HS trong hoạt động GDDS ở trường phổ thông 25
1.3.7 Phương pháp GDDS cho HS ở trường THPT 26
1.3.8 Hình thức tổ chức HĐGDDS cho HS ở trường THPT 29
1.4 Một số vấn đề lý luận về quản lý HĐGDDS cho HS ở trường THPT 31
1.4.1 Vai trò của người hiệu trưởng trong quản lý HĐGDDS cho học sinh ở trường THPT 31
1.4.2 Nội dung quản lý HĐGDDS cho HS ở trường THPT 31
1.4.3 Phương pháp quản lý HĐ GDDS cho HS ở trường THPT 41
1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý HĐGDDS cho HS ở trường THPT 43
1.5 Kết luận chương 1 45
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC DI SẢN CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG THPT THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 47
2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 47
2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và văn hóa - giáo dục THPT tỉnh Quảng Ninh 47
2.1.2 Mục tiêu khảo sát 48
2.1.3 Khách thể và quy mô khảo sát 48
2.1.4 Nội dung khảo sát 49
2.1.5 Phương pháp khảo sát và cách xử lý số liệu 49
2.2 Thực trạng nhận thức về HĐGDDS và quản lý HĐGDDS cho HS ở
Trang 72.2.1 Nhận thức của CBQL, GV, HS về các khái niệm 49
2.2.2 Nhận thức của CBQL, GV, HS về mục tiêu và nhiệm vụ GDDS cho HS THPT 51
2.2.3 Nhận thức của CBQL, GV, HS về mức độ cần thiết của việc GDDS cho HS THPT 53
2.2.4 Nhận thức về nội dung quản lý HĐGDDS 55
2.3 Thực trạng tổ chức HĐGDDS cho HS ở trường THPT thành phố Hạ Long .57
2.3.1 Thực trạng nội dung GDDS cho HS ở trường THPT thành phố Hạ Long .57
2.3.2 Thực trạng sử dụng phương pháp GDDS cho HS THPT 62
2.3.3 Thực trạng hình thức tổ chức HĐGDDS cho HS ở trường THPT thành phố Hạ Long 64
2.3.4 Thực trạng các HĐGDDS được tổ chức cho HS THPT thành phố Hạ Long .67
2.4 Thực trạng quản lý HĐGDDS cho HS ở trường THPT thành phố Hạ Long .69
2.4.1 Thực trạng nội dung quản lý HĐGDDS cho HS ở trường THPT thành phố Hạ Long 69
2.4.2 Thực trạng phương pháp quản lý HĐGDDS cho HS ở trường THPT thành phố Hạ Long 71
2.4.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý HĐGDDS cho HS trong nhà trường THPT 73
2.5 Đánh giá chung về khảo sát thực trạng 75
2.5.1 Những ưu điểm 75
2.5.2 Những hạn chế 75
2.6 Kết luận chương 2 76
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC DI SẢN
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH
Trang 83.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 77
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTNv http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 93.1.1 Đảm bảo sự định hướng của Đảng trong công tác phát triển GDDS
cho HS THPT 77
3.1.2 Đảm bảo tính mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông 78
3.1.3 Đảm bảo phù hợp thực tiễn, đảm bảo tính khả thi 79
3.1.4 Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chỉ đạo của nhà quản lý, vai trò chủ đạo của GV với vai trò tích cực chủ động của HS 79
3.1.5 Đảm bảo tính kế thừa các biện pháp quản lý HĐGDDS 80
3.1.6 Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của các biện pháp 80
3.2 Một số biện pháp quản lý HĐGDDS cho HS ở trường THPT thành phố Hạ Long 81
3.2.1 Biện pháp 1 Nâng cao nhận thức cho CBQL, GV và HS về ý nghĩa của GDDS; HĐGDDS và quản lý HĐGDDS cho HS THPT 81
3.2.2 Biện pháp 2 Xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai các nội dung GDDS cho HS THPT 84
3.2.3 Biện pháp 3 Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức HĐGDDS cho HS 88
3.2.4 Biện pháp 4 Bồi dưỡng năng lực GDDS cho GV THPT 99
3.2.5 Biện pháp 5 Tăng cường công tác xã hội hóa trong tổ chức hoạt động GDDS cho HS 102
3.2.6 Biện pháp 6 Hoàn thiện hệ thống văn bản chỉ đạo HĐGDDS cho HS THPT 104
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của biện pháp quản lý HĐGDDS105 3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 105
3.3.2 Nội dung, cách thức khảo nghiệm 105
3.3.3 Kết quả khảo nghiệm 106
3.4 Kết luận chương 3 107
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109
Trang 101 Kết luận 109
2 Khuyến nghị 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 PHỤ LỤC
Trang 11
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 13Bảng 3.1 Định hướng hoạt động, nội dung GDDS cho HS THPT 86
Bảng 3.2 Đánh giá của CBQL, GV về mức độ cần thiết và tính khả thi
của các biện pháp quản lý HĐGDDS cho HS THPT 106
vi
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giữ gìn được bản sắc văn hóa, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản lànhiệm vụ quan trọng, cần thiết để đảm bảo sự phát triển môi trường văn hóa tốtđẹp, nhằm xây dựng đất nước Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc “Di sản vănhóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộphận của cộng đồng văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựngnước và giữ nước của nhân dân ta”; “DS có thể thuộc quyền sở hữu của cánhân, tổ chức, nhà nước" [Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi bổ sungnăm 2009, 13, tr.13]
Hiện nay cuộc sống xã hội ngày càng sôi động, không gian dành cho cácloại hình văn hóa truyền thống ngày càng thu hẹp hoặc bị thay đổi Giới trẻhiện nay số đông không hiểu hết giá trị của di sản văn hóa mà có xu hướng ưachuộng những hình thức nghệ thuật mới, hiện đại, ít quan tâm tìm hiểu cái hay,cái đẹp của nghệ thuật dân tộc Những năm gần đây do yêu cầu của sự pháttriển khoa học kỹ thuật, sự phát triển kinh tế xã hội, của trào lưu thi cử vào đạihọc… cả xã hội và nhà trường quá coi nặng việc dạy học kiến thức chuyênmôn, chưa chú ý đến giáo dục văn hóa nói chung và GDDS nói riêng Một bộphận giới trẻ mù mờ không am hiểu về lịch sử và không có ý thức trong giữ gìncác giá trị di sản, theo kết quả khảo sát điều tra của Bộ GD&ĐT tại một sốtrường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội cho thấy có khoảng 21% HS biếtđược trên 10 bài dân ca Việt Nam, 73,4% HS biết chưa đến 10 bài dân ca ViệtNam và khoảng 5% HS không biết một bài dân ca nào [20]
GDDS có vai trò quan trọng nhằm hình thành và nâng cao ý thức tôntrọng, giữ gìn, phát huy những giá trị của di sản văn hóa, nâng cao kỹ năngsống, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của HS đối với di sản văn hoá, rèn1
Trang 16luyện tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong đổi mới phương pháp học tập vàrèn luyện, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Chính vì vậy, hoạt động GDDS, quản lý HĐGDDS cho HS THPT trongcác nhà trường cần được quan tâm nghiên cứu và tổ chức có hiệu quả, lấy đólàm điều kiện và con đường thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục trong tìnhhình hiện nay Song, chưa có một công trình nghiên cứu một cách đầy đủ vềvấn đề này đặc biệt là tại địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Bêncạnh đó, bản thân tôi là cán bộ đang công tác tại Tỉnh đoàn Quảng Ninh rấtquan tâm đến vấn đề GDDS và quản lý HĐGDDS cho học sinh, đoàn viên
