Mục tiêu của đề tài là làm rõ những lý luận chung về quản trị rủi ro ngoại hối, phương pháp xác định, đo lường và kiểm soát rủi ro ngoại hối; nghiên cứu những rủi ro thực tế xảy ra và thực trạng quản trị rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh ngoại hối... Mời các bạn cùng tham khảo.
TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Rủi ro ngoại hối trong hoạt động của NHTM
1.1.1 Khái niệm rủi ro ngoại hối
Rủi ro ngoại hối là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá ngoại tệ và giá vàng làm ảnh hưởng xấu đến giá trị kỳ vọng trong tương lai Có hai nguyên nhân chính gây nên rủi ro tỷ giá ngoại tệ và giá vàng: (1) các ngân hàng giao dịch các đồng tiền nước ngoài, vàng nhằm phục vụ cho khách hàng và cho chính ngân hàng mình; (2) các ngân hàng đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằng ngoại tệ Cả hai nguyên nhân này tạo ra một xu hướng trạng thái ngoại hối ròng (long hoặc short) trong mua bán ngoại hối và tron cơ cấu tài sản bằng ngoại tệ Nếu tỷ giá ngoại tệ và giá vàng biến động càng mạnh thì rủi ro ngoại hối sẽ càng lớn
1.1.2 Các nhân tố tác động đến rủi ro ngoại hối tại các NHTM
Các nhân tố tác động đến rủi ro trong KDNH của các NHTM được chia ra làm hai nhóm, bao gồm nhóm các nhân tố tác động chung và nhóm các nhân tố tác động riêng:
Nhóm các nhân tố tác động chung gồm nhóm các yếu tố tác động từ môi trường kinh tế - chính trị - xã hội của các nước trên thế giới gọi là nhóm các yếu tố bên ngoài và nhóm các yếu tố chủ yếu từ môi trường kinh tế trong nước
Nhóm các nhân tố tác động riêng là các yếu tố gây ra rủi ro cho KDNH của các NHTM xuất phát từ hoạt động của các ngân hàng
1.1.3 Các nhân tố tác động chung
Bao gồm các nhân tố đến từ ngoài nền kinh tế và các nhân tố bên trong nền kinh tế Các nhân tố đến từ ngoài nền kinh tế là các yếu tố chủ yếu thuộc các lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội của các nước trên thế giới có ảnh hưởng đến nền kinh tế của một Quốc gia nói chung và hoạt động KDNH nói riêng Mức độ tác động này có thể tùy theo độ mở cửa của từng nền kinh tế khác nhau Tuy nhiên qua các năm, mức độ ảnh hưởng của sự biến động của các nền kinh tế trên thế giới sẽ tác động ngay đến các hoạt động của nền kinh tế của một Quốc gia theo chính sách mở cửa của Quốc gia đó
Các nhân tố đến từ bên trong nền kinh tế là các yếu tố tác động từ nội tại của nền kinh tế ở một Quốc gia, trong đó chủ yếu bao gồm: lạm phát, thâm hụt cán cân thương mại, tình trạng đôla hóa nền kinh tế, trạng thái ngoại tệ, cơ chế điều hành tỷ giá và các hợp đồng giao dịch phái sinh ngoại hối
Quan hệ giữa lạm phát và tỷ giá hối đoái không phải là quan hệ một chiều mà là quan hệ vòng, tác động qua lại lẫn nhau, không thể coi yếu tố này là nguyên nhân và yếu tố kia là kết quả Điều đó có thể tạo ra các thiệt hại tài chính lớn hơn nhiều do “vòng xoáy” lạm phát - tỷ giá gây ra Giá trị tiền đồng giảm sẽ làm tăng giá hàng nhập khẩu và tạo thêm áp lực lên CPI, rồi từ CPI lên cao trở lại sẽ gây áp lực mặt bằng lãi suất cao và làm tiền đồng thêm mất giá Bên cạnh đó, mức chênh lệch lạm phát của hai nước cũng ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá Giả sử trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, năng suất lao động của hai nước tương đương như nhau, cơ chế quản lý ngoại hối tự do, khi đó tỷ giá biến động phụ thuộc vào mức chênh lệch lạm phát của hai đồng tiền Nước nào có mức độ lạm phát lớn hơn thì đồng tiền của nước đó bị mất giá so với đồng tiền nước còn lại
