1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hội khuyến học thành phố hạ long tỉnh quảng ninh từ năm 2004 đến năm 2018

124 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 793,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó, tác giả muốn khẳng định vai trò của Hội Khuyến học trong nền giáo dục, kinh tế -xã hội của thành phố, nhằm xây dựng Hạ Long đạt chuẩn tỉnh văn minh, hiện đại.. Do đó, thành phố H

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THU HÀ

HỘI KHUYẾN HỌC THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THU HÀ

HỘI KHUYẾN HỌC THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và trích dẫn nguồn tài liệu rõ ràng

Thái nguyên, tháng 08 năm 2019

Người thực hiện Nguyễn Thu Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình sau đại học và viết luận văn thạc sĩ, trước tiên, tôixin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất của mình đến các thầy cô giáo trongkhoa Lịch sử - trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi nhữngkiến thức quý báu trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nghiêm Thị Hải Yến - người đãtrực tiếp hướng dẫn, định hướng chuyên môn, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôitrong suốt thời gian hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn Hội Khuyến học Tỉnh Quảng Ninh, Hội Khuyến học thành phố

Hạ Long, Phòng giáo dục và đào tạo thành phố Hạ Long, Thư viện tỉnh Quảng Ninh

và các sở ban ngành liên quan đã tích cực giúp đỡ, cung cấp cho tôi những thông tincần thiết để hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè, đã khích lệ, động viên giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Luận văn là kết quả bước đầu của quá trình nghiên cứu khoa học của tôi, nênkhông khỏi có những hạn chế, do đó tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của cácthầy cô

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2019

Tác giả Nguyễn Thu Hà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH v

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài 5

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của luận văn 6

6 Cấu trúc của luận văn 7

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HẠ LONG VÀ SỰ THÀNH LẬP HỘI KHUYẾN HỌC 8

1.1 Vài nét về thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh 8

1.2 Quá trình thành lập Hội Khuyến học thành phố Hạ Long 13

1.2.1.Cơ sở hình thành Hội khuyến học 13

1.2.2 Hội khuyến học thành phố Hạ Long 24

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29

Chương 2: HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI KHUYẾN HỌC THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH (2004 - 2018) 30

2.1 Chủ trương, nhiệm vụ và kế hoạch hành động của Hội khuyến học thành phố Hạ Long giai đoạn 2004 - 2018 30

2.2 Hoạt động khuyến học ở các phường, tổ nhân dân trên địa bàn thành phố Hạ Long 37

2.3 Hoạt động khuyến học trong các cơ quan, doanh nghiệp và các trường học 51

2.4 Hoạt động các trung tâm học tập cộng đồng tiến tới xây dựng xã hội học tập 64

Trang 6

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 70

Chương 3: NHẬN XÉT VỀ HỘI KHUYẾN HỌC THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH 71

3.1 Vai trò của Hội Khuyến học đối với phát triển của thành phố Hạ Long 71

3.1.1 Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục của thành phố Hạ Long 71

3.1.2 Phát hiện, bồi dưỡng nhân lực, nhân tài phục vụ cho công cuộc đổi mới của thành phố, của đất nước 78

3.2 Những thành tựu và khó khăn trong quá trình hoạt động của Hội khuyến học thành phố Hạ Long 83

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 91

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC

Trang 7

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng nguồn quỹ Khuyến học thành phố Hạ Long từ năm 2010 -2015 34Bảng 2.2 Thống kê số chi hội khuyến học, hội viên khuyến học ở TP Hạ Long 38Bảng 2.3: Số gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học TP Hạ Long (2007 - 2018) 50Bảng 3.1: Kết quả học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia, quốc tế của thành phố Hạ

Long 2010-2018 73Bảng 3.2: Kết quả bồi dưỡng TTHTCĐ thành phố Hạ Long từ 2010-2015 75

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam đất nước ngàn năm văn hiến Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thốnghiếu học, đó là một truyền thống vô cùng quý báu được hun đúc qua hàng nghìn nămlịch sử Nhờ truyền thống ấy, mà trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, luôn xuất hiệnnhững hiền tài, những danh nhân kiệt xuất làm rạng rỡ non sông đất nước

Trong lịch sử nước nhà, những người học rộng, tài cao luôn được tôn vinh vàcoi trọng, được tạo điều kiện phát huy hết tài năng để phục vụ đất nước, các vươngtriều phong kiến đã sớm nhận ra rằng, nhân tài luôn gắn với vận mệnh của quốc gia,

của dân tộc Các đời vua hiền đã luôn tâm niệm “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, là nguồn gốc sự hưng thịnh của đất nước.

Từ ngày có Đảng, nhất là từ khi cách mạng tháng Tám thành công, chínhquyền về tay nhân dân, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã chú trọng nâng cao dân trí,dân chủ, dân sinh Bác coi chống giặc dốt cũng khẩn thiết như chống đói, chống giặcngoại xâm Trong suốt cuộc đời cống hiến cho đất nước, cho dân tộc, trước lúc đi xaBác Hồ chỉ có một ham muốn “Ham muốn tột bậc là nước nhà được hoàn toàn độclập, dân tộc được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng đượchọc hành” Bác mong muốn “Dân tộc ta là một dân tộc thông thái” Trong Thư gửihọc sinh trong ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng

hòa tháng 9/1945, Bác viết: “Non sông Việt Nam có trở lên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn công học tập của các em” [54, tr.33] Bác gửi trọn niềm tin tương lai đất nước gắn liền với sự học hành của thế hệ trẻ Thể hiện

niềm yêu mến, tin tưởng vào khả năng và vai trò to lớn của các em trong công cuộc

xây dựng đất nước giàu mạnh Sau này, bác lại nêu một triết lý sâu sắc hơn “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [39, tr.284].

Trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay, nhận thức sâu sắc tầm quantrọng của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế đất nước Vìvậy, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện chính sách đầu tư, khuyến khích, phát triển giáodục và đào tạo Một trong những biện pháp được Đảng và Nhà nước quan tâm đó

Trang 11

là khuyến khích, động viên và tạo điều kiện phát triển rộng rãi hoạt động học tập chomọi người.

Nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, Quảng Ninh có vị trí chiến lược đặc biệtquan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh Thành phố Hạ Long là trungtâm chính trị, hành chính, kinh tế văn hóa của tỉnh, là vùng đất ẩn chứa nhiều tiềmnăng cho phát triển kinh tế - xã hội Để khai thác những tiềm năng, có lợi thế riêng,nhanh chóng hội nhập với các địa phương trên cả nước, các nước trong khu vực quốc

tế, thành phố Hạ Long cần có nguồn nhân lực có tri thức mang trong mình tình yêuquê hương, đất nước nồng nàn hết lòng phấn đấu cho sự hùng cường của dân tộc

Tỉnh Quảng Ninh đã và đang có nhiều chính sách đầu tư, quan tâm đến sựnghiệp giáo dục, không ngừng đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài và xâydựng xã hội học tập Thành phố Hạ Long đi đầu trong sự nghiệp đổi mới giáo dục,tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa Hạ Long đã trở thành điểm sáng, là nơi khởi phát những ý tưởng sángtạo đột phá, luôn đi đầu và đón trước những xu thế phát triển toàn cầu hiện nay

Công tác Khuyến học là vấn đề quan trọng được thành phố Hạ Long quan tâm đặcbiệt và ưu tiên hàng đầu nhằm khuyến khích, động viên người tài giỏi, những người cóchí hướng, tâm huyết và có khả năng đẩy nhanh sự nghiệp phát triển quê hương Là độnglực tạo nên thế hệ thanh niên vừa “hồng” vừa “chuyên”, thế hệ kế thừa xây dựng chủnghĩa xã hội theo con đường mà chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lựa chọn

Xuất phát từ thực tiễn trên, làm sáng rõ về quá trình hoạt động của HộiKhuyến học thành phố Hạ Long từ năm 2004 đến năm 2018 là một việc làm cần thiếtnhằm góp phần cung cấp thêm nguồn tài liệu tham khảo cho lịch sử địa phương Qua

đó, tác giả muốn khẳng định vai trò của Hội Khuyến học trong nền giáo dục, kinh tế

-xã hội của thành phố, nhằm xây dựng Hạ Long đạt chuẩn tỉnh văn minh, hiện đại

Với lý do, tôi quyết định chọn đề tài: “Hội Khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004 đến năm 2018” để thực hiện luận văn Thạc sĩ Lịch sử.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Để hoàn thành được nhiệm vụ nghiên cứu của mình, trước tiên tôi đã tiến hànhkhảo cứu các công trình khoa học đã được công bố liên quan trực tiếp đến nội dung vàhướng nghiên cứu của luận văn Trên cơ sở tìm hiểu nguồn tài liệu, vấn đề khuyến học

Trang 12

đã được một số tác giả nghiên cứu qua các bài viết Trong đó kể đến các công trình

sau: Năm 1998, nhà xuất bản Khoa học xã hội, xuất bản cuốn sách, Việc đào tạo và

sử dụng quan lại triều Nguyễn từ 1802 đến 1804 của tác giả Lê Thị Thanh Hòa Nội

dung cuốn sách đề cập về chính sách giáo dục và sử dụng người tài dưới triều Nguyễn

Năm 2000, nhà xuất Văn hóa thông tin đã giới thiệu bạn đọc cuốn sách, Văn bia Quốc

Tử Giám do tác giả Đỗ Văn Ninh biên soạn, giới thiệu phần dịch của các văn bia

tiến sĩ còn được lưu giữ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội Qua cuốn sách này,ngoài thông tin về những người đỗ tiến sĩ, trạng nguyên, người đọc còn thấy đượccách thức khuyến khích, trọng dụng người tài trong lịch sử phong kiến

Năm 2004, nhà xuất bản Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh đã in cuốn sách, Khuyến học của tác giả Fukuzaoa Yukichi với nội dung về chính sách Khuyến học, cũng như

công tác xây dựng tổ chức khuyến học, vai trò, ý nghĩa của hoạt động này

Năm 2006, nhà xuất bản Giáo dục giới thiệu bạn đọc cuốn sách, Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 của tác giả Nguyễn Đăng Tiến.

Nội dung cuốn sách cung cấp cho người đọc tình hình giáo dục nước nhà trước Cáchmạng, truyền thống hiếu học của dân tộc và khái quát đôi nét về hình thức khuyếnkhích người hiền tài

Năm 2006, nhà xuất bản Văn học in ấn cuốn sách Đại Việt sử ký toàn thư,

phản ánh lịch sử Nho học trong đó đề cập đến những hình thức Khuyến học, khuyếntài nhưng chưa đi sâu

Những tác phẩm của Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng và Nhà nước mangtính định hướng việc khuyến khích, động viên học sinh, sinh viên và các tầng lớpnhân dân không ngừng học tập

Năm 1993, nhà xuất bản Lao động xã hội xuất bản cuốn sách, Quảng Ninh đất

và người của tác giả Nguyễn Hồng Quân chủ biên, đã có một phần giới thiệu về con

người Hạ Long hiếu học, kiên cường trong lịch sử

Năm 2001, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh xuất bản cuốn Địa chí Quảng Ninh tập I, II, III Có một phần giới thiệu về lĩnh vực giáo dục của tỉnh Quảng Ninh,

đề cập đến truyền thống hiếu học của nhân dân trong tỉnh.

Năm 2013, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn sách, Lịch sử Đảng

Trang 13

bộ thành phố Hạ Long 1930-2010 Cuốn sách có một mục giới thiệu về vùng đất con

người và truyền thống Đây là công trình nghiên cứu lịch sử Đảng bộ nên lĩnh vựcgiáo dục không được đề cập nhiều

Năm 2013, nhà xuất bản Xã hội đã xuất bản cuốn, Văn hóa Hạ Long trên vùng đất Quảng Ninh do tác giả Trần Trọng Hà chủ biên Nội dung cuốn sách khái quát sơ

lược về văn hóa giáo dục thành phố

Báo Quảng Ninh từ năm 2004 đến 2018, số bài báo phản ánh về hoạt độngHội Khuyến học có thể kể đến như:

“Chuyện một gia đình văn hóa kiểu mẫu” của nhà báo Hoàng Nhi đăng trên

báo Quảng Ninh hàng tuần số 285 (ngày 1/7/2007), tác giả giới thiệu gia đình bác HàQuang Hợp tổ 2, khu 8 phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long có đông con cháu, aicũng ngoan ngoãn, học giỏi, thành đạt

“Điểm sáng phong trào Khuyến học khuyến tài” của tác giả Minh Thu đăng trên báo Quảng Ninh hàng tuần số 7097 (ngày 28/10/2008), khẳng định vai trò của

hoạt động Khuyến học trong sự phát triển xã hội Để lan tỏa phong trào, hội khuyếnhọc đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động tham gia công tác khuyến học

“Bí quyết từ Khuyến học” của tác giả Minh Hà đăng trên báo Quảng Ninh hàng ngày số 8292 (ngày 12/9/2012), bài viết trình bày hoạt động khuyến học khuyến

tài tại trường Tiểu học Hạ Long, thành phố Hạ Long, có tác dụng thúc đẩy phong tràohọc tập của các em học sinh

“Niềm đam mê sáng tạo ở Chuyên Hạ Long” của tác giả Như Hoa đăng trên báo Quảng Ninh hàng ngày số 8769 (ngày 4/4/2014), viết về sự say mê học tập, tự

học, nghiên cứu khoa học của các em học sinh trường Chuyên Hạ Long

“Những gia đình hiếu học tiêu biểu” tác giả Lan Anh viết đăng trên báo Quảng

Ninh hàng ngày số 9384 (ngày 6/4/2016), giới thiệu một số gương điển hình gia đìnhhiếu học, dù kinh tế khó khăn nhưng các gia đình quyết tâm nuôi con ăn học thành tài

Tuy nhiên, trên cơ sở tìm hiểu về các công trình khoa học, các ấn phẩm đã đượccông bố có nội dung liên quan đến vấn đề luận văn lựa chọn nghiên cứu, tôi thấy rằng:

Thứ nhất, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn

diện về hoạt động khuyến học khuyến tài ở thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

Thứ hai, số tài liệu tham khảo đã được in ấn, xuất bản không nhiều, nội dung tản

Trang 14

mạn vì thế để hoàn thành luận văn, tác giả xác định khai thác chủ yếu tài liệu lưu trữ tại thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh và tài liệu điền dã do tác giả trực tiếp thực hiện.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hội Khuyến học là tổ chức xã hội của thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

- Về thời gian : Phạm vi nghiên cứu của đề tài trong thời gian 15 năm từ năm

2004 - 2018 trên địa bàn thành phố Hạ Long Năm 2004 là mốc hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh được thành lập

3.3 Nhiệm vụ của đề tài

- Nguyên nhân ra đời của hội khuyến học ở thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

- Hoạt động của hội khuyến học và xây dựng xã hội học tập từ năm 2004 đếnnăm 2018

- Vai trò của hội khuyến học thành phố Hạ Long đối với sự phát triển giáo dục,kinh tế - xã hội

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Tài liệu thành văn: Các công trình khoa học như sách, báo, tạp chí, luận văn đã

được công bố liên quan đến nghiên cứu luận văn

Tài liệu lưu trữ: Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII,

IX, X, XI; các Chỉ thị và Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về vấn đề xã hội hóa

giáo dục và các vấn đề liên quan đến khuyến học Các văn bản hướng dẫn chỉ đạo củaUBND tỉnh Quảng Ninh, Ban Tuyên giáo tỉnh Quảng Ninh, được lưu trữ tại vănphòng Tỉnh ủy

Báo cáo tổng kết, hướng dẫn của UBND thành phố, phòng giáo dục và đào tạothành phố Hạ Long về hoạt động khuyến học lưu tại văn phòng Hội Khuyến họcthành phố

Báo cáo về khuyến học và xây dựng xã hội học tập ở các phường, tổ, khu

Trang 15

phố, gia đình dòng họ trong thành phố Hạ Long lưu tại văn phòng Hội Khuyến họcthành phố.

Tư liệu điền dã: Kết quả thực địa và phỏng vấn nhân chứng thuộc Hội Khuyến

học tổ khu phố trên địa bàn thành phố Hạ Long

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện luận văn tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháplogic, là hai phương pháp chủ đạo trong quá trình nghiên cứu đề tài:

Phương pháp lịch sử: Trong quá trình nghiên cứu về Hội Khuyến học thành phố Hạ Long, tác giả đã sử dụng phương pháp lịch sử nhằm phân tích, đánh giá về

hoạt động của Hội Khuyến học thành phố theo logic thời gian

Phương pháp logic: Tác giả nghiên cứu về hoạt động của Hội Khuyến học thành

phố Hạ Long từ năm 2004 đến năm 2018 Trên cơ sở phân tích thực tiễn dựa trên nguồntài liệu khoa học, tác giả khẳng định những thành tựu, chỉ ra những hạn chế và đề xuấtphương hướng trong quá trình hoạt động và phát triển của Hội Khuyến học thành phố

Phương pháp điền dã:

Tác giả đã lập phiếu điều tra, lấy ý kiến của các thành viên thuộc thuộc HộiKhuyến học thành phố để thấy được hoạt động hiệu quả các kế hoạch đã triển khai ởHội Khuyến học các cấp

Thực hiện phỏng vấn nhân chứng

Ngoài ra, tác giả còn kết hợp các phương pháp khác như: Phương pháp tổng hợp và xử lý tài liệu thống kê, phương pháp phân tích để thấy được quá trình hình thành và phát triển của hội khuyến học; Mối liên hệ giữa hội khuyến học với các ban

ngành, đoàn thể Tìm ra vai trò của hoạt động khuyến học với sự nghiệp giáo dục vàđào tạo trong sự phát triển xã hội ở thời kỳ đổi mới, để rút ra nhận xét, kết luận

5 Đóng góp của luận văn

- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách cụ thể về hoạt động khuyến học của thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

- Kết quả nghiên cứu của luận văn là kênh thông tin đóng góp đề xuất nhữnggiải pháp nhằm phát huy những thế mạnh của hội khuyến học khuyến tài phát triểntrong tương lai

Trang 16

- Luận văn là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và tìm hiểu về lịch sử địa phương.