thanh niên Vì những lí do trên đây, tôi chọn đề tài nghiên cứu:‘‘Quản lý hoạt động giáo dục di sản cho học sinh các trường trung học phổ thông thành phố
Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh’’.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý HĐGDDS cho HS của hiệu trưởng các trường THPTthành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các biện pháp khoa học, phù hợp để sử dụng trongquản lý HĐGDDS sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục HS ởcác trường THPT thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 175.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý HGDDS cho HS ở trường THPT 5.2 Đánh giá thực trạng quản lý HĐGDDS cho HS THPT ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và nguyên nhân của thực trạng
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý HĐGDDS cho HS ở trường THPT thành phố
Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý HĐGD các di sản sau
cho học sinh: (1) Di tích lịch sử - văn hóa; (2) Tập quán xã hội: luật tục, hươngước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác; (3) Danh lam thắngcảnh còn gọi là di sản thiên nhiên; (4) Lễ hội truyền thống; (5) Nghề thủ côngtruyền thống
6.2 Khách thể nghiên cứu: 30 CBQL, 200 GV và 470 HS thuộc 3 khối lớp 10,
11, 12 tại 5 trường THPT gồm 03 trường công lập (Hòn Gai, Bãi Cháy, NgôQuyền) và 2 trường ngoài công lập (Văn Lang, Hạ Long)
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đề tài sử dụng các phương pháp: tổng hợp, hệ thống hoá, phân tích tàiliệu, phương pháp lịch sử để nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận về quản lýHĐGDDS cho HS ở trường THPT
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Đề tài sử dụng các phương pháp: quan sát, điều tra (viết, phỏng vấn),nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm, phương pháp chuyên gia để nghiên cứuthực trạng tổ chức hoạt động GDDS, quản lý HĐGDDS cho HS ở trường THPTthành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và những nguyên nhân của thực trạng
Sử dụng phương pháp chuyên gia để xin ý kiến về định hướng, nộidung, phương pháp nghiên cứu; kiểm định tính đúng đắn của các kết quảnghiên cứu lý luận và thực tiễn của đề tài
3
Trang 18Đề tài sử dụng phương pháp khảo nghiệm để xin ý kiến về các biện pháp đề xuất, có cơ sở để khẳng định tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu từphiếu khảo sát, phỏng vấn, tính toán các chỉ số định lượng, định tính trongnghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Danh mục các chữ cái viết tắt, Mở đầu, Kết luận vàkhuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý HĐGDDS cho HS ở trường trunghọc phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lý HĐGDDS cho HS ở các trường THPTthành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Biện pháp quản lý HĐGDDS cho HS các trường THPTthành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC DI SẢN CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới, vấn đề GDDS cho học sinh nói chung, GDDS cho họcsinh trong nhà trường nói riêng đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khácnhau, đặc biệt là sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong những thập niêngần đây GDDS trong môi trường GD được thực hiện hai năm vừa qua (2013-2014) tại 4 quốc gia, gồm Pakistan, Palau, Uzbekistan và Việt Nam Qua kinhnghiệm thực tế, các nhà GD khẳng định rằng việc GDDS cho HS ngay từ nhỏ
sẽ giúp cho HS có ý thức cao hơn trong việc quý trọng, bảo tồn, giữ gìn các disản này
Ông M Abdus Sabur, Tổng Thư ký Quỹ nguồn lực châu Á nhấn mạnh:
''Hòa bình loại bỏ chiến tranh Mọi người hãy ngồi chung lại với nhau mặc dù mỗi quốc gia có sự khác biệt Và quá trình giao thoa các di sản văn hóa của mỗi nước là sợi dây liên kết làm cho các dân tộc càng gần gũi hơn” [17].
Thomas Friedman, tác giả cuốn "Thế giới phẳng" cho rằng “Trong bốicảnh thế giới ngày càng "phẳng" hơn thì nền văn hóa của quốc gia, dân tộc nàocũng cần được đầu tư kỹ càng Không chỉ để tăng cường "sức đề kháng" màsâu hơn là nhằm bảo tồn, gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống Đươngnhiên, vấn đề giữ gìn di sản, GDDS cho học sinh ở Việt Nam không nằm ngoàiquy luật đó” [17]
Tác giả Grace Cheng, Đại học Hawaii (Hoa Kỳ) đưa ra “Chính sách vănhóa lý tưởng”, đó là bao gồm việc duy trì đời sống văn hóa trên cấp độ quốcgia và địa phương, cũng như tích hợp các câu hỏi về tác động của kinh tế vàcác chính sách công khác về văn hóa Chính sách văn hóa bao gồm nghiên cứu
và bảo tồn di sản văn hóa, phổ biến thông tin về di sản văn hóa, sự giáo dục của
Trang 20các cộng đồng và tổ chức, chính sách hỗ trợ về những loại hình văn hóa sángtạo… Do đó, việc GD&ĐT mỗi thế hệ là cần thiết để duy trì và phát triển ýnghĩa của các di sản văn hóa cho các thế hệ tương lai [17].
Chia sẻ kinh nghiệm GDDS trong trường học, tác giả UrazaliTashmatov, Viện Nghệ thuật và Văn hóa Quốc gia, Bộ VH&TT Uzbekistan chobiết: "Chúng tôi lựa chọn các trường và tìm hiểu từng lớp học có thể thực hiệnlồng nội dung GDDS văn hóa phi vật thể Đầu tiên, chúng tôi muốn các GVquen với diễn tiến của văn hóa phi vật thể và sau đó triển khai ở một số trườngkhác nhau, đưa ra các bối cảnh để HS học được di sản văn hóa phi vật thể Kếtquả cho thấy, có trường quan tâm đến trò chơi dân gian, có trường lại thíchứng với bài hát dân ca Để chuẩn bị cho HS học tốt, chúng tôi có sách hướngdẫn cho giáo viên, HS và có chương trình đặc biệt huấn luyện GV để họ giảngbài thật hấp dẫn Bài học không chỉ là lời giảng, lời kể, mà HS thích được thựchành, được chơi trên sân trực tiếp"
Ở Việt Nam, thời gian vừa qua có nhiều địa phương đã chủ động đưa di sảnvào trường học khá thành công Tiêu biểu có thể kể đến như Sở GD&ĐT tỉnh BắcNinh, Nghệ An có phong trào đưa dân ca vào trường học, ở Phú Thọ có phongtrào đưa hát Xoan vào trường học; Lạng Sơn đưa đàn Tính, hát Then dạy HS phổthông… Nhiều trường phổ thông tại Hà Nội đưa HS tới tham gia Câu lạc bộ "Emyêu lịch sử" tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia để học lịch sử qua hệ thống bảo tàng…phương thức tổ chức giáo dục GDDS văn hóa được thực hiện lồng ghép vào cácmôn học và các hoạt động giáo dục trong trường phổ thông
Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho rằng: Nhà trường phổ thông vừa có trách nhiệm giáo dục nâng cao nhận thức cho HS về di sản văn hoá, vừa có trách nhiệm sử dụng di sản văn hoá để dạy học Ông cũng nhấn mạnh: “Chương trình được xây dựng cần có sự linh hoạt và phải phù hợp với văn hóa địa
Trang 21phương và dân tộc, phù hợp với mọi điều kiện của nhà trường ở: nông thôn, đôthị, miền núi, ven biển, hải đảo và mọi đối tượng học sinh” [18].
