1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hành vi cảm thán trong tác phẩm tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của nguyễn nhật ánh

104 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 156,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là các công trình: Ngữ dụng học của Nguyễn Đức Dân; Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, phần viết về ngữ dụng học của Đỗ Hữu Châu; Dụng học Việt Ngữ của Nguyễn Thiện Giáp… Ngoài ra có nhiề

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,

VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,

VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ QUANG NĂNG

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhântôi Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực vàchưa từng được công bố, sử dụng trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 4 năm 2019

Tác giả luận văn

Nông Thị Thu Huyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn

PGS.TS Hà Quang Năng - Người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong

quá trình thực hiện đề tài của luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy, cô Khoa Ngữ VănTrường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ và tạo điều kiệncho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin cảm ơn tập thể lớp cao học K25B - ngành Ngôn ngữ Việt Namtrường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã đóng góp ý kiến trong quá trình họctập và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồngnghiệp và cơ quan đã quan tâm, động viên, chia sẻ và tạo mọi điều kiện đểgiúp tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 4 năm 2019

Tác giả luận văn

Nông Thị Thu Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của luận văn 3

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn 3

7 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu hành vi ngôn ngữ và hành vi cảm thán ở Việt Nam và trên thế giới 5

1.1.1 Về hành vi cảm thán và câu cảm thán 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về Nguyễn Nhật Ánh 7

1.2 Cơ sở lí luận 7

1.2.1 Lí thuyết về hành vi ngôn ngữ 7

1.2.2 Hành vi cảm thán 12

1.2.3 Mối quan hệ giữa hành vi cảm thán và câu cảm thán 15

1.2.4 Lí thuyết hội thoại 17

1.3 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh 24

1.4 Vị trí của “Tôi thấy hoa vàng trên có xanh” trong hành trình sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh 26

Trang 6

Tiểu kết chương 1 27

Chương 2: MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN HÀNH VI CẢM THÁN TRONG TÁC PHẨM TÔI THẤY HOA VÀNG TRÊN CỎ XANH 29

2.1 Phương tiện thể hiện hành vi cảm thán trong tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh 29

2.1.1 Dùng từ cảm thán 29

2.1.2 Dùng quán ngữ 40

2.2 Các loại hành vi cảm thán trong tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh 44

2.2.1 Hành vi cảm thán trực tiếp 44

2.2.2 Hành vi cảm thán gián tiếp 53

Tiểu kết chương 2 60

Chương 3: CHỨC NĂNG HỘI THOẠI CỦA HÀNH VI CẢM THÁN TRONG TÁC PHẨM TÔI THẤY HOA VÀNG TRÊN CỎ XANH 62

3.1 Dẫn nhập 63

3.2 Chức năng duy trì cuộc thoại của hành vi cảm thán 63

3.2.1 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi hỏi 64

3.2.2 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi cầu khiến 67

3.2.3 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi cảm thán 69

3.2.4 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi thông báo 71

3.2.5 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi thuyết phục 72

3.2.6 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi kể 73

3.2.7 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi đánh giá 74

3.2.8 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi nhắc nhở 75

3.2.9 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi đe dọa 75

3.2.10 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi xin lỗi 76

3.3 Chức năng dẫn nhập cuộc thoại của hành vi cảm thán 77

3.3.1 Hành vi cảm thán dẫn nhập cuộc thoại thể hiện bằng hành vi cầu khiến .78

Trang 7

3.3.2 Hành vi cảm thán dẫn nhập cuộc thoại thể hiện bằng hành vi chào,

hô gọi 79

3.3.3 Hành vi cảm thán dẫn nhập cuộc thoại để tuyên bố, thông báo 79

3.3.4 Hành vi cảm thán dẫn nhập cuộc thoại để nhận xét, đánh giá 80

3.3.5 Hành vi cảm thán dẫn nhập cuộc thoại để đe dọa 81

3.4 Chức năng kết thúc cuộc thoại của hành vi cảm thán 81

3.4.1 Hành vi cảm thán kết thúc cuộc thoại được thực hiện gián tiếp bằng biểu thức của hành vi cầu khiến 82

3.4.2 Hành vi cảm thán kết thúc cuộc thoại được thực hiện gián tiếp bằng biểu thức của hành vi nhận xét, đánh giá 83

3.4.3 Hành vi cảm thán kết thúc cuộc thoại được thực hiện gián tiếp bằng biểu thức của hành vi tuyên bố, thông báo 84

3.4.4 Hành vi cảm thán kết thúc cuộc thoại được thực hiện gián tiếp bằng biểu thức của hành vi khen 85

3.4.5 Hành vi cảm thán kết thúc cuộc thoại được thực hiện gián tiếp bằng biểu thức của hành vi chửi 86

Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê, phân loại từ ngữ cảm thán 30

Bảng 2.2 Thống kê phân loại quán ngữ đưa đẩy 40

Bảng 3.1 Thống kê chức năng của hành vi cảm thán trong hội thoại 63

Bảng 3.2 Thống kê chức năng duy trì cuộc thoại của hành vi cảm thán 64

Bảng 3.3 Thống kê chức năng dẫn nhập cuộc thoại của hành vi cảm thán 78

Bảng 3.4 Thống kê chức năng kết thúc cuộc thoại của hành vi cảm thán 82

Trang 9

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ học hiện đại (trong đó có Việt ngữ học) từ những năm 60 của thế

kỷ XX đã và đang đi sâu nghiên cứu những vấn đề theo Lý thuyết hành độngngôn từ (Speech act Theory, còn được gọi là Thuyết hành vi ngôn ngữ) do hainhà ngữ học nổi tiếng J L Austin và J Searle đề xướng Ngày nay, vấn đề nàyngày càng được nhiều nhà ngôn ngữ quan tâm và nghiên cứu Theo quan điểmcủa thuyết này thì “nói chính là hành động” Nghĩa là, khi người ta nói tức làngười ta đang thực hiện một hành động như mọi hành động khác trong cuộcsống Trong nhiều hành vi ngôn ngữ được xét, có hành vi chào hỏi, cám ơn, xinlỗi, khen, chê, thỉnh cầu, cam kết, mắng chửi, phàn nàn… và cảm thán Trong

đó hành vi cảm thán là hành vi thể hiện rõ nhất tình cảm, cảm xúc của conngười Hành vi này thường được biểu thị bằng câu cảm thán gắn liền với giaotiếp, với môi trường sử dụng tức là môi trường hội thoại

1.2 Nguyễn Nhật Ánh sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại tỉnh Quảng Nam Ôngđược coi là một trong những nhà văn viết sách cho tuổi mới lớn thành côngnhất hiện nay, với hơn 100 tác phẩm các thể loại Tên tuổi của nhà văn Nguyễn

Nhật Ánh gắn liền với các tác phẩm làm say lòng độc giả bao thế hệ như Mắt biếc, Còn chút gì để nhớ, Hạ đỏ, Cô gái đến từ hôm qua, Chú bé rắc rối, … Truyện của ông được tái bản liên tục và chưa bao giờ giảm sức hút với những

người yêu mến chất văn Nguyễn Nhật Ánh

1.3 “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” là một tiểu thuyết dành cho thanh thiếu

niên của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, tác phẩm từng nhận được giải thưởng vănhọc ASEAN tại Thái Lan Tiểu thuyết kể về những giai đoạn mà đời người ai cũngtừng trải qua nhưng đôi khi bộn bề với cuộc sống, cơm áo gạo tiền và những nỗi lokhông đặt hết tên chúng ta quên mất đi sự tồn tại của nó Đó là “tuổi thơ” Có thể

xem cuốn sách Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh là một chuyến tàu chở đầy tuổi thơ,

mỗi mẩu chuyện nhỏ là một toa tàu, mỗi toa tàu là những màu sắc thú vị khácnhau, có người sẽ bật cười, có người sẽ rưng lệ Với người trẻ có thể đó

Trang 10

là hình bóng của mình, nhưng với người lớn, câu chuyện cũng có thể là nỗi ănnăn về tuổi thơ, những hoài bão cao đẹp Tất cả những điều tưởng như giản dị

ấy lại làm nên thành công của thiên tiểu thuyết

Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh tuy nhiên bình diện ngôn ngữ chưa được chú ý nhiều, trong

đó, hành vi cảm thán trong tiểu thuyết của Nguyễn Nhật Ánh là đề tài chưatừng được nghiên cứu

Vì những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu “Hành vi cảm thán trong

tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn Nhật Ánh” cho đề tài

luận văn của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Nắm vững và biết vận dụng những cơ sở lí thuyết có liên quan đến đề tài để xác lập một khung lí thuyết cho đề tài luận văn

- Khảo sát, thống kê, phân loại các phương tiện thể hiện hành vi cảm

thán, các loại hành vi cảm thán trong tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh.