Chênh lệch lạm phát dựa vào thuyết ngang giá sức mua của hai đồng tiền PPP (Purchasing Power Parity Theory) Theo thuyết này, mức giá của một nước tăng lên tương đối so với mức tăng giá của nước khác trong dài hạn sẽ làm cho đồng tiền của nước đó giảm giá và ngược lại Như vậy, yếu tố chênh lệch lạm phát chỉ có ảnh hưởng đến biến động của tỷ giá trong dài hạn Việc nghiên cứu yếu tố này để làm cơ sở dự đoán biến động của tỷ giá trong ngắn hạn sẽ đem lại kết quả không đáng tin cậy
Một nền kinh tế sẽ vận hành tốt và hiệu quả hơn khi xét về tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế, về việc làm, và về cải thiện đời sống nhân dân, nếu tỷ lệ lạm phát thấp và được duy trì ổn định ở mức đó Bởi vì, kỳ vọng lạm phát sẽ khiến hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế trở nên không ổn định Có thể nói, mọi động thái bất thường và bất hợp lý của chỉ số lạm phát đều để lại những hiệu quả tiêu cực cho nền kinh tế, tạo ra nhiều rủi ro cho các hoạt động trên thị trường ngoại hối Lạm phát đồng nghĩa với đồng tiền giảm giá trị là những tin tức tiêu cực đối với hầu hết người dân, các tổ chức kinh tế Lạm phát bóp méo giá cả, giảm độ tin cậy vào đồng tiền của Quốc gia đó, tăng cầu về ngoại tệ (đặc biệt là USD), không khuyến khích đầu tư, đầu tư vào vàng, hạn chế tăng trưởng kinh tế và tới cực điểm nó có thể gây ra những bất ổn về mặt xã hội và chính trị
Cho nên, lạm phát tại một Quốc gia tạo ra tỷ giá của USD hay một ngoại tệ khác với đồng tiền của Quốc gia đó thường có xu hướng tăng và nhu cầu đầu tư vào vàng nhằm làm nơi trú ẩn an toàn ngày càng tăng cao và làm cho giá vàng trong nước thường cao hơn giá vàng thế giới Từ đó, những biến động trên dễ tạo ra nhiều rủi ro cho hoạt động KDNH của các NHTM, đặc biệt đối với một nền kinh tế chưa liên thông đầy đủ với các nền kinh tế trên thế giới như tại Việt nam
1.1.3.2 Thâm hụt cán cân thương mại
Nhập siêu hay tình trạng thâm hụt cán cân thương mại là sự mất cân đối giữa nhập khẩu và xuất khẩu trong điều kiện nhập khẩu vượt quá xuất khẩu Nếu tình trạng này duy trì trong dài hạn và vượt quá mức độ cho phép có thể ảnh hưởng tới cán cân tài khoản vãng lai và gây nên những biến động bất lợi đối với nền kinh tế như gia tăng tình trạng nợ quốc tế, hạn chế khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, tác động tiêu cực đến thu nhập và việc làm và ở mức trầm trọng hơn có thể gây nên khủng hoảng tài chính tiền tệ
