Phương pháp điều tra ngôn ngữ Phương pháp nghiên cứu này được dùng để thu thập các biểu thức ngôn ngữđược coi là đồng sở chỉ biểu thị nhân vật tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của VũTrọ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐỖ HUYỀN TRANG
CÁC BIỂU THỨC ĐỒNG SỞ CHỈ BIỂU THỊ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM SỐ ĐỎ,
VỠ ĐÊ VÀ GIÔNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐỖ HUYỀN TRANG
CÁC BIỂU THỨC ĐỒNG SỞ CHỈ BIỂU THỊ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM SỐ ĐỎ,
VỠ ĐÊ VÀ GIÔNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TÚ QUYÊN
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Đỗ Huyền Trang
i
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, Ban giám hiệu và Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng kính trọng và sâu sắc tới:
Tiến sĩ Nguyễn Tú Quyên - người cô giáo mẫu mực đã trực tiếp hướng dẫn tôi,
đã tận tình chỉ bảo cho tôi những kiến thức qúy báu không những trong chuyên môn
mà cả những kiến thức trong cuộc sống trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, các Cô và các Bạn học viên trong lớp chuyên ngành Ngôn Ngữ Việt Nam K22 đã cho tôi những kiến thức và những góp ý chuyên môn quý báu trong suốt quá trình tôi học tập và làm đề tại tại bộ môn Đồng thời trân quý cảm ơn sự nhiệt tình của các thầy, các cô, các bạn đồng nghiệp trong lớp, trong khoa đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình tôi thực hiện đề tài này.
Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lê và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Đỗ Huyền Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Bố cục của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Khái quát về sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ 6
1.1.1 Khái quát về sở chỉ 6
1.1.2 Khái quát về hiện tượng đồng sở chỉ 16
1.2 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ trong tiếng Việt 17
1.2.1 Hoạt động giao tiếp và các nhân tố giao tiếp 17
1.2.2 Khái quát về đoản ngữ, danh ngữ trong tiếng Việt 20
1.3 Tiểu kết 23
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC BIỂU THỨC ĐỒNG SỞ CHỈ BIỂU THỊ NHÂN VẬT TRONG SỐ ĐỎ, VỠ ĐÊ VÀ GIÔNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG 25
2.1 Đặc điểm cấu trúc của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng 25
2.1.1 Đặc điểm cấu trúc của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật qua việc dùng tên riêng 28
iii
Trang 62.1.2 Đặc điểm cấu trúc của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật qua
việc dùng biểu thức miêu tả 34
2.1.3 Đặc điểm cấu trúc của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật qua việc dùng biểu thức chỉ xuất 40
2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng 46
2.2.1 Các biểu thức đồng sở chỉ là tên riêng 46
2.2.2 Các biểu thức đồng sở chỉ có nghĩa phi miêu tả 46
2.2.3 Các biểu thức đồng sở chỉ có nghĩa miêu tả 47
2.3 Tiểu kết 51
Chương 3: VAI TRÒ CỦA CÁC BIỂU THỨC ĐỒNG SỞ CHỈ BIỂU THỊ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM SỐ ĐỎ, VỠ ĐÊ VÀ GIÔNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG 53
3.1 Bộc lộ đặc điểm giới tính và ngoại hình của nhân vật 53
3.1.1 Bộc lộ đặc điểm giới tính của nhân vật 53
3.1.2 Bộc lộ đặc điểm ngoại hình của nhân vật 56
3.2 Bộc lộ tính cách, thái độ của nhân vật 81
3.2.1 Bộc lộ tính cách của nhân vật: 81
3.2.2 Bộc lộ thái độ của nhân vật 89
3.3 Bộc lộ nghề nghiệp của nhân vật 102
3.3.1 Nghề dạy học 102
3.3.2 Học sinh, sinh viên 103
3.3.3 Nghề khám, chữa bệnh 103
3.3.4 Nghề buôn bán 105
3.3.5 Nghề đưa thư 106
3.3.6 Nghề nghiệp mang tính chất nghệ thuật 106
3.3.7 Nghề thợ may 107
3.3.8 Nghề bói toán 107
3.3.9 Nghề hoạt động trong lĩnh vực thể thao 108
3.3.10 Nghề đi tu theo đạo Phật ở chùa 109
Trang 73.3.11 Nghề nông 110
3.3.12 Nghề lái đò 111
3.3.13 Nghề làm thợ 111
3.4 Bộc lộ vị thế của nhân vật giao tiếp 112
3.4.1 Vị thế xã hội 112
3.4.2 Vị thế gia đình 122
3.5 Tiểu kết 127
KẾT LUẬN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
v
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng số các nhân vật, tổng số các biểu thức đồng sở chỉ và tần số xuất hiện của
các biểu thức trong Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng 25
Bảng 2.2 Các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Số đỏ 26
Bảng 2.3: Các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Vỡ đê 27
Bảng 2.4: Các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Giông tố 28
Bảng 2.5 Số lượng và tần số xuất hiện của biểu thức tên riêng trong Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố 29 Bảng 2.6 Biểu thức tên riêng trong tác phẩm Số đỏ 29
Bảng 2.7 Biểu thức tên riêng trong tác phẩm Vỡ đê 30
Bảng 2.8 Biểu thức tên riêng trong tác phẩm Giông tố 30
Bảng 2.9 Đặc điểm cấu tạo của biểu thức tên riêng 34
Bảng 2.10 Số lượng và tần số xuất hiện của biểu thức miêu tả trong Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố 34 Bảng 2.11 Biểu thức miêu tả trong tác phẩm Số đỏ 34
Bảng 2.12 Biểu thức miêu tả trong tác phẩm Vỡ đê 35
Bảng 2.13 Biểu thức miêu tả trong tác phẩm Giông tố 36
Bảng 2.14 Số lượng và tần số xuất hiện của biểu thức chỉ xuất trong Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố 40 Bảng 2.15 Biểu thức chỉ xuất trong tác phẩm Số đỏ 40
Bảng 2.16: Biểu thức chỉ xuất trong tác phẩm Vỡ đê 41
Bảng 2.17: Biểu thức chỉ xuất trong tác phẩm Giông tố 42
v
Trang 10MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Lịch sử ngôn ngữ học trước những năm 70 của thế kỷ trước chủ yếu quan tâm
đến cấu trúc nội tại của ngôn ngữ Theo đó, những câu như Tôi đói, Hôm nay trời lạnh
nhỉ sẽ được xem là những câu đúng bởi chúng chuẩn về mặt ngữ pháp và logic về mặt
ngữ nghĩa Tuy nhiên, khi ngôn ngữ phải thực hiện chức năng quan trọng nhất của nó chức năng giao tiếp thì việc nghiên cứu câu dưới dạng “chất liệu cấu thành” đã bộc lộnhững hạn chế rõ rệt Tác giả Hoàng Cao Cương đã chỉ rõ: có ít nhất 7 lý do để tin rằngnếu dừng câu lại ở quan niệm cú pháp truyền thống thì sẽ không nhận được các giải thíchđúng đắn ngay cả đối với cái định nghĩa về câu mà chúng ta đang sử dụng
-Sang nửa cuối thế kỷ 20, sau khi nhận rõ những sai lầm của việc nghiên cứucâu chỉ trong địa hạt riêng của nó, các nhà ngôn ngữ học bắt đầu chuyển dần sanghướng tiếp cận mới, đó là nghiên cứu câu gắn với ngữ cảnh Hướng tiếp cận này đánhdấu sự ra đời của chuyên ngành Ngữ dụng học Lúc này, ngôn ngữ bắt đầu “vận độngtheo quỹ đạo hồi quy đi từ mô tả triệt để các yếu tố trong khung lý thuyết hẹp sang
mô tả các quá trình tương tác trong bối cảnh xã hội rộng lớn và toàn diện; từ thực thểngôn ngữ sang biểu hiện của lời nói; từ các biểu diễn bề mặt hình thức sang biểu diễnngữ nghĩa học; từ việc quên quyền lợi người dùng sang đề cao mặt dụng học của cácbiểu lộ ngôn từ”
Như vậy, có thể nói, sự ra đời của Ngữ dụng học thực sự là bước đột phá mới,giải quyết được những bế tắc mà cú pháp truyền thống đang gặp phải
1.2 Góp phần quan trọng vào việc giải quyết những bế tắc của cú pháp truyền
thống có lý thuyết về sở chỉ.