- Tìm hiểu chức năng của hành vi cảm thán trong hội thoại: chức năng dẫn nhập cuộc thoại, chức năng duy trì cuộc thoại và chức năng kết thúc cuộc thoại

3. Đối tượng, phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là “Hành vi cảm thán trong tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn Nhật Ánh”.

Trang 11

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Các phương tiện ngôn ngữ thể hiện hành vi cảm thán Đó là các từ ngữ cảm thán, các quán ngữ và các loại hành vi cảm thán: trực tiếp và gián tiếp

3.3 Ngữ liệu nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát ngữ liệu trong truyện dài Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh Nhà xuất bản trẻ, 2015.

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp miêu tả

Chúng tôi tiến hành phân tích ngữ liệu, miêu tả các hiện tượng, để thấyđược một cách cụ thể đặc điểm hành vi cảm thán trong tác phẩm Nguyễn NhậtÁnh Từ đó rút ra nhận định tổng quát về đối tượng nghiên cứu

4.2. Phương pháp phân tích diễn ngôn

Bằng phương pháp này chúng tôi tiến hành phân tích tác phẩm củaNguyễn nhật Ánh với vai trò là ngữ liệu để rút ra các phương tiện thể hiện hành

vi cảm thán, các chức năng của hành vi cảm thán trong hội thoại

4.3. Thủ pháp thống kê, phân loại

Chúng tôi tiến hành khảo sát các phương tiện thể hiện hành vi cảm thán, các loại hành vi cảm thán, chức năng của hành vi cảm thán trong hội thoại

5. Đóng góp của luận văn

Luận văn đưa ra cách tiếp cận mới đối với tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh trên cơ sở kiến thức liên ngành ngôn ngữ và văn học

6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lí luận

Luận văn góp phần làm rõ những biểu hiện và chức năng của hành vi cảm

thán trong tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn Nhật Ánh.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đóng góp cho việc phân tích, giảng

dạy tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn Nhật Ánh trên bình

diện ngữ dụng học thông qua việc miêu tả, phân tích các hành động ngôn ngữtrong hội thoại giữa các nhân vật

Trang 12

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm

3 chương:

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

- Chương 2: Một số phương tiện và phương thức biểu hiện hành vi cảm

thán trong tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh.

- Chương 3: Chức năng hội thoại của hành vi cảm thán trong tác phẩm

Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh.

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu hành vi ngôn ngữ và hành vi cảm thán ở việt Nam và trên thế giới

1.1.1 Về hành vi cảm thán và câu cảm thán

Từ cuối những năm 80 trở lại đây, ở Việt Nam vấn đề hành vi ngôn ngữ

đã thu hút được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Các công trình nghiêncứu về hành vi ngôn ngữ nói chung và hành vi cảm thán nói riêng đã được đưavào giảng dạy trong các trường học Cảm thán trở thành vấn đề ngữ dụng quenthuộc Câu cảm thán là một trong bốn kiểu câu phân theo mục đích nói năng:Câu tường thuật, Câu nghi vấn, Câu cảm thán và Câu cầu khiến Việc phân chianhư trên được đề cập nhiều trong các tác phẩm nghiên cứu về ngữ pháp học và

cả trong ngữ dụng học Đó là các công trình: Ngữ dụng học của Nguyễn Đức Dân; Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, phần viết về ngữ dụng học của Đỗ Hữu Châu; Dụng học Việt Ngữ của Nguyễn Thiện Giáp… Ngoài ra có nhiều bài nghiên cứu về từ cảm thán, câu cảm thán như: Sắc thái cảm thán qua một số từ cảm thán trong tiếng Việt và ứng dụng vào việc giảng dạy tiếng Việt thực hành (Tạp chí Khoa học - KHXH - ĐHQGHN, số 6/1999); Một số hình thức hỏi biểu thị cảm thán trong tiếng Việt (Tạp chí Ngôn ngữ, số 10/2003, Hà Nội) Đặc biệt là luận án Tiến sĩ Câu cảm thán trong tiếng Việt của tác giả Nguyễn

Thị Hồng Ngọc, 2004 nghiên cứu khái niệm, cấu trúc, đặc điểm về hình thứccủa câu cảm thán trong tiếng Việt, nghiên cứu câu cảm thán từ góc độ ngữnghĩa và ngữ dụng để nêu lên được các giá trị cơ bản của câu cảm thán trongtiếng Việt, giúp hiểu thấu đáo các nét sắc thái cảm thán được thể hiện trong câucảm thán và tầm tác động của câu cảm thán trong hành chức

Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về hành vi cảm thán chưa nhiều.Theo tìm hiểu của chúng tôi có những công trình nghiên cứu của các tác giảsau: Hà Thị Hải Yến, Phạm Kim Thoa, Phạm Thanh Vân, Nguyễn Thị Việt Lê

và Bạch Quỳnh Hoa

Trang 14

Luận án tiến sĩ của tác giả Hà Thị Hải Yến (2004): Hành vi cảm thán và

sự kiện lời nói cảm thán trong tiếng Việt Luận án đã nghiên cứu hành vi cảm

thán, sự kiện, lời nói cảm thán trong hội thoại, cụ thể là trong cặp thoại, đoạnthoại và trong một số hình thức hội thoại đặc biệt như lời than khóc trong lễtang, nhật kí, điếu văn, văn tế Đây là luận án đầu tiên nghiên cứu về hành vicảm thán và sự kiện lời nói cảm thán trong hội thoại tiếng Việt Luận án đã xâydựng định nghĩa về hành vi cảm thán, sự kiện lời nói cảm thán; chỉ ra đượcbiểu thức ngữ vi, phát ngôn ngữ vi của hành vi cảm thán trong sự kiện lời nóicảm thán, phân loại hành vi cảm thán, đồng thời đưa ra cấu trúc hình thức của

sự kiện lời nói cảm thán trong tiếng Việt Qua đó, luận án khẳng định vị trí, vaitrò của hành vi cảm thán, sự kiện lời nói cảm thán trong hội thoại tiếng Việt

Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Kim Thoa: Hành vi cảm thán trong Truyện Kiều (2009) đã chỉ ra các đặc trưng của hành vi cảm thán và tác dụng của hành vi cảm thán trong truyện Kiều Từ đó tác giả tìm hiểu sâu thêm về vai

trò của hành vi cảm thán trong việc xây dựng hình tượng nhân vật và thể hiệnthái độ của tác gia Nguyễn Du Luận văn đã mở ra một hướng nghiên cứu tácphẩm Truyện Kiều dưới góc độ ngữ dụng học

Luận văn thạc sĩ Hành động cảm thán trong tiếng Việt (2010) của tác giả

Phạm Thanh Vân đã tiếp nhận và vận dụng những kết quả nghiên cứu của ngônngữ học về vấn đề cảm thán, từ đó đặc trưng hóa các phương thức thể hiệnhành động cảm thán trong tiếng Việt Đó là: phương thức thể hiện trực tiếp vàphương thức thể hiện gián tiếp hành động cảm thán trong tiếng Việt

Luận văn thạc sĩ Hành vi cảm thán trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

(2013) của tác giả Nguyễn Thị Việt Lê đã vận dụng lý thuyết về hành vi ngônngữ và lí thuyết hội thoại để nghiên cứu các phương tiện biểu thị hành vi cảmthán, các loại hành vi cảm thán và chức năng của hành vi cảm thán trong tiểuthuyết Vũ Trọng Phụng

Luận văn Hành vi cảm thán trong truyện ngắn Nguyễn thị Thu Huệ (2015)

của tác giả Bạch Quỳnh Hoa đã vận dụng lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và líthuyết hội thoại để nghiên cứu các phương tiện biểu thị hành vi cảm thán, các

Trang 15

loại hành vi cảm thán và chức năng của hành vi cảm thán trong tuyển tậptruyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ.

Trên đây là một số công trình nghiên cứu về hành vi cảm thán và câucảm thán mà chúng tôi đã biết đến

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về Nguyễn Nhật Ánh

Cho đến nay đã có một số công trình tìm hiểu, đánh giá nội dung - hìnhthức biểu hiện trong truyện thiếu nhi Nguyễn Nhật Ánh nhưng chủ yếu là đặcđiểm chung, hoặc các bài nghiên cứu, đánh giá về truyện thiếu nhi này chỉ nằmxen kẽ trong nhận định cụ thể

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu mới từ góc độ vănhọc, chưa có công trình nào nghiên cứu về ngôn ngữ mà cụ thể là hành vi cảmthán trong tác phẩm của Nguyễn Nhật ánh

Như vậy căn cứ vào tình hình thực tiễn nghiên cứu về hành vi cảm thán

và về tác giả Nguyễn Nhật Ánh, chúng tôi chọn đề tài: “Hành vi cảm thán trong tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn Nhật Ánh”.