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Khái quát về thành phố Hạ Long và sự thành lập Hội Khuyến học Chương 2 Hoạt động của Hội Khuyến học thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

(2004 - 2018)

Chương 3 Nhận xét về Hội Khuyến học ở thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

Trang 17

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HẠ LONG VÀ SỰ THÀNH LẬP

HỘI KHUYẾN HỌC

1.1 Vài nét về thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

Thành phố Hạ Long là trung tâm tỉnh Quảng Ninh, có vi trí địa lý từ 20°40’đến 21°02’ vĩ độ bắc và từ 106°55’ đến 107°13’kinh độ đông Thành phố nằm gần hai

đô thị lớn nhất miền Bắc là thủ đô Hà Nội (165km), Hải Phòng (70 km) Phía đông

Hạ Long tiếp giáp thành phố Cẩm Phả, phía tây giáp thị xã Quảng Yên, phía bắc giáphuyện Hoành Bồ, phía nam là vịnh Hạ Long

Người tiền sử đã xuất hiện trên Vịnh Hạ Long từ rất lâu Qua nhiều năm khảo

cổ, các nhà nghiên cứu kết luận rằng trong suốt tiến trình sơ sử, ba nền văn hóa mangtên Soi Nhụ - Cái Bèo - Hạ Long trên khu vực vịnh cho thấy vịnh Hạ Long và khuvực lân cận một thời từng là cái nôi văn hóa của nhân loại

Vùng đất trung tâm của thành phố ngày nay, xưa kia chỉ là một làng chài venbiển với các hòn đảo nhỏ có những bụi gai đan xen vì vậy có tên cũ là Hòn Gai - hònđảo nhiều cây gai Sau ngày thực dân Pháp chiếm đóng và mở mỏ khai thác than, phốHòn Gai hình thành, do một quan bang người Việt cai quản, nhưng thực quyền đềunằm trong tay viên Đại úy người Pháp

Ngày 19/7/1946, tạm lập tại tỉnh Quảng Yên một khu Đặc biệt gọi là Khu đặcbiệt Hòn Gai

Tháng 3/1947, Trung ương quyết định hợp nhất Khu đặc biệt Hòn Gai vớiQuảng Yên thành tỉnh Quảng Hồng

Ngày 30/10/1963, hợp nhất tỉnh Hải Ninh và Khu Quảng Hồng, lấy tên là tỉnh

Quảng Ninh (theo Nghị quyết của Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ 7)

Ngày 27/12/1993, thành lập thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh trên

cơ sở thị xã Hồng Gai (theo Nghị định số 102/NĐ-CP của Chính phủ)

Thành phố Hạ Long có diện tích hơn 650 km², trong đó diện tích đất tự nhiên là271,95 km² Địa hình đa dạng và phức tạp, là một trong những khu vực hình thành lâuđời nhất trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả đồi núi, thung lũng, vùng ven biển và hảiđảo Vùng đồi núi bao bọc phía bắc và đông bắc chiếm 70% diện tích đất của thành

Trang 18

phố, có độ cao trung bình từ 150m đến 250m, chạy dài từ Yên Lập đến Hà Tu, đỉnhcao nhất là 504m; vùng ven biển ở phía nam có quốc lộ 18A; vùng hải đảo là toàn bộvùng vịnh Thành phố trải dài và chia làm hai khu vực chính: phía đông và phía tâyngăn cách bởi eo biển Cửa Lục là cầu Bãi Cháy - một trong năm cây cầu dây văngmột mặt phẳng có khẩu độ lớn nhất thế giới Bãi Cháy xưa cũng là một hòn đảo nay

có đường biển nối với các phường phía tây Đảo Tuần Châu nằm trong Vịnh Hạ Long

có đông dân cư cũng đã có đường lối với đất liền Phía đông thành phố là trung tâmchính trị, hành chính, thương mại và công nghiệp khai thác than của tỉnh và thànhphố Phía tây là trung tâm du lịch, dịch vụ; có khu công nghiệp đóng tàu, khu sảnxuất vật liệu, cảng biển với công suất lớn, hiện đại tầm cỡ quốc gia

Hạ Long thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển, có hai mùa rõ rệt Nhiệt độtrung bình hàng năm là 23,7 °C Lượng mưa trung bình 1.832 mm, phân bố khôngđều giữa mùa hè và mùa đông, lượng mưa cao nhất vào tháng 7 và tháng 8 khoảng350mm Do nằm trong vùng biển có hàng nghìn hòn đảo đá lớn, nhỏ bao bọc, nên ởđây ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn, cấp lớn nhất có sức gió cấp 9-10

Hạ Long còn nổi tiếng với nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, đặc biệt làthan Người dân Quảng Ninh ai cũng thuộc câu ca:

“Hồng Gai than lắm, cá nhiều Bao nhiêu bể, núi, bấy nhiêu bạc vàng”

Tài nguyên rừng Vịnh Hạ Long phong phú, đa dạng gồm các loài ngập mặn,các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnhnúi hoặc mọc ở hang hay khe đá Trong đó có các loài thực vật đặc hữu, như thiêntuế, cọ, khổ cử đại nhung, móng tai, ngũ gia bì, hài vệ nữ hoa vàng

Thành phố Hạ Long nằm trong khu vực có trữ lượng than lớn nhất Việt Nam.Các mỏ than phân bố chủ yếu ở khu vực phía Bắc và Đông Bắc trên địa bàn phường

Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Tu và Hà Phong Ngoài ra, than còn phân bố trênđịa bàn các phường Việt Hưng, Đại Yên, Cao Thắng Tổng trữ lượng than hiện nayước tính khoảng 592 triệu tấn, trong đó 270 triệu tấn nằm ở vị trí thuận lợi cho khaithác, chiếm khoảng một nửa trữ lượng than có vị trí tốt của Việt Nam [17, tr.18].Ngoài than, thành phố Hạ Long còn có các nguồn khoáng sản khác, trong đó nhiều

Trang 19

nhất là đá vôi Đá vôi phần lớn nằm trên các đảo và dưới dạng các nền đá mới với trữlượng khoảng 1,3 tỷ tấn, phân bố chủ yếu ở địa bàn phường Hà Phong và phường ĐạiYên Hạ Long còn có trữ lượng đất sét khoảng 41,5 triệu m3 phân bố chủ yếu ở phườngGiếng Đáy và Hà Khẩu với chất lượng tốt dùng để sản xuất xi măng, gạch và ngói.

Các sông chính chảy qua địa phận thành phố có sông Diễn Vọng, Vũ Oai, Hốt,Man, Trới và đều đổ vào vịnh Cửa Lục, rồi chảy ra Vịnh Hạ Long Sông và suối ởđây đều nhỏ, ngắn, lưu lượng nước không nhiều Chế độ thủy triều của vùng biển HạLong, chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ nhật triều vịnh Bắc Bộ Nhiệt độ nướcbiển ở lớp bề mặt trung bình 18 °C đến 30,8°C, độ mặn nước biển trung bình 21,6%.Tài nguyên nước của thành phố tập trung tại các khu vực hồ Yên Lập với tổng dungtích gần 110 triệu m3(thời điểm đo tháng 8/2010), hồ Khe Cá tại phường Hà Tu Đây

là nguồn cung cấp nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp Nguồn nước sinhhoạt cho phía đông thành phố là từ đập Diễn Vọng và hồ Hòa Bình, phía tây thànhphố là đập Thác Nhòng trên sông Trới Ngoài ra, còn có các hồ điều hòa tạo cảnhquan cho thành phố như Yết Kiêu, Ao Cá - Kênh Đồng,…

Thành phố Hạ Long nằm dọc theo bờ Vịnh Hạ Long, bao gồm 1.969 hòn đảo lớnnhỏ với tổng diện tích 1.553 km2, từ trên cao nhìn xuống Vịnh Hạ Long như một bứctranh thủy mạc khổng lồ vô cùng sống động Đó là những tác phẩm tạo hình tuyệt mỹ, tàihoa của tạo hóa, của thiên nhiên biến hàng ngàn đảo đá vô tri tĩnh lặng trở thành nhữngtác phẩm điêu khắc, hội họa hoàn mỹ với muôn hình dáng vẻ yêu kiều, hùng vĩ, tiêu biểunhư hòn Rồng, hòn Trống Mái… Tiềm ẩn trong các đảo đá ấy là

những hang động tuyệt đẹp như động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, động Sửng Sốt…Đây thực sự là những lâu đài của tạo hóa giữa chốn trần gian được đại thi hào dân tộc

Nguyễn Trãi mệnh danh là “kỳ quan đất dựng giữa trời cao” Vịnh Hạ Long với các

giá trị thẩm mỹ và địa chất toàn cầu, Hạ Long còn mang trong mình nhiều danh lam,thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa Đây chính là nguồn tài nguyên quan trọng đểthành phố bên bờ di sản, kỳ quan thiên nhiên thế giới phát triển du lịch và thu hútnhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến với thành phố biển xinh đẹp này

Năm 1994, Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thếgiới với các giá trị thẩm mỹ nổi bật mang tầm vóc quốc tế

Trang 20

Năm 2000, Vịnh Hạ Long lần thứ hai được công nhận là di sản thiên nhiên thếgiới với các giá trị địa chất, địa mạo

Tháng 7 năm 2003, Vịnh Hạ Long được Câu lạc bộ Các vịnh đẹp nhất thế giớixếp hạng là một trong 29 vịnh đẹp nhất trên thế giới

Năm 2011, vịnh Hạ Long được bình chọn là một trong 7 kỳ quan thiên nhiênmới của thế giới

Ngoài ra, theo nhiều nhà nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế, Vịnh HạLong chứa đựng nhiều giá trị sinh học, lịch sử văn hóa

Với diện tích đất bãi triều lớn ở Cửa Lục và Yên Cư, khu vực quanh đảo TuầnChâu có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành nuôi trồng thủy hải sản, nhưtôm, cá, ngọc trai, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Ngoài ra, vịnh Hạ Long

là một vịnh kín với nhiều loài rắn biển, 950 loài cá, 500 loài động vật thân mềm và

400 loài giáp xác, trong đó có nhiều loài mang giá trị kinh tế cao như cá thu, tôm,mực, ngọc trai, bào ngư và hàu Các rạn san hô trong vịnh cũng rất phong phú với

117 loại san hô thuộc 40 họ và 12 nhóm khác nhau cùng sinh sống Vì vậy, vùng biểnngoài khơi của Vịnh Hạ Long là một trong 4 ngư truờng lớn của Việt Nam

Ngoài Vịnh Hạ Long là tài nguyên du lịch quan trọng nhất, thành phố còn cócác nguồn tài nguyên văn hóa và du lịch khác Ba tài sản văn hóa vật thể quan trọngcủa thành phố Hạ Long là quần thể núi Bài Thơ, đền thờ Đức Ông Trần Quốc Nghiễn

và chùa Lôi Âm Những tài sản văn hóa này được khách du lịch trong nước biết đếnrộng rãi

Cơ cấu kinh tế của thành phố được xác định là: Công nghiệp - du lịch, Dịch

vụ, Thương mại, Nông - lâm nghiệp và hải sản Khai thác than được xem một thếmạnh của thành phố với nhiều mỏ lớn như Hà Tu, Hà Lầm, Tân Lập, Núi Béo, lượngthan khai thác mỗi năm ước đạt trên 10 triệu tấn Gắn liền với các mỏ là các nhà máysàng tuyển, cơ khí các xí nghiệp vận tải và bến cảng Hạ Long phát triển mạnh côngnghiệp đóng tàu, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm hải sản

Thành phố Hạ Long là đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh Quảng Ninh vàvùng Đông Bắc Tổ quốc với hệ thống giao thông đường bộ có chất lượng, hạ tầng kỹ

Trang 21

miền Đông và một phía đi Hải Dương, Bắc Ninh; quốc lộ 10 đi Hải Phòng, TháiBình, Nam Định Quốc lộ 279 từ Bắc Giang qua Hoành Bồ, đến Hạ Long…Hệ thốngcảng, bến tàu du lịch có khả năng đón nhận các loại tàu nội địa, tàu viễn dương cótrọng tải lớn Có một số bãi đỗ cho sân bay trực thăng và thủy phi cơ.

Với vị trí địa lý thuận lợi, thành phố Hạ Long sở hữu nguồn tài nguyên phongphú, đa dạng, nên từ lâu đã có con người cư trú Theo xác định của các nhà khảo cổhọc, thì nơi đây vào thời đại đá mới cách ngày nay từ 3.000 đến 5.000 năm, đã có mộtnền văn hóa tiền sử - Văn hóa Hạ Long Trước Văn hóa Hạ Long, nhiều di chỉ lạichứng tỏ có người ở sớm hơn, tiêu biểu là di chỉ Soi Nhụ Lớp cư dân tạo lập nênnhững nền văn hóa ấy có thể coi là lớp cư dân bản địa, một bộ phận của người Việt

cổ Ngoài những người Việt cổ, vùng này, trải qua hàng ngàn năm lịch sử, luôn là địabàn hấp dẫn, thu hút người dân thuộc các tộc người khác nhau từ nhiều miền đất khácnhau đến làm ăn sinh sống

Hạ Long là địa phương có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống, ngoài dân tộcKinh chiếm đa số, còn có 15 dân tộc khác gồm: Tày, Hoa, Cao Lan, Dao, Sán Dìu,Mường, Thái, Nùng, Hán, Thổ, PaKo, Sán Chỉ, Thái Thổ, Thanh Y, H Mông với

830nhân khẩu sống chủ yếu ở các phường Hà Phong, Đại Yên, Việt Hưng, Hà Khánh.Đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số luôn được tạo điều kiện ổn định Dân sốcủa thành phố Hạ Long tính đến năm 2013 là 229.300 người Thêm vào đó, do sốlượng lớn gồm lao động nhập cư, khách du lịch, sinh viên đang theo học tại các cơ sởđào tạo trên địa bàn thành phố, dân số thực tế của Hạ Long cao hơn so với dân sốtrung bình theo báo cáo khoảng 130 nghìn người, trong đó gồm khoảng 60 nghìnngười là lao động Trong năm 2013, mật độ dân số Hạ Long là xấp xỉ 870 người/km2

là địa bàn có dân số lớn nhất của tỉnh Quảng Đặc biệt, ở các phường thuộc phíaĐông của Thành phố như Trần Hưng Đạo, Bạch Đằng, Cao Thắng và Yết Kiêu [17,tr.180] Sở hữu cơ cấu dân số trẻ, là cơ hội lớn để Hạ Long có thể đáp ứng một cáchđầy đủ những nhu cầu cần thiết về nhân lực cho quá trình phát triển của mình Với sựhội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, các thề hệ trẻ của thành phố cóthêm nhiều cơ hội để có thể học hỏi, giao lưu và phát triển những kỹ năng của mình ởmức cao nhất có thể

Trang 22

Có thể thấy, Hạ Long có rất nhiều tiềm năng, thế mạnh, tài nguyên phong phú.Trong tất cả các nguồn tài nguyên đó, Vịnh Hạ Long rõ ràng là nguồn tài nguyên nổibật nhất, nguồn tài nguyên chính hỗ trợ ngành du lịch Trong tương lai, Hạ Long sớmtrở thành một trong những trung tâm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội toàn diện,hiện đại, bền vững ở trong nước và khu vực.

1.2 Quá trình thành lập Hội Khuyến học thành phố Hạ Long

1.2.1.Cơ sở hình thành Hội khuyến học

“Quảng Ninh có thể coi là một trong những mảnh đất kỳ lạ của hành tinh, một sản phẩm có một không hai vừa là tạo hóa, vừa là của con người Nơi đây, những bờ cát, những con sóng đều thấm đượm những hạnh lạc và ưu tư, những nước mắt và nụ cười, những giọt mồ hôi và máu đỏ của bao nhiêu con người” [36, tr.1].

Quảng Ninh với những con người kiên cường, dũng cảm, bất khuất, giàu tìnhnhân ái đã không ngừng phát huy truyền thống của dân tộc, viết nên những trang sử

vẻ vang trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Đó là niềm tự hào vàcũng là truyền thống tốt đẹp của quê hương Thành phố Hạ Long lại là nơi có nhiềulợi thế nhất của tỉnh, ẩn chứa nhiều tiềm năng cho việc phát triển kinh tế - xã hội Gắnliền với sự phát triển trên, ngành giáo dục và đào tạo đã có những thành tựu lớn trong

sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

Trong một kỳ thi đình năm 1374 - đời Trần Dụ Tông, Đông Triều đã giànhđược 2 trong 3 vị trí “Tam khôi” của cả nước (1 Thám hoa, 1 Bảng nhãn) Lê HiếnPhủ đỗ Bảng nhãn, Trần Đình Sâm đỗ Thám hoa

Thời Lê, nhất là thời vua Lê Thánh Tông, vùng An Bang phát triển hưng thịnh,nhiều người đỗ đạt cao Ví như Nguyễn Vũ (tức Nguyễn Dao) người làng Phúc Đa(Đông Triều) đỗ Tiến sĩ khoa Quý Dậu (1453), Vũ Phi Hổ người làng Cư Xá (Tựa Xá

-Hoành Bồ) đỗ Tiến sĩ khoa Tân Mùi (1511), Phạm Đốc Hải (Tiên Yên) cả hai bốcon đỗ Tiến sĩ năm 1538 Yên Hưng là nơi có nhiều người học cao và đỗ đạt dướithời nhà Nguyễn

Đến thời thuộc Pháp, cùng với sự hình thành khu công nghiệp mỏ thì giáo dụccũng phải phát triển, song thực dân Pháp đã thực hiện ở đây một chính sách ngu dân rất triệt để Vùng mỏ với mô hình công trường thủ công thời trung cổ, với đánh đập và

Trang 23

cúp phạt, đã thành một “địa ngục trần gian”, người phu mỏ suốt đời mù chữ Phápthống trị cả vùng mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả, Uông Bí và cả tỉnh Hải Ninh không có nổimột lớp ở bậc tiểu học, người dân không thực hiện được khát vọng học của mình đãphải thốt lên:

“Thân mình dốt nát đã xong Muốn con được học mà không có trường”

(Ca dao vùng mỏ)

Chỉ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, sự nghiệp giáo dục mới được chú ý.Khi tình hình chính trị - xã hội còn chưa ổn định, kinh tế và đời sống còn rất gieo neo,phong trào toàn dân đi học đã diễn ra Cuộc kháng chiến trường kỳ, từ vùng căn cứ

du kích đến vùng tạm bị địch chiếm đóng, các lớp bình dân học vụ vẫn liên tiếp được

tổ chức

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ gặp nhiều khó khăn, giankhổ nhân dân Quảng Ninh vừa chống giặc ngoại xâm, song cũng luôn quan tâm đến đếngiáo dục Từ năm học 1965-1966 tỉnh đã mở lớp chuyên toán ở Đông Triều, năm 1990thành lập trường cấp III chuyên tỉnh (nay là trường Chuyên Hạ Long), chứng tỏ các cấp

ủy, chính quyền sớm nhận thức được việc đào tạo nhân tài cho địa phương

Như vậy, trước ngày giải phóng Quảng Ninh là một vùng giáo dục rất chậm pháttriển, đến khi hòa bình lập lại toàn dân lại nô nức đi học Sự nghiệp giáo dục tuy cónhững bước gập ghềnh, những năm khủng hoảng kinh tế - xã hội, song nhìn chung đãliên tục phát triển Các ngành học, các cấp học đã đi từ thấp đến cao từ hẹp đến rộng,ngày càng phát triển vững chắc và trải qua non nửa thế kỷ đã xoá được nạn mù chữ,nhiều thị xã, thị trấn phổ cập được trung học cơ sở, hàng chục trường cao đẳng, trung cấpchuyên nghiệp và hàng chục trường dạy nghề cùng với hàng chục lớp đại học mở tại địaphương đã tạo nên một hiệu quả to lớn: mặt bằng dân trí được nâng cao, hàng vạn ngườilao động có kỹ thuật cùng hàng nghìn người được đào tạo ở trình độ đại học hàng năm đãtạo nên một nguồn nhân lực sung sức, nối tiếp các thế hệ của tỉnh

Trong thành quả chung của cách mạng, thành tựu giáo dục là sự tự hào VùngĐông Bắc xưa tăm tối, nay thành tựu đó được khẳng định Với xu thế toàn cầu hóa diễn

ra mạnh mẽ, nhận thức được sứ mệnh phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhằm

Trang 24

nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Do đó, thành phố Hạ Long đãđặt quyết tâm cao, ưu tiên các nguồn lực để tập trung đầu tư cho hạ tầng giáo dục,quyết tâm tạo chuyển biến căn bản về công tác giáo dục và đào tạo như: ưu tiên đặcbiệt cho hạ tầng giáo dục, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nâng cao chất lượng, đào tạocác thế hệ trẻ có đủ tâm - tầm - tài cho thành phố nói riêng và đất nước nói chung.

Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, trong quá trình phát triển của nền giáo dụccách mạng, sự nghiệp giáo dục Quảng Ninh có nhiều nội dung đặc biệt và mang tínhđặc thù Đó là sự nghiệp giáo dục ở miền núi, ở hải đảo và ở các làng chài lênh đênhtrên biển, ở vùng đồng bào dân tộc Hoa Sự phát triển giáo dục luôn chênh lệch giữacác vùng cũng là một tình trạng cố hữu Đây là áp lực và thách thức rất lớn của ngànhgiáo dục tỉnh Quảng Ninh nói chung và thành phố Hạ Long nói riêng

Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, cùng những khó khăn chung về kinh tế

- xã hội của đất nước, sự nghiệp giáo dục của nước nhà thời kỳ đó cũng đối diện vớinhiều thách thức Trong bối cảnh đó, với bản lĩnh trí tuệ của mình, Đảng và Nhà nước

ta đã vững vàng trèo lái con thuyền cách mạng vượt qua những khó khăn, thử thách

Tháng 12/ 1986, Đại hội VI của Đảng quyết định đường lối đổi mới toàn diện.Đổi mới về kinh tế được thực hiện song song với đổi mới trên các mặt khác như hànhchính, chính trị, văn hóa, giáo dục Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương

lần thứ 2 (khóaVIII) và Nghị quyết Trung ương 6 (khóa IX) khẳng định: “ Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [71, tr.107].

Giáo dục - đào tạo là chìa khóa để tiếp thu khoa học công nghệ là động lực đểphát triển kinh tế - xã hội Để giáo dục và đào tạo phát triển, cần thay đổi tư duy giáodục, các quan điểm, đường lối, nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới phương phápdạy học, phát huy tính tích cực và năng lực tự học của học sinh,… nhằm hoàn thành

sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực, phát triển tự do và toàn diện con người, đưa đấtnước từng bước phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Luồng gió đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ VI nhanh chóng được quán triệttriển khai, làm thay đổi sâu sắc các mặt hoạt động trong công tác giáo dục Tạo bướcphát triển vững chắc, làm nền tảng cho việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi

Trang 25

dưỡng nhân tài.

Đầu năm 1995, trước yêu cầu chấn hưng nền giáo dục, Đảng chủ trương “huyđộng toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân đóng góp xây dựngnền giáo dục dưới sự quản lý của Nhà nước…” Ý tưởng về việc thành lập một tổchức xã hội có chức năng hỗ trợ các hoạt động dạy và học trong hệ thống giáo dụchọc đường, vận động người dân đi học để nâng cao dân trí, phát triển sản xuất… đãchín muồi Ban vận động thành lập một Hội có chức năng hỗ trợ và khuyến khíchphát triển giáo dục đã hình thành và hoạt động

Ngày 30/4/1995, Ban Vận động gửi công văn lên Thủ tướng Chính phủ xinphép thành lập Hội Khuyến khích và hỗ trợ phát triển giáo dục Việt Nam

Ngày 29/2/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 122/TTg, duyệt yviệc thành lập Hội Khuyến khích và Hỗ trợ phát triển giáo dục Việt Nam (gọi tắt làHội Khuyến học Việt Nam)

Ngày 2/10/1996, Đại hội thành lập Hội Khuyến học Việt Nam đã được tổ chứctại Hà Nội Hội Khuyến học Việt Nam, là tổ chức xã hội tự nguyện của những ngườitâm huyết với sự nghiệp giáo dục, khuyến học góp phần xây dựng cả nước trở thànhmột xã hội học tập nhằm nâng cao dân trí, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập khu vực và quốc tế HộiKhuyến học có nhiệm vụ chính là:

Làm nòng cốt trong việc liên kết, phối hợp với các tổ chức, các lực lượng xãhội tham gia hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập

Khuyến khích và hỗ trợ việc dạy và học trong nhà trường Vận động nhân dântích cực học tập, học tập suốt đời, quan tâm đến những người nghèo, người khuyết tậtkhông có điều kiện học tập và những người có năng khiếu nhằm nâng cao dân trí,nâng cao trình độ chuyên môn, nghề nghiệp để góp phần đào tạo nguồn nhân lực đápứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Liên kết, vận động mọi gia đình và tổ chức xã hội, cùng các cơ sở giáo dục vàđào tạo góp phần động viên, chăm lo về vật chất và tinh thần đối với các thầy cô giáo,thực hiện sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, học kết hợp với hành, xâydựng môi trường giáo dục lành mạnh

Tư vấn, phản biện, giám định xã hội theo quy định của pháp luật về giáo dục

Trang 26

trên cơ sở tập hợp ý kiến của đông đảo các nhà giáo dục, các phụ huynh học sinh.Kiến nghị với Đảng, chính quyền, ngành giáo dục và đào tạo về các chủ trương, chínhsách, biện pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, hình thành xã hội học tập

Từ khi Hội Khuyến học Việt Nam được thành lập, hoạt động khuyến học,khuyến tài, đã trở thành phong trào rộng lớn, phát triển mạnh mẽ, rộng khắp trong cảnước thu hút đông đảo các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân nhiệt tình tham gia.Hội Khuyến học đã khuyến khích thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển, bước đầukhẳng định vai trò của mình trong công cuộc xã hội hoá giáo dục

Ngày 24/08/1999, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 50/CT-TW yêu cầu hoạt độngcủa Hội Khuyến học cần quán triệt theo phương hướng sau:

1.Tuân thủ các Nghị quyết của Trung ương về giáo dục, đào tạo con người,góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực, nguồn cán bộ cho sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa và thực hiện đúng đắn chủ trương xã hội hóa giáo dục, khơi dậy truyềnthống hiếu học của dân tộc, phát huy nội lực của đất nước và con người Việt Nam,đưa sự nghiệp giáo dục lên ngang tầm đòi hỏi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước trong tình hình mới

2 Phát triển phong trào khuyến học theo phương châm giáo dục là sự nghiệpcủa toàn xã hội Hội cần tăng cường công tác tuyên truyền, vận động bằng nhiều biệnpháp nhằm xây dựng phong trào “toàn dân học tập, học tập thường xuyên, học tậpsuốt đời, học tập với động cơ trong sáng”; tham gia xây dựng môi trường giáo dụclành mạnh, nâng cao chất lượng giáo dục về chính trị, đạo đức, kiến thức văn hóa,nghề nghiệp, thể lực, thẩm mỹ và lối sống văn minh, lành mạnh

3 Tăng cường mối quan hệ phối hợp công tác với các cơ quan nhà nước, cácđoàn thể nhân dân, đặc biệt là với ngành giáo dục - đào tạo trong hoạt động khuyếnhọc, coi đây là một phương thức hoạt động quan trọng Vận động các cá nhân, các tổchức trong và ngoài nước giúp đỡ phát triển sự nghiệp giáo dục; xây dựng quỹkhuyến học, đồng thời quản lý, sử dụng đúng mục đích của quỹ này

4 Tập hợp rộng rãi các nhà giáo dục, nhà khoa học, giới tri thức, nhà kinh doanh,những người hoạt động xã hội và các kiều bào ở nước ngoài tự nguyện tham gia sự

Trang 27

động theo đúng tôn chỉ, mục đích của Hội; phát triền tổ chức hội ở những địa phưong

và cơ sở thực sự có nhu cầu và có đủ điều kiện

5 Để phong trào khuyến học đạt hiệu quả thiết thực, các cấp uỷ đảng cần quantâm chỉ đạo thường xuyên công tác của Hội Khuyến học thuộc cấp mình Ban Dân vậnTrung ương giúp Bộ Chính trị theo dõi và định hướng chỉ đạo các hoạt động của HộiKhuyến học Việt Nam Cùng với việc tăng cường công tác quản lý, Nhà nước dành choHội sự hỗ trợ cần thiết, tạo điều kiện để Hội hoạt động đạt kết quả thiết thực

Để Hội Khuyến học hoạt động hiệu quả cao, ngày 09/09/1999, Thủ tướng Chínhphủ ra Quyết định số 183/1999/QĐ TTg về việc thành lập Quỹ khuyến học Việt Nam.Quỹ khuyến học Việt Nam thuộc Hội Khuyến học Việt Nam, hoạt động theo nguyên tắcđóng góp, tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước không vì mục đíchlợi nhuận, nhằm tài trợ cho các hoạt động khuyến khích, phát triển giáo dục trên

quy mô cả nước Quỹ Khuyến học Việt Nam có nhiệm vụ:

Vận động và tiếp nhận tài trợ một cách hợp pháp của các tổ chức, các cá nhân

trong và ngoài nước Tiếp nhận sự đóng góp theo nghĩa vụ của các đơn vị trực thuộc

Trung ương hội do Ban thường vụ Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam quy định

Hỗ trợ các chương trình, đề án phát triển giáo dục hoặc tài trợ theo địa chỉ chỉđịnh của các tổ chức, cá nhân tài trợ

Hỗ trợ các hoạt động giáo dục tại các địa bàn có khó khăn đặc biệt Cấp họcbổng hoặc khen thưởng học sinh nghèo vượt khó và đạt kết quả xuất sắc trong họctập Chi giải thưởng cho học sinh và sinh viên có thành tích cao trong các kỳ thi Quốc

gia và Quốc tế Trợ giúp các thầy cô giáo dạy giỏi, giáo sinh học giỏi của các trường

khó khăn đặc biệt

Ngày 15/10/1999, Chính phủ ban hành Chỉ thị 29/1999/CT-TTg “ Về việc pháthuy vai trò của Hội Khuyến học Việt Nam trong sự phát triển giáo dục” Đại hội IXcủa Đảng (3/2001) đưa ra mục tiêu: “xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập”

và “đẩy mạnh xây dựng các tổ chức Khuyến học” Hội nghị Ban Chấp hành Trungương lần thứ VII (khóa IX) tháng 3/2003 cụ thể hóa nghị quyết Đại hội IX, và phátđộng toàn dân thực hiện ba cuộc vận động lớn đó là:

1.Toàn dân thi đua làm kinh tế giỏi, làm giàu hợp pháp

Trang 28

2.Toàn dân thi đua xây dựng đời sống văn hóa

3.Toàn dân thi đua xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập

Để đẩy mạnh phong trào học tập trong cả nước, tháng 11/2003 Chính phủ giaocho Hội Khuyến học Việt Nam kết hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng đề án

“Xây dựng cả nước thành một xã hội học tập” Tuy nhiên, nhận thức của nhiều cấp

uỷ đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân về sự cần thiết, tầm quan trọng của công tác

khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trong thời kỳ mới chưa thật sự đầyđủ; một số cấp uỷ đảng chưa chỉ đạo chính quyền, đoàn thể phối hợp thực hiện; hoạtđộng ở một số nơi còn mang tính hình thức; phong trào phát triển không đồng đều,triển khai còn lúng túng, hiệu quả thấp; cán bộ chuyên trách chưa đáp ứng yêu cầu;việc huy động các nguồn lực của xã hội thông qua các chủ trương, biện pháp tuyêntruyền, vận động thực hiện xã hội hoá để mọi người tham gia hoạt động khuyến học,khuyến tài, xây dựng xã hội học tập còn hạn chế; cơ chế, chính sách và hành langpháp lý cho công tác này chậm được ban hành

Quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về “chuyểndần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập và tưtưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời”, nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhânlực, đào tạo nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất làtrong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới

Ngày 13/04/2007, Ban chấp hành Trung ương đã ra Chỉ thị số 11/CT-TW, “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Khuyến học, khuyến tài, xây dựng

xã hội học tập” Chỉ thị nhấn mạnh cấp ủy đảng tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công

tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trong thời gian tới, tập trungthực hiện một số nội dung cơ bản

l Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong Đảng và nhân dân với nhiềuhình thức phong phú, thiết thực để nhận thức rõ về sự cần thiết, tầm quan trọng củaviệc xây dựng xã hội học tập ở nước ta hiện nay Xác định xây dựng xã hội học tập lànhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là một mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấnhưng và phát triển giáo dục của nước ta

2 Cụ thể hoá các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng xã hội học tập trong

Trang 29

phạm vi từng địa phương, đơn vị Trước mắt rà soát, bổ sung nội dung kế hoạch thựchiện các mục tiêu, nhiệm vụ trong “Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 -2010” mà Chính phủ đã ban hành Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạogiải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

3 Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào khuyến học, khuyến tài, gópphần hỗ trợ các cơ sở giáo dục trong giảng dạy và học tập Xây dựng gia đình hiếuhọc; cộng đồng, dòng họ, cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị khuyến học Tiếp tục đẩymạnh xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường, thị trấn, phát triểnnhiều loại hình học tập đa dạng, phù hợp với điều kiện và nhu cầu học tập của cán bộ,nhân dân từng địa phương, đơn vị

Chú trọng và kịp thời phát hiện, có chính sách cụ thể để bồi dưỡng nhân tài, nhất là tài năng trẻ trên các lĩnh vực

Vận động nhân dân tích cực học tập nâng cao dân trí, nghề nghiệp, chuyênmôn nhằm tăng năng lực sản xuất, chất lượng công việc, chất lượng cuộc sống Gắnviệc phát triển phong trào khuyến học, khuyến tài với xây dựng môi trường giáo dụclành mạnh, học đi đôi với hành, với phong trào làm kinh tế giỏi, xoá đói, giảm nghèo

và xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở

Chỉ đạo nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm và có hình thức khen thưởng,tuyên dương, nhân rộng các mô hình hay, hiệu quả trong việc triển khai thực hiệnphong trào khuyến học, xây dựng xã hội học tập ở các địa phương, đơn vị

4 Củng cố, xây dựng Hội Khuyến học các cấp vững mạnh, lành nòng cốt trongviệc liên kết, phối hợp với các tổ chức, các lực lượng xã hội tham gia hoạt động khuyếnhọc, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xãhội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang, doanhnghiệp tích cực, chủ động tổ chức các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xãhội học tập theo tinh thần xã hội hoá giáo dục

5 Ban cán sự đảng Chính phủ, các bộ, ngành, uỷ ban nhân dân các cấp trongphạm vi quyền hạn và nhiệm vụ của mình khẩn trương chỉ đạo việc xây dựng, ban hànhcác chủ trương, chính sách, kế hoạch triển khai thực hiện “Đề án xây dựng xã hội học tậpgiai đoạn 2005 - 2010” của Chính phủ, nhất là các chủ trương, chính sách bảo đảm pháttriển hệ thống giáo dục thường xuyên, tổ chức dạy nghề ở các quận, huyện, tạo

Trang 30

điều kiện cho hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường, thị trấn.

Có biện pháp tích cực, nội dung cụ thể giúp các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa,những địa phương có khó khăn trong việc triển khai xây dựng xã hội học tập Banhành cơ chế giao cho hội khuyến học các cấp thực hiện nhiệm vụ triển khai phongtrào khuyến học, khuyến tài, nghiên cứu xây dựng mô hình xã hội học tập; quan tâm,tạo điều kiện thuận lợi về chế độ, chính sách, tổ chức bộ máy, kinh phí hoạt động củahội khuyến học các cấp theo các quy định hiện hành của Nhà nước

Ban cán sự đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Hội Khuyến học ViệtNam tăng cường các hoạt động phối hợp thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của côngtác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập

Các cơ quan thông tin đại chúng thường xuyên tuyên truyền công tác khuyếnhọc, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập và các cá nhân, tập thể có thành tích trongcông tác này

6 Ban Tuyên giáo Trung ương, ban tuyên giáo các địa phương chủ trì, phốihợp với ban dân vận cùng cấp giúp cấp uỷ theo dõi, hướng dẫn, chỉ đạo việc thựchiện Chỉ thị này Hằng năm, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư (ở địa phương báo cáothường vụ cấp uỷ đảng) về kết quả thực hiện

Chỉ thị đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệpgiáo dục Nhận thấy rõ lợi ích từ việc học, các cấp ủy đảng triển khai, xây dựng kếhoạch thực hiện, chủ động phối hợp với các ban ngành, đoàn thể đưa chủ trương,chính sách của Đảng vào cuộc sống góp phần xây dựng xã hội học tập

Ngày 08/01/2008 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 02/2008/CT-TTg, “Về đẩymạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập” Thủ tướng chỉ thị:

1 Các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị cần quán triệt sâu sắc quanđiểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo là quốc sách hàngđầu; tập trung triển khai thực hiện mạnh mẽ, đồng bộ các giải pháp nâng cao chấtlượng, hiệu quả hoạt động giáo dục, đào tạo, nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dântrí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa của đất nước

2 Xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục tiêu cơbản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta Cần đẩy mạnh công

Trang 31

tác khuyến học, khuyến tài gắn với xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, vớiphong trào làm kinh tế giỏi, xóa đói, giảm nghèo và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ

sở, học đi đôi với hành Phát triển các hình thức học tập chính quy đi đôi với pháttriển, đa dạng hóa các hình thức học tập, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người đượchọc tập thường xuyên, học suốt đời

3 Các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị cần tập trung chỉ đạo xác định,

cụ thể hoá các mục tiêu nhiệm vụ và giải pháp triển khai các hoạt động xây dựng xãhội học tập theo Đề án của Chính phủ về việc xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005

- 2010, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác khuyến học, khuyến tài, trong đólưu ý xây dựng tổ chức Hội Khuyến học Việt Nam vững mạnh, hoạt động thiết thực,

có hiệu quả [30, tr.1]

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về đẩy mạnh phong trào khuyếnhọc, khuyến tài, đồng thời để đáp ứng nguyện vọng chính đáng của đông đảo nhữngngười nhiệt tình và tâm huyết với sự nghiệp “trồng người” để nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, xây dựng xã hội học tập, góp phần vào sự phát triểnkinh tế xã hội của đất nước

Đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy nămchâu, chấn động địa cầu Ngày 08/01/2004, Hội khuyến học tỉnh Quảng Ninh chínhthức thành lập theo Quyết định số 72/QĐ - UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh

và Quyết định công nhận số 37 - QĐ/KHVN của Trung ương Hội khuyến học ViệtNam Ban Chấp hành lâm thời Hội Khuyến học tỉnh gồm 31 thành viên phần lớn làcán bộ lãnh đạo chủ chốt của các Sở, ban, ngành, huyện, thị xã, thành phố Trụ sở củaHội đặt tại Sở GD-ĐT Quảng Ninh - 163B đường Nguyễn Văn Cừ, thành phố HạLong, tỉnh Quảng Ninh Hội có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng;hoạt động theo quy định pháp luật Việt Nam và điều lệ Hội được UBND tỉnh QuảngNinh phê duyệt

Được sự nhất trí của UBND tỉnh, ngày 24/01/2005, Hội Khuyến học tỉnh đã tổchức Đại hội Đại Biểu lần thứ nhất bầu BCH Hội Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ

giai đoạn 2005 - 2010 là : “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, làm cho mọi người nhận thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của công tác khuyến học, khuyến tài; Đẩy mạnh phong

Trang 32

trào học tập trong nhân dân, xây dựng xã hội học tập; Phối hợp thường xuyên, chặt chẽ với ngành GD-ĐT thúc đẩy việc phát triển và nâng cao chất lượng GD; hiện tốt chủ trương xã hội hoá GD” [5, tr.1].

Sau 5 năm hoạt động, Hội đạt được những kết quả bước đầu Kết quả đó tạo cơ

sở quan trọng để vượt lên khó khăn, tạo bước tiến lớn trong thời gian tiếp theo

Ngày 19/08/2010 Hội Khuyến học Tỉnh đã tiến hành Đại hội lần thứ hai đểkiểm điểm lại hoạt động của Hội từ 2005-2010 và đề ra phương hướng nhiệm vụ năm

2010 - 2015 Để tăng cường hoạt động của Hội Khuyến học tỉnh, Ban thường vụ tỉnhQuảng Ninh đã ban hành nhiều văn bản Chỉ thị, Nghị quyết cho các cấp

Ngày 12/11/2010, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 01 - NQ/TV “về đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giai đoạn

2010 - 2015, định hướng đến 2020”, với quan điểm “ Xây dựng xã hội học tập nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần phát triển Quảng Ninh

cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015…” [57, tr.1].

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 01 - NQ/TW gắn với việc triển khai thực hiện

có hiệu quả Nghị quyết số 29 - NQ/TW Ngày 27/04/2016, Ban thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ

thị số 04-CT/TU “về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay” Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu cấp ủy, chính

quyền, các ban, sở, ngành, mặt trận tổ quốc, đoàn thể các cấp và nhân dân đẩy mạnh xâydựng xã hội học tập, học tập suốt đời

Ngay sau đó, ngày 15/07/2016.Hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh đã đề ra bản

đề cương triển khai thực hiện chỉ thị 04-CT/TU của Tỉnh ủy Quảng Ninh về “Tiếp tụcđẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời trong giai đoạn hội nhập quốc tếhiện nay” theo số 115/ĐC-KHQN

Ngày 24/3/2016, Đại hội đại biểu Hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh lần III, đánhgiá kết quả thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ hai và tiếp tục đổi mới mạnh mẽnội dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò của Hội Khuyến học, phối hợp với cáclực lượng làm khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2016-2020 Đạihội thông qua chương trình hành động, thực hiện yêu cầu hội nhập quốc tế của tỉnh với

nhiệm vụ “Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa công tác tuyên truyền vận động.

Trang 33

Đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình học tập, dòng họ học tập, đơn vị học tập, cộng đồng học tập Xây dựng toàn diện nguồn lực cho hoạt động khuyến học, khuyến tài Nâng cao chất lượng các TTHTCĐ Thúc đẩy hoạt động Khuyến học trong nhà trường Đẩy mạnh phong trào thi đua Tiếp tục phát triển; đổi mới nội dung phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động Hội Khuyến học các cấp” [7, Tr13].

Từ những chủ trương, chính sách cụ thể của Đảng và Nhà nước Tỉnh ủy,UBND tỉnh Quảng Ninh quyết tâm thực hiện để đưa phong trào khuyến học, khuyếntài, xây dựng xã hội học tập phát triển sâu rộng Tạo nên phong trào thi đua học tậpsôi nổi trong toàn dân, góp phần xứng đáng cùng với cả nước trong việc chấn hưngnền giáo dục, với nhiệm vụ là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

Như vậy, cơ sở hình thành Hội Khuyến học là xuất phát từ truyền thống hiếu họccủa dân tộc Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sựhọc và trong thực tế đã có nhiều chủ trương chính sách lớn để tạo cho người dân đượchọc tập thường xuyên, học tập suốt đời Vì vậy, cần phải có tổ chức xã hội để hỗ trợ chấnhưng sự nghiệp GD-ĐT trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước HộiKhuyến học tỉnh Quảng Ninh ra đời xuất phát từ những nhân tố đó Hiện nay, trước yêucầu phát triển kinh tế và chiến lược con người của thế kỷ XXI, dưới sự chỉ đạo của Đảng

và Nhà nước, các cấp chính quyền, toàn tỉnh Quảng Ninh trong đó tiêu biểu nhất là thànhphố Hạ Long đã có những hoạt động quan tâm đến giáo dục và công tác khuyến học.Điều đó chứng tỏ sự ra đời của Hội Khuyến học thành phố Hạ Long là một chủ trươngđúng đắn, phù hợp lòng dân, có tác dụng lớn đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo tỉnh nóichung và thành phố Hạ Long ngày càng phát triển

1.2.2 Hội khuyến học thành phố Hạ Long

Ngay sau khi Hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh thành lập, nhận được sự quantâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng bộ, Chính quyền thành phố Hạ Long và HộiKhuyến học tỉnh Quảng Ninh

Ngày 30/03/2004 Hội Khuyến học thành phố Hạ Long đã được thành lập theoquyết định số 20/QĐ-UB của UBND thành phố Hạ Long, đặt trụ sở tại phòng Giáo dụcthành phố Hạ Long đường Nguyễn Du, phường Hồng Gai, thành phố Hạ Long tỉnhQuảng Ninh Ban đầu có 25 đồng chí là thành viên Ban chấp hành lâm thời của Hội

Trang 34

[Phụ Lục 1].

Nhận được sự giúp đỡ của các cấp chính quyền, sự ủng hộ của nhân dân trên địabàn thành phố Hạ Long Tháng 12/2005, Hội khuyến học thành phố chính thức Đại hộilần thứ Nhất, Đại hội đã bầu ra 37 đồng chí tham gia Ban chấp, đồng chí Vũ Văn Hạnhtrưởng phòng GD-ĐT thành phố được bầu làm Chủ tịch Hội nhiệm kỳ (2005 - 2010) Đại

hội xác định nhiệm vụ chủ yếu là: “Quán triệt đầy đủ tinh thần, quan điểm chỉ đạo các Chỉ thị, Nghị quyết của các cấp về công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập Đẩy mạnh công tác phát triển và xây dựng tổ chức cơ sở hội Huy động xây dựng Quỹ Khuyến học các cấp Phối hợp chặt chẽ với ngành giáo dục đẩy mạnh nâng cao chất lượng giáo dục và xây dựng xã hội học tập” [5, tr.1]. Thời gian đầu còn gặp nhiều

khó khăn, với sự cố gắng của các ủy viên BCH, công tác khuyến học của thành phố HạLong đạt được kết quả đáng kể, hoàn thành nhiệm vụ đề ra hàng năm

Dưới sự chỉ đạo của Thành Ủy, HĐND, UBND thành phố, hội Khuyến họcthành phố Hạ Long quyết tâm đẩy mạnh hoạt động của Hội trong toàn thể hội viên vàcác tầng lớp nhân dân thành phố Từ năm 2010 - 2015, Hội đạt được nhiều thành tíchnổi bật, trở thành đơn vị dẫn dầu trong toàn tỉnh

Ngày 30/3/2016 Đại hội Khuyến học thành phố Hạ Long lần III diễn ra, bầu ra

40 đồng chí trong BCH Hội khóa mới, trong đó đồng chí Vũ Hồng Sơn Ủy viên BTV,Phó chủ tịch UBND thành phố là Chủ tịch Hội [Phụ Lục], [Ảnh 1]

Đại hội kiểm điểm, đánh giá kết quả thực hiện công tác khuyến học nhiệm kỳ

2010 - 2015, đề ra phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2015 -2020 thông qua cácnhiệm vụ:

Tiếp tục đẩy mạnh, xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng của tổ chức Hội,tích cực phát triển hội viên, nhất là hội viên trong khối doanh nghiệp

Phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo, cùng các ban ngành, đoàn thể xãhội, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyếntài, nhằm góp phần tích cực thực hiện đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng giáodục, duy trì phổ cập giáo dục phổ thông trên địa bàn Thành phố

Tiếp tục đẩy mạnh phong trào xây dựng “Gia đình hiếu học”, “Khu phố hiếuhọc”, “Dòng họ hiếu học”, “Cơ quan hiếu học”, “Đơn vị hiếu học” gắn với phong trào

Trang 35

xây dựng “Gia đình văn hóa”.

Đẩy mạnh phong trào “Ba đỡ đầu” và hoạt động của Trung tâm học tập cộngđồng với phương châm “cần gì học nấy”

Tích cực huy động quỹ khuyến học từ cơ sở đến thành phố Huy động sứcmạnh tổng hợp cho hoạt động khuyến học, khuyến tài và tiếp tục đẩy mạnh phongtrào thi đua trong các tổ chức Hội, nhằm động viên khuyến khích mọi người tham giahoạt động khuyến học, khuyến tài

Hội Khuyến học thành phố Hạ Long đã bám sát chủ trương, đường lối củaĐảng, Nhà nước, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ninh Căn cứ Điều lệ Hội Khuyến họcViệt Nam; Quy chế tổ chức hoạt động của Hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh, Căn cứNghị quyết của Đại hội Khuyến học thành phố Hạ Long lần thứ I, II, III, BCH HộiKhuyến học thành phố thống nhất ban hành Quy chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụcủa Ban Chấp hành Hội theo Quyết định số 84/QĐ-KH ngày 24/11/2016 như sau:

1 Ban Chấp hành Hội Khuyến học thành phố Hạ Long đặt dưới sự chỉ đạo củaThành ủy, HĐND, UBND thành phố Hạ Long; là thành viên của Ủy ban Mặt trận tổquốc thành phố Hạ Long; hoạt động dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn của HộiKhuyến học tỉnh Quảng Ninh

2 Ban Chấp hành, Ban Thường vụ hoạt động theo nguyên tắc tập trung dânchủ Phát huy vai trò tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách nhằm thực hiện thắng lợiNghị quyết của Đại hội

3 Ban Chấp hành Hội Khuyến học thành phố có trách nhiệm thực hiện đầy

đủ, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều lệ Hội Khuyến học ViệtNam; Quy chế hoạt động của Hội Khuyến học tỉnh Quảng Ninh

4 Ban Chấp hành Hội mỗi năm sinh hoạt định kỳ 2 lần hoặc đột xuất, mở rộngkhi cần thiết

5 Quyền hạn, nhiệm vụ của Ủy viên Ban Chấp hành được quy định tại Điều lệHội Khuyến học Việt Nam Các ủy viên Ban Chấp hành có quyền và trách nhiệmtham gia đầy đủ, tích cực sinh hoạt của Ban Chấp hành, tổ chức thực hiện thắng lợiNghị quyết của Ban Chấp hành theo nhiệm vụ được phân công

6 Ban Thường vụ do Ban Chấp hành bầu, chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hànhtrong việc điều hành các hoạt động của Hội giữa hai nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết của

Trang 36

Đại hội Ban Thường vụ ban hành các Nghị quyết theo quy định của Điều lệ HộiKhuyến học Việt Nam và quy chế chi tiêu nội bộ của Hội Sinh hoạt 6 tháng 01 lần vàđột xuất khi cần thiết Ủy viên Ban Thường vụ có nhiệm vụ tổ chức thực hiện thắnglợi các Nghị quyết, kế hoạch công tác ở lĩnh vực và địa bàn được phân công.

7 Thường trực Hội do Ban Chấp hành phân công gồm : Chủ tịch, các Phó Chủtịch Thường trực Hội có nhiệm vụ thay mặt Ban Thường vụ điều hành, chỉ đạo, tổchức thực hiện, tổng hợp, báo cáo hoạt động thường xuyên của Hội giữa hai kỳ họpcủa Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Ban Chấp hành ban hành các kế hoạch, hướngdẫn hoạt động và phối hợp hoạt động trong các mặt công tác và thực hiện nhiệm vụxây dựng xã hội học tập, thi đua, khen thưởng

8 Chủ tịch Hội kiêm nhiệm là người đứng đầu Hội Khuyến học thành phố,phụ trách chung, chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và cấp trên

về các hoạt động của Hội

9 Các Phó chủ tịch Hội kiêm nhiệm và Phó Chủ tịch Hội chuyên trách chịutrách nhiệm trước Chủ tịch, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và cấp trên về các lĩnhvực đã được Chủ tịch phân công phụ trách Phó Chủ tịch thường trực giúp Chủ tịchđiều hành các hoạt động thường xuyên của Hội để thực hiện nhiệm vụ của Hội vàđược ủy nhiệm làm chủ tài khoản thứ nhất, trực tiếp quản lý quỹ Hội Đồng chí PhóChủ tịch chuyên trách được ủy nhiệm làm chủ tài khoản thứ hai

10 Chánh Văn phòng Hội kiêm nhiệm giúp thường trực Hội quản lý văn phòngHội, tổng hợp báo cáo định kỳ, đột xuất, dự thảo các văn bản của Hội và một số côngviệc hành chính khi cần

11 Kế toán, thủ quỹ của Hội làm kiêm nhiệm thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn theo quy định của pháp luật và quy chế hoạt động của Hội

12 Nguồn tài chính của Hội gồm : Nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ ; Nguồn

các đơn vị, các nhà hảo tâm tài trợ ; Các nguồn thu hợp pháp khác

Riêng hội phí để lại 100% ở cơ sở để quản lý và hoạt động thu, chi theo quy định của Nhà nước và quy chế thu, chi của Hội cơ sở

Hàng năm, kế toán, thủ quỹ phải tham mưu cho thường trực Hội lập kế hoạch, kinh phí, dự toán kinh phí để xin hỗ trợ, vận động tài trợ và triển khai nhiệm vụ

Trang 37

Như vậy, Hội Khuyến học thành phố Hạ Long thành lập, phù hợp với tâm tưnguyện vọng của đông đảo nhân dân, của các cấp ủy Đảng Hội luôn đặt nhiệm vụxây dựng, phát triển hoạt động của Hội theo đúng tinh thần nghị quyết mà Đảng, Nhànước đề ra Cơ cấu tổ chức của Hội có đặc điểm là kết hợp chặt chẽ giữa cán bộđương chức với cán bộ hưu trí, nên đội ngũ cán bộ được bổ sung cho nhau, hỗ trợ lẫnnhau, tạo ra sức mạnh tổng hợp để xây dựng Hội vững mạnh, phát triển nhanh và đisâu vào quần chúng nhân dân.

Trang 38

Đảng và Nhà nước coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu”, là động lực cho sựphát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương

đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể để phát triển sự nghiệp giáodục, trong đó công tác khuyến học khuyến tài được coi là nhiệm vụ trọng tâm Thựchiện chủ trương của Đảng, Chính phủ và Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam, Hộikhuyến học thành phố Hạ Long được thành lập, đáp ứng nguyện vọng của nhữngngười tâm huyết với sự nghiệp giáo dục Hội Khuyến học sẽ là cầu nối giữa gia đình,nhà trường, xã hội, tạo môi trường tốt để khuyến khích, ươm mầm tài năng, tham giatích cực vào mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, gópphần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố

Để phong trào khuyến học, khuyến tài đi vào cuộc sống người dân, HộiKhuyến học thành phố Hạ Long tiếp tục tranh thủ sự chỉ đạo, lãnh đạo của các cấp ủyĐảng, chính quyền, phối hợp với các ban ngành, đoàn thể để củng cố, xây dựng tổchức Hội vững mạnh Đẩy mạnh các hoạt động học tập thường xuyên, học tập suốtđời, hướng tới xây dựng xã hội học tập đến các cơ sở

Trang 39

Chương 2 HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI KHUYẾN HỌC THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH (2004 - 2018)

2.1 Chủ trương, nhiệm vụ và kế hoạch hành động của Hội khuyến học thành phố Hạ Long giai đoạn 2004 - 2018

Thành phố Hạ Long xác định việc xây dựng xã hội học tập (XHHT) là nhiệm

vụ thường xuyên của cấp ủy Đảng, chính quyền nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhânlực, bồi dưỡng nhân tài Vì vậy, để công tác khuyến học, khuyến tài phát triển mạnh

mẽ, Hội cần tăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức để xây dựngphong trào học tập trong toàn xã hội Những năm qua, thực hiện chủ trương, chínhsách của Đảng, Nhà nước về công tác Khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội họctập, Hội Khuyến học thành phố ban hành nhiều các văn bản, Nghị quyết, Chươngtrình hành động để triển khai thực hiện nhiều nội dung liên quan đến công tác đẩymạnh xây dựng xã hội học tập trên địa bàn như :

Ngày 01/08/2008, Hội đã tham mưu với thành uỷ, UBND thành phố ban hành

Chỉ thị 05/2008/CT-UBND “đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài xây dựng

xã hội học tập trên địa bàn thành phố Hạ Long” Nhằm để mọi người hiểu được tầm

quan trọng của khuyến học, khuyến tài đối với sự phát triển giáo dục của thành phố

Ngày 05/07/2011, Hội đã xây dựng kế hoạch số 09/KH - KH HL về triển khai thực hiện Nghị quyết 01 - NQ/TV của BTV Tỉnh ủy và Chương trình hành động số 09

- CTr - TU của Thành ủy Hạ Long về đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập trong thời kỳ CNH, HĐH giai đoạn 2010 - 2015, định hướng đến năm 2020.

Ngày 01/08/2011, Hội ra Kế hoạch số 11/KH - KH HL về tổ chức Đại hội biểu dương “Gia đình hiếu học”,“Dòng họ, đơn vị hiếu học” và gương sáng “Ba đỡ đầu”

ở cơ sở xã, phường trong thành phố, tổ chức kỷ niệm 15 năm thành lập Hội Khuyến học Việt Nam; Hướng dẫn số 15/HD - KHHL ngày 18/10/2011 về hướng dẫn tổ chức Đại hội biểu dương “Gia đình hiếu học”, “Dòng họ, đơn vị hiếu học” và gương sáng

“Ba đỡ đầu” ở cơ sở xã, phường trong thành phố.

Ngày 30/9/2013 Hội Khuyến học thành phố ban hành kế hoạch số 26/KH - KH

HL về tổ chức tọa đàm “Học tập suốt đời với xây dựng xã hội học tập” trong tuần lễ

Trang 40

hưởng ứng học tập suốt đời năm 2013; cùng với Hội chủ động tuyên truyền, hướngdẫn các Hội cơ sở xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể và lấy Hội khuyến học cơ sở

làm nòng cốt để đẩy mạnh phong trào xây dựng “Gia đình hiếu học”,“Dòng họ hiếu học, Đơn vị hiếu học”,“Gương sáng ba đỡ đầu”.

Ngày 29/9/2014, Kế hoạch số 151/KH - UBND của Ủy ban nhân dân thành

phố Hạ Long về thực hiện Quyết định số 281/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về

Phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2020” trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Đặc biệt, ngày 10/08/2016, Ban Thường vụ Thành ủy Hạ Long đã đề ra bản kế

hoạch số 36KH/TU “tuyên truyền, quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị số 04 CT/TU ngày 27/4/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay” với nội dung

-cơ bản như:

Tiếp tục tuyên truyền các mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếuxây dựng xã hội học tập giai đoạn 2010 - 2015, định hướng đến 2020 được nêu trongNghị quyết số 01, Chương trình hành động số 09-CTr/TU, ngày 10/3/2011 của BCHĐảng bộ thành phố

Tuyên truyền phổ biến, quán triệt đầy đủ 07 nội dung nêu trong Chỉ thị 04;những kết quả, ưu điểm, tồn tại, hạn chế, cũng như nguyên tồn tại, hạn chế trong quátrình triển khai thực hiện

Tuyên truyền về công tác tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị từ thành phố đến

cơ sở; những cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả; những gương tập thể, cá nhân điểnhình tiên tiến trong xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời

Để kế hoạch 36-KH/TU đạt hiệu quả cao, ngày18/10/2016 Thành ủy Hạ Long

ra Chương trình hành động số 6414/CTr-UBND về “Triển khai Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 04 - CT/TU ngày 27/4/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay”.

Từ năm 2011 đến nay, Thành ủy, UBND thành phố, Phòng GD&ĐT, Hội Khuyếnhọc thành phố đã ban hành 52 văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện

Ngày đăng: 08/06/2021, 15:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w