Cán cân thương mại cung cấp những thông tin liên quan đến cung cầu tiền tệ của một quốc gia, cụ thể là thể hiện sự thay đổi tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ so với ngoại tệ Khi một nước nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, nghĩa là cung đồng tiền quốc gia đó có khuynh hướng vượt cầu trên thị trường ngoại hối nếu các yếu tố khác không thay đổi Và như vậy có thể suy đoán rằng đồng tiền nội tệ của nước đó sẽ bị sức ép giảm giá so với các đồng tiền khác Khi đồng tiền của một quốc gia giảm giá, sẽ làm tăng giá trị nhập khẩu tính bằng đồng tiền nước này Với cùng một số tiền không đổi chi cho nhập khẩu, khi giá tăng thì khối lượng nhập khẩu sẽ phải giảm, tuy số lượng nhập khẩu giảm, nhưng giá trị nhập khẩu có thể tăng Sau khi đồng tiền giảm giá, chi tiêu bằng đồng nội tệ cho nhập khẩu có thể tăng, song do giá xuất khẩu tính bằng ngoại tệ giảm đă kích thích tăng khối lượng xuất khẩu, do đó không làm cho cán cân thương mại xấu đi
Như vậy, nhập siêu có tác động nhất định tới tỷ giá hối đoái, làm đồng tiền nội tệ của một nước có khuynh hướng giảm giá, tuy nhiên trong dài hạn sự giảm giá của đồng nội tệ không có tác động xấu tới cán cân thương mại, do có tác dụng kích thích sản xuất hàng thay thế nhập khẩu và hàng xuất khẩu
Ngoài ra, nhập siêu ở mức cao, kéo dài gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế và điều hành chính sách tiền tệ, thể hiện qua các đặc điểm cụ thể sau:
Thứ nhất , nhập khẩu lạm phát gây khó khăn cho việc điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm đạt được các mục tiêu tăng trưởng và kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường ngoại hối Mặc dù vậy, cơ cấu đầu vào sản xuất theo nguồn của nước ta cho thấy nhập khẩu có tác động không nhỏ tới giá cả trong nước Với những đặc điểm như vậy, giá cả nhập khẩu sẽ tác động mạnh tới chi phí sản xuất của nhiều ngành sản xuất, gây áp lực tới giá bán và giá sản phẩm tiêu dùng cuối cùng Trong điều kiện nhập khẩu chủ yếu phục vụ sản xuất hay nói cách khác là hỗ trợ tăng trưởng, việc điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát nhập khẩu trong trường hợp có dấu hiệu của nhập khẩu lạm phát nhằm ổn định giá cả và duy trì tăng trưởng là không dễ dàng
Thứ hai , nhập siêu gây bất ổn cán cân thanh toán tổng thể, từ đó tạo áp lực tới cung cầu ngoại tệ và tỷ giá
Thứ ba, nhập siêu tạo áp lực suy giảm dự trữ ngoại hối
Thứ tư, thâm hụt cán cân thương mại tạo ra sự giảm lòng tin của người dân vào đồng tiền của một Quốc gia, tăng cầu về USD hay một ngoại tệ khác và tăng đầu tư vào vàng nhằm bảo tồn giá trị
Quản trị rủi ro ngoại hối tại NHTM
1.2.1 Sự cần thiết của quản trị rủi ro ngoại hối
Quản trị rủi ro ngoại hối với nội dung chính là quản trị rủi ro kinh doanh ngoại tệ có vai trò tối đa hóa thu nhập ròng hoặc tài sản ròng của mỗi ngân hàng tương ứng với mức độ chấp nhận rủi ro, đảm bảo các giới hạn an toàn trong hoạt động của ngân hàng, kiểm soát rủi ro tỷ giá theo quy định , xác định, hệ thống nội dung quản trị rủi ro tỷ giá nhằm nhận diện, đo lường, đánh giá, giám sát và giảm thiểu rủi ro tỷ giá trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, hạn chế mức độ tổn thất giá trị tài sản ròng của ngân hàng trước biến động tỷ giá trong quá trình hoạt động kinh doanh, phân rõ quyền hạn và trách nhiệm của cá nhân, đơn vị trong quá trình quản trị rủi ro ngoại hối