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Lí thuyết về hành vi ngôn ngữ

1.2.1.1 Khái niệm “hành vi ngôn ngữ”

Nghiên cứu ngữ dụng học không thể không nhắc đến các hành động ngôn ngữ Có thể hiểu hành động ngôn ngữ hay hành vi ngôn ngữ là loại hành động đặc biệt mà phương tiện biểu hiện chính là ngôn ngữ, chúng được thực hiện khi ta nói năng Theo các nhà nghiên cứu, người đầu tiên đặt nền móng cho lí thuyết về hành

vi ngôn ngữ là J.L Austin một - nhà triết học người Anh Công trình nghiên cứu

của ông về hành vi ngôn ngữ đã được tổng hợp trong cuốn How to do things with word (Hành động như thế nào bằng lời nói) và sau này đã được phát triển bởi nhà triết học J Searle với công trình Speech Acts.

Ở Việt Nam, từ cuối những năm 1980 trở lại đây, nghiên cứu về ngữdụng học mà đặc biệt là vấn đề hành vi ngôn ngữ đã thu hút được sự quan tâm

của các nhà ngôn ngữ học Theo đó khi định nghĩa về “hành vi ngôn ngữ”

Trang 16

các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam đã trình bày một số khái niệm nhưsau:

Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C” [8; 88].

Nguyễn Đức Dân lại cho rằng: “Khi thực hiện một phát ngôn trong một tình huống giao tiếp cụ thể, qua cung cách phát ngôn và cấu trúc của nó người nói đã thực hiện những hành vi ngôn ngữ nhất định và người nghe cảm nhận được điều này Xảy ra hiện tượng đó vì các hành vi ngôn ngữ mang tính chất

xã hội, được ước chế bởi xã hội” [13; 220].

Còn theo Nguyễn Thiện Giáp, ông gọi hành vi ngôn ngữ là hành động

ngôn từ và cho rằng: “Các hành động được thực hiện bằng lời là hành động ngôn từ Hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn” [15; 337-338].

“Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, đã định nghĩa hành vi ngôn ngữ là: "Một đoạn lời nói có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu

- ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó” [46; 107].

Như vậy, có thể khẳng định “hành vi ngôn ngữ” chính là một hành động

sử dụng ngôn từ nhằm tác động đến người tiếp nhận lời trong giao tiếp; nó gắn liền với hoạt động nói năng của con người và mang tính chất xã hội.

1.2.1.2 Các loại hành vi ngôn ngữ

J.L Austin c h i a hành động ngôn ngữ thành ba loại hành vi lớn là acte locutoire, acte perlocutoire, acte illocutoire, Đỗ Hữu Châu đã dịch là: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời.

Trang 17

a Hành vi tạo lời.

Là hành động nói tạo ra một chuỗi các âm thanh có nghĩa làm thành nộidung mệnh đề (nội dung phán đoán) trong lời Từ đó ý nghĩa của lời được xáclập Đây là phần ý nghĩa biểu thị nội dung mệnh đề

b Hành vi mượn lời

Là những hành động “mượn” phương tiện ngôn ngữ, đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc chính người nói Hành động mượn lời khi thực hiện một phát

ngôn là hành vi nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, trong tâm lý (xúcđộng, yên tâm, bực mình, phấn khởi ), trong hành động vật lý có thể quan sátđược gây ra một tác động nào đấy đối với ngữ cảnh

c Hành vi ở lời

Hành vi ở lời (còn được gọi là hành động ngôn trung) là những hànhđộng người nói thực hiện ngay khi nói năng nhằm gây ra những hiệu quả ngônngữ, tức là chúng ta gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng ở người nhận

Đó là hành động nói được thực hiện bằng một lực thông báo của một phát ngôn(lực ngôn trung) thể hiện mục đích giao tiếp nhất định của lời (đích ngôntrung) như trần thuật, hỏi, cầu khiến làm nên ý nghĩa ngôn trung Đích ngôntrung và lực ngôn trung đều được dùng làm tiêu chí nhận diện hành động ngôntrung bởi vì cùng một mục đích ngôn trung lại có thể được thực hiện bằngnhững lời mang lực ngôn trung khác nhau

Như vậy, khi thực hiện một phát ngôn, người nói thực hiện ba loại hành

vi này, trong đó hành vi ở lời được các nhà ngữ dụng học quan tâm nhất, đồngthời đây là loại hành động tạo nên sắc thái giao tiếp phong phú, chính vì vậy ởluận văn này chúng tôi chỉ đi sâu vào phân tích, khảo sát đối tượng nghiên cứuhành vi ở lời

1.2.1.3 Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời

Theo Đỗ Hữu Châu: “Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó.” [8; 111] Theo Austin, điều kiện sử dụng các hành

Trang 18

vi ở lời là các điều kiện “may mắn”, nếu chúng được đảm bảo thì hành vi mới

“thành công”, đạt hiệu quả

Sau khi điều chỉnh và bổ sung vào những điều kiện may mắn của Austin,Searle đã gọi chúng là những điều kiện sử dụng hay điều kiện thoả mãn Ôngcho rằng có bốn điều kiện sử dụng các hành vi ở lời sau:

a. Điều kiện nội dung mệnh đề chỉ ra bản chất nội dung của hành động Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hành vi khảo

nghiệm, xác tín hay miêu tả), hay một hàm mệnh đề (đối với câu hỏi khép kín,tức những câu hỏi chỉ có hai khả năng có hoặc không; phải, không phải…).Nội dung của mệnh đề có thể là hành động của người nói (hứa hẹn), hay mộthành động của người nghe (lệnh, yêu cầu)

b. Điều kiện nội dung chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát

ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về mối quan hệ giữa ngườinói, người nghe Ví dụ khi ra lệnh, người nói phải tin rằng người nhận lệnh cókhả năng thực hiện hành động quy định trong lệnh…sự hứa hẹn có ý muốnthực hiện lời hứa và người nghe cũng thực sự mong muốn lời hứa được thựchiện Khảo nghiệm, xác tín, không những đòi hỏi người nói nói một cái gì đóđúng mà còn đòi hỏi anh ta phải có những bằng chứng

c. Điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lý tương ứng của người

phát ngôn Xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín; lệnhđòi hỏi lòng mong muốn; hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói…

d. Điều kiện căn bản đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người

nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời đó được phát ra Trách nhiệm có thể rơi vàohành động sẽ được thực hiện (lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực củanội dung (một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúngđắn của điều được nói ra)

1.2.1.4 Phân loại hành vi ở lời

Các nhà nghiên cứu chia các hành vi ngôn ngữ ra hai loại: hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp

Trang 19

a Hành vi ở lời trực tiếp

Theo Đỗ Hữu Châu, hành vi ở lời trực tiếp được hiểu là: “ các hành vi ngôn ngữ chân thực, nghĩa là các hành vi được thực hiện đúng với các điều kiện sử dụng, đúng với các đích ở lời của chúng đúng với các điều kiện sử dụng.” [8; 145].

George Yule thì quan niệm: “Chừng nào có mối liên hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng, thì ta có một hành động nói trực tiếp” [17; 110].

Cùng quan điểm với Yule, Nguyễn Thiện Giáp nhận định: “Hành động ngôn từ trực tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng” [15; 390].

Ví dụ:

[1] “Ối, đau em quá!” [1; 46]

Đây là phát ngôn của nhân vật Tường với hành vi cảm thán thể hiện trựctiếp thái độ đau đớn sau khi bị người anh trai ném đá trúng đầu khi hai anh em

rủ nhau chơi trò ném đá

b Hành vi ở lời gián tiếp

Thuật ngữ hành vi ở lời gián tiếp là do Searle đặt ra Theo ông, “ một hành vi ở lời được thực hiện gián tiếp thông qua một hành vi ở lời khác sẽ được gọi là một hành vi gián tiếp” [10; 60].

Trong thực tế giao tiếp, một phát ngôn thường không phải chỉ có một đích

ở lời Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành vi ở lời này nhưnglại nhằm hiệu quả hành vi ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành vi

ngôn ngữ gián tiếp Theo Đỗ Hữu Châu, hành vi ngôn ngữ gián tiếp là: “… một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác” [10; 146]

Sử dụng hành vi ở lời trực tiếp sẽ hạn chế được hiện tượng mơ hồ về nghĩa,song trong cuộc sống không phải lúc nào người ta cũng có thể nói thẳng ra ý địnhcủa mình Chính vì vậy người ta hay mượn hành vi ngôn ngữ này để biểu đạt hiệuquả ở lời của một hành vi ngôn ngữ khác tạo thành hành vi ở lời gián tiếp Vấn đề

Trang 20

này đã được Austin, Searle và nhiều nhà ngôn ngữ trên thế giới quan tâmnghiên cứu và làm sáng tỏ hơn.

Theo George Yule: “Chừng nào có một mối liên hệ gián tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng, thì ta có một hành động nói gián tiếp" [17; 110].