Sở chỉ là vấn đề đầu tiên mà các nhà logic học quan tâm và cũng là vấn đề thứnhất của ngữ dụng học Trong hoạt động giao tiếp, hành vi sở chỉ giúp cho ngườinghe (người đọc) nhận diện được đối tượng được quy chiếu, nhờ đó mới giải thuyếtnghĩa của phát ngôn
Với vai trò quan trọng như vậy, vấn đề sở chỉ đã được tương đối nhiều các nhà
Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu với những tên gọi khác nhau như chiếu vật, quy chiếu, tham chiếu, sở chỉ Nói điều này để thấy hiện tượng ngôn ngữ này không phải
là vấn đề nghiên cứu mới mẻ
1.3 Trong giao tiếp, để quy chiếu một đối tượng, người ta không dùng mộtbiểu thức duy nhất mà sử dụng linh hoạt nhiều biểu thức Các biểu thức khác nhau
Trang 11Nếu như vấn đề sở chỉ được nhiều nhà Việt ngữ học nghiên cứu thì hiện tượngđồng sở chỉ chưa được quan tâm một cách thỏa đáng Hiện nay, chúng tôi mới chỉ tìm
thấy có một công trình nghiên cứu về vấn đề này là Luận án Tiến sĩ “Sở chỉ và đồng
sở chỉ trong tiếng Việt” của Nguyễn Tú Quyên Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra các cơ sở tạo lập, thay thế, nhận diện các biểu thức đồng sở chỉ trong tiếng Việt cũng
như vai trò của chúng Tuy nhiên, đây là công trình nghiên cứu hiện tượng đồng sởchỉ nói chung nên chưa chỉ ra được phong cách của nhà văn khi sử dụng các biểuthức này trong tác phẩm Điều này cho thấy, việc tìm hiểu hiện tượng đồng sở chỉ ởmột tác giả cụ thể là điều rất cần thiết
1.4 Ba tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng được nhiềunhà phê bình văn học đánh giá là bộ tam kiệt tiểu thuyết đồng sáng tác năm 1936 cónhiều giá trị to lớn Bộ tam kiệt tiểu thuyết này đề cập đến xã hội chuyển từ “phi ngã”sang khẳng định bằng mọi cách và mọi giá cá tính và bản ngã của mỗi cá nhân, cá thểcon người Đó là một xã hội mà yêu cầu giải phóng cá nhân, cá tính được đặt lênhàng đầu (kể cả yêu cầu giải phóng bản năng, đề cao đời sống tình dục) Để thể hiệnđược nội dung tư tưởng này, tác giả sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật độc đáotrong đó có việc sử dụng các biểu thức đồng sở chỉ Trong tác phẩm, các biểu thứcnày rất phong phú và được thể hiện có chủ đích
Những điều trình bày ở trên phần nào cho thấy tính cấp thiết của việc nghiên cứu
vấn đề đồng sở chỉ trong tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng.
2 Lịch sử vấn đề:
2.1 Tình hình nghiên cứu sở chỉ và đồng sở chỉ trong tiếng Việt
Sở chỉ không phải là vấn đề mới mẻ trong giới nghiên cứu ngôn ngữ học Sự
ra đời của lý thuyết này gắn liền với sự hình thành và phát triển của Ngữ dụng học.Trong các công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới, các tác giả đề cập đếnhiện tượng sở chỉ như một sự thừa nhận vai trò của nó trong việc hiểu giá trị chânthực của phát ngôn
Nếu như vấn đề sở chỉ, ở một mức độ nhất định, đã được các nhà ngôn ngữ học
đề cập đến thì hiện tượng đồng sở chỉ lại chưa được quan tâm một cách thỏa đáng Ở mộtvài công trình nghiên cứu, hiện tượng này mới chỉ được dưới hình thức lí giải một vàitrường hợp cụ thể Điều này cho thấy hiện tượng đồng sở chỉ vẫn là một lĩnh vực nghiêncứu mới mẻ cần được quan tâm hơn Xét thấy vấn đề nghiên cứu về hiện tượng
2
Trang 12đồng sở chỉ mới chỉ có một tác giả tham gia nghiên cứu chuyên sâu, đó là tác giảNguyễn Tú Quyên với Luận án Tiến sĩ “Sở chỉ và đồng sở chỉ trong tiếng Việt” (Trên
cơ sở về nhân vật trong tác phẩm văn học)
2.2 Tình hình nghiên cứu các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng
Khi nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng đã có nhiều vấn đề xung quanh những tácphẩm của ông, khen cũng lắm mà chê cũng nhiều Đã nhiều người viết về tác phẩmcủa Vũ Trọng Phụng, các ngòi bút tiểu luận đã khai thác sự tạo thành và mối tươngquan giữa những nhân vật độc đáo của ông với hoàn cảnh lịch sử, xã hội Trongnghiên cứu phê bình văn học những năm gần đây, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiêncứu phê bình có tên tuổi đã thông qua nhiều phương tiện thông tin báo chí, phátthanh, phát biểu về tác phẩm và tác giả Vũ Trọng Phụng Đáng chú ý là Hội thảokhoa học kỷ niệm 50 năm ngày mất Vũ Trọng Phụng do Viện Văn học và Hội nhàvăn Việt Nam tổ chức tháng 10 - 1989, tại Văn miếu Hà Nội Đã có hơn hai mươi bảntham luận của các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, các nhà nghiên cứu phê bình Vănhọc đọc tại hội nghị, bước đầu nhận thức lại và khẳng định lại một lần nữa vị trí củanhà văn và tác phẩm trong văn học sử Việt Nam Qua việc nghiên cứu và tìm hiểu cáctác giả đi trước chúng tôi nhận thấy các tác giả đã nghiên cứu khá toàn diện về VũTrọng Phụng và sự nghiệp văn chương của ông
Tuy nhiên, có thể thấy, trong các công trình nghiên cứu về tác phẩm của VũTrọng Phụng, chưa có công trình nào nghiên cứu về đồng sở chỉ Đây chính là lý do
mà chúng tôi chọn vấn đề này làm đối tượng nghiên cứu trong đề tài của mình
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đặt ra ba mục đích sau:
3.1 Tìm hiểu các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông
tố xét từ phương diện cấu trúc để thấy được đặc điểm của các biểu thức này tronghành vi sở chỉ
3.2 Tìm hiểu các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông tốxét từ phương diện ngữ nghĩa để thấy được căn cứ xây dựng các biểu thức của tác giả
3.3 Phân tích vai trò của các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, đề tài này phải thực hiện những nhiệm vụsau:
Trang 134.1 Trình bày cách hiểu về sở chỉ và đồng sở chỉ Tìm hiểu những vấn đề lý
thuyết có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài
4.2 Thống kê, phân loại và miêu tả các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm
Số đỏ xét từ phương diện cấu trúc và ngữ nghĩa
4.3 Phân tích giá trị của các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các biểu thức thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật (các biểu thức chỉ cá thể nhân vật)
- Giá trị (vai trò của các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm)
6 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứuchủ yếu sau:
6.1 Phương pháp điều tra ngôn ngữ
Phương pháp nghiên cứu này được dùng để thu thập các biểu thức ngôn ngữđược coi là đồng sở chỉ biểu thị nhân vật tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của VũTrọng Phụng
6.2 Phương pháp thống kê - phân loại:
Phương pháp này được dùng khi khảo sát các ngữ liệu để tìm ra số lượt sửdụng của các cách gọi một nhân vật với những tên khác nhau trong bộ ba tác phẩm Số
đỏ, Giông tố và Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng
6.3 Phương pháp miêu tả cấu trúc
Phương pháp nghiên cứu này được vận dụng khi miêu tả cấu trúc của các biểuthức đồng sở chỉ cũng như tìm hiểu các thành tố ngôn ngữ cấu thành nên biểu thức
4
Trang 147 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận
Chương 2 Đặc điểm của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng
Chương 3: Vai trò của các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê
và Giông tố của Vũ Trọng Phụng
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương này trình bày hai vấn đề lớn, đó là:
- Khái quát về sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ trong tiếng Việt
- Những vấn đề lý thuyết liên quan đến sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ trong tiếng Việt
Những vấn đề lý thuyết trên là cơ sở cho việc nhận diện cũng như tìm hiểu đốitượng nghiên cứu ở các phương diện khác nhau
1.1 Khái quát về sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ
1.1.1 Khái quát về sở chỉ
Nghĩa của từ và những hiện tượng liên quan được bàn đến khá sơ sài trong
Cấu trúc luận, do chỗ chủ nghĩa này chủ trương mô tả hình thức ngôn ngữ thông qua
những thế đối lập và phân bố trong một hệ thống ngôn ngữ Từ và các hành độngngôn từ được bàn đến với một nội dung phong phú hơn, khi các nhà triết học ngữnghĩa mà mở đầu là B Carnap (1939) và B Russell (1903) trong trào lưu triết họcngữ nghĩa thực chứng, quan niệm rằng hành vi quan trọng nhất của con người là dùngngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày Và vì vậy, để hiểu nghĩa của từ phải thông quacác hành động ngôn từ (J.R Austin (1962) và J.R.Searle (1969)) Chính bằng cách đặtvấn đề như vậy, mặt chức năng của ngôn ngữ được chú trọng hơn theo một tiếp cậnhoàn toàn mới: cấu trúc và các đặc điểm cấu trúc của từ hoặc của các cấu trúc lớn hơn
từ, suy cho cùng chỉ là những phương tiện giúp người nói nhận diện ra được những
sự vật có trong thực tế khách quan mà trong nội dung các thông điệp đã được nhắctới Một câu có hình thức trần thuật vẫn có thể đảm đương nhiệm vụ của một câu nghivấn hay một câu cầu khiến Vấn đề là câu đó được sử dụng vào lúc nào và chủ đíchcủa người nói là hướng tới cái gì, đã sử dụng những phương tiện gì đi kèm hoặc kếthợp với câu đó khi biểu lộ những chủ đích này Nói cách khác, cái quan trọng chính
là phát ngôn đó dùng để nói lên cái gì trong một hoàn cảnh cụ thể Đó chính là nghĩacủa lời Nghĩa của lời quan trọng nhất chính là việc hướng tới các sự vật có trongthực tế khách quan mà nội dung mệnh đề muốn bàn luận tới Ngôn ngữ học trong thờihiện đại, nhất là ngữ nghĩa học quan tâm tới hành vi hướng tới thực tế khách quan
này của lời, cái thường được gọi là hành vi sở chỉ của hành động nói năng.