1.2.2 Mô hình quản trị rủi ro ngoại hối
1.2.2.1 Mô hình quản trị rủi ro tập trung
Các ngân hàng trên thế giới đều có rất nhiều điểm giao dịch tại nhiều quốc gia trên thế giới bao gồm các chi nhánh và các điểm giao dịch Tuy nhiên, đa số các ngân hàng đề có xu hướng tập trung hoạt động KDNH về một hoặc một số đầu mối tại mỗi quốc gia để giảm chi phí quản lý, đào tạo và tập trung các luồng tiền Thông qua việc tập trung các giao dịch KDNH vào một đầu não chính, công tác quản trị rủi ro cũng sẽ được tập trung và một đầu mối Ưu điểm của mô hình này:
- Ngân hàng dễ dàng tổ chức một bộ máy KDNH đầy đủ và một hệ thống quản trị rủi ro hiệu quả, bao gồm những bộ phận cần thiết trong quá trình hoạt động
- Xây dựng chính sách quản trị rủi ro ngoại hối thống nhất Thiết lập và duy trì môi trường quản trị rủi ro đồng bộ Hoạt động quản trị rủi ro xuyên suốt và không có sự chồng chéo lẫn nhau
- Truy cập thông tin nhanh và chính xác để phục vụ công tác kiểm tra, kiểm soát
Nhược điểm của mô hình này là: Khi đầu não chính gặp sự cố không thế giao dịch được thì cả hệ thống sẽ bị ảnh hưởng
1.2.2.2 Mô hình quản trị rủi ro phân tán
Hoạt động KDNH được tiến hành tại nhiều điểm giao dịch trong cùng một hệ thống ngân hàng tại một hay nhiều quốc gia Khi đó quản trị rủi ro sẽ được thực hiện trên tất cả các điểm giao dịch có hoạt động KDNH Ưu điểm của mô hình này là: Các điểm giao dịch ít ảnh hưởng đến nhau Nếu một điểm giao dịch gặp sự cố không thế giao dịch được, thì các điểm giao dịch khác vẫn không bị ảnh hưởng
Nhược điểm của mô hình này là:
- Tất cả các điểm giao dịch cùng thực hiện công việc KDNH và quản trị rủi ro KDNH như nhau nên không tối ưu được nguồn lực
- Tốn nhiều chi phí để tổ chức một bộ máy KDNH và quản trị rủi ro đầy đủ ở tất cả các điểm giao dịch.
Các biện pháp quản trị rủi ro ngoại hối tại NHTM
1.3.1 Sử dụng các giới hạn trạng thái ngoại hối giao dịch qua đêm
Hạn mức (position limits) là giới hạn trạng thái ngoại hối tối đa mà mỗi nhóm, cá nhân KDNH được phép thực hiện Tùy theo kinh nghiệm, trình độ, mục đích kinh doanh, năng lực tài chính và trang thiết bị mà hạn mức giữa các tổ chức, giữa các nhân viên kinh doanh là không giống nhau Việc quản lý hạn mức kinh doanh tại một NHTM có thể căn cứ vào một số tiêu chí như sau:
Hạn mức chung cho cả phòng kinh doanh, trên cơ sở đó phân bổ hạn mức cho từng nhà kinh doanh cụ thể Nguyên tắc phân bổ hạn mức cho từng nhà kinh doanh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thâm niên và năng lực kinh doanh trên thị trường ngoại hối Những nhà kinh doanh chuyên nghiệp, có thâm niên, đã gặt hái được nhiều thành công thường là những nhà kinh doanh chính (chief dealer) được giao hạn mức cao hơn rất nhiều so với những nhân viên kinh doanh vừa vào nghề