Nguyễn Thiện Giáp khẳng định: “Hành động ngôn từ gián tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ gián tiếp giữa một chức năng và một cấu trúc” [15; 390].

Còn Nguyễn Đức Dân thì cho rằng: “Một hành vi ngôn ngữ được gọi là gián tiếp khi dạng thức ngôn ngữ của hành vi tại lời không phản ánh trực tiếp mục đích của điều muốn nói” [13; 229].

Ví dụ:

[2] “- Mày không sợ té gãy cổ hả Tường!” [1; 52]

Đây là câu hỏi của nhân vật Thiều dành cho nhân vật Tường nhưngkhông nhằm mục đích hỏi mà nhẳm thể hiện thái độ trách móc, không đồngtình với hành động ngồi vắt vẻo trên cành cây của Tường

Hành vi ở lời gián tiếp nhiều khi mang lại hiệu quả cho mục đích giao tiếp hơn là cách nói trực tiếp, góp phần tạo nên sự phong phú của ngôn ngữ hội thoại, vừa

là môi trường để hành vi ngôn ngữ bộc lộ các khả năng vốn có Tuy vậy, không thể tuỳ tiện dùng mọi hành vi ở lời trực tiếp để tạo ra mọi hành vi ở lời gián tiếp Người

sử dụng ngôn ngữ cần dựa vào những điều kiện nhất định để lựa chọn cách sử dụng hành vi ở lời trực tiếp hay gián tiếp để đạt được mục đích giao tiếp.

1.2.2 Hành vi cảm thán

1.2.2.1 Khái niệm "hành vi cảm thán"

Theo Từ điển tiếng Việt, thì cảm thán là từ “biểu thị tình cảm, cảm xúc”.

Từ cảm thán đồng thời là phương tiện biểu thị hành vi cảm thán

Trong nghiên cứu ngôn ngữ học đã có nhiều quan niệm khác nhau đượcđưa ra về hành vi này Nguyễn Thiện Giáp gọi hành vi cảm thán là hành động biểu

cảm và định nghĩa “ người nói thể hiện trạng thái tâm lí của mình đối với sự tình trong nội dung mệnh đề, như xin lỗi, phàn nàn, chúc mừng, cảm ơn, hoan nghênh Đặc trưng của hành động biểu cảm là: làm từ ngữ khớp với thực tại,

Trang 21

người nói cảm thấy tình huống” [15; 384]

Còn Yule thì gọi hành vi cảm thán là hành động bộc lộ “ là những thứ hành động trình bày cái mà người nói cảm nhận Chúng bộc lộ những trạng thái tâm lí và có thể trình bày sự hài lòng, nỗi đau khổ, sự ưa thích, sự không

ưa thích, niềm hoan hỉ, hoặc nỗi buồn Những hành động này có thể do cái

mà người nói hoặc người nghe gây ra, nhưng chúng đều là nói lên kinh nghiệm của người nói” [17; 107]

Trong luận án tiến sĩ ngữ văn “Hành vi cảm thán và sự kiện lời nói cảm thán” tác giả Hà Thị Hải Yến cũng đưa ra một cách hiểu về hành vi cảm thán:

“Cảm thán là một hành vi ngôn ngữ mà người nói thực hiện, nhằm bộc lộ trạng thái tình cảm, cảm xúc không thể kìm nén của mình trước sự tác động của một sự vật, sự việc hay sự kiện nào đó đã, đang hoặc sắp xảy ra” [48; 20].

Như vậy khi nghiên cứu về hành vi cảm thán, các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan niệm: hành vi cảm thán là một hành vi ngôn ngữ bộc lộ tình cảm, cảm xúc mang tính tức thời, tự phát ở mọi lúc, mọi nơi Cảm thán chỉ được thực hiện khi trạng thái tâm lí đang tồn tại ở một mức độ nào đó không thể không nói ra a Đặc trưng của hành vi cảm thán: Hành vi cảm thán được biểu thị trong những câu có dấu hiệu hình thức:

- Có từ ngữ cảm thán chuyên biệt

- Có từ hoặc tổ hợp từ biểu thị cảm xúc đau đớn, buồn bực, vui sướng hạnh phúc, hoặc bộc lộ thái độ lo lắng, sợ hãi, giận dữ, ngạc nhiên,

b Một số kiểu kết cấu đặc trưng biểu thị hành vi cảm thán:

- Kiểu kết cấu: x ơi là x ( x là danh từ): con ơi là con, cháu ơi là cháu,

Trang 22

Dựa vào cách hiểu trên về hành vi cảm thán, tác giả Hà Thị Hải Yếntrong luận án tiến sĩ ngữ văn đã phân loại bốn đối tượng cảm thán: sự vật, sựviệc thuộc về người cảm thán; sự vật, sự kiện thuộc về người tiếp nhận cảmthán; sự vật, sự kiện thuộc về người thứ ba, sự kiện thuộc về ngoại cảnh.

- Sự vật, sự kiện thuộc về người cảm

thán Ví dụ:

[3] “Ối, đau em quá!” [1; 46]

Đây là phát ngôn của nhân vật Tường với hành vi cảm thán thể hiện trựctiếp thái độ đau đớn sau khi bị người anh trai ném đá trúng đầu khi hai anh em

rủ nhau chơi trò ném đá

- Sự vật, sự kiện thuộc về người tiếp nhận cảm thán

Ví dụ:

[4] - Tội con quá!” [1; 110]

Phát ngôn trên là của nhân vật chú Đàn với nhân vật Tường Ở ví dụ nàyhành vi cảm thán thể hiện thái độ thương cảm, xót xa hướng tới đối tượngngười nghe là nhân vật Tường

- Sự vật, sự kiện thuộc về người thứ ba

Ví dụ:

[5] “Thằng khỉ! Lũ đã cuốn làm sao sống được mà tìm!” [1; 247]

Sự việc chú Đàn bỏ làng đi tìm chị Vinh là sự kiện thuộc về người thứ ba

Sự kiện này không thuộc về người cảm thán (bà của Thiều), cũng không thuộc vềngười tiếp nhận cảm thán (hai anh em Thiều), mà thuộc về nhân vật chú Đàn

- Sự vật, sự kiện thuộc về ngoại

cảnh Ví dụ:

[6] “Đến con Vện cũng bỏ con Mận mà đi” [1; 199]

Cái chết của con Vện là sự kiện đã tác động đến người nói khiến họ thốtlên một phát ngôn cảm thán

Qua các ví dụ nêu trên, có thể thấy chính sự vật, sự kiện là những nhân tố

Trang 23

quan yếu làm nảy sinh các trạng thái cảm xúc của người nói, khiến họ khôngthể kìm giữ nổi tâm trạng của mình và buộc phải thực hiện hành vi cảm thán.Tuy nhiên, để được cộng đồng chấp nhận và tuân theo thì hành vi cảm thánphải đạt đến một ngưỡng nhất định Vì vậy, trong thực tế, người ta chỉ cảmthán khi cảm xúc ở ngưỡng cho phép và được mọi người chấp nhận Nếu chưađến ngưỡng mà người nói đã cảm thán thì hành vi cảm thán đó bị coi là khônghợp tự nhiên và nhiều khi còn bị người nghe phê phán.

b Nội dung cảm thán

Trong giao tiếp hàng ngày, có một số vấn đề thường được cảm thán đó là:

- Cảm thán về lĩnh vực riêng tư: là những hành vi cảm thán bắt nguồn từ

nguyên nhân thuộc về lĩnh vực riêng tư của đời sống con người, gồm tinh thần

và thể chất.Thông thường, ngoại cảnh là nguyên nhân làm nảy sinh các trạngthái tâm lí như vui sướng, hạnh phúc hay lo sợ, đau buồn,

Ví dụ

[7] “Chết rồi! Chảy máu, mày ơi” [1;46]

Phát ngôn trên là của nhân vật Thiều thể hiện hành vi cảm thán bất ngờxen lẫn sợ hãi, lo lắng khi trông thấy Tường bị chảy máu sau khi hứng chịu cúném đá đầy giận giữ của Thiều

Trang 24

Về câu cảm thán: Câu cảm thán giữ vai trò hết sức quan trọng trong giao

tiếp tiếng Việt Đây là loại câu đặc biệt cả về mặt nội dung ý nghĩa lẫn hìnhthức biểu hiện và có giá trị biểu cảm rất lớn Về loại câu này hiện nay có nhiềucách hiểu như sau:

Trong cuốn Câu trong tiếng Việt do Cao Xuân Hạo chủ biên, câu cảm thán được xác định “là câu của một hành động ngôn trung bộc lộ cảm xúc, tình cảm” Các tác giả cho rằng có loại câu cảm thán điển hình (là câu cảm thán đặc

biệt) và câu cảm thán không điển hình (là các câu có nguyên hình thức trầnthuật hoặc có hình thức trần thuật kết hợp với những đại từ không xác định làmchúng có dáng dấp câu hỏi)

“Câu cảm thán dùng để bộc lộ những cảm xúc, tình cảm, thái độ của người nói đối với sự vật hay hiện tượng được nói đến” [32; tr.98] Hoàng Trọng Phiến gọi câu cảm thán bằng thuật ngữ “câu than gọi” và cho rằng loại câu này “ thể hiện hành vi bộc lộ những cảm nghĩ, suy tư nội tâm, thái độ của chủ thể phát ngôn trước một sự kiện, sự tình, hiện tượng mong tìm một sự chia

sẻ của người tiếp ngôn” [39; 367].

Trong Ngữ pháp tiếng Việt (tập 2), Diệp Quang Ban cho rằng: “Câu cảm thán được dùng khi cần thể hiện đến một mức độ nhất định những tình cảm khác nhau, thái độ, đánh giá, những trạng thái tinh thần khác thường của người nói đối với sự vật hay sự kiện mà câu nói đề cập hoặc ám chỉ” [4; 237]

Như vậy những quan niệm đều thống nhất ở một điểm: Câu cảm thán là câu sử dụng các từ ngữ chuyên biệt để biểu thị những cảm xúc mạnh, đột ngột,

có tính bộc phát của người nói, thường được dùng trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ văn chương.

Mối quan hệ giữa hành vi cảm thán và câu cảm thán: Về mặt nội dung

biểu hiện, hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng: câu cảm thán là loại câubiểu thị cảm xúc, tình cảm, trạng thái tâm lí đặc biệt Sự thể hiện đó thường được thông qua các phương tiện đặc biệt là từ, cụm từ và ngữ điệu

Về mặt hình thức biểu hiện, các nhà nghiên cứu quan niệm rằng: Từ cảmthán chính là hình thức biểu hiện tiêu biểu của câu cảm thán Tuy vậy, câu

Trang 25

cảm thán còn có thể dùng các phương tiện tình thái khác như thực từ, trợ từ,phó từ, kết từ, ngữ điệu, và một số cấu trúc không bao hàm từ cảm thán.

Trong mối tương quan giữa hành vi cảm thán với câu cảm thán, có thểnhận thấy rằng: "hành vi cảm thán" là một khái niệm thuộc ngữ dụng học còn

“câu cảm thán” là khái niệm thuộc cú pháp học Khái niệm “hành vi cảm thán"

có thể trùng với khái niệm “câu cảm thán”, đặc biệt khi nó chỉ là biểu thức ngữ

vi nguyên cấp, không có thành phần mở rộng, ví dụ: "Ối!", “Chao ôi!”, “Ối dào!" Ở góc độ ngữ pháp, các ví dụ được coi như những câu cảm thán đặc

biệt, ở góc độ ngữ dụng, đó là các hành vi cảm thán

Cấu trúc của câu cảm thán thường gồm hai phần: phần cảm thán + phầnnêu lí do cảm thán Trong đó, phần cảm thán biểu thị hành vi cảm thán đượccoi là trung tâm, phần nêu lí do cảm thán được coi là thành phần mở rộng đểgiải thích lí do cảm thán

Hành vi cảm thán khi có thành phần mở rộng là các hành vi ngôn ngữ

khác đi kèm sẽ tạo nên phát ngôn ngữ vi cảm thán (ví dụ: Ối dào! Ba thứ thuốc

vớ vẩn đó thì ăn thua gì.) Khái niệm “hành vi cảm thán” tương tự khái niệm

“câu cảm thán” có yếu tố cảm thán đi cùng nòng cốt câu Vì vậy, có thể kết luận rằng: cấu trúc của hành vi cảm thán tương đương mô hình của câu cảm thán.

1.2.5 Lí thuyết hội thoại

1.2.4.1 Khái niệm hội thoại

Từ năm 1970, hội thoại đã trở thành đối tượng chính thức của phânngành ngôn ngữ học ở Mĩ, sau đó là Anh, Pháp và đến nay là hầu hết các nướctrên thế giới Hiện nay ở Việt Nam , các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiềuquan niệm khác nhau về vấn đề này

Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) hội thoại “là sử dụng một ngôn ngữ để nói chuyện với nhau” [37, 444].

Đỗ Hữu Châu không đưa ra định nghĩa hội thoại nhưng khẳng định tầm quan

Trang 26

trọng của nó: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, có cũng là hình thức cơ sở cho mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [8, 201]

Tác giả Nguyễn Đức Dân chỉ rõ hơn đặc điểm của hội thoại: “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất là hội thoại” [11; 76].

Đỗ Thị Kim Liên thì cho rằng: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” [37; 18].

Như vậy có thể hiểu hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thường xuyên diễn ra trong đời sống con người Ngôn ngữ hội thoại tồn tại ở hai dạng: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.

1.2.4.2 Vận động hội thoại

Bất kì cuộc thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu: sự trao lời, sự traođáp và sự tương tác Đây được coi là những điều kiện cần và đủ để hình thànhnên một cuộc giao tiếp hoàn chỉnh và đúng thể thức

a Sự trao lời

Đây là vận động đầu tiên xuất hiện trong một cuộc hội thoại “Trao lời

là vận động mà Sp1(vai nói) nói lượt lời của mình và hướng lượt lời của mình

về phía Sp2 (vai nghe) nhằm làm cho Sp2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó là giành cho Sp2.” [ 8; 205]

Ví dụ:

[9] “Thấy chưa! Tao đã bảo đây là trò ngu ngốc mà!” [1; 107]

Phát ngôn trên là của Sp1 (nhân vật Thiều) hướng đến Sp2 (nhân vậtTường) nhằm mở đầu cho hành vi chế giễu việc Tường nghe lời chú Đàn bắtchuồn chuồn ớt cắn rốn để nhanh biết bơi

Trong lời trao, sự có mặt của Sp1 là tất yếu, không thể thiếu Sự có mặt đó

Trang 27

thể hiện ở nhiều dấu hiệu như: từ xưng hô ngôi thứ nhất, tình cảm, thái độ,quan điểm của Sp1 trong nội dung lời trao Ngoài ra còn phải kể đến nhữngyếu tố phi lời khác như: điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt…; qua những yếu tốhàm ẩn tiền giả định trong giao tiếp, qua những yếu tố ngôn ngữ tường minhnhư lời hô gọi, chỉ định, lời thưa gửi…

b Sự trao đáp

Trao đáp hay còn gọi là sự đáp lời là lời mà Sp2 (vai nghe) dùng để đáplại lời của Sp1( người nói) Phải có lời trao đáp thì một cuộc thoại mới chínhthức được hình thành

Ví dụ

[10] “Sp1: Thấy chưa! Tao đã bảo đây là trò ngu ngốc mà!

Sp2: Hay tại chuồn chuồn ớt không linh Hôm nào em sẽ bắt một con chuồn chuồn ngô” [1; 107].

Đây là lời trao đáp của Sp2 (nhân vật Tường) đáp lại hành vi chế giễu,trách móc của Sp1 (nhân vật Thiều) về lí do vì sao Tường đã để chuồn chuồn cắnrốn mà vẫn chưa biết bơi và thông báo sẽ bắt con chuồn chuồn ngô thay thế

Ví dụ:

[11] “Sp1: Mình xin lỗi bạn nhé Mình không ngờ thầy Nhãn lại phạt bạn.

Sp2: Xin lỗi cái đầu mày! ” [1; 88].

Trong ví dụ trên, lời trao đáp của Sp2 (nhân vật Thiều) thể hiện thái độtức giận với lời xin lỗi của Sp1 (nhân vật Xin) vì đã đem bức thư Thiều gửi lênphô thầy khiến Thiều bị phạt

c Sự tương tác

Trong quá trình hội thoại, các đối ngôn sẽ có ảnh hưởng lẫn nhau, tác độngđến cách ứng xử của nhau Đây được xem là vận động tương tác xảy ra trong hộithoại Trước khi hội thoại giữa các đối ngôn tồn tại một khoảng cách nhất định về

sự hiểu biết lẫn nhau, về tâm lí, tình cảm… Sau khi hội thoại, nếu những khoảngcách ấy được thu hẹp lại, rút ngắn lại, khi ấy có thể nói đã có một cuộc hội thoạitích cực Ngược lại, khoảng cách ấy vẫn giữ nguyên hoặc mở rộng ra, khi ấy cuộcthoại có thể bị xem là tiêu cực Tương tác là một kiểu quan hệ xã hội giữa người

Trang 28

với người Có một hoạt động xã hội thì có sự tương tác Tương tác bằng lời là một kiểu tương tác, là hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ.

Ví dụ:

[12] “Sp1: Tường nè

Sp2: Gì hở anh?

Sp1: Sắp đến mùa hè rồi đó.