6
Trang 161.1.1.1 Quan niệm về sở chỉ (reference)
Không phải ngẫu nhiên mà A.Cruse lại nói rằng: “Chủ đề về sở chỉ là nguyênnhân tuôn tràn hàng tấn mực: một vài bộ óc triết học huyền ảo nhất đã giáp lá cà với
nó và các cuộc tranh luận dễ mất lòng chẳng bao giờ có hồi kết.” [77, tr.317]
Nhận định trên của A.Cruse trong Meaning in Language: An introduction to Semantics and Pragmatics (Nghĩa trong ngôn ngữ: Một nhập môn vào Ngữ nghĩa học
và Ngữ dụng học) đã cho thấy tính phức tạp của vấn đề sở chỉ Có thể nhận thấy sựphức tạp này qua những quan niệm tiêu biểu trong và ngoài nước dưới đây:
a Quan niệm của các tác giả nước ngoài
Để xác định hiểu được nghĩa của phát ngôn, có một cách xuất phát là tìm hiểuquy luật tương ứng giữa các biểu thức ngôn ngữ với các sự vật có trong thực tế kháchquan Nói cách khác, sở chỉ chính là hành vi của người nói nhằm đồng nhất hóa nộidung của một biểu thức ngôn ngữ với sự vật có trong thực tế Như M.Green trong
Pragmatics and Natural languages understanding (1989) đã phát biểu: “Thuật ngữ
chiếu vật (sở chỉ) được dùng để chỉ cách mà người nói phát âm ra một biểu thức ngônngữ với hy vọng rằng biểu thức đó sẽ giúp cho người nghe của anh ta suy ra đượcmột cách đúng đắn cái thực thể nào, đặc tính nào, sự kiện nào anh ta đang nói đến”[dẫn theo 79, tr.193]
Như vậy, M.Green quan niệm sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ mà từ hành vinày, một “thực thể”, một “đặc tính”, một “sự kiện” sẽ được người nghe nhận diệnthông qua một biểu thức ngôn ngữ
Cùng quan điểm với M.Green, G Yule và A Cruse viết: “Chúng ta, tốt hơn hết
là cho rằng chiếu vật là một hành vi nhờ nó mà người nói và người viết dùng các hìnhthức ngôn ngữ nhằm làm cho người nghe hoặc người đọc biết được một sự vật nàođó” [dẫn theo 70, tr.194]
Và:
“Dưới cái đầu đề sở chỉ, chúng ta sẽ gặp một trong những bình diện cơ bản,sống còn nhất của ngôn ngữ và việc dùng ngôn ngữ, đó chính là mối quan hệ giữangôn ngữ như là phương tiện giao tiếp giữa con người và cái thế giới mà chúng tagiao tiếp về nó” [77, tr.137]; “Sở chỉ được quan tâm cùng với việc thể hiện các thựcthể có trong thế giới nhờ các phương tiện ngôn ngữ học” [77, tr.137]
Thừa nhận sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ có nghĩa là các nhà ngôn ngữ học đã
Trang 17của con người” [13, tr.192] G Yule nhấn mạnh: “Chúng ta cần phải biết rằng từ ngữ
- ở đđy lă biểu thức chiếu vật - tự chúng không quy chiếu được với bất cứ một câi gì
cả Chỉ con người mới chiếu vật.” [dẫn theo 70, tr.192]
Từ sự khẳng định sở chỉ lă một hănh vi ngôn ngữ, câc nhă nghiín cứu ngôn ngữ quan tđm đến câc yếu tố lăm nín hănh vi sở chỉ
Yếu tố thứ nhất rất dễ nhận diện, đó chính lă “câi gì đó có trong thế giới” [77,tr.17] Bởi suy cho cùng, mục đích của sự sở chỉ lă thông qua ngôn ngữ lăm nảy ra câithực thể có trong thế giới vă để cho người nghe xâc định được thực thể đó Vậy yếu
tố thứ hai lă gì? A Cruse cho rằng, yếu tố thứ hai chính lă biểu thức ngôn ngữ(linguistic expression) Một ví dụ được ông đưa ra để phđn tích cho sự khẳng địnhnăy:
(1) Geoge Bush is to visit Ireland in May.
(Tổng thống Geoge Bush sẽ đi thăm nước Ireland văo thâng 5)
Biểu thức Geoge Bush ở đđy quy chiếu đến một vị tổng thống Hòa Kỳ Ngườinghe xâc định được điều năy bởi vì người nghe nhận ra được mối quan hệ giữa câcyếu tố lăm nín hănh vi sở chỉ, đó lă một câ nhđn trong thực tế (yếu tố thứ nhất) vă
biểu thức ngôn ngữ Geoge Bush (yếu tố thứ hai) Tuy nhiín, ông cũng nhất mạnh:
“Không có một quan hệ một đối một đặc quyền năo giữa biểu thức Geoge Bush vẵng Geoge Bush đang lă tổng thống Hoa Kì Không nghi ngờ gì có hăng trăm (lă ítnhất) câc ông Geoge Bush trín thế giới Sở dĩ Geoge Bush quy chiếu với ông tổngthống đương nhiệm của Hoa Kì chỉ lă bởi vì có một người nói năo đó định dùng biểuthức năy cho câi mục đích ở một dịp đặc biệt năo đó” [77, tr.318] Như vậy, để có thểnhận diện được mối quan hệ giữa hai yếu tố trín, người nghe cần phải xâc định đượcchủ đích của người nói trong việc tạo lập ra phât ngôn
Tóm lại, khi nói về sở chỉ, câc nhă ngôn ngữ học đều thừa nhận: sở chỉ lă một hănh vi ngôn ngữ vă sở chỉ thể hiện mối quan hệ giữa đối tượng, sự vật trong thế giới khâch quan với một hình thức biểu đạt lă phương tiện ngôn ngữ.
b Quan niệm của câc tâc giả Việt Nam
Cũng băn về vấn đề sở chỉ, ở Việt Nam, có hai nhă ngôn ngữ học không thểkhông nhắc tới, đó lă Cao Xuđn Hạo vă Đỗ Hữu Chđu
- Quan niệm của Cao Xuđn Hạo:
Cần phải nói ngay rằng, Cao Xuđn Hạo đê dùng thuật ngữ sở chỉ để chỉ cả hănh
động sở chỉ (reference) lẫn vật sở chỉ (referent) Trong công trình nghiín cứu của mình,
8
Trang 18ông không đưa ra quan niệm cụ thể về sở chỉ như một hành động mà chỉ thể hiệnquan niệm này qua cách định nghĩa về vật sở chỉ Chính vì vậy, những trích dẫn dưới
đây của ông về sở chỉ phải được hiểu là vật sở chỉ (referent).
+ Cao Xuân Hạo cho rằng: “Sở chỉ là một sự vật cụ thể hay một tập hợp xác
định gồm những đối tượng cụ thể” [31, tr.104] Sở chỉ của từ chỉ xác định được khi từnằm trong câu (phát ngôn) Nói khác đi, “Trong câu nói các từ ngữ mới có thể có sởchỉ (referent)” [33, tr.105]
Chẳng hạn, một danh từ riêng như Hương chỉ có thể xác định được sở chỉ của
nó khi danh từ này nằm trong phát ngôn, kiểu như:
(2) Hương lớp 7A học rất giỏi.
Nhờ định ngữ lớp 7A mà sở chỉ của từ Hương trong trường hợp này được xác
định (với điều kiện lớp 7A chỉ có một người tên là Hương, còn nếu lớp 2A có haingười tên là Hương thì phải thêm các điều kiện khác) Đó là một con người cụ thể,phân biệt với tất cả những người cụ thể khác (cũng có tên là Hương hoặc không có
tên là Hương) Tách từ Hương ra khỏi phát ngôn, Hương vẫn là một danh từ riêng
nhưng chúng ta không thể xác định được nghĩa sở chỉ của từ này, tức là không thể xácđịnh được từ Hương ở đây chỉ ai, tức chỉ đối tượng cụ thể nào
+ Về khái niệm nghĩa sở chỉ, Cao Xuân Hạo nói rõ: Nghĩa sở chỉ của từ ngữ
“là mối liên hệ giữa từ ngữ và thế giới hiện thực” [31, tr.104] Chẳng hạn:
(3) Cái bút ở trên bàn là của bạn Trang.