Hạn mức theo các đồng tiền kinh doanh: Ngoài việc quy định tổng hạn mức chung, đối với những nhóm và cá nhân kinh doanh liên quan đến nhiều đồng tiền, thì việc quy định hạn mức kinh doanh đối với mỗi đồng tiền là cần thiết Những đồng tiền ít biến động thì hạn mức có thể cao, còn những đồng tiền biến động mạnh thì hạn mức thấp hơn
Hạn mức cho các loại nghiệp vụ cụ thể, ví dụ hạn mức cho từng nghiệp vụ giao ngay, kỳ hạn, tương lai, hoán đổi và quyền chọn Phương pháp quản lý và đánh giá đối với một số trạng thái chính như sau:
Do đặc thù của thị trường giao ngay là chịu sự tác động bởi các yếu tố ngắn hạn lên tỷ giá Những tin đồn, những cuộc giao dịch lớn, can thiệp của NHTW, những biến cố bất ngờ xảy ra, đều có thể ảnh hưởng nhanh chóng và mạnh mẽ lên sự biến động tỷ giá Những biến động đến ngạc nhiên của tỷ giá chỉ diễn ra trong vài phút, do đó, nhà kinh doanh phải nhanh chóng và thường xuyên thay đổi trạng thái kinh doanh để chớp cơ hội kiếm lãi hoặc thoát khỏi rủi ro
Tại bất kỳ thời điểm nào, nếu nhà kinh doanh duy trì trạng thái giao ngay (trạng thái mở) đều phải chịu rủi ro tỷ giá Tỷ giá biến động càng mạnh thì rủi ro càng lớn Để quản lý tiềm năng thu lãi và tiềm ẩn lỗ vốn, người ta sử dụng kỹ thuật định giá cuối mỗi ngày giao dịch Căn cứ vào trạng thái cuối ngày, từng nhà kinh doanh phải định giá kết quả kinh doanh của chính mình theo tỷ giá đóng cửa của ngày giao dịch Kết quả này phải được báo cáo cho nhà kinh doanh chính và lãnh đạo phòng KDNH
Trên thị trường liên Ngân hàng, các giao dịch kỳ hạn thường thuộc loại Spot - Forward Swap, nghĩa là mỗi giao dịch gồm hai vế là: vế giao ngay áp dụng tỷ giá giao ngay, còn vế kỳ hạn áp dụng tỷ giá kỳ hạn, và hai vế có ngày giá trị khác nhau
Do đó, trạng thái ròng của giao dịch kỳ hạn phụ thuộc vào độ lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay Tỷ giá kỳ hạn được hình thành trên cơ sở chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền Trong điều kiện bình thường, các mức lãi suất tiền tệ là ổn định, làm cho các điểm kỳ hạn biến động cũng ít Lãi suất không tăng lên nhanh chóng rồi sau đó lại giảm xuống nhanh chóng giống như tỷ giá giao ngay Do đó, nếu nhà kinh doanh dự tính sai lầm về hướng biến động của lãi suất, thì ít có cơ hội để khắc phục thua lỗ nặng nề trong tương lai Kinh doanh kỳ hạn không thể có tốc độ nhanh như kinh doanh giao ngay Nhà kinh doanh kỳ hạn không thể thay đổi thường xuyên trạng thái kỳ hạn, mà nó thường được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định
Cũng giống như giao ngay, trạng thái kỳ hạn ròng cuối ngày cũng có thể trường hoặc đoản, bao gồm các trạng thái của tất cả các hợp đồng còn hiệu lực và có các ngày giá trị khác nhau Việc định giá kết quả kinh doanh kỳ hạn hằng ngày được tính theo phương pháp giả định rằng tất cả các hợp đồng kỳ hạn còn hiệu lực đều được thanh lý ngay lập tức theo tỷ giá kỳ hạn cuối ngày hôm đó áp dụng tương ứng cho từng kỳ hạn
Ngoài việc định giá lại hằng ngày các trạng thái kỳ hạn, để quản lý rủi ro tỷ giá tốt hơn, các nhà kinh doanh kỳ hạn còn phải duy trì hạn mức cho từng kỳ hạn cụ thể theo quy tắc kỳ hạn càng dài hạn mức càng thấp Để quản lý rủi ro các trạng thái kỳ hạn một cách vĩ mô, các NHTM còn áp dụng “Hạn mức rủi ro tỷ trọng của các trạng thái theo kỳ hạn” Thông thường các trạng thái kỳ hạn thường có các kỳ hạn khác nhau, từ một ngày đến vài năm Một trạng thái trường 12 triệu USD kỳ hạn 6 tháng sẽ có rủi ro nhiều hơn một trạng thái đoản cũng 12 triệu USD có kỳ hạn 1 tháng Trong khi đó, về mặt hình thức thì trạng thái ngoại hối kỳ ngày hôm nay của nhà kinh doanh là bằng 0, nhưng rủi ro thực tế đối với hai trạng thái này là rất khác nhau
1.3.2 Cân bằng trạng thái ngoại hối
Có hai nguyên nhân chính làm phát sinh rủi ro ngoại hối, đó là:
Ngân hàng duy trì sự không cân bằng trạng thái ngoại hối: do Ngân hàng mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng và mua bán cho chính mình, và Ngân hàng đầu tư vào tài sản có và huy động vốn bằng ngoại tệ Cả hai nguyên nhân này tạo ra một xu hướng trạng thái ngoại tệ ròng (trường hoặc đoản) đối với hầu hết các NHTM
Sự biến động của tỷ giá hối đoái Nếu Ngân hàng duy trì trạng thái trường (hoặc đoản) về ngoại tệ mà không có thay đổi về tỷ giá, Ngân hàng sẽ không gặp phải rủi ro hối đoái Nếu tỷ giá biến động càng mạnh thì rủi ro ngoại hối sẽ càng lớn và ngược lại
1.3.3 Sử dụng các kỹ thuật dự đoán tỷ giá
Kinh doanh ngoại tệ đã từ lâu chắc chắn không chỉ là một nghiệp vụ chuyên biệt của các NHTM tại Việt Nam, mà còn trở thành một kênh đầu tư, kinh doanh kiếm lợi của một bộ phận không nhỏ tổ chức hay cá nhân trong nền kinh tế Với tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, chắc chắn lĩnh vực này sẽ ngày càng phát triển mạnh thành một kênh đầu tư chính thức và quan trọng trong nền kinh tế, như đầu tư vào thị trường chứng khoán và bất động sản Chúng ta có thể phần nào nhận biết mức độ phổ biến của kênh đầu tư này qua việc hầu hết các Ngân hàng có uy tín trên thế giới đều duy trì các trang web giao dịch kinh doanh ngoại tệ qua mạng với mục đích phục vụ nhiều dạng nhà đầu tư, từ nhà đầu tư nhỏ với các tài khoản tối thiểu từ 200-300 USD cho đến các nhà đầu tư “vừa và lớn” với các tài khoản có mức ký quỹ trên 50.000 USD Trước tình hình như vậy, việc sử dụng kỹ thuật dự đoán tỷ giá là vô cùng quan trọng trong việc quản lý và phòng ngừa rủi ro trong KDNH tại các NHTM
Phương pháp được sử dụng phổ biến hiện nay là phân tích cơ bản Những người sử dụng phương pháp này dựa vào những phân tích về “những nhân tố cơ bản” như GDP, đầu tư, tiết kiệm, sản lượng, lạm phát, cán cân thanh toán,… Những phân tích này không được mô hình hóa bằng kinh tế lượng mà chỉ mang tính định tính nhằm xác định tác động của nhân tố này đến xu hướng biến động dài hạn của tỷ giá Một phương pháp khác cũng được nhiều nhà quản trị Ngân hàng sử dụng là phương pháp phân tích kỹ thuật Phương pháp này dựa trên những nguyên tắc của trường phái nghiên cứu “hành vi học trong tài chính” (behavioral finance) Theo quan điểm này, các nhà phân tích kỹ thuật có thể dự báo được những “mẫu hình” của thị trường bằng cách “đọc” các đồ thị tỷ giá Phương pháp này ra đời vào khoảng hơn một thế kỷ trước, đánh dấu bằng việc Charles Dow (1851-1902, cha đẻ của các