Tác giả Nguyễn Xuân Thắng đặt vấn đề: “Làm sao để di sản văn hóa có thể đóng vai trò hiệu quả cho giáo dục và phát triển hòa bình và áp dụng các
di sản văn hóa như một công cụ để phát triển hòa bình?”, đó là vấn đề cấp thiết
mà các quốc gia trên toàn thế giới cần ngồi lại với nhau [18]
Tác giả Lê Thị Minh Lý, Trung tâm Nghiên cứu và phát huy giá trị di sản
văn hóa cho rằng: “Tích hợp nhuần nhuyễn giá trị di sản vào bài học, các di sản
có thể tích hợp nhuần nhuyễn trong dạy học nhằm đạt được 2 mục tiêu về chuẩn kiến thức bài học, vừa đạt được thông tin về di sản văn hóa phi vật thể Mọi người băn khoăn các di sản như ca trù, hát xoan… được UNESCO công nhận khi đưa vào trường học, liệu có khiến cho HS bị mệt? Đây không phải là học di sản mà sử dụng di sản để dạy học Thông qua việc vận dụng các giá trị di sản để dạy học một cách linh hoạt, thú vị và tích hợp nhuần nhuyễn những giá trị di sản ấy vào bài học Vận dụng như thế nào? Trước hết phải nhận dạng được giá trị di sản để tìm những nội dung phù hợp tích hợp vào bài giảng Mặt khác xác định chuẩn về mặt giáo dục, cụ thể là bài học ấy cần đòi hỏi điều gì và khả năng tích hợp đến đâu Một khuyến nghị là hãy chọn những di sản ở quanh chúng ta, cộng đồng ở đâu thì chúng ta lấy di sản ở đó, trường học ở đâu thì chúng ta sử dụng di sản ở cộng đồng đó Nếu chúng ta lấy di sản quá xa thì trở nên xa lạ với các em, quá hoành tráng sẽ làm nặng thêm bài học Chúng ta hãy tìm những gì gần gũi và bình dị để tích hợp vào bài giảng, có như vậy GV mới dễ sử dụng và các em nhớ một cách thiết thực về văn hóa của chính mình” [18].
Theo tác giả Mạc Thị Phượng Bích, Phòng GD&ĐT huyện Tân Lạc, Hòa
Bình: "Vừa làm vừa rút kinh nghiệm Chúng ta không thể thực hiện ồ ạt, mà phải
từ từ và lựa chọn di sản đưa vào bài học mang tính bền vững chứ không chạy theo
"hội chứng" Bây giờ phân bố chương trình mở, nên việc dạy và học
7
Trang 22với di sản rất phù hợp khi bố trí trong các giờ ngoại khóa, những tiết học trang
bị kiến thức địa phương Vấn đề là làm sao sử dụng phù hợp và hiệu quả, thời lượng dạy như thế nào cũng là vấn đề để GV suy ngẫm Nếu có sự chỉ đạo sâu sắc từ cấp sở, phòng và các cấp quản lý giáo dục, đưa di sản văn hóa dân tộc vào trường học chắc chắn thu được hiệu quả trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh" [18].
Đầu năm 2013, liên Bộ GD&ĐT và VHTTDL đã có văn bản hướng dẫn
về việc sử dụng di sản vào dạy học, được thực hiện thí điểm tại 7 địa phương:
Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thừa Thiên - Huế,Quảng Nam với ba môn Sử, Địa và Âm nhạc Cụ thể, Bộ GD&ĐT đã áp dụngthí điểm mỗi Sở GD&ĐT chọn hai trường THCS, hai trường THPT đưa vàogiảng dạy lồng ghép ở các môn học đã được thống nhất trong học kỳ 2 Trongthời gian này, Bộ GD&ĐT đã phối hợp với Văn phòng UNESCO tại Hà Nộikiểm tra, khảo sát và dự một số tiết học môn Sử, Địa, Âm nhạc
Tháng 3 năm 2015 vừa qua, tại Hà Nội, Bộ GD&Đào tạo, Bộ VHTTDL
và UNESCO phối hợp tổ chức Hội thảo về Dạy học với di sản phi vật thể vìmột tương lai bền vững trong thời gian 2 ngày, với sự tham gia của hơn 60chuyên gia Việt Nam và quốc tế từ 13 quốc gia châu Á - Thái Bình Dương chia
sẻ những kinh nghiệm thực tế khi triển khai thí điểm công tác giảng dạy về disản trong môi trường giáo dục được thực hiện trong hai năm qua (2013-2014)tại bốn quốc gia (Pakistan, Palau, Uzbekistan và Việt Nam), khám phá cách đểtích hợp các di sản văn hóa phi vật thể và phát triển bền vững trong giáo trìnhhiện tại
Nhằm triển khai có hiệu quả việc dạy và học về di sản trong trường họccũng như nhằm đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổchức dạy học ở giáo dục phổ thông và giữ gìn, phát huy giá trị của di sản vănhóa, hiện tại, Bộ GD&ĐT và Bộ VHTTDL đã ban hành văn bản liên bộ hướng
Trang 23dẫn sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm GDTX Vớicác nội dung: tích hợp GDDS qua các môn học có tiềm năng và hoạt động giáodục ngoài giờ lên lớp, hoạt động giáo dục khác như ngoại khóa, thực địa đưavào giảng dạy lồng ghép ở các môn học đã được thống nhất trong học kỳ 2:môn sử, địa, âm nhạc Nhận thấy giảng dạy về di sản mặc dù đã được xác định
là yêu cầu với các trường phổ thông, thực tế các dự án đưa di sản vào trườnghọc đã tạo được những kết quả tích cực nhưng vẫn còn không ít thách thức đốivới các nhà quản lý giáo dục, văn hóa Trong một cuộc khảo sát tại một sốtrường THCS ở Hà Nội kết quả cho thấy có khoảng 21% HS biết được trên 10bài dân ca Việt Nam, 73,4% HS biết chưa đến 10 bài dân ca Việt Nam vàkhoảng 5% HS không biết một bài dân ca nào
Từ những nội dung nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề GDDS đã được BộGD&ĐT quan tâm chỉ đạo, các sở giáo dục đã triển khai đến các nhà trườngsong chủ yếu được triển khai thông qua tổ chức các hoạt động dạy học
QLGD nâng cao trình độ cho HS về di sản là vấn đề cần thiết của mọitrường học Quản lý HĐGDDS, văn hóa, truyền thống cũng được đề cập đến ởmột số đề tài nghiên cứu như: tác giả Nguyễn Phương Liên với đề tài Biệnpháp quản lý GD đạo đức truyền thống cho HS THPT huyện Từ Liêm tronggiai đoạn hiện nay; tác giả Nguyễn Trọng Nhuế với đề tài Quản lý hoạt động
GD đạo đức cho HS THCS trên địa bàn huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương…Tuy nhiên, trên thực tế công tác quản lý đội ngũ lãnh đạo, quản lý các trườngTHPT mới chỉ tập trung vào quản lý chuyên môn nhằm nâng cao chất lượngdạy và học của nhà trường, chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lýHĐGDDS cho HS ở trường THPT thuộc khu vực có tính chất giao thoa vănhóa vùng cao, giáp biên giới và văn hóa biển
9
Trang 24Hi vọng rằng, đề tài ‘‘Quản lý hoạt động giáo dục di sản cho học sinh các trường trung học phổ thông thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh’’ sẽ đóng
góp thêm những định hướng, nội dung nghiên cứu làm phong phú cơ sở lý luận
và thực tiễn về quản lý HĐGDDS cho học sinh ở trường THPT, giúp hiệutrưởng các trường THPT trên địa bàn thành phố Hạ Long làm tốt chức năngQLGD di sản cho HS
1.2 Những khái niệm công cụ
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tạikhách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốcgia trong mọi thời đại mà qua đó có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý,