Cái bút trong trường hợp này đã xác định được sở chỉ bởi ta biết nó quy chiếu đến đối tượng nào trong thực tế Đây là một cái bút cụ thể của một nhân vật cụ thể Tuy nhiên, để hiểu được nghĩa sở chỉ của từ (cái) bút, người nghe phải có sự liên hệ
với thực tế khách quan, tức là phải biết được một vật như thế nào được gọi là (cái)
bút, nói khác đi là phải hiểu được nghĩa biểu vật của từ bút.
Cao Xuân Hạo còn nói thêm: “Việc xác định sở chỉ của từ ngữ không thuộcbình diện nghĩa mà thuộc bình diện dụng pháp” [33, tr.54] Tức là chỉ xác định đượcnghĩa sở chỉ của từ ngữ khi chúng đi vào hoạt động
Ví dụ:
(4) Tôi đói quá!
Khi phát ngôn này tồn tại ở dạng tĩnh tại, người nghe sẽ không thể xác định
được nghĩa sở chỉ của từ tôi bởi không biết tôi ở đây quy chiếu vào ai Nhưng nếu câu
này phát ra bởi chủ thể A, tại thời điểm t, khi mà A vừa đi làm về và chưa ăn gì thì
Trang 19Tóm lại, theo cách hiểu của Cao Xuân Hạo thì sở chỉ là đối tượng cụ thể, xác
định, tồn tại trong một thế giới khả hữu (một thế giới có thể có thực và có thể không
có thực) Còn nghĩa sở chỉ của từ là mối liên hệ giữa từ với đối tượng mà từ phản ánh Khi chưa được sử dụng, từ không có nghĩa sở chỉ.
- Quan niệm của Đỗ Hữu Châu:
Đỗ Hữu Châu không dùng thuật ngữ sở chỉ để chỉ cả hành động sở chỉ (reference) và vật sở chỉ (referent) như Cao Xuân Hạo mà dùng thuật ngữchiếu vật vàvật quy chiếu.
Ông quan niệm:
+ “Chiếu vật (reference) là quan hệ giữa phát ngôn - cũng tức là giữa biểu thức chiếu vật - với các bộ phận trong ngữ cảnh của nó” [13, tr.192].
Vật quy chiếu (referent) là sự vật, hiện tượng tồn tại trong một thế giới khả hữu
- hệ quy chiếu Điều này có nghĩa là bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng có thể trở
thành vật quy chiếu nếu nó tồn tại trong một thế giới khả hữu nhất định Ví dụ:
(5) Nai Nhỏ xin phép cha được đi chơi xa cùng bạn.
Đặt trong thế giới hiện thực mà ta đang sống, phát ngôn trên sẽ là sai bởi Nai
chỉ là một loài động vật bậc thấp, không biết nói để có thể “xin phép cha” đi chơi.Tuy nhiên, sẽ là bình thường nếu phát ngôn trên được đặt trong hệ quy chiếu là thếgiới truyện cổ tích của trẻ em Điều này cho thấy, ở thế giới hiện thực này, có vật quychiếu được chấp nhận, nhưng nếu đem sang thế giới hiện thực khác, tức hệ quy chiếukhác, nó lại trở nên vô nghĩa
Đỗ Hữu Châu đã có cùng quan điểm với các tác giả nước ngoài khi chỉ rõ: “Tựbản thân mình, từ ngữ không có chiếu vật Chỉ có con người mới thực hiện hành vichiếu vật (sở chỉ) Bằng hành vi chiếu vật, người nói đưa sự vật hiện tượng mình địnhnói tới vào diễn ngôn của mình bằng các từ ngữ, bằng câu” [12, tr.61] Điều này có
nghĩa chỉ xác định được vật quy chiếu của từ ngữ khi chúng đi vào hoạt động.
Chẳng hạn, từ hôm nay khi đứng độc lập vẫn có nghĩa nhưng ta không thể biết
nó quy chiếu vào thời gian nào trong thực tế Nhưng khi ta đưa nó vào diễn ngôn,
kiểu như “Hôm nay tôi đi Hà Nội” và diễn ngôn này được phát bởi chủ thể A, tại thời điểm t thì ta dễ dàng xác định được hôm nay là thời gian cụ thể nào, tức là xác định được vật quy chiếu của từ hôm nay.
Tóm lại, cách hiểu về chiếu vật và vật quy chiếu (sở chỉ) của Đỗ Hữu Châu
không có gì khác so với cách hiểu của Cao Xuân Hạo
10
Trang 20+ Về khái niệm nghĩa sở chỉ, Đỗ Hữu Châu không gọi là nghĩa sở chỉ mà gọi
là nghĩa chiếu vật.
Theo ông, có thể hiểu về nghĩa chiếu vật (nghĩa sở chỉ) như sau:
Nghĩa chiếu vật là sự tương ứng giữa sự vật với một biểu thức chiếu vật Biểu
thức chiếu vật là kết cấu ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu) được dùng để chiếu vật Ví dụ:
(6) Con mèo nhà tôi rất thích bắt chuột.
Trong phát ngôn trên, con mèo nhà tôi là một biểu thức chiếu vật và biểu thức chiếu vật này được cấu tạo bởi một cụm từ Ở đây, con mèo nhà tôi có nghĩa chiếu vật
là chỉ một con mèo trong thực tế, đã được xác định, phân biệt với những sinh vật khác
cũng được gọi là mèo.
Nằm trong hệ thống, các từ có nghĩa biểu vật (và nghĩa biểu niệm) Nghĩa của
từ ghi trong từ điển là nghĩa biểu vật Khi được sử dụng, nghĩa biểu vật của từ chuyển hoá thành nghĩa chiếu vật Ví dụ, từ mẹ khi chưa sử dụng (trong từ điển) có nghĩa biểu vật là “người đàn bà có con, trong quan hệ với con” [71, tr.604] Nhưng khi
chúng ta nói:
(7) a Mẹ Hương là bác sĩ.
thì ba từ mẹ ở trong ví dụ (7) có nghĩa chiếu vật không giống nhau bởi nó chỉ
ba đối tượng khác nhau (ba bà mẹ cụ thể, khác nhau)
Như vậy, tương tự như cách hiểu về sở chỉ, cách hiểu về nghĩa sở chỉ (nghĩa
chiếu vật) của Đỗ Hữu Châu cũng đồng nhất với cách hiểu của Cao Xuân Hạo vềkhái niệm này
1.1.1.2 Khái niệm về sở chỉ
Chúng tôi hoàn toàn tán đồng với quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước
khi cho rằng sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ và sở chỉ đề cập đến mối quan hệ giữa đối tượng, sự vật trong thế giới khách quan với một hình thức biểu đạt là phương tiện ngôn ngữ như đã phân tích ở trên Theo đó, sở chỉ (reference) được chúng tôi định nghĩa như sau:
“Sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ mà nhờ nó, đối tượng/ sự vật trong thế giới khả hữu được người nghe/ đọc nhận diện thông qua một biểu thức ngôn ngữ (còn gọi
là biểu thức sở chỉ)”.
Trang 211.1.1.3 Các phương thức sở chỉ
Theo Đỗ Hữu Châu, “Phương thức chiếu vật (sở chỉ) là cách thức mà conngười sử dụng để thực hiện hành vi chiếu vật Chúng cũng là những con đường màngười nghe tìm ra nghĩa chiếu vật (nghĩa sở chỉ) từ các biểu thức chiếu vật nghe (đọc)được” [12, tr.64]
Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra 3 phương thức lớn để xác định nghĩa chiếu vật (nghĩa
sở chỉ), đó là 1) Dùng tên riêng, 2) Dùng biểu thức miêu tả và 3) Dùng chỉ xuất.
a Phương thức dùng tên riêng
- Tên riêng là tên đặt cho từng cá thể sự vật Tên riêng có chức năng cơ bản làchỉ cá thể sự vật đúng với phạm trù của cá thể được gọi tên bằng tên riêng đó Chẳnghạn, tên riêng chỉ người có chức năng cơ bản là chỉ cá thể người trong phạm trùngười, tên riêng của sông, núi có chức năng cơ bản là chỉ cá thể núi, sông trong phạmtrù vật thể tự nhiên, v.v Chính vì thế, thông thường, trong những hoàn cảnh cụ thể,
cứ dùng tên riêng là ta biết tên riêng đó sẽ ứng với người, vật hay địa danh nào Ví
dụ, trong một hoàn cảnh nhất định, khi ta nói: “Đà Nẵng thật giàu và đẹp” Hay:
“Hương có mái tóc thật dài” là ta biết ngay Đà Nẵng là tỉnh nào và Hương là ai.
- Tên riêng có thể trùng nhau Có thể nói, trùng tên gọi là hiện tượng rất phổbiến, đặc biệt là ở Việt Nam Việc trùng tên riêng sẽ dẫn đến việc mơ hồ về nghĩa sởchỉ và làm cho người đọc khó nhận diện được đối tượng được đề cập đến
Có hai trường hợp trùng tên riêng có thể xảy ra:
+ Các tên riêng trùng nhau nằm trong một phạm trù sự vật
VD: Thủy là tên của nhiều người Khi đó, để nhận diện hai đối tượng này, người
ta thường thêm tiểu danh vào sau tên riêng, kiểu như: Thủy cận, Thủy kều, v.v…
+ Các tên riêng trùng nhau không nằm trong một phạm trù sự vật
VD: Hương Giang có thể là tên của một cô gái, có thể là tên của một dòngsông, có thể là tên của một khách sạn Để phân biệt 3 đối tượng này, người ta sẽ thêm
danh từ chung vào trước tên riêng, kiểu như: sông Hương Giang, khách sạn Hương Giang, cô Hương Giang.
Tóm lại, dùng tên riêng là một trong những phương thức sở
chỉ b Phương thức dùng biểu thức miêu tả
Không phải sự vật, đối tượng nào trong hiện thực khách quan cũng có tên riêng.Nói cách khác, không phải sự vật, đối tượng nào cũng đặt được tên riêng cho nó Người
ta không thể đặt tên cho từng cái bút, cái cây, từng ngôi nhà bởi số lượng của chúng
12
Trang 22trong hiện thực là vô số Song các sự vật, đối tượng này nếu được đưa vào phát ngôn(dưới hình thức tên chung), chúng phải được người nghe (đọc) xác định đó là sự vật,đối tượng cụ thể nào.
Để người nghe (đọc) hiểu được nghĩa sở chỉ của những từ ngữ không phải là
tên riêng đó, ngoài ngữ cảnh cụ thể, người ta còn thường dùng yếu tố miêu tả đi kèm
với tên chung và nhờ yếu tố miêu tả này mà ta tách được sự vật - nghĩa sở chỉ (nghĩa
chiếu vật) ra khỏi các sự vật cùng loại
Chẳng hạn:
Đứng trước vài cái váy trong đó có một cái váy màu tím, A nói:
(9) “Cái váy đẹp quá!”
Trong trường hợp này, ta chưa xác định được nghĩa sở chỉ của váy vì chưa biết
A muốn chỉ cái váy cụ thể nào
Nhưng khi A nói:
(10) “Cái váy màu tím đẹp quá”
Ở đây, ta đã xác định được nghĩa sở chỉ của váy, bởi biểu thức (cái váy) màu tím đã tách được một cái váy cụ thể ra khỏi số váy đứng trước mặt.
Như vậy, dùng biểu thức miêu tả là “ghép các yếu tố phụ vào một tên chung,nhờ các yếu tố phụ mà tách được sự vật - nghĩa chiếu vật ra khỏi các sự vật khác cùngloại với chúng” [12, tr.67] Với cách quy chiếu này, biểu thức miêu tả sẽ tương đươngvới một tên riêng vì nó “đã thu hẹp phạm vi chiếu vật của tên chung đến cực tiểu:Nghĩa chiếu vật của một biểu thức miêu tả chỉ còn là một cá thể như nghĩa chiếu vậtcủa tên riêng” [12, tr.67]
Biểu thức miêu tả được chia ra thành hai loại: biểu thức miêu tả xác định và biểu thức miêu tả không xác định.
- Biểu thức miêu tả xác định
Ở các ngôn ngữ có mạo từ, biểu thức miêu tả xác định bao giờ cũng được
đánh dấu bằng những mạo từ xác định (như the trong tiếng Anh, le/ les trong tiếng
Pháp) Tiếng Việt do không có mạo từ cho nên biểu thức miêu tả thường được nhậndiện qua các yếu tố miêu tả Theo đó, một biểu thức miêu tả xác định trong tiếng Việtthường có hình thức là danh từ chung + yếu tố miêu tả, trong đó danh từ chung đóngvai trò chỉ dẫn sở chỉ, “chỉ ra thế giới khả hữu - hệ quy chiếu tương thích với biểuthức đó” [13, tr.225], còn yếu tố miêu tả sẽ giúp cho việc “tách sự vật ra khỏi sự vậtđồng loại khác trong thế giới khả hữu được chỉ dẫn bởi danh từ chung” [13, tr.225]
Trang 23(11) Người mặc áo tím là bạn của tôi.
Người mặc áo tím trong ví dụ trên là một biểu thức miêu tả xác định Trong biểu thức này, danh từ chung người có tác dụng chỉ ra thế giới khả hữu - hệ quy chiếu của biểu thức, yếu tố miêu tả mặc áo tím có tác dụng tách đối tượng ra khỏi những
đối tượng khác đang cùng xuất hiện Do đó, trong một ngữ cảnh cụ thể, nghe phátngôn trên, người nghe sẽ dễ dàng nhận diện được đối tượng mà người nói muốn quychiếu đến là đối tượng nào
Cần phải nói thêm rằng, một biểu thức miêu tả được coi là xác định khi biểuthức đó có tính duy nhất trong thế giới khả hữu - hệ quy chiếu Chẳng hạn như đểphát ngôn (11) thực hiện được chức năng quy chiếu hoàn hảo, chỉ một đối tượng được
có đặc điểm mặc áo tím Nếu trong bối cảnh, có hai đối tượng cùng có đặc điểm này,
rõ ràng biểu thức sẽ không giúp cho người nghe xác định được đối tượng mà biểuthức quy chiếu
- Biểu thức miêu tả không xác định:
Khi nghĩa sở chỉ của một biểu thức chưa được người nói và người nghe biếtthì biểu thức đó sẽ là biểu thức miêu tả không xác định
Biểu thức miêu tả không xác định được đánh dấu bằng mạo từ a/ un trong tiếng Anh và une/ des trong tiếng Pháp Trong tiếng Việt, “biểu thức miêu tả không xác định thường bắt đầu bằng một với danh từ có hoặc không có loại từ ở giữa” [13, tr.223] Theo đó, một cái bút, một người đàn bà, một quyển sách sẽ được coi là những
biểu thức miêu tả không xác định
Do nghĩa sở chỉ của biểu thức miêu tả không xác định chưa được người nói vàngười nghe biết cho nên biểu thức này thường có vai trò dẫn nhập Thông qua biểuthức, sự vật/ đối tượng lần đầu tiên được đưa vào diễn ngôn Sau lần đầu tiên này, sựvật/đối tượng sẽ được biểu thị bằng các biểu thức miêu tả xác định
c Phương thức dùng chỉ xuất
Chỉ xuất là phương thức xác định nghĩa sở chỉ bằng ngôn ngữ dựa trên hành
động chỉ trỏ Ví dụ, ta có phát ngôn sau đây:
Từ này trong ví dụ trên đã tách được Ngôi nhà ra khỏi một tập hợp các ngôi
nhà khác để ta có thể xác định được đó là ngôi nhà nào
Khác với các biểu thức miêu tả, các biểu thức chỉ xuất thực hiện hành vi sở chỉ thông qua chức năng định vị, có nghĩa là “chiếu vật (sở chỉ) thông qua việc xác định vị
14
Trang 24trí của vật được nói tới, phân biệt nó với tất cả các vật khác theo quan hệ không gian,thời gian và các quan hệ khác” [12, tr.72-73].
Trong ví dụ (12), khi nói ngôi nhà này tức là người nói đã xác định vị trí của
ngôi nhà với cái mốc là địa điểm mà người nói phát ra câu nói đó
Trong ngôn ngữ, có ba phạm trù chỉ xuất truyền thống, đó là: phạm trù chỉ xuất nhân xưng, phạm trù chỉ xuất không gian và phạm trù chỉ xuất thời gian Ngoài
ba phạm trù trên còn có phạm trù chỉ xuất diễn ngôn và phạm trù chỉ xuất xã hội Tuy
nhiên, chúng tôi chỉ trình bày ba phạm trù liên quan đến đối tượng tượng nghiên cứu
của luận văn, đó là: phạm trù chỉ xuất nhân xưng, phạm trù chỉ xuất không gian và phạm trù chỉ xuất thời gian.
- Phạm trù chỉ xuất nhân xưng:
+ Chỉ xuất nhân xưng chính là việc định vị vai nói/ nghe trong giao tiếp Khigiao tiếp, người nói bao giờ cũng dùng những biểu thức sở chỉ để tự quy chiếu mình,
tự đưa mình và đưa người giao tiếp với mình vào diễn ngôn
+ Các ngôn ngữ khác cũng như tiếng Việt có hệ thống từ dùng để xưng hô theo các ngôi thứ nhất, thứ hai và thứ ba Chẳng hạn, trong tiếng Việt:
Ngôi thứ nhất có các từ như: tôi, tớ, tao, chúng tớ, chúng tao,…
Ngôi thứ hai có các từ như: mày, chúng mày,…
Ngôi thứ ba có các từ như: nó, chúng nó, ông ấy, bà ấy,…và các bán đại từ (theo quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu trong [13, tr.306]) như: ông ấy, con ấy, ông
ta, bà ta…
Ngoài các đại từ dùng để xưng hô, trong tiếng Việt còn dùng cả tên riêng, các danh từ thân tộc hay các từ chỉ chức nghiệp.
• Dùng tên riêng để xưng hô:
(13) Hương ơi, mai Hà đến nhé!
Hà là tên riêng dùng để thay các đại từ xưng hô ngôi thứ nhất (tôi, tao, tớ…), còn Hương là tên riêng dùng để thay cho đại từ xưng hô ngôi thứ hai (mày, cậu…).
• Dùng danh từ thân tộc để xưng hô:
(14) Con đi học đây bố ạ.
Con là danh từ thân tộc được dùng để chỉ ngôi thứ nhất Bố là danh từ thân tộc
được dùng để chỉ ngôi thứ hai
• Dùng danh từ chỉ các chức vụ hoặc nghề nghiệp để xưng hô Ví
dụ: (15) Cho tôi gặp hiệu trưởng được không ạ?
Trang 25(16) Thưa cô giáo, tôi là phụ huynh của em Hương ạ.
Cô giáo là danh từ nghề nghiệp được dùng để chỉ ngôi thứ hai.
- Phạm trù chỉ xuất không gian:
“Chỉ xuất không gian là phương thức chiếu vật (sở chỉ) bằng cách định vị sự vật
- nghĩa chiếu vật (nghĩa sở chỉ) (sự vật được nói tới trong diễn ngôn) theo quan hệ không gian với sự vật mốc” [26, tr.310]
Một ví dụ của Đỗ Hữu Châu:
(17) Cuốn sách này rất thú vị.
Trong biểu thức cuốn sách này, danh từ ở vị trí trung tâm (cuốn sách) biểu thị
sự vật được định vị; từ này định vị cuốn sách trong tương quan với người nói.
- Phạm trù chỉ xuất thời gian:
“Chỉ xuất thời gian là phương thức chiếu vật (sở chỉ) thời gian bằng cách định
vị thời gian - nghĩa chiếu vật (nghĩa sở chỉ) theo quan hệ thời gian với một thời gianmốc (thời gian trung tâm chỉ xuất)” [13, tr.329]
Ví dụ:
(18) Người lúc nãy là bạn của tôi.
Người lúc nãy là một biểu thức chỉ xuất thời gian và để xác định được nghĩa
sở chỉ của biểu thức này, người nghe phải dựa vào mốc định vị thời gian là lúc nãy.
Tóm lại, muốn hiểu được nghĩa của phát ngôn, phải nắm được nghĩa sở chỉ của
biểu thức sở chỉ trong phát ngôn đó Có ba phương thức sở chỉ, đó là dùng tên riêng, dùng biểu thức miêu tả và dùng chỉ xuất Dựa vào 3 phương thức này mà người
nghe/đọc xác định được nghĩa sở chỉ của các biểu thức
1.1.2 Khái quát về hiện tượng đồng sở chỉ
Trong thực tế giao tiếp cũng như trong tác phẩm văn chương, chúng ta thườngthấy một đối tượng hay một tập hợp các đối tượng có giới hạn cụ thể có nhiều biểuthức để biểu thị Ví dụ:
(19) Để chỉ nhân vật chị Dậu, Ngô Tất Tố đã dùng các cách gọi như: chị Dậu, người đàn bà lực điền, chị chàng con mọn, v.v…Những biểu thức ngôn ngữ này được coi là đồng sở chỉ vì chúng cùng biểu thị một nhân vật cụ thể là chị Dậu.
Một ví dụ khác:
(20) Chị Sáu, người con gái đất đỏ cũng là những biểu thức đồng sở chỉ Những biểu thức này đều quy chiếu vào một nhân vật là chị Sáu.
R.E.Asher trong [72, tr.769] cũng chỉ ra rằng: “Mối quan hê ̣đồng sở chỉ cógiữa 2
biểu thức nếu vàchỉnếu khi chúng biểu thị cùng môṭcá thể Chẳng han, ̣ cái tên Mont
16
Trang 26Blanc vàthe highest mountain in Europe (ngọn núi cao nhất châu Âu) làđồng sở chỉ”
và “Hai danh ngữtiếng Anh A vàB đều biểu thị môṭcá thể thìchúng sẽ có tính đồng sở chỉ nếu vàchỉnếu A là B làđúng”.
Ví dụ:
(21) Obama is the President of UnitedState. (+)
(Obama là Tổng thống của nước Mỹ)
và:
(22) The President of United State is Obama (+)
(Tổng thống của nước Mỹ là Obama)
Khi đó, the President of United State và Obama là hai biểu thức có quan hệ đồng
sở chỉ
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản: hiện tượng đồng sở chỉ là hiện tượng dùng những biểu thức ngôn ngữ khác nhau để chỉ một đối tượng hay một tập hợp các đối tượng có giới hạn cụ thể.
Xin nói thêm, cơ sở để chúng tôi xác định các biểu thức đồng sở chỉ là việcxác định biểu thức sở chỉ gốc Theo chúng tôi, biểu thức sở chỉ gốc chính là tên riêngcủa các nhân vật Mỗi tên riêng đều ứng với một cá thể nhân vật ( nghĩa sở chỉ) Tất
cả các biểu thức ngôn ngữ khác được dùng để chỉ cá thể nhân vật đó cùng với biểuthức tên riêng tạo nên các biểu thức đồng sở chỉ
Có thể khái quát hiện tượng đồng sở chỉ như sau:
được các biểu thức ngôn ngữ trên quy chiếu
1.2 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ trong tiếng Việt
1.2.1 Hoạt động giao tiếp và các nhân tố giao tiếp
1.2.1.1 Khái niệm hoạt động giao tiếp
Theo Đỗ Việt Hùng, “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự tiếp xúc giữa con
Trang 27thể hiện thái độ, cách đánh giá, cách ứng xử của các nhân vật giao tiếp đối với nội dung giao tiếp và giữa các nhân vật giao tiếp với nhau” [17, tr.480].
Như vậy, giao tiếp là một hoạt động xã hội Nó đòi hỏi phải có những nhân tố
tham gia như ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn.
1.2.1.2 Các nhân tố giao tiếp
Một hoạt động giao tiếp được thực hiện dưới sự tham gia của các nhân tố chủyếu như đã nói ở trên Luận văn này trình bày nhân tố quan trọng liên quan trực tiếp
đến đối tượng nghiên cứu của luận văn, đó là ngữ cảnh.
a Khái niệm ngữ cảnh
“Ngữ cảnh (situtional context, context of situation; contexte de situation) làbối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay những thông tin ngoài ngôn ngữ gópphần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” [dẫn theo 13, tr.97]
b Các bộ phận của ngữ cảnh
- Nhân vật giao tiếp (còn gọi là đối ngôn)
Nhân vật giao tiếp được hiểu là những người tham gia vào hoạt động giao tiếp.Đây là nhân tố không thể thiếu trong một hoạt động giao tiếp, tức là không có nhânvật giao tiếp thì không có hoạt động giao tiếp
Nói đến nhân vật giao tiếp là nói đến sự phân vai giao tiếp và mối quan hệ liên
cá nhân.
+ Vai giao tiếp
Trong một cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp có sự phân vai giữa người nói
và người nghe (còn gọi là vai nói và vai nghe).
Vai nói là vai phát ra phát ngôn/ diễn ngôn Còn vai nghe là vai tiếp nhận phát ngôn/ diễn ngôn do vai nói phát ra.
Có nhiều vấn đề khi bàn về vai nói và vai nghe nhưng điều cần nói ở đây là vai nói, vai nghe sẽ chi phối việc lựa chọn từ ngữ xưng hô của các nhân vật giao tiếp sao cho phù hợp trong một cuộc giao tiếp.
+ Mối quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp
Mối quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp được thể hiện ở vị thế xã hội, vị thế giao tiếp và quan hệ thân cận.
• Vị thế xã hội của nhân vật giao tiếp:
Vị thế xã hội được hiểu là quan hệ trên/ dưới, cao/ thấp giữa các nhân vật giaotiếp Quan hệ trên/ dưới, cao/ thấp này thể hiện ở địa vị xã hội hay ở sự chia ngôi thứtrong gia đình, họ hàng…
18
Trang 28• Vị thế giao tiếp:
Vị thế giao tiếp thể hiện ở quyền chủ động hay bị động của các nhân vật giaotiếp trong một cuộc hội thoại Người nào nắm quyền chủ động nêu đề tài diễn ngôn,điều hành việc nói năng của những người cùng giao tiếp với mình, người đó sẽ ở vịthế giao tiếp mạnh Ai ngược lại sẽ ở vị thế giao tiếp yếu
Cũng như vị thế xã hội, vị thế giao tiếp cũng chi phối các nhân vật giao tiếplựa chọn từ ngữ, cách nói năng cho hợp lý
Tóm lại, vị thế xã hội, vị thế giao tiếp và mức độ thân cận là những mối quan
hệ liên cá nhân không chỉ chi phối quá trình giao tiếp mà còn chi phối cả nội dung vàhình thức của diễn ngôn Đặc biệt, xưng hô chịu áp lực rất mạnh của quan hệ liên cánhân Qua xưng hô mà ta xác định được vị thế và quan hệ thân cận của các nhân vậtgiao tiếp Chính bởi quan hệ liên cá nhân chi phối mạnh cách xưng hô nên việc sửdụng từ xưng hô là một chiến lược thiết lập quan hệ liên cá nhân trong hội thoại
- Hiện thực ngoài diễn ngôn
Theo Đỗ Hữu Châu, “Loại trừ diễn ngôn, loại trừ các đối ngôn, tất cả nhữngcái tạo thành môi trường cho một cuộc giao tiếp được gọi chung là hiện thực ngoàidiễn ngôn” [13, tr.106]
Như vậy, hiện thực ngoài diễn ngôn gồm các hợp phần như: hoàn cảnh giaotiếp, hiện thực đề tài; hệ quy chiếu, thế giới khả hữu và ngữ huống Ở đây, chúng tôixin đề cập đến hai hợp phần liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu của đề tài,
đó là hoàn cảnh giao tiếp và hệ quy chiếu, thế giới khả hữu.
+ Hoàn cảnh giao tiếp:
Có hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp.
Hoàn cảnh giao tiếp rộng (hay còn được gọi là tiền giả định bách khoa) baogồm “tổng thể các nhân tố chính trị, địa lý, kinh tế, văn hóa, lịch sử với các tư tưởng,các chuẩn mực về đạo đức, ứng xử, với các thiết chế các công trình, các tổ chứctương ứng, tạo nên cái gọi là môi trường xã hội - văn hóa - địa lý cho các cuộc giao
Trang 29Hoàn cảnh giao tiếp hẹp (còn gọi là thoại trường) là không gian, thời gian,điều kiện, v.v… cụ thể ở đó cuộc giao tiếp diễn ra.
Về hoàn cảnh giao tiếp, xin xem thêm [13, tr.110-112] Điều cần nói ở đây là,cũng như các nhân tố giao tiếp khác, hoàn cảnh giao tiếp (bao gồm cả hoàn cảnh giaotiếp rộng, hoàn cảnh giao tiếp hẹp) chi phối mạnh đến cách thức sử dụng ngôn ngữ.Nghĩa là, ở hoàn cảnh giao tiếp này, người ta phải nói năng, xử sự khác với hoàn cảnhgiao tiếp khác
+ Hệ quy chiếu, thế giới khả hữu
Hệ quy chiếu của diễn ngôn là “cái mảng, cái phần của hoàn cảnh giao tiếp rộng
mà một hoặc một số bộ phận của nó được người nói lựa chọn làm đề tài diễn ngôn vàngười nghe đối chiếu với nó để giải thuyết nghĩa của diễn ngôn nhận được” [13, tr.115]
Một ví dụ được Đỗ Hữu Châu đưa ra làm ví dụ, đó là:
(35) Làn da tư duy và tìm cách biểu hiện
Khi cánh tay nói, khi cặp chân suy nghĩ, khi các ngón tay trò chuyện với nhau không cần mọi thứ trung gian [13, tr.115]
Những phát ngôn sẽ trở nên phi lý nếu như chúng ta căn cứ vào nội dung ngữnghĩa mà từng phương tiện ngôn ngữ thể hiện Tuy nhiên, khi chúng ta biết hệ quychiếu của những phát ngôn ấy là nghệ thuật vũ ba lê thì rõ ràng, nghĩa của chúng trởnên dễ hiểu, hấp dẫn
Như vậy, có thể nói vấn đề hệ quy chiếu là “địa bàn để thực hiện sự chiếu vật(sự sở chỉ - reference) - vấn đề đầu tiên của ngữ dụng học” [13, tr.117]
Liên quan tới vấn đề hệ quy chiếu là vấn đề thế giới khả hữu (possible world;
monde possible)
Thuật ngữ thế giới khả hữu được các nhà triết học sử dụng để chỉ các thế giớiđược lấy làm hệ quy chiếu cho các diễn ngôn Và “Thế giới khả hữu không phải lànơi chốn mà là một cách thức có thể tồn tại hay đã từng tồn tại của thế giới Có vô sốthế giới khả hữu.” [dẫn theo 12, tr.21]
Như vậy, thế giới khả hữu không phải chỉ là thế giới thực tại Nó có thể là thếgiới ảo mà con người đã tưởng tượng ra như thế giới truyện cổ tích, thế giới của khoahọc viễn tưởng và thậm chí là thế giới của những người đã khuất
Tóm lại, vấn đề hoạt động giao tiếp và các nhân tố giao tiếp liên quan chặt chẽđến việc sử dụng cũng như việc giải nghĩa các biểu thức sở chỉ và đồng sở chỉ trongtiếng Việt Về vấn đề này, xin sẽ trình bày cụ thể trong quá trình triển khai đề tài
1.2.2 Khái quát về đoản ngữ, danh ngữ trong tiếng Việt
20
Trang 30b Các loại thành tố trong danh ngữ
Nguyễn Tài Cẩn trong [8] đã chỉ rõ, cấu thành nên danh ngữ có 2 loại thành tố:thành tố trung tâm (Trt) và thành tố phụ (P)
- Thành tố trung tâm của danh ngữ
Thành tố Trt của danh ngữ do danh từ đảm nhiệm, “chiếm vị trí nằm ngay giữalòng đoản ngữ” [8, tr.203]
Thành tố Trt có thể xuất hiện ở hai dạng:
+ Dạng đơn:
Ví dụ: (39) gạch hoa, dép mới, nhà cũ…
+ Dạng ghép: Gồm Trt1 và Trt2 trong đó Trt1 có ý nghĩa chỉ đơn vị đo lường,đóng vai trò là trung tâm về mặt ngữ pháp, Trt2 có ý nghĩa chỉ sự vật được đem ra tínhtoán đo lường, đóng vai trò là trung tâm về mặt ý nghĩa từ vựng
Ví dụ: (40) cuốn sách hay, con chim nhỏ…
Trt1 Trt2 Trt1 Trt2
- Thành tố phụ của danh ngữ
Thành tố P của DN gồm 2 bộ phận: bộ phận đứng ở vị trí trước Trt gọi là thành tố phụ trước (Pht) và bộ phận đứng sau Trt gọi là thành tố phụ sau (Phs)
+ Thành tố phụ trước của danh ngữ
Về mặt số lượng cũng như ý nghĩa, thành tố Pht của danh ngữ có 3 loại định tố(ĐT):
• ĐT cái, ví dụ: Cái cậu học sinh ấy
Trang 31• ĐT chỉ số lượng, ví dụ: Mấy cái cậu học sinh ấy
• ĐT chỉ ý nghĩa toàn bộ, ví dụ: Tất cả mấy cái cậu học sinh ấy Mỗi
ĐT trên sẽ chiếm một vị trí cố định trong thành tố Pht Cụ thể:
Thành tố phụ trước
Đương nhiên, 3 loại ĐT này không phải bao giờ cũng đồng thời xuất hiện Về điều này xin xem [8, tr.236]
+ Thành tố phụ sau của danh ngữ
Về mặt số lượng, không thể đưa ra được con số cụ thể về các ĐT của thành tốPhs Các ĐT này nhiều hay ít phụ thuộc vào mục đích người nói và sự hiểu biết củangười nghe về sự vật được nêu ở DN Chẳng hạn:
(41) Cái áo kia (1 ĐT)
(42) Cái áo trắng kia (2 ĐT)
(43) Cái áo trắng đang treo trên móc kia (3 ĐT)
(44) Cái áo trắng (mà) cổ tròn đang treo trên móc kia (4 ĐT)
v.v…
Tuy nhiên, dù thành tố Phs có số lượng là bao nhiêu ĐT đi chăng nữa thì các
ĐT này luôn quy về 2 loại ý nghĩa khái quát: ý nghĩa đặc trưng của sự vật được nêu
trong DN (như trắng, cổ tròn, đang treo trên móc) và ý nghĩa chỉ định (như kia).
c Các dạng xuất hiện của danh ngữ
Danh ngữ có thể xuất hiện ở 2 dạng: dạng đầy đủ và dạng không đầy đủ
Trang 32của mình, đó là trường hợp: anh sinh viên, người đàn bà, cuốn sách, …Có thể nhận
thấy đây là những tổ hợp có cấu tạo gồm hai thành tố Trt (Trt1 và Trt2) như đã nói ởtrên Vấn đề đặt ra ở đây là nếu coi chúng là DN thì những DN này thiếu thành tố phụ(điều kiện tiên quyết để một tổ hợp được xếp vào loại đoản ngữ)
Để tiện cho việc phân tích nguồn ngữ liệu nghiên cứu, ở đây chúng tôi vẫn xếpcác tổ hợp trên vào loại DN xuất hiện ở dạng không đầy đủ và coi đây là những DN
có kiểu cấu tạo đặc biệt (chỉ xuất hiện thành tố trung tâm và ẩn đi thành tố phụ)
Như vậy, xuất hiện ở dạng không đầy đủ, DN có thêm trường hợp thứ tư: chỉxuất hiện Trt1 và Trt2.