nguyên lý cơ bản trong phân tích kỹ thuật thuộc lĩnh vực chứng khoán) sử dụng biến động giá chứng khoán trong quá khứ làm hướng dẫn cho những quyết định đầu tư Phương pháp này đã được sử dụng phổ biến trong thị trường chứng khoán và thị trường tương lai hàng hóa Kể từ thập niên 1970, phương pháp này được ứng dụng rộng rãi trong thị trường ngoại hối, đặc biệt là sau khi chế độ Bretton Wood sụp đổ khiến cho mức độ bất ổn của tỷ giá ngày một gia tăng Những nhà phân tích kỹ thuật thì tin rằng thị trường về mặt nào đó là không hiệu quả và do đó “nhân loại có thể tìm thấy tương lai trong quá khứ”
Phương pháp phân tích kỹ thuật dựa trên nền tảng những lý thuyết sau:
Lý thuyết về chu kỳ thị trường: Lý thuyết cho rằng thị trường có những xu hướng, có xu hướng chính, xu hướng hiện tại và xu hướng phụ với mức độ dài hạn và ngắn hạn khác nhau ứng với từng xu hướng Và vì có những xu hướng khác nhau như vậy nên thị trường sẽ thường xuất hiện trường hợp đảo chiều xu hướng (trend reversal) và vì vậy hình thành nên đỉnh và đáy của các đồ thị giá Nhiệm vụ của nhà phân tích kỹ thuật là phải dự đoán được khi nào xu hướng thị trường đảo chiều, đỉnh và đáy ở đâu
Kinh nghiệm quản trị rủi ro ngoại hối tại một số ngân hàng trên thế giới
1.4.1 Ngân hàng Societe Generale (Pháp)
Jerome Kerviel sinh ngày 11/01/1977 là nhân viên môi giới tài chính của ngân hàng Societe Generale, ngân hàng lớn thứ 2 của Pháp Jerome Kerviel đã thực hiện các giao dịch trái phép, giả mạo nhiều tài liệu chứng từ, cũng như mở nhiều tài khoản ảo trên thị trường chứng khoán để thực hiện các giao dịch ảo lớn hơn giá trị vốn hóa của ngân hàng Societe Generale đăng ký trên thị trường là khoảng 36 tỷ Euro, dẫn đến một khoản lỗ khổng lồ khoảng 4,9 tỷ Euro Nguyên nhân là do sự kiểm soát lỏng lẻo tại ngân hàng
Sự việc của Jerome Kerviel đã chứng tỏ tình trạng kém hiệu quả nghiêm trọng của hệ thống giám sát giao dịch trong nội bộ ngân hàng Tất cả hệ thống quản trị rủi ro và kiểm toán của Ngân hàng Societe Generale đã không phát hiện được gì trong suốt một thời gian dài Vụ bê bối tại Ngân hàng Societe Generale không những gây trở ngại cho hoạt động tài chính ở Pháp, mà còn gây tác động không nhỏ tới hệ thống ngân hàng Châu Âu
Ngân hàng Barings (Anh) được thành lập vào năm 1762 Trước khi giải thể vào năm 1995, Barings Bank là một NHTM lâu đời và có uy tín tại London
Mọi chuyện bắt nguồn từ việc một nhân viên của ngân hàng tên là Nicolas Leeson, 28 tuổi, tại chi nhánh Singapore đã gây nên khoản lỗ 827 triệu bảng Anh, tương đương 1,3 tỷ đô la do đầu cơ vào các hợp đồng tương lai
Sự việc bắt đầu tồi tệ sau vụ động đất ở Nhật Bản Chỉ số chứng khoán Nikkei tại Nhật Bản bất ngờ sụt thấp nhất trong khí Nicolas Leeson lại đặt cược lên Khi giá đi ngược chiều thì lẽ ra anh ta phải có biện pháp để dừng lỗ, nhưng Nicolas Leeson không thực hiện dừng lỗ và vẫn tiếp tục mua vào các hợp đồng Cách làm này của Nicolas Leeson chẳng khác gì hành động của một con bạc đang khát nước Nicolas Leeson đặt hết tiền vào con bài đỏ thì lại về con bài đen