chúng tôi hiểu: Quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu chung Bản
chất của quản lý là một loại lao động đặc biệt nhằm điều khiển lao động xã hộingày càng phát triển Các loại hình lao động càng phong phú, phức tạp thì hoạtđộng quản lý càng có vai trò quan trọng
Trong lĩnh vực quản lý đã có nhiều hệ thống phân loại chức năng quản
lý, song có thể khái quát lại thành các chức năng cơ bản như sau:
- Chức năng kế hoạch hóa: Là chức năng khởi đầu, là tiền đề, điều kiệncủa mọi quá trình quản lý Kế hoạch là bản thiết kế, trong đó xác định mụcđích, mục tiêu đối với tương lai của tổ chức và xác định con đường, biện pháp,cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Có ba nội dung chủ yếu của chứcnăng kế hoạch hóa:
+ Xác định, hình thành các mục tiêu phát triển của tổ chức, của hoạt động và các mục tiêu của quản lý tương thích
+ Xác định chương trình hành động, các biện pháp cần thiết để đạt đượcmục tiêu của quản lý và mục tiêu phát triển của tổ chức
Trang 25+ Xác định và phân phối các nguồn lực, điều kiện cần thiết.
- Chức năng tổ chức: Là quá trình hình thành quan hệ và cấu trúc giữacác bộ phận trong một tổ chức nhằm tạo cơ chế đảm bảo sự phối hợp, điều phốitốt nguồn lực, điều kiện cho việc thực hiện thành công kế hoạch, chương trìnhhành động và nhờ đó mà đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Quá trình tổchức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận cùng các công việc củachúng và sau đó là vấn đề nhân sự, gồm việc xác định và nhóm gộp các hoạtđộng, giao phó quyền hành của người quản lý và tạo ra sự phối hợp thực hiệnmục tiêu của tổ chức một cách khoa học, có hiệu quả
- Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo): Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộmáy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có quá trình tác độngchỉ đạo (directing, hay infuencing) Chỉ đạo (hay lãnh đạo) bao hàm cả việc liênkết các thành viên và động viên họ hoàn thành nhiệm vụ
- Chức năng kiểm tra: Là chức năng của quản lý nhằm đánh giá, pháthiện và điều chỉnh kịp thời giúp cho hệ quản lý vận hành tối ưu, đạt mục tiêu
đề ra Kiểm tra là nhằm xác định kết quả thực tế so với yêu cầu tiến độ và chấtlượng vạch ra trong kế hoạch, phát hiện những sai lệch, đề ra những biện phápuốn nắn điều chỉnh kịp thời Kiểm tra không chỉ là giai đoạn cuối cùng của chutrình quản lý, mà luôn cần thiết từ đầu đến cuối quá trình thực thi kế hoạch.Ngoài 4 chức năng cơ bản, truyền thống nói trên, nghiên cứu quá trình quản lýtrong điều kiện xã hội thông tin, gần đây nhiều công trình đã đưa thông tinquản lý như là một chức năng cần thiết
1.2.2 Di sản
1.2.2.1 Khái niệm
Theo Luật Di sản của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số28/2001/QH10: di sản là khái niệm mở, là những giá trị vật thể và phi vật thểđược để lại từ xa xưa và tồn tại có giá trị cho đến ngày nay Di sản bao gồm có
di sản vật thể và di sản phi vật thể:
Trang 26[1]- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di sản văn hóa vật thể bao gồm:
- Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, vănhóa, khoa học
- Danh lam thắng cảnh còn gọi là di sản thiên nhiên là cảnh quan thiênnhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trìnhkiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học
- Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
- Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên
- Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học
[2]- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồnghoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa,khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưutruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng con đường truyền miệng, truyền nghề,trình diễn và các hình thức khác Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm:
- Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc
- Ngữ văn dân gian, bao gồm: Sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu
đố, truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và cácbiểu đạt khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết
- Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm: Âm nhạc, múa, hát, sân khấu
và các hình thức trình diễn dân gian khác
- Tập quán xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác
- Lễ hội truyền thống
- Nghề thủ công truyền thống
Trang 27- Tri thức dân gian.
1.2.2.2 Cơ chế hình thành di sản
Di sản văn hóa được hình thành trong quá trình và là kết quả của quátrình hình thành và phát triển tự nhiên, những hoạt động sống của cá nhân conngười, cộng đồng xã hội, trong những điều kiện tự nhiên, xã hội nhất định;được kết tinh, được chắt lọc, được lưu truyền qua nhiều thời đại lịch sử
Như vậy di sản được hình thành qua 2 con đường: quá trình thay đổi,phát triển của tự nhiên và quá trình tích lũy, truyền đạt kinh nghiệm qua khônggian, thời gian của con người, cộng đồng
Chủ thể thực hiện là: tự nhiên và con người trong cộng đồng, xã
hội 1.2.2.3 Di sản văn hóa Việt Nam
Di sản văn hóa Việt Nam bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sảnvăn hóa vật thể (bao gồm di sản văn hóa nhân tạo và di sản thiên nhiên) là sảnphẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền
từ thế hệ này qua thế hệ khác
Di sản văn hóa Việt Nam có các đặc điểm sau:
- Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo vănhóa của cộng đồng 54 dân tộc, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được traotruyền, kế thừa và tái sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay Di sản văn hóaViệt Nam là bức tranh đa dạng văn hóa, là tài sản quý giá của cộng đồng cácdân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại Di sản vănhóa Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta
- Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị sáng tạo từ việc học hỏi, giaolưu và kế thừa từ các nền văn hóa và văn minh của nhân loại Những giá trị đó
là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn hóa và văn minh của nhân loại với nềnvăn hóa bản địa lâu đời của các dân tộc Việt Nam
13
Trang 28- Di sản văn hóa Việt Nam, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể có sứcsống mạnh mẽ, đang được bảo tồn và phát huy trong đời sống của cộng đồngcác dân tộc Việt Nam.