Đối với hiện tượng đồng sở chỉ, việc nhận diện nó chưa được sự thống nhấtgiữa các nhà ngôn ngữ học:
Quan niệm của các tác giả nước ngoài:
Khi nói về sở chỉ, các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận: sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ và sở chỉ thể hiện mối quan hệ giữa đối tượng, sự vật trong thế giới khách quan với một hình thức biểu đạt là phương tiện ngôn ngữ.
Trang 33Cũng bàn về vấn đề sở chỉ, ở Việt Nam, có hai nhà ngôn ngữ học không thể không nhắc tới, đó là Cao Xuân Hạo và Đỗ Hữu Châu.
- Quan niệm của Cao Xuân Hạo:
Cần phải nói ngay rằng, Cao Xuân Hạo đã dùng thuật ngữ sở chỉ để chỉ cả hành động sở chỉ (reference) lẫn vật sở chỉ (referent) Trong công trình nghiên cứu của mình, ông không đưa ra quan niệm cụ thể về sở chỉ như một hành động mà chỉ
thể hiện quan niệm này qua cách định nghĩa về vật sở chỉ Chính vì vậy, những trích
dẫn của ông về sở chỉ phải được hiểu là vật sở chỉ (referent).
- Quan niệm của Đỗ Hữu Châu:
Đỗ Hữu Châu không dùng thuật ngữ sở chỉ để chỉ cả hành động sở chỉ (reference) và vật sở chỉ (referent) như Cao Xuân Hạo mà dùng thuật ngữ chiếu vật
và vật quy chiếu.
Đỗ Hữu Châu đã có cùng quan điểm với các tác giả nước ngoài khi chỉ rõ: “Tựbản thân mình, từ ngữ không có chiếu vật Chỉ có con người mới thực hiện hành vichiếu vật (sở chỉ) Bằng hành vi chiếu vật, người nói đưa sự vật hiện tượng mình địnhnói tới vào diễn ngôn của mình bằng các từ ngữ, bằng câu” [12, tr.61] Điều này có
nghĩa chỉ xác định được vật quy chiếu của từ ngữ khi chúng đi vào hoạt động.
Như vậy, tương tự như cách hiểu về sở chỉ, cách hiểu về nghĩa sở chỉ (nghĩa
chiếu vật) của Đỗ Hữu Châu cũng đồng nhất với cách hiểu của Cao Xuân Hạo vềkhái niệm này
Để nghiên cứu vấn đề sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ một cách toàn diện vàsâu sắc, chúng tôi cũng đã trình bày những vấn đề lý thuyết liên quan trực tiếp đến
đối tượng nghiên cứu, đó là: Giao tiếp và các nhân tố giao tiếp; khái quát về đoản ngữ và danh ngữ tiếng Việt Những vấn đề lý thuyết này là cơ sở cho việc nghiên cứu
các biểu thức sở chỉ và biểu thức đồng sở chỉ về phương diện hình thức và ngữ nghĩa
24
Trang 34Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC BIỂU THỨC ĐỒNG SỞ CHỈ BIỂU THỊ NHÂN VẬT
TRONG SỐ ĐỎ, VỠ ĐÊ VÀ GIÔNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố được coi là bộ tam kiệt tiểu thuyết đồng sáng tác
năm 1936 của Vũ Trọng Phụng Chương 2 sẽ dành cho việc tìm hiểu đặc điểm của
các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong bộ tam kiệt tiểu thuyết này ở hai
phương diện: cấu trúc và ngữ nghĩa
2.1 Đặc điểm cấu trúc của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Số
đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng
Theo tư liệu đã thống kê, có 81 nhân vật được xuất hiện trong ba tiểu thuyết Số
đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng 81 nhân vật này được quy chiếu bằng 2080
biểu thức khác nhau và 2080 biểu thức này có tần số xuất hiện là 14821 lần Điều này
cho thấy, 81 nhân vật trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đã được ông gọi bằng rất
nhiều các cách gọi khác nhau và sự lặp lại của các cách gọi này cũng tương đối lớn
Có thể hình dung tổng số các nhân vật và tổng số các biểu thức đồng sở chỉ
cũng như tần số xuất hiện của các biểu thức trong 3 tiểu thuyết Số đỏ, Vỡ đê và
Giông tố của Vũ Trọng Phụng như sau:
Bảng 2.1 Tổng số các nhân vật, tổng số các biểu thức đồng sở chỉ và tần số xuất
hiện của các biểu thức trong Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng
1
Trang 35Bảng 2.2 Các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Số đỏ
Trang 36Bảng 2.3: Các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Vỡ đê
Trang 37Bảng 2.4: Các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Giông tố
2.1.1 Đặc điểm cấu trúc của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật qua việc dùng tên riêng
2.1.1.1 Số lượng và tần số xuất hiện
Xuân, cụ cố Hồng, bà Phó Đoan… là những biểu thức sở chỉ được dùng theo
phương thức dùng tên riêng Theo tư liệu đã thống kê, trong số 81 nhân vật, có 56nhân vật có tên riêng và 25 nhân vật không được quy chiếu bằng tên riêng 56 nhânvật này được quy chiếu bằng 308 biểu thức, với tần số xuất hiện là 4824 lần Có thểhình dung về số lượng biểu thức tên riêng cũng như tần số xuất hiện của 308 biểuthức này thông qua bảng tổng kết dưới đây:
28
Trang 38Bảng 2.5 Số lượng và tần số xuất hiện của biểu thức tên riêng
trong Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố STT
123
Nhìn vào bảng tổng kết trên, có thể nhận thấy Số đỏ có số lượng các nhân vật
được gọi bằng các biểu thức tên riêng nhiều nhất Lí do là vì tác phẩm này có sốlượng nhân vật nhiều hơn hai tác phẩm kia Hơn nữa, đặc điểm tính cách của các
nhân vật trong Số đỏ cũng tương đối phong phú nên các tên riêng để gọi những nhân
vật trong tác phẩm cũng đa dạng Điều này sẽ được chúng tôi phân tích cụ thể trongchương 3 của luận văn
Dưới đây là bảng tổng kết về các nhân vật được quy chiếu bằng biểu thức tênriêng trong 3 tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng
Bảng 2.6 Biểu thức tên riêng trong tác phẩm Số đỏ
Trang 39Bảng 2.7 Biểu thức tên riêng trong tác phẩm Vỡ đê
Trang 4015 Quan Công Sứ
2.1.1.2 Cấu tạo của biểu thức tên riêng
Theo tư liệu đã thống kê, biểu thức tên riêng mà Vũ Trọng Phụng sử dụng cóthể có cấu tạo là từ hoặc cụm từ
a Biểu thức tên riêng có cấu tạo là từ
Theo tư liệu đã thống kê, trong số 308 biểu thức tên riêng, có 33 biểu thức có
cấu tạo là từ, chiếm tỉ lệ 10,7% (33/308) Đây là các biểu thức hoặc là tên riêng, tên
riêng + tên đệm hay họ + tên đệm + tên riêng
Ví dụ:
(1) Cô Tuyết kính thờ nó vì Xuân được cụ bà kính thờ [NNL1, tr.78]
(2) Những câu nói như thế có một hiệu lực làm cho Văn Minh ở cấp tiến mà
muốn quay hẳn về bảo thủ [NNL1, tr.122]
(3) Người phó tổng mặt tái xám, run lẩy bẩy, để cho Kim Dung đứng sau lung
bố bịt mồm cả cười một cách rất đỗi ngây thơ [NNL3, tr.51]
(4) Bốn hôm trước, Tạ Đình Hách, trước khi ra đi vào lúc đêm khuya, có nói
với mấy người rằng sẽ không có mặt ở ấp độ một tuần lễ…[NNL2, tr.138]
Có thể nhận thấy các biểu thức Xuân, Văn Minh, Kim Dung, Tạ Đình Hách hoàn toàn là tên đặt cho cá thể sự vật mà không đi kèm với yếu tố nào khác Trong đó, Xuân là tên riêng, Văn Minh, Kim Dung là tên đệm + tên riêng, Tạ Đình Hách là họ + tên đệm
+ tên riêng (Xin nói thêm, hiện nay có ý kiến cho rằng họ, tên đệm, tên riêng không
phải là một từ nhưng cũng có ý kiến gọi chung cả ba yếu tố là danh từ riêng, tức là từ.
Trong lúc các ý kiến còn chưa ngã ngũ, chúng tôi tạm theo quan điểm thứ hai)
b Biểu thức tên riêng có cấu tạo là cụm từ
Tư liệu của chúng tôi cho thấy, có 275 biểu thức tên riêng có cấu tạo là cụm từ,chiếm tỉ lệ 89,3% (275/308) Đó là các trường hợp như:
(5) Khi đi ngang qua chợ Đồng Xuân, Long đã thoáng nom thấy ông đồ Uẩn
ngồi vắt vẻo trên chiếc xe nhà mà Tú Anh đã tậu cho Mịch [NNL2, tr.357]
(6) Bà nghị ạ, đây là ông khóa Hiền…[NNL3, tr.415]
(7) Thưa cậu, đây là giấy của bác Khoát, lúc ra đi có viết lại mấy chữ và bảo
con đưa cho cậu [NNL3, tr.113]