Ngân hàng Barings ở London đã giao Nicolas Leeson nắm cả khâu kinh doanh lẫn khâu kiểm tra kiểm soát, để mặc cho Nicolas Leeson muốn làm gì thì làm Nicolas Leeson che giấu mọi thứ bằng một chuỗi các bản báo cáo kế toán phức tạp, với hy vọng kéo dài thời gian chờ thị trường hồi phục nhưng mọi việc đi theo hướng ngược lại Đến tháng 03/1995, mọi chuyện được đưa ra ánh sáng Thông tin được công bố đã đặt dấu chấm hết cho NHTM lâu đời và uy tín nhất London Ngân hàng Baring bị bán cho tập đoàn tài chính ING có trụ sở tại Hà Lan, với giá tượng trưng chỉ 1 bảng Anh Sự sụp đổ của ngân hàng Barings một phần do lỗi của Nicolas Leeson khi anh dự báo sai về thị trường chứng khoán nhưng lại không thực hiện dừng lỗ, để ngày càng lún sâu vào thị trường Một phần do lỗi của Ban Lãnh đạo ngân hàng Barings, đã sai lầm khi giao cho Nicolas Leeson vừa kinh doanh vừa kiểm soát, dẫn đến việc không có một bộ phận nào của ngân hàng dự báo và năng chặn rủi ro khi cần thiết
1.4.3 Bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro ngoại hối đối với các NHTM Việt Nam
Hậu quả từ những rủi ro gặp phải của những ngân hàng nêu trên là quá lớn
Rủi ro làm ngân hàng bị lỗ ngoài tầm kiểm soát và mất uy tín như ngân hàng Societe Generale, thậm chí là dẫn đến phá sản như ngân hàng Barrings Bài học quản trị rủi ro ngoại hối được rút ra từ tình hình thực tế các ngân hàng trên:
- Ngân hàng phải xây dựng quy trình hoạt động kinh doanh và quy trình này phải tách rời bộ phận kinh doanh với bộ phận kiểm tra, kiểm soát để hoạt động này được khách quan
- Bộ phận quản trị rủi ro của ngân hàng phải xây dựng các công cụ quản trị rủi ro cho từng mảng hoạt động kinh doanh của ngân hàng Bộ phận quản trị rủi ro phải thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các công cụ quản trị rủi ro trong quá trình giao dịch của bộ phận kinh doanh
- Thường xuyên nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các chuyên viên quản trị rủi ro và chuyên viên kiểm soát nội bộ
- Thiết lập hệ thống công nghệ phục vụ công tác quản trị rủi ro của ngân hàng Hệ thống quản trị rủi ro này phải phát hiện được những rủi ro đang xảy ra và tiến hành phân tích tìm ra các nguyên nhân gây rủi ro, đồng thời phải dự báo đượng những rủi ro có thể xảy ra Từ đó, bộ phận quản trị rủi ro tham mưu hướng giải quyết cho Ban Lãnh đạo của ngân hàng
- Ngân hàng phải thiết lập hạn mức giao dịch chi tiết, điểm chốt lời và dừng lỗ, hạn mức trạng thái từng loại ngoại tệ Từ đó, ngân hàng có thể kiểm soát được những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh
Trong chương 1, tác đã đã trình bày các khái niệm cơ bản về rủi ro ngoại hối, các yếu tố tác động đến rủi ro ngoại hối cũng như vai trò của quản trị rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại
Chương 1 cũng đã khái quát các biện pháp, công cụ để quản trị rủi ro ngoại hối: Sử dụng công cụ hạn mức, các công cụ phái sinh và công cụ VaR,…
Thông qua phân tích một số tình huống thực tiễn về quản trị rủi ro của các ngân hàng trên thế giới và đề xuất những bài học kinh nghiệm đối với các NHTM Việt Nam.