Thực trạng công tác lập kế hoạch tổ chức hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho giáo viêntrung học phổ thông của Thành phố Hải Phòng...44Bảng 2.7.. Mục đích nghiên c
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cánhân Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực vàchưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Nguyễn Ngọc Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đề tài này được hoàn thành ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi xin bày tỏ
sự biết ơn sâu sắc đến cô TS Nguyễn Thị Thanh Huyền là người đã tận tâm,trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và quá trìnhnghiên cứu luận văn Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo khoaTâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã trựctiếp giảng dạy lớp Thạc sỹ QLGD k22
Tôi chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện của SởGiáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng, Ban Giám hiệu và giáo viên cáctrường THPT thành phố Hải Phòng đã cung cấp cho tôi những tư liệu bổ íchgiúp tôi hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn gia đình, người thân và tất cả bạn bè đã sự động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn
Mặc dù đã cố gắng nhưng luận văn cũng không thể tránh khỏi một sốthiếu sót Tác giả mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ thầy cô, đồngnghiệp và bạn bè
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Ngọc Long
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
Phần 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài 9
1.2.1 Khái niệm tư vấn, tư vấn hướng nghiệp 9
1.2.2 Kỹ năng, kỹ năng tư vấn hướng nghiệp 12
1.2.3 Bồi dưỡng, bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho GV THPT 14
1.3 Một số vấn đề lý luận về bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPT 16
1.3.1 Chức năng nhiệm vụ của Giám đốc Sở GD & ĐT Trong việc bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPT 16
Trang 61.3.2 Mục tiêu và tầm quan trọng của bồi dưỡng KN TVHN cho GV THPT
16
1.3.3 Nội dung bồi dưỡng KN TVHN cho GV THPT 17
1.3.4 Phương pháp và hình thức bồi dưỡng KNTVHN cho GV THPT 19
1.4 Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPT 20
1.4.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng 20
1.4.2 Tổ chức hoạt động bồi dưỡng 21
1.4.3 Chỉ đạo, triển khai hoạt động bồi dưỡng 22
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng 24
1.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên Trung học phổ thông 25 Kết luận chương 1 29
Chương 2 THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 30
2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 30
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế của thành phố Hải Phòng 30
2.2 Mục đích, đối tượng, nội dung, phương pháp khảo sát thực trạng 31
2.2.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng 31
2.2.2 Đối tượng khảo sát 31
2.2.3 Nội dung khảo sát 31
2.2.4 Phương pháp khảo sát 31 2.3 Thực trạng nhận thức của CBQL, GVTHPT thành phố Hải phòng về
kỹ năng tư vấn hướng nghiệp 31 2.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên THPT thành phố Hải
Phòng về những yêu cầu đối với cán bộ làm công tác tư vấn
hướng nghiệp 31 2.3.2 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên THPT thành phố Hải Phòng
về mức độ cần thiết của các kỹ năng tư vấn hướng nghiệp33
hóa bởi Trung tâm Học liệu
Trang 7– ĐHTNiv http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 82.4 Thực trạng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp của GV THPT thành phố
Hải Phòng 352.4.1 Thực trạng kỹ năng lắng nghe của GV THPT thành phố Hải Phòng 382.4.2 Thực trạng kỹ năng giao tiếp không lời của GV THPT thành phố
Hải Phòng 392.4.3 Thực trạng kỹ năng phản hồi của GV THPT thành phố Hải Phòng 392.4.4 Thực trạng kỹ năng thu thập thông tin của GV THPT thành phố