1.2.3 Giáo dục di sản
GDDS là một quá trình xã hội được tổ chức có mục đích, có kế hoạch.Trong đó, dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, đối tượng giáo dục tích cực,chủ động tiếp nhận, bổ sung và hoàn thiện hệ thống giá trị di sản
- GDDS là trách nhiệm của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị, trướchết là của các gia đình và nhà trường (xã hội hóa giáo dục) Đây hiển nhiênkhông phải là trách nhiệm chỉ của riêng Bộ GD&ĐT, của ngành giáo dục
Ngành giáo dục sử dụng phương pháp dạy và học thông qua các di sản như làmột phương pháp bổ trợ tích cực nhằm củng cố và mở rộng kiến thức cho HS
Giáo dục thông qua di sản là phương thức giáo dục vừa có tính phổ biến,vừa không phụ thuộc vào độ tuổi của người học và đạt hiệu quả cao, góp phầntạo lập, phát triển, hoàn thiện nhân cách con người và không đòi hỏi quá nhiềuchi phí, ''chơi mà học, học mà chơi'' ; Tăng cường tính hành dụng trong họctập, củng cố và hoàn thiện các kiến thức đã học trên lớp, góp phần bổ sung,nâng cao kiến thức và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, giúp chomỗi cá nhân và cộng đồng hiểu biết về di sản biết bảo vệ, tuyên truyền chocộng đồng, bảo vệ di sản; có thái độ đúng đắn với các di sản
1.2.4 Hoạt động GDDS cho HS ở trường phổ thông
HĐGDDS là một bộ phận của quá trình giáo dục THPT nói chung, được
tổ chức có mục đích, có kế hoạch, trong đó, dưới vai trò chủ đạo của nhà giáodục, HS phát triển nhận thức, ý thức cá nhân về hệ thống giá trị di sản; hìnhthành và phát triển kỹ năng, hành vi và thói quen ứng xử phù hợp với di sản;thái độ, tình cảm tích cực trong tiếp nhận, giữ gìn, bảo vệ và phát triển các giátrị di sản
Trang 29Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi nghiên cứu HĐGDDScho HS các trường phổ thông, trong đó tập trung vào các yếu tố: mục tiêu, nộidung, phương pháp và hình thức tổ chức, nhà giáo dục, HS, kết quả củaHĐGDDS và mối quan hệ giữa các thành tố trên.
Trong nhà trường phổ thông, HĐGDDS không thể tiến hành độc lập, cầnthực hiện thông qua tích hợp các hoạt động khác như HĐGD âm nhạc; HĐGDtrí tuệ; HĐGD lịch sử; HĐGD thẩm mĩ
HĐGDDS cho HS THPT là hoạt động diễn ra ở mọi nơi, từ gia đình đếnnhà trường và ngoài cộng đồng xã hội (có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trườngvới các tổ chức xã hội như ban quản lý các di tích, ban giám đốc bảo tàng, vănhóa thể thao du lịch… với sự đa dạng hóa các hình thức học tập như học ngoạikhóa, tham quan, thực địa tại nơi có di sản) Trong mối quan hệ đó thì nhàtrường được xem là trung tâm, chủ động, định hướng trong việc phối hợp vớigia đình và xã hội
1.2.5 Quản lý hoạt động GDDS cho HS ở trường phổ thông
Xuất phát từ khái niệm quản lý, HĐGDDS cho học sinh, chúng tôi xácđịnh: Quản lý HĐGDDS trong trường THPT là hệ thống các tác động có mụcđích của chủ thể quản lý (hiệu trưởng) tới GV, HS, cán bộ công nhân viênnhằm tổ chức hiệu quả các HĐGDDS cho học sinh, đạt được mục tiêu và kếhoạch GDDS cho HS của nhà trường THPT
Trong quản lý HĐGDDS cho HS THPT thì chúng tôi tập trung nghiêncứu chủ thể ở cấp độ cao nhất là hiệu trưởng các trường, tuy nhiên trong cấutrúc tổ chức các hoạt động thì việc tổ chức các hoạt động còn thông qua vai trò
GV tổng phụ trách đội, GV chủ nhiệm, GV bộ môn, Bí thư đoàn thanh niên,đội ngũ tự quản của học sinh
1.2.6 Biện pháp quản lý hoạt động GDDS cho HS ở trường phổ thông
15
Trang 30Biện pháp là cách làm cụ thể, cách thực hiện cụ thể một công việc nào đónhằm đạt được mục đích đề ra.
Biện pháp quản lý HĐGDDS cho HS ở trường THPT là cách làm, cáchthức tổ chức, quản lý của nhà quản lý - hiệu trưởng nhà trường để nâng caohiệu quả HĐGDDS cho HS, đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách HStheo mục tiêu cấp THPT
1.3 Một số vấn đề lý luận về HĐGDDS cho HS ở trường THPT
1.3.1 Mục tiêu của GDDS cho HS ở trường THPT
Mục tiêu chung của giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thànhnhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm côngdân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham giaxây dựng và bảo vệ tổ quốc
HĐGDDS cho HS THPT nhằm thực hiện mục tiêu giúp HS củng cố, mởrộng các kiến thức đã được truyền thụ trên lớp, mà còn bồi dưỡng trực tiếp cho
HS năng lực cảm nhận cái đẹp, cái hay qua các di sản như công trình kiến trúc,các làn điệu dân ca Đồng thời giúp HS tích lũy vốn sống, kỹ năng lao động, kỹ
năng giao tiếp; kỹ năng ứng xử, tôn trọng quá khứ, qua đó hình thành thái độ,tình cảm tích cực, hành vi và thói quen gìn giữ, bảo vệ các di sản Cần chú ý làmọi di sản đều được khai thác nhiều lần trong giảng dạy, cũng như trong họctập và điều đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu kiến thức ở từng cấp học của HS
Mục tiêu GDDS cho HS THPT hiện nay là trang bị cho HS có nhận thức
đúng đắn, đầy đủ về những giá trị di sản của dân tộc trên cơ sở đó, có thái độ,động cơ, hành động tích cực trong giữ gìn và phát triển giá trị di sản làm chonhững giá trị di sản của tộc người, dân tộc Việt Nam trường tồn với thời gian,mang giá trị của quốc gia, dân tộc “hòa nhập” chứ không “hòa tan” với cácnước trên thế giới
Trang 31Mục tiêu cụ thể của HĐGDDS cho HS THPT:
Về nhận thức: Giúp HS hiểu được nội dung, ý nghĩa của việc giữ gìn,
phát huy những giá trị di sản tốt đẹp của dân tộc Việt Nam nói chung và di sảnvùng lãnh thổ nói riêng; Nâng cao ý thức cá nhân của HS về vấn đề giữ gìn,phát huy các giá trị di sản của dân tộc trong xu thế hội nhập hiện nay
Về thái độ: Giáo dục HS có thái độ trân trọng, tự hào đối với những di
sản của dân tộc; có ý thức bảo vệ, giữ gìn và phát huy những di sản tốt đẹp củadân tộc; có động cơ và nhu cầu tích cực trong tiếp nhận, lĩnh hội, thể hiện cácgiá trị di sản; giáo dục thái độ tôn trọng di sản của các dân tộc trong xu thế hộinhập hiện nay
Về hành vi và thói quen: Giáo dục HS có hành vi, thói quen giữ gìn và
phát huy giá trị di sản của dân tộc
Trong quá trình GDDS cho HS THPT, các nhiệm vụ giáo dục trên cầnđược thực hiện đồng bộ và thống nhất
1.3.2 Ý nghĩa của GDDS cho HS THPT trong bối cảnh CNH - HĐH và hội nhập quốc tế
1.3.2.1 GDDS cho HS THPT là thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về GD giá trị di sản cho học sinh
Trong bối cảnh CNH-HĐH hiện nay, đòi hỏi nhu cầu khẳng định sự tựtôn giữa các quốc gia, dân tộc là cần thiết Theo Thứ trưởng Bộ VHTTDL HồAnh Tuấn: việc giáo dục di sản là vấn đề quan trọng, nhằm khẳng định giá trịcủa quốc gia, dân tộc “hòa nhập” mà không “hòa tan” đang ngày trở thànhthách thức của văn hoá nước nhà” [20] Thông qua HĐGDDS cho HS nhữnggiá trị di sản của dân tộc Việt Nam sẽ luôn trường tồn, phát triển, khẳng định
sự đặc sắc, khác biệt với các quốc gia trên thế giới
Để tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục toàn diệncho HS, năm 2008, Bộ GD&ĐT đã phát động phong trào thi đua „„Xây dựng
17
Trang 32trường học thân thiện, HS tích cực‟‟ trong đó có nội dung về GDDS văn hóa cho
HS, cụ thể: HS tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di sản di tíchlịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương Mỗi trường đều nhận chăm sóc một ditích lịch sử, văn hóa hoặc di tích cách mạng ở địa phương, góp phần làm cho ditích ngày một sạch đẹp hơn, hấp dẫn hơn; tuyên truyền, giới thiệu các công trình,
di tích của địa phương với bạn bè; phối hợp với chính quyền, đoàn thể và nhândân địa phương phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa và cách mạng chocuộc sống của cộng đồng ở địa phương và khách du lịch
1.3.2.2 GDDS góp phần hình thành và phát triển đạo đức, nhân cách HS
Công tác GDDS có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáodục toàn diện cho HS Những giá trị di sản với những phong tục, tập quán, hươngước của dân tộc, của địa phương chính là nội dung xây đắp nên ý thức đạo đứccủa HS Những sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị về lịch sử, văn hoá khoa họcđược lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, được truyền lại từ các thời kỳ sẽtác động mạnh mẽ lên tình cảm, thái độ, nhận thức, hành vi của HS
Như vậy trong bối cảnh CNH-HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay, việcGDDS cho HS THPT là việc làm cần thiết, là một yêu cầu khách quan, hoàntoàn đúng đắn góp phần hình thành và phát triển đạo đức, nhân cách HS
1.3.2.3 GDDS cho HS là con đường hiệu quả để giữ gìn và phát huy di sản của dân tộc
Giáo dục là chức năng của văn hóa, HĐGDDS giúp cho việc chuyểngiao, bảo tồn và phát triển các hệ thống giá trị di sản của dân tộc như nhữngthủ tục, luật tục, phong tục, tập quán… hay những giá trị tốt đẹp của dân tộc sẽđược lưu truyền qua các thế hệ, trở thành một đặc trưng, mang đậm bản sắccủa dân tộc, của quốc gia, khác biệt và nổi trội với các nước trên thế giới
Nhờ có giáo dục với tính chất là phương tiện và con đường giáo dục làphương pháp hiệu quả nhất để những giá trị tốt đẹp của di sản được phát huy
Trang 331.3.3 Nguyên tắc GDDS cho HS ở trường THPT
Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích của hoạt động giáo dục: HĐGDDSphải hướng tới đảm bảo mục đích là giáo dục thế hệ trẻ am hiểu về di sản vàgiá trị di sản của dân tộc, từ đó có hành vi bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trịtốt đẹp của di sản
Nguyên tắc kết hợp vai trò lãnh đạo của Đảng và sức mạnh của các đoànthể trong công tác GDDS cho HS: quá trình tổ chức các HĐGDDS cho HSTHPT phải căn cứ vào những định hướng của Đảng và Nhà nước về giáo dục,phát triển văn hóa trong thời kỳ CNH-HĐH, đồng thời phải kết hợp sức mạnhcủa các tổ chức đoàn thể, để từ đó xây dựng và tổ chức các HĐGD phù hợpnhằm thực hiện mục tiêu hình thành, định hướng hành vi của HS với các giá trị
di sản của dân tộc
Nguyên tắc đảm bảo HĐGD gắn liền với cuộc sống, với lao động:HĐGDDS phải gắn liền với cuộc sống với các phong tục tập quán, sinh hoạt,lao động của người dân vùng lãnh thổ, dân tộc, với các nghề thủ công truyềnthống của vùng ven biển, vùng núi Đông Bắc của tổ quốc
Nguyên tắc đảm bảo sự kết hợp thống nhất giữa HĐGD của GV và tựgiáo dục của HS: để đạt hiệu quả giáo dục cao, trong quá trình giáo dục, người
GV với tư cách là nhà giáo dục phải có năng lực tổ chức, điều khiển HĐGD, cóphương pháp nghệ thuật sư phạm, lập kế hoạch, tổ chức các hoạt động GDDS
Và người HS, với tư cách là chủ thể tự giáo dục phải tự giác, tích cực tham giavào HĐGD, tự lập kế hoạch, tự tổ chức, tự thực hiện, phát huy vai trò tráchnhiệm trong việc nâng cao nhận thức, tiếp nhận các giá trị di sản
Nguyên tắc tính đến các đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm cá biệt của HS:nguyên tắc này đòi hỏi nội dung và hình thức HĐGDDS phải được thay đổiphù hợp với lứa tuổi THPT khác biệt so với các lứa tuổi HS khác Nhà trường,19
Trang 34GV phải xác định các loại hình hoạt động và các hình thức, cách thức GDDSsao cho phù hợp với khả năng của lứa tuổi và hứng thú cá nhân của HS THPT.
Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa giáo dục nhà trường, giáo dụcgia đình và giáo dục xã hội: nhà trường có vai trò quan trọng nhất trong việcGDDS cho học sinh, tuy nhiên phải kết hợp, thống nhất với gia đình và các tổchức khác trong việc GDDS như: Đoàn thanh niên, ngành VHTTDL, Ban quản
lý các di tích trọng điểm, Bảo tàng, Ban quản lý khu di tích lịch sử… Mối kếthợp này vô cùng quan trọng, không thể thiếu trong quá trình GDDS cho HS
1.3.4 Nội dung GDDS cho HS ở trường THPT
Trong khuôn khổ vấn đề nghiên cứu, chúng tôi tập trung nghiên cứu 5nội dung GDDS cho HS cụ thể như sau:
đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích cònmang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn cónếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh
tế đất nước và nó càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối
đa nguồn nội lực để phát triển
Giáo dục về các di tích lịch sử - văn hóa giúp HS được cảm nhận một cáchchân thực về lịch sử, những cảm nhận không dễ có được khi chỉ đọc những tưliệu ghi chép của đời sau, giúp HS hiểu được được cội nguồn của dân tộc mình,hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước và từ đó
Trang 35có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Namhiện đại.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi tập trung giáo dục những
di tích lịch sử mang nét đặc trưng vùng lãnh thổ của các tỉnh ven biển thuộcvùng duyên hải Bắc Bộ để HS dễ dàng cho việc sử dụng di sản và nhận thứcmột cách thiết thực về văn hóa của chính vùng lãnh thổ, vùng dân tộc của địaphương mình, cụ thể: những công trình kiến trúc, điêu khắc có ý nghĩa lớn cả
về lịch sử, xã hội và nghệ thuật có bề dày lịch sử hàng nghìn năm ở Thái Bình,Nam Định, Ninh Bình với các di tích như Cố Đô Hoa Lư, chùa Bái Đính, chùaĐịch Lộng, phòng tuyến Tam Điệp, đền Trần, di tích thờ vua Đinh Tiên Hoànggồm Đền Vua Đinh (Yên Thắng), đền Thượng, đình Thượng Đồng, đình CátĐằng ở Yên Tiến, Ý Yên và đền Vua Đinh ở làng việt cổ Bách Cốc, Vụ Bản
…; ở Quảng Ninh - Hải Phòng với các di tích như: Vân Đồn, Yên Tử, Khu ditích Côn Sơn - Kiếp Bạc, Sông Bạch Đằng…
1.3.4.2 Tập quán xã hội: luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác
Phong tục là thói quen sinh hoạt và cách sống lâu ngày đã ăn sâu vào đờisống xã hội hay toàn bộ hoạt động sống của con người hình thành trong tiếntrình lịch sử có tính ổn định được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,được cộng đồng thừa nhận và tuân theo một cách tự giác Tập quán là nhữngquy tắc xử sự được hình thành một cách tự phát lâu ngày thành thói quen trongđời sống xã hội hoặc giao lưu quốc tế, đang tồn tại và được các chủ thể thừanhận như là quy tắc xử sự chung Hương ước là một hệ thống các lệ làng, luậttục, là công cụ để điều chỉnh các mối quan hệ trong cộng đồng, làng xã, là bảnghi chép các điều lệ liên quan đến tổ chức xã hội, cũng như các đời sống xã hộitrong làng, các điều kiện hình thành dần trong lịch sử, được điều chỉnh và bổsung mỗi khi cần thiết…
21
Trang 36Giáo dục HS về tập quán xã hội: luật tục, hương ước, chuẩn mực đạođức, nghi lễ và phong tục là giáo dục cho HS am hiểu những nghi lễ, nhữngthói quen sinh hoạt, những quy tắc ứng xử lâu ngày, những tập quán tốt đẹp củangười Việt Nam được truyền từ đời này, sang đời khác, giáo dục HS về nguồngốc, cội nguồn, cổ truyền của dân tộc Qua đó góp phần việc bảo tồn, giữ gìn
và phát huy những giá trị tốt đẹp cổ truyền và giáo dục HS có hành vi, lối sốngphù hợp với đạo đức, phong tục, tập quán của người Việt
Tập trung giáo dục những luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi
lễ và các phong tục của các tỉnh ven biển thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ như:các phong tục liên quan đến vòng đời của con người như phong tục về sinh đẻ,trưởng thành, mừng thọ, lên lão…, hệ thống phong tục liên quan đến hoạt độngcủa con người theo chu kỳ thời tiết trong năm, hệ thống phong tục liên quanđến chu kỳ lao động của con người…; những tập quán như thờ cúng, giỗchạp…; những nghi lễ thờ cúng tổ tiên, nghi lễ cưới hỏi…; những chuẩn mựcđạo đức: mối quan hệ thầy - trò, chồng - vợ, cha - con …
1.3.4.3 Danh lam thắng cảnh
Danh lam thắng cảnh (còn gọi là di sản thiên nhiên) là những khu vực
thiên nhiên có cảnh đẹp hoặc có công trình xây dựng cổ đẹp, nổi tiếng
Giáo dục cho HS về danh lam thắng cảnh là cung cấp cho HS những hiểubiết về những cảnh đẹp thiên nhiên, những công trình xây dựng đẹp nổi tiếngcủa Việt Nam, từ đó nâng cao nhận thức, định hướng hành vi của HS bảo tồn,giữ gìn những di sản thiên nhiên tốt đẹp của dân tộc
Tập trung giáo dục những danh lam thắng cảnh hay còn gọi là di sảnthiên nhiên của các tỉnh ven biển thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ, cụ thể như:Cúc Phương, Tam Cốc, Bích Động, Tràng An…; các bãi biển nổi tiếng Đồ Sơn,Cát Bà, Hải Thịnh, Quất Lâm, Đồng Châu, bãi tắm Vân Đồn, Cô Tô, Vịnh
Trang 37Hạ Long được Unesco công nhận di sản thiên nhiên thế giới, vườn quốc giaPhong Nha - Kẻ Bảng…
1.3.4.4 Lễ hội truyền thống
Lễ hội truyền thống của Việt Nam là sự kiện văn hóa được tổ chức mangtính cộng đồng "Lễ" là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sựtôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng củacon người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện "Hội"
là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầucuộc sống
Việt Nam là một quốc gia đã có hàng nghìn năm lịch sử Cũng như nhiềuquốc gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc riêng.Chính những nét đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc của dân tộc Việt Nam
Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian hầu như có mặt ở khắp mọi miền đất nước.Nhiều lễ hội ra đời cách đây hàng nghìn năm đến nay vẫn được duy trì Lễ hội ởViệt Nam bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn là nhânthần hay nhiên thần Đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhấtcủa con người Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thường diễn ra vào mùa Xuân và
số ít vào mùa Thu là hai mùa đẹp nhất trong năm, đồng thời cũng là lúc nhà nông
có thời gian nhàn rỗi Lễ hội là dịp con người được giải toả, dãi bày phiền muộn,
lo âu với thần linh, mong được thần giúp đỡ, chở che đặng vượt qua những thửthách đến với ngày mai tươi sáng hơn Lễ hội thể hiện sức mạnh cộng đồng làng
xã, địa phương hay rộng hơn là quốc gia dân tộc Họ thờ chung vị thần, có chungmục tiêu đoàn kết để vượt qua gian khó, giành cuộc sống ấm no, hạnh phúc Lễhội cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá vật chất và tinhthần của mọi tầng lớp dân cư; là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệsau biết giữ gìn, kế thừa và phát huy
23
Trang 38những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp giữa yếu tố tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí
Giáo dục cho HS về lễ hội truyền thống để HS thêm hiểu, yêu những giátrị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng con người xã hội mới luôn nhớ
về cội nguồn, hướng thiện và nhằm tạo dựng một cuộc sống tốt lành, yên vui
Tập trung giáo dục những lễ hội truyền thống đặc trưng của vùng venbiển thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ như: lễ hội gắn với sinh hoạt văn hóa củangười dân (Hội Lim, Hội Ó), lễ hội đền Cửa Ông, lễ hội văn hóa dân tộc SánChỉ, lễ hội Đình Trà Cổ tại Móng Cái, lễ Cầu mùa của người Sán Chay ở huyệnTiên Yên - Quảng Ninh, ngày lễ tết cổ truyền, lễ Vu Lan, Trung thu, Lễ hội ĐềnHùng (ngày giỗ tổ Hùng Vương)
1.3.4.5 Nghề thủ công truyền thống
Nghề thủ công Việt Nam vốn có truyền thống từ lâu đời Truyền thống
đó gắn liền với nền văn minh lúa nước, gắn với những tên làng nghề, phố nghề
và được biểu hiện bằng những sản phẩm thủ công với những nét độc đáo, tinhxảo, hoàn mỹ Nghề thủ công không chỉ đem lại lợi ích về kinh tế, mà còn chứađựng nhiều phong tục tập quán, những nét đẹp văn hoá truyền thống làng quêViệt Nam
Các làng nghề truyền thống ở Việt nam tập trung chủ yếu ở châu thổsông Hồng, tại Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định…rồi phát triển theochiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước Trước đây kinh tế của người Việt cổchủ yếu sống dựa vào việc trồng lúa, bởi vậy ngoài công việc đồng áng, nhữnglúc nông nhàn, nhà nông thường tranh thủ làm ra các đồ dùng bằng mây, trehay làm dụng cụ bằng sắt, bằng đồng phục vụ sinh hoạt sản xuất Trải qua thờigian, các ngành nghề thủ công phát triển theo quy mô gia đình rồi dần hìnhthành nên những phường nghề, làng nghề thủ công chuyên sâu một nghề Có
Trang 39làng chuyên làm nghề gốm, làm nghề dệt chiếu, dệt lụa, làng chạm gỗ, làngchạm khắc, đúc đồ đồng…
Giáo dục về nghề thủ công truyền thống giúp HS biết sự vất vả củanhững người nông dân làm nghề thủ công, hiểu những sản phẩm đặc trưng củatừng địa phương, thêm yêu quý những giá trị di sản của đất nước
Tập trung giáo dục các nghề thủ công truyền thống gắn với vùng miềnnúi đông bắc, vùng văn hóa biển: gốm Phù Lãng (Quế Võ - Bắc Ninh), HươngCanh (Bình Xuyên - Vĩnh Phúc); rèn Đa Hội (Từ Sơn - Bắc Ninh), Nga Hoàng(Quế Võ - Bắc Ninh); sơn Đình Bảng (Từ Sơn - Bắc Ninh); dệt Hữu Bằng,chạm khắc gỗ ở Phù Khê, Đồng Kỵ (Từ Sơn - Bắc Ninh), Chàng Sơn (ThạchThất - Hà Nội); chạm khắc đá Tràng Kênh (Thủy Nguyên - Hải Phòng), đánhbắt ven biển ở những vùng biển của Quảng Ninh, trồng lúa trên những ruộngbậc thang…
1.3.5 Nhà giáo dục trong hoạt động GDDS cho HS THPT
Trong nhà trường nhà giáo dục là lực lượng chủ lực để thực hiện cácnhiệm vụ đề ra Vai trò của nhà giáo dục được Nghị quyết TW2 khóa VIIIkhẳng định: “Nhà giáo dục là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được
xã hội tôn vinh, giáo dục phải có đủ đức, tài”
Để nhà giáo dục thực sự có phẩm chất đạo đức, có trình độ chuyên môntốt, nghiệp vụ vững vàng, hiệu trưởng phải quan tâm thường xuyên tới việcbồi dưỡng đội ngũ GV cả về chính trị và về chuyên môn
Trong hoạt động GDDS cho HS, nhà giáo dục là người lập kế hoạch; tổchức các HĐGD, thường xuyên kiểm tra, đánh giá quá trình GDDS, chủ động
tổ chức phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường đểGDDS cho HS
1.3.6 HS trong hoạt động GDDS ở trường THPT
25
Trang 40GDDS có vai trò rất lớn nâng cao hiểu biết của HS về các giá trị di sản,văn hóa của dân tộc, tạo điều kiện để HS phát huy được tính tích cực, sáng tạocủa HS trong học tập, phát triển tư duy độc lập sáng tạo… Ở chiều ngược lại,chính từ tính tích cực của HS lại có vai trò là nhân tố chính, là điều kiện quantrọng để xây dựng và phát triển HĐGDDS Phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, tạo hứng thú của HS, ảnh hưởng đến hiệu quả GDDS HS vừa là kháchthể tác động giáo dục của các nhà giáo dục trong hoạt động GDDS vừa là chủthể của hoạt động tự giáo dục, là người quyết định trực tiếp kết quả HĐGDDS;
là động lực để GV đổi mới phương pháp, tăng cường các hoạt động và hìnhthức GDDS trong các nhà trường
1.3.7 Phương pháp GDDS cho HS ở trường THPT
Có nhiều phương pháp GDDS khác nhau, nhưng có thể phân thành banhóm chính sau:
- Nhóm phương pháp hình thành ý thức cá nhân:
+ Phương pháp giảng giải là phương pháp trong đó nhà giáo dục dùnglời nói chân tình để khuyên bảo, giải thích, minh họa, phân tích làm sáng tỏkhái niệm và những nội dung của di sản như di tích lịch sử, lễ hội truyền thống,ngành nghề thủ công, tập quán, phong tục của dân tộc
+ Phương pháp đàm thoại: là phương pháp nhà giáo dục tổ chức các cuộctrao đổi, thảo luận, tranh luận về một chủ đề nhất định nào đó liên quan đến di
sản như danh lam thắng cảnh, những phong tục cổ truyền của dân tộc Việcđàm thoại có thể diễn ra giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục, giữa cácthành viên trong nhóm, trong tập thể học sinh…
Như vậy, các phương pháp thuyết phục nhằm hình thành ý thức cá nhâncho HS có tác dụng giúp cho HS có những hiểu biết cần thiết về những giá trịcủa di sản qua đó hình thành tình cảm, niềm tin và hành vi giữ gìn những giá trị
di sản