Sp2: Dạ Sp1: Khi nào mùa hè tới, lũ ve sầu trở lại, tao sẽ dẫn mày đi rình bắt ve ve

Sp2: Ôi thích quá! Bắt bằng mủ mít hở anh Sp1: Ờ, bằng mủ mít ” [1; 28].

Trên đây là đoạn thoại giữa: Thiều và Tường Cuộc thoại diễn ra với thái

độ tích cực duy trì giữa hai nhân vật về việc Thiều rủ Tường khi nào hè tới haianh em sẽ cùng nhau đi bắt ve ve Theo đó, Sp1 (nhân vật Thiều) là người mởđầu cuộc thoại bằng hành vi hô gọi và đã nhận được sự hồi đáp của Sp2 (nhânvật Thiều) Thiều đã rủ Tường khi nào mùa hè tới hai anh sẽ cùng nhau đi bắt

ve ve và đã nhận được sự hồi đáp tích cực: Tường đồng ý ngay và rất thích thú

Từ đó cuộc thoại tiếp tục được duy trì vì cả hai đối ngôn là Thiều và Tườngđều có cùng quan điểm, thái độ và mong muốn tiếp tục đoạn đối thoại Nhưvậy các nhân vật trong cuộc thoại đã cộng tác với nhau khiến cho cuộc thoạitrở nên hào hứng, giúp củng cố mối quan hệ giữa các nhân vật

Như vậy trong các cuộc hội thoại ba vận động: trao lời, đáp lời, tươngtác là ba vận động đặc trưng, có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời.Bằng vận động trao lời, đáp lời, các nhân vật hội thoại sẽ tự hòa phối, liên hòaphối để thực hiện vận động tương tác

1.2.4.3 Cấu trúc hội thoại

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, trên thế giới hiện nay có ba trường phái vớinhững quan niệm khác nhau về cấu trúc hội thoại Tương ứng với mỗi cấu trúchội thoại là đơn vị hội thoại tương ứng

a Cấu trúc hội thoại theo trường phái phân tích hội thoại

Trang 29

Theo trường phái này, đơn vị hội thoại là các lượt lời Harvey Sack làngười đặt nền móng đầu tiên cho trường phái phân tích hội thoại Theo ông, dướicác lượt lời không có đơn vị nào khác nữa ngoài các phát ngôn Dù khác nhau vềkiểu loại, phong cách nhưng trong các cuộc hội thoại, các lượt lời thường đi vớinhau lập thành từng cặp gần như tự động, gọi đó là các cặp kế cận.Những cặp kếcận thường thấy là: cặp chào - chào, cặp hỏi - trả lời, cặp trao - nhận, cặp đề nghị -đáp ứng v.v… Cốt lõi của lý thuyết phân tích hội thoại là cặp kế cận.

b Cấu trúc hội thoại theo trường phái phân tích diễn ngôn

Theo trường phái này, đơn vị hội thoại là phát ngôn và cặp thoại Nền tảng

của phân tích diễn ngôn là công trình “Hướng tới việc phân tích diễn ngôn” của

Sinclair và Coulthard được công bố năm 1975 Theo hai ông, hội thoại là một đơn

vị lớn được cấu trúc theo các bậc: tương tác, đoạn thoại, cặp thoại, bước thoại vàhành vi Trong đó, hành vi là đơn vị nhỏ nhất của cuộc thoại Hành vi này khôngtrùng với khái niệm hành vi ngôn ngữ hay hành vi ở lời mà hành vi được xác địnhtheo chức năng của chúng đối với bước thoại 22 hành vi được đề cập đến là: đánhdấu, khởi phát, phát vấn, điều khiển, thông tin, giục, gợi nhắc, gợi ý, xin phép, chỉđịnh, tri nhận, trả lời, phản ứng, chú thích, chấp nhận, đánh giá, dấu lặng nhấnmạnh, siêu trần thuật, móc lại và ngoài lề Một bước thoại do một số hành vi tạonên Đến lượt mình, bước thoại lại chiếm vị trí trong cấu trúc cặp thoại So với lýthuyết phân tích hội thoại, lý thuyết phân tích diễn ngôn đi vào các đơn vị hộithoại trên v à dưới đơn vị lượt lời sâu hơn, toàn diện hơn

c. Cấu trúc hội thoại theo lý thuyết hội thoại Thuỵ Sĩ - Pháp

Theo lý thuyết hội thoại Thuỵ Sĩ - Pháp, đơn vị hội thoại gồm cuộcthoại, đoạn thoại, cặp trao đáp, tham thoại và hành vi ngôn ngữ Tiếp nhậnquan điểm của hai trường phái trước, lý thuyết hội thoại Thụy Sĩ - Pháp chorằng hội thoại là một tổ chức tôn ty như một đơn vị cú pháp Các đơn vị hộithoại đã nêu trên theo trường phái này đã thể hiện rõ điều đó

- Cuộc thoại được coi là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất, được xác định bởi các tiêu chí: nhân vật hội thoại, tính thống nhất về thời gian và địa điểm, tính thống nhất về đề tài diễn ngôn Đối với tiêu chí về các dấu hiệu định ranh giới cuộc

Trang 30

thoại, thông thường có dấu hiệu mở đầu cuộc thoại và kết thúc cuộc thoại nhưng không bắt buộc, đặc biệt trong cuộc thoại giữa những người quá thân quen.

- Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặtchẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng Dù sự phân định đoạn thoạikhông có sự phân định rành mạch vì đường phân giới khá mơ hồ, nhiều khiphải dựa vào trực cảm và võ đoán nhưng đây vẫn là đơn vị có thực

- Cặp trao đáp là đơn vị tối thiểu Cuộc hội thoại chính thức được bắt đầukhi có sự xuất hiện của đơn vị này Cặp thoại có thể là một tham thoại, có thể làhai hoặc ba tham thoại Tính chất của các cặp thoại thường mang tính chất nghithức tương ứng với hai kiểu cặp thoại: cặp thoại sửa chữa và cặp thoại củng cố.Cặp thoại củng cố tương ứng với cặp thoại dẫn nhập và kết thúc cuộc thoại.Cặp thoại sửa chữa có đơn vị cơ bản là tham thoại sửa chữa - tham thoại dựatrên khái niệm sửa chữa lại một sự vi phạm lãnh địa của người đối thoại Khimột cặp thoại thoả mãn được đích của tham thoại dẫn nhập thì đó là một cặpthoại tích cực và người ta có thể kết thúc cặp thoại ở đó Ngược lại, ta có cặpthoại tiêu cực và có tính chất không bình thường

- Tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên xét về tổchức nội tại Một tham thoại có một hành vi chủ hướng và có thể có một hoặcmột số hành vi phụ thuộc Hành vi chủ hướng có chức năng trụ cột, quyết địnhhướng của tham thoại và quyết định hành vi đáp thích hợp của người đối thoại.Hành vi phụ thuộc là hành vi thêm vào cho hành vi chủ hướng Nó có thể là cáchành vi dùng để láy lại, củng cố, bổ sung, giải thích

- Trong một cặp thoại, thường có các tham thoại sau:

+ Tham thoại có chức năng dẫn nhập (tham thoại chủ hướng)

+ Tham thoại hồi đáp - dẫn nhập trong lòng cặp thoại

+ Tham thoại hồi đáp (thường là tham thoại kết thúc cặp thoại)

Chức năng ở tham thoại dẫn nhập là chức năng ở lời quy định quyền lực vàtrách nhiệm đối với nhân vật hội thoại Các chức năng ở tham thoại dẫn nhập là:yêu cầu thông tin, yêu cầu được tán đồng, ủng hộ, thỉnh cầu, ban tặng, mời, khẳngđịnh, ra lệnh Trách nhiệm tương ứng mà chức năng này đặt ra là: trách nhiệm trả

Trang 31

lời, tán đồng, ủng hộ, hành động, nhận, đánh giá, vâng lệnh Chức năng của thamthoại hồi đáp là chức năng ở lời của các tham thoại hồi đáp lại chức năng ở thamthoại dẫn nhập Các chức năng ở tham thoại hồi đáp có thể chia thành 2 nhóm:chức năng hồi đáp tích cực và chức năng hồi đáp tiêu cực Các tham thoại hồi đápkhông chỉ đáp lại nội dung của tham thoại ở lời dẫn nhập, không phải nó chỉ thựchiện trách nhiệm đối với tham thoại dẫn nhập mà nó còn đưa ra một quyền lựcbuộc người đối thoại phải tin vào, đáp lại điều mà tham thoại hồi đáp đưa ra Vìvậy, khi một tham thoại hồi đáp cho tham thoại dẫn nhập thứ nhất thì nó tự khắctrở thành một tham thoại đòi hỏi sự hồi đáp của người đối thoại.

- Hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại Để hiểucác cặp thoại, các ứng xử bằng lời cũng như các yếu tố kèm ngôn ngữ đều phảicăn cứ vào hành vi ngôn ngữ đi trước hoặc sau Vì thế, hành vi ngôn ngữ cầnxem xét trong hội thoại

Vai trò của hành vi ngôn ngữ nằm trong mạng lưới hội thoại Tức là vai tròcủa hành vi ngôn ngữ nằm trong mối quan hệ giữa các lời thoại tổ chức nên thamthoại, cặp thoại… và tác động liên tục lên các nhân vật hội thoại trong từngthời điểm tạo nên cuộc thoại

1.2.4.4 Quy tắc hội thoại

Hội thoại diễn tiến theo một quy tắc nhất định Tính bị chi phối bởi quytắc của hội thoại được biểu hiện ra thành tính nghi thức của hội thoại.C.K.Orecchioni đã nêu lên tính chất của quy tắc hội thoại, đồng thời chia cácquy tắc hội thoại thành ba nhóm như sau:

a Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời

Quy tắc này gồm một hệ thống các điều khoản như sau:

- Thứ nhất, vai nói thường xuyên thay đổi nhau trong một cuộc thoại

- Thứ hai, mỗi lần chỉ có một người nói

- Thứ ba, lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài do đó cần có những biện pháp để nhận biết khi nào một lượt lời chấm dứt

- Thứ tư, vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc tuy thường gặp nhưng

Trang 32

không bao giờ kéo dài.

- Thứ năm, thông thường lượt lời của đối tác này chuyển tiếp cho đối táckia diễn ra không bị ngắt quãng quá dài, không bị dẫm đạp lên nhau

- Thứ sáu, trật tự của những người nói không cố định, trái lại luôn thayđổi Đằng sau sự liên hoà phối là quy tắc điều hành luân phiên lượt lời vàchúng hỗ trợ, bổ sung cho nhau Liên hoà phối để các quy tắc vận hành tốt, quytắc vận hành tốt thì hội thoại mới hiệu quả

b Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại

Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại có dạng tổng quát như sau:

“Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào” [15; 130].

Nội dung của một cuộc thoại được phân phối thành nội dung của cáclượt lời Nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc quan yếu là hai nguyên tắc thuộcquy tắc điều hành nội dung của hội thoại

c Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân - phép lịch sự

Lịch sự được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng có thể hiểu mộtcách khái quát nhất theo định nghĩa của C.K Precchioni là “chúng tôi chấp nhậnrằng phép lịch sự liên quan tới tất cả các phương diện của diễn ngôn:

1 Bị chi phối bởi các quy tắc (ở đây không có nghĩa là những công thức hoàn toàn đã trở thành thói quen)

2 Xuất hiện trong địa hạt quan hệ cá nhân

3 Và chúng có chức năng giữ gìn tính chất hài hoà quan hệ đó

Nói lịch sự là một chiến lược có nghĩa là nó chỉ hình thành, có mặt vàphát huy tác dụng khi có tương tác, nói đúng hơn chỉ nói đến mặt tương tác củalịch sự Phép lịch sự giúp chúng ta phát hiện và lý giải hiện tượng được gọi làcấu trúc hai chiều trong tương tác”

1.3 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Nguyễn

Nhật Ánh là nhà văn Việt Nam chuyên viết cho tuổi mới lớn Ông

sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại làng Đo Đo, xã Bình Quế, huyện Thăng Bình,tỉnh Quảng Nam Hiện nay, ông là bình luận viên thể thao trên báo Sài Gòn Giải

Trang 33

Phóng Chủ nhật với bút danh Chu Đình Ngạn Ngoài ra, Nguyễn Nhật Ánh còn

có những bút danh khác như Anh Bồ Câu, Lê Duy Cật, Đông Phương Sóc, SócPhương Đông,

Ông cũng đã đoạt nhiều giải thưởng như: năm 1990, truyện dài Chú bé rắc rối được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trao giải thưởng

Văn học Trẻ hạng A Năm 1995, ông được bầu chọn là nhà văn được yêu thíchnhất trong 20 năm (1975-1995) qua cuộc trưng cầu ý kiến bạn đọc về các gươngmặt trẻ tiêu biểu trên mọi lĩnh vực của Thành đoàn TP HCM và Báo Tuổi trẻ,đồng thời được Hội Nhà văn TP HCM chọn là một trong 20 nhà văn trẻ tiêu biểutrong 20 năm (1975-1995) Năm 1998 ông được NXB Kim Đồng trao giải cho

nhà văn có sách bán chạy nhất Năm 2003, bộ truyện nhiều tập “Kính vạn hoa”

được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trao huy chương Vì

thế hệ trẻ và được Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng thưởng Tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ được nhận giải thưởng văn học ASEAN năm 2010 và Giải sách hay của hội xuất bản Việt Nam năm 2009 Tác phẩm Tôi là Bêtô được nhận Giải

thưởng Văn học của Hội nhà văn TP HCM năm 2008

Tính đến nay, Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn sở hữu số lượng tác phẩm xuấtbản kỉ lục, có số lượng sách bán chạy nhất trong số các nhà văn viết cho thiếu nhi

ở Việt Nam Trong gần 30 năm, từ năm 1984 đến năm 2012 Nguyễn Nhật Ánh đã cho ra đời 112 tác phẩm văn học gồm thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài, tạp bút Tác phẩm của ông được chuyển thể thành phim, gợi cảm hứng sáng tác cho các nhạc sĩ và được dịch sang tiếng nước ngoài đến với độc giả trên thế giới Nhắc tới Nguyễn Nhật Ánh không thể không kể đến những tác phẩm truyện gắn liền với tên

tuổi của ông như: Kính vạn hoa (bộ truyện 54 tập, 1995-2002: 45 tập, 9 tập viết thêm sau), Chuyện xứ Langbiang (bộ truyện 4 phần, 2004-2006), Trước vòng chung kết (truyện dài, 1985), Chuyện cổ tích dành cho người lớn (tập truyện, 1987), Cô gái đến

từ hôm qua (truyện dài, 1989), Bồ câu không đưa thư (truyện dài, 1993), Trại hoa Vàng (truyện dài, 1994), Đi qua hoa cúc (truyện dài, 1995), Buổi chiều Windows

(truyện dài, 1995), Tôi là Bêtô (truyện, 4/4/2007), Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (truyện, 1/2008), Đảo mộng mơ (truyện, 21/10/2009), Tôi thấy hoa vàng

Trang 34

trên cỏ xanh (truyện dài, 24/10/2010), Lá nằm trong lá (truyện dài, 24/9/2011),

Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ (truyện dài, 6/2012) Và một số tác phẩm thơ: Đầu xuân ra sông giặt áo (thơ, 1986), Thành phố tháng tư (thơ, in chung với Lê Thị Kim, 1984), Lễ hội của đêm đen (thơ, 1994), Tứ tuyệt cho nàng (thơ, 1994).

Lý giải cho sứ mệnh dành cả cuộc đời cầm bút viết truyện dành cho

thiếu nhi, Nguyễn Nhật Ánh trải lòng: “nhà văn là trụ đỡ tinh thần cho các

em, tôi tin điều đó, cũng như tôi tin bồi đắp tâm hồn và nhân cách một cách

ấm thầm và bền bỉ, đó là chức năng gốc rễ của văn chương, đặc biệt văn chương viết cho thanh thiếu niên” Văn chương của ông tô điểm cho bức tranh tuổi thơ của thiếu nhi những gam màu rực rỡ, giúp những ai đã đi qua tuổi thơ

“được sống lại lần thứ hai tuổi thơ của mình” Chính vì vậy có thể khẳng định:

Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn của thiếu nhi.

1.4 Vị trí của “Tôi thấy hoa vàng trên có xanh” trong hành trình sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh

“Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” là một tác phẩm dành cho thanh thiếu niên của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, xuất bản lần đầu tại Việt Nam vào ngày 9

tháng 12 năm 2010 bởi Nhà xuất bản Trẻ, với phần tranh minh họa do ĐỗHoàng Tường thực hiện Đây là một trong các truyện dài của Nguyễn Nhật

Ánh, ra đời sau Đảo mộng mơ và đã vinh dự được nhận Giải thưởng văn học ASEAN tại Thái Lan Tác phẩm như một tập nhật ký xoay quanh cuộc sống

của những đứa trẻ ở một vùng quê Việt Nam nghèo khó, nổi bật lên là thôngđiệp về tình anh em, tình làng nghĩa xóm và những tâm tư của tuổi mới lớn

Cuốn sách được giới thiệu như một tập nhật kí của nhân vật Thiều, 81chương của tác phẩm là mỗi câu chuyện nhỏ khác nhau được thuật lại quagiọng kể chân thật, hồn nhiên của cậu bé Thiều Đó là chuyện đi học, chuyệnhai anh em Thiều và Tường thường xuyên bị ba đánh vì những trò nghịch dại,chuyện nhà con Mận bị cháy, những câu chuyện tình cảm trong sáng của tuổimới lớn và của cả những người lớn

Vẫn giọng văn hóm hỉnh, nghịch ngợm nhưng luôn ẩn chứa những bài học

triết lí dành cho tuổi thiếu nhi nhưng với “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” Nguyễn

Trang 35

Nhật Ánh đã cố gắng “viết khác” những cuốn sách trước đó:“Các hoàn cảnh trong cuốn sách sẽ khắc nghiệt hơn, cuộc sống của nhân vật sẽ không êm đềm như những nhân vật trong các cuốn sách trước của tôi Đặc biệt, lần đầu tiên trong tác phẩm thiếu nhi của tôi xuất hiện những cảnh huống, những nhân vật phản diện Tôi muốn phê phán cái ác của sự vô tâm nơi con người Ngay cả nơi những con người lương thiện nhưng có những biểu hiện vô tâm thì đó là sự thật đáng cảnh báo trong bối cảnh sống hôm nay”.

Trong diễn từ đọc tại lễ trao giải thưởng văn học ASEAN tại Thái Lan,

Nguyễn Nhật Ánh đã nói: “Mỗi dân tộc đều có treo một quả chuông trước cửa

sổ tâm hồn của mình Nhà văn có sứ mạng phải rung những quả chuông đó lên bằng văn chương” Với “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”, quả chuông của Nguyễn Nhật Ánh lại rung lên khiến bao tâm hồn độc giả háo hức được cùng

ông một lần nữa sống lại với ký ức tuổi thơ

Hành vi cảm thán là một hành vi ngôn ngữ bộc lộ tình cảm, cảm xúcmang tính tức thời, tự phát ở mọi lúc, mọi nơi Cảm thán chỉ được thực hiệnkhi trạng thái tâm lí đang tồn tại ở một mức độ nào đó không thể không nói ra.Đối tượng cảm thán: sự vật, sự việc thuộc về người cảm thán, sự vật, sự kiệnthuộc về người tiếp nhận cảm thán, sự vật, sự kiện thuộc về người thứ ba, sựkiện thuộc về ngoại cảnh Nội dung cảm thán là về các lĩnh vực riêng tư và cáclĩnh vực đời sống xã hội

Trong mối tương quan giữa hành vi cảm thán với câu cảm thán thì “hành

vi cảm thán” là một khái niệm thuộc ngữ dụng học còn “câu cảm thán”

Trang 36

là khái niệm thuộc cú pháp học Khái niệm “hành vi cảm thán” có thể trùng vớikhái niệm “câu cảm thán”, đặc biệt khi nó chỉ là biểu thức ngữ vi nguyên cấp,không có thành phần mở rộng.

Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thường xuyên diễn ra trong đời sống con người Bất kì cuộc thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu: sự trao lời,

sự trao đáp và sự tương tác Đây được coi là những điều kiện cần và đủ để hình thành nên một cuộc giao tiếp hoàn chỉnh và đúng thể thức Theo lý thuyết hội thoại Thuỵ Sĩ

- Pháp, hội thoại là một tổ chức tôn ty như một đơn vị cú pháp gồm cuộc thoại, đoạn thoại, cặp trao đáp, tham thoại và hành vi ngôn ngữ Hội thoại diễn tiến theo các quy tắc nhất định: quy tắc điều hành luân phiên lượt lời, quy tắc điều hành nội dung hội thoại, quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân - phép lịch sự.

Những nét khái quát về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn NhậtÁnh - nhà văn của thiếu nhi với quan niệm sáng tác mang đậm tính nhân văn:

“nhà văn là trụ đỡ tinh thần cho các em, tôi tin điều đó, cũng như tôi tin bồi đắp tâm hồn và nhân cách một cách ấm thầm và bền bỉ, đó là chức năng gốc

rễ của văn chương, đặc biệt văn chương viết cho thanh thiếu niên”.

“Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” - một trong những tác phẩm đặc sắc

và thành công nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh Qua mỗi

trang hồi kí của nhân vật Thiều lại dẫn dắt người đọc đến những cung bậc cảmxúc khác nhau để cùng sống lại kí ức tuổi thơ đầy mộng mơ, trong sáng

Chương 2 MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN

HÀNH VI CẢM THÁN TRONG TÁC PHẨM TÔI THẤY HOA

VÀNG TRÊN CỎ

Trang 37

XANH CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH 2.1 Phương tiện biểu hiện hành vi cảm thán trong tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh

Hành vi cảm thán được thể hiện qua nhiều phương tiện: phương tiện từvựng, ngữ pháp, ngữ âm Trong phạm vi đề tài luận văn này chúng tôi chỉ khảosát, nghiên cứu về phương diện từ vựng biểu hiện hành vi cảm thán

2.1.1 Dùng từ ngữ cảm thán

Về mặt ngữ nghĩa, từ ngữ cảm thán là những đơn vị từ vựng đặc biệtđược sử dụng để biểu đạt những cảm xúc, những tình cảm, trạng thái khác nhaucủa người nói trước hiện thực khách quan

Về mặt ngữ pháp, theo nhiều nhà nghiên cứu, từ ngữ cảm thán có khảnăng độc lập tạo câu, trong khẩu ngữ chúng thường đứng ở đầu câu, là thànhphần độc lập với nòng cốt câu, nhưng cũng có khi đứng cuối câu hoặc xen vàogiữa nòng cốt câu

Trong tiếng Việt, các từ ngữ cảm thán có thể được tách riêng thành mộtnhóm độc lập Do số lượng từ cảm thán thể hiện hành vi cảm thán được sử

dụng trong truyện dài Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh tương đối nhiều nên

trong luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát và thống kê những đơn vị từ thể hiện

rõ tính chất cảm thán và có tần số lặp đi lặp lại nhiều lần

Trang 38

Bảng 2.1 Thống kê, phân loại từ ngữ cảm thán

Trang 39

Trong đó, một số từ cảm thán biểu đạt hành vi cảm thán được sử dụng

với tần số nhiều trong truyện dài đó là: lắm (49 lần) chiếm 9,90 %, quá (40 lần) chiếm 8,08 %, ờ (37 lần) 7,47 chiếm % Tuy đây không phải là các từ

chuyên dụng để biểu hiện hành vi cảm thán nhưng trong những văn cảnh cụthể của tác

Trang 40

phẩm chúng có khả năng thể hiện tình cảm, cảm xúc, thái độ và tạo nên sắc tháicảm thán cho câu văn.

Ngoài ra các tình thái từ: à, ơi, ôi, ối… và các phụ từ như mà, rồi, chỉ…

cũng chiếm số lượng khá lớn trong tác phẩm góp phần bộc lộ trực tiếp hành vicảm thán của các nhân vật với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau: buồn rầu,vui tươi, đau đớn, ngạc nhiên, mỉa mai, trách móc, tiếc nuối…

Trong tác phẩm Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, các từ và cụm từ dùng

với mục đích biểu thị hành vi cảm thán cho thấy đây là phương tiện đắc lựcgiúp tác giả truyền đạt hiệu quả nhất những cung bậc cảm xúc đa dạng, phongphú của các nhân vật trong tác phẩm Đó là các trạng thái cảm xúc sau:

2.1.1.1 Biểu thị thái độ khẳng định rõ ràng, dứt khoát

Hành vi cảm thán thể hiện thái độ khẳng định rõ ràng, dứt khoát của

người nói được thể hiện thông qua các từ cảm thán như: chứ, chẳng, chắc, nghe chưa, hẳn… Tuy đây không phải là các từ cảm thán được sử dụng với tần

số cao trong tác phẩm nhưng qua việc vận dụng rất hợp lý và đa dạng các từ

cảm thán để bộc lộ thái độ khẳng định rõ ràng dứt khoát của nhân vật trướchoàn cảnh khác nhau, cho thấy tài sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Nhật Ánh

Ví dụ:

[13] “Nhưng dù bàn tay phải của chú không còn nữa thì chú vẫn là

người có năm cái hoa tay chứ?” [1; 24]

Phát ngôn trên của Thiều là câu hỏi nhưng nhằm khẳng định dù chú Đàn

đã mất đi bàn tay có năm cái hoa tay nhưng việc chú Đàn vẫn là người có nămcái hoa tay vẫn không thay đổi Sắc thái khẳng định được thể hiện thông qua

thán từ chứ.

Ví dụ:

[14] “Thằng em mày thì kinh thật, chứ mày chỉ là con muỗi trong mắt

tao thôi! [1; 169]

Thán từ thì giúp cho lời khẳng định của thằng Sơn chắc chắn hơn bao giờ

hết khi nó đánh giá về nhân vật Tường Sau khi bị Tường dằn mặt trả thù choanh trai vì đánh anh nó bầm dập

Ví dụ:

Ngày đăng: 08/06/2021, 15:15

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w