Hải Phòng 402.4.5 Thực trạng kỹ năng thông đạt của GV THPT thành phố Hải Phòng 412.4.6 Thực trạng kỹ năng nói của GV THPT thành phố Hải Phòng 412.4.7 Thực trạng kỹ năng sử dụng các công cụ tư vấn của GV THPT
thành phố Hải Phòng 422.5 Thực trạng tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho
GVTHPT thành phố Hải Phòng432.5.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho GV 432.5.2 Thực trạng tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho
GV THPT thành phố Hải Phòng 452.5.3 Chỉ đạo, triển khai hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng
nghiệp cho GV THPT thành phố Hải Phòng 482.5.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn
hướng nghiệp cho GV THPT thành phố Hải Phòng492.5.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn
hướng nghiệp cho GV THPT thành phố Hải Phòng50Kết luận chương 2 53
HƯỚNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN THPT THÀNH PHỐ
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 54
Trang 93.2.1 Khảo sát nhu cầu bồi dưỡng để lập kế hoạch tổ chức bồi dưỡng kỹ năng
tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPT Thành phố Hải Phòng56 3.2.2 Huy động nguồn lực xây dựng lực lượng báo cáo viên bồi dưỡng
KN TVHN cho giáo viên THPT Thành phố Hải Phòng 58 3.2.3 Chỉ đạo đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức bồi dưỡng theo
hướng phát huy vai trò chủ thể của giáo viên THPT tham gia
bồi dưỡng 60 3.2.4 Xây dựng các chế độ hỗ trợ về tài chính, cơ sở vật chất cho hoạt
động bồi dưỡng nâng cao kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho
giáo viên THPT 63 3.2.5 Tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức bồi dưỡng và
đánh giá kết quả bồi dưỡng 64
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 65
3.5 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 67
3.5.1 Mục đích khảo nghiệm 67
3.5.2 Nội dung, đối tượng khảo nghiệm 67
3.5.3 Phương pháp khảo nghiệm 67
3.5.4 Kết quả khảo nghiệm 67
Kết luận chương 3 72
Phần 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73
1 Kết luận 73
2 Kiến nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC
Trang 10: Giáo dục và đào tạo: Giáo dục hướng nghiệp: Giáo viên trung học phổ thông: Giáo viên
: Học sinh: Khoa học - công nghệ: Kỹ năng tư vấn nghề: Kinh tế - xã hội: Nghiệp vụ sư phạm: Trung học chuyên nghiệp: Trung học phổ thông: Tư vấn
: Tư vấn hướng nghiệp: Xã hội chủ nghĩa
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Nhận thức của CBQL, GV THPT về mức độ cần thiết của các
yêu cầu đối với cán bộ làm công tác TV hướng nghiệp 32Bảng 2.2 Nhận thức của CBQL thành phố Hải phòng về mức độ cần
thiết của các kỹ năng tư vấn hướng nghiệp 33Bảng 2.3 Nhận thức của Giáo viên THPT thành phố Hải phòng 34Bảng 2.4 Đánh giá của CBQL thành phố Hải phòng về thực trạng kỹ
năng tư vấn hướng nghiệp của GV THPT 36Bảng 2.5 Tự đánh giá của GV THPT thành Phố Hải phòng về thực
trạng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp 37Bảng 2.6 Thực trạng công tác lập kế hoạch tổ chức hoạt động bồi
dưỡng kỹ năng tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho giáo viêntrung học phổ thông của Thành phố Hải Phòng 44Bảng 2.7 Đánh giá của CBQL, GV về các nội dung bồi dưỡng
KNTVHN cho GV THPT thành phố Hải Phòng 45Bảng 2.8 Thực trạng tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp
cho GV THPT thành phố Hải Phòng 47Bảng 2.9 Biện pháp chỉ đạo thực hiện kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng tư vấn
hướng nghiệp cho giáo viên THPT Thành phố Hải Phòng 48Bảng 2.10 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng kỹ năng
tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPT thành phố Hải Phòng 49Bảng 2.11 Các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp
cho GV THPT thành phố Hải Phòng 51Bảng 3.1 Đánh giá của CBQL, GV về mức độ cấp thiết của các biện
pháp bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viênTHPT thành phố Hải Phòng 68Bảng 3.2 Đánh giá của CBQL, GV về mức độ khả thi của các biện
pháp bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viênTHPT thành phố Hải Phòng 69
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Đánh giá của CBQL thành phố Hải phòng về thực trạng kỹ
năng tư vấn hướng nghiệp của GV THPT 36Biểu đồ 2.2 Tự đánh giá của GV THPT thành Phố Hải phòng về thực
trạng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp 37Biểu đồ 2.3 Đánh giá của CBQL, GV về các nội dung bồi dưỡng
KNTVHN cho GV THPT thành phố Hải Phòng 46Biểu đồ 3.1 Đánh giá của CBQL, GV về mức độ cấp thiết của các biện
pháp bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo
viên THPT thành phố Hải Phòng 70Biểu đồ 3.2 Đánh giá của CBQL, GV về mức độ khả thi của các biện
pháp bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên
THPT thành phố Hải Phòng 70
Trang 13Phần 1: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người là trọng tâm của sự phát triển, là yếu tố quyết định đảm bảo
sự thắng lợi của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước theo định hướng XHCN.Trong quá trình CNH - HĐH, việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ có năng lực nghềnghiệp vững chắc phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý nghĩahết sức quan trọng
Giáo dục hướng nghiệp (GDHN) là một nhiệm vụ quan trọng trong nhàtrường phổ thông, thực hiện chức năng tạo cơ sở cho việc phân luồng học sinhsau khi tốt nghiệp trung học Văn kiện đại học Đảng IX đã khẳng định “Coitrọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học, chuẩn bịcho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấukinh tế trong cả nước và từng địa phương” GDHN nhằm mục đích giúp HS(nhất là HS THPT) có được sự cân nhắc kỹ lưỡng khi chọn cho một hướng đi,một nghề nghiệp cụ thể Sự lựa chọn có ý thức, có cơ sở khoa học chính là cơ
sở giúp cá nhân HS có thể phát huy được một cách tối đa năng lực của mình,phù hợp với yêu cầu xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục và đào tạo
Trong những năm qua, GDHN nói chung và tư vấn hướng nghiệp nóiriêng đã được thực hiện trong các trường THPT dưới nhiều hình thức: thôngqua sinh hoạt hướng nghiệp; thông qua dạy nghề phổ thông; thông qua hoạtđộng ngoại khóa hoặc tích hợp lồng ghép vào các môn học… song hiệu quảgiáo dục chưa cao Đa số học sinh THPT không đánh giá đúng năng lực củamình, chưa chọn được cho mình một nghề phù hợp với năng lực, hứng thú củabản thân và nhu cầu của xã hội Những câu hỏi “đi đâu?; học trường nào "làmnghề gì?" thường là những câu hỏi khó giải đáp đối với các em Bên cạnh đó cónhững học sinh khi bước vào trường chuyên nghiệp mới nhận ra “mình chọnnhầm nghề”, dẫn đến hiện tượng chán nghề, bỏ nghề Điều này gây ra sự lãngphí cả về vật chất và tinh thần cho cá nhân học sinh, gia đình HS và cả xã hội
Trang 14- Thành phố Hải Phòng là một trong những địa phương thuộc tốp đầu vềphát triển kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế,… của cả nước Trong đó, giáo dục phổthông là một trong những thế mạnh của thành phố Hải Phòng Hiện nay, toànthành phố có 56 trường trung học phổ thông, có tổng số 84.893 học sinh chiếm8,3% dân số của thành phố; với hàng ngàn giáo viên THPT quản lý giáo dục vàgiáo viên Trong những năm qua, các trường THPT thành phố Hải Phòng đãchú trọng đến công tác hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp cho HS, tuynhiên hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu tìm hiểu thông tin nghềnghiệp của HS HS vẫn còn rất ngỡ ngàng, hoang mang trước thế giới nghềnghiệp phức tạp, đa dạng Các em thiếu hiểu biết về nghề, thiếu cái nhìn về tìnhhình đất nước, đánh giá về bản thân lại chưa chính xác, dễ bị ảnh hưởng từ dưluận xã hội, từ những thành kiến sai lầm về nghề nghiệp Điều này do nhiềunguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thuộc về năng lực của đội ngũ giáoviên Các giáo viên THPT hầu như chưa được bồi dưỡng tri thức, kỹ năng vềGDHN nói chung và tư vấn hướng nghiệp nói riêng, Vì vậy việc lựa chọn, sắpxếp nội dung chi tiết cụ thể còn lúng túng, sử dụng các hình thức, phương phápGDHN, tư vấn hướng nghiệp chưa đạt hiệu quả cao.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: "Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPT thành phố Hải Phòng" làm
đề tài nghiên cứu của mình
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động tư vấn hướngnghiệp, bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho GV THPT thành phố HảiPhòng, đề tài đề xuất biện pháp bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp chogiáo viên THPT trên địa bàn thành phố Hải Phòng, nhằm nâng cao năng lực tưvấn hướng nghiệp cho đội ngũ GV, góp phần nâng cao hiệu quả công tác hướngnghiệp trong nhà trường THPT
Trang 153 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viênTHPT Thành phố Hải Phòng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPTthành phố Hải Phòng
4 Giả thuyết khoa học
Hiệu quả hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh các trường THPTthành phố Hải Phòng phụ thuộc một phần vào kỹ năng tư vấn hướng nghiệpcủa đội ngũ giáo viên, nếu đánh giá đúng kỹ năng kỹ năng tư vấn hướngnghiệp của đội ngũ giáo viên và đề xuất được các biện pháp bồi dưỡng kỹ năng
tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên một cách khoa học, phù hợp với điều kiệnthực tiễn của các nhà trường thì sẽ nâng cao năng lực tư vấn hướng nghiệp chogiáo viên THPT thành phố Hải Phòng
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về bồi dưỡng kỹ năng hướng nghiệp cho giáo viên THPT
- Khảo sát thực trạng công tác bồi dưỡng kỹ năng hướng nghiệp cho giáoviên THPT thành phố Hải Phòng
- Xác định xây dựng biện pháp bồi dưỡng kỹ năng hướng nghiệp cho giáo viên THPT thành phố Hải Phòng
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu biện pháp tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướngnghiệp cho giáo viên THPT của Giám đốc Sở giáo dục và Đào tạo thành phố HảiPhòng (đi sâu bồi dưỡng đội ngũ giáo viên làm công tác hướng nghiệp)
ở các trường THPT thành phố Hải Phòng Các số liệu điều tra lấy từ năm học
2012 - 2013 đến nay
Trang 167 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa những tài liệu về hướngnghiệp, tư vấn hướng nghiệp… nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiêncứu
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm
* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này được sử dụng để điều tra trên đối tượng CBQL SởGD&ĐT, GV, HS trường THPT để tìm hiểu thực trạng công tác bồi dưỡng kỹnăng tư vấn hướng nghiệp cho GV trường THPT
* Phương pháp đàm thoại
Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập một số thông tin qua giáo viênchủ nhiệm lớp, GV làm cán bộ Đoàn và học sinh để giúp cho việc phân tíchthực trạng và lý giải nguyên nhân, đồng thời nhằm làm tăng thêm tính khácquan của kết quả thu được từ phương pháp khác
* Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát quá trình tổ chức, công tác bồi dưỡng đồng thời quansát việc tổ chức hoạt động tư vấn hướng nghiệp của giáo viên THPT để thuthập thêm các cứ liệu làm rõ thực trạng công tác bồi dưỡng tư vấn hướngnghiệp cho giáo viên THPT
* Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này được sử dụng trong đề tài để thu thập ý kiến kinhnghiệm quản lý bồi dưỡng của các chuyên gia để từ đó xây dựng, bổ sung, hoànthiện các biện pháp bồi dưỡng tư vấn hướng nghiệp cho sát với đối tượng, sátvới thực tế
7.3 Nhóm phương pháp bổ trợ
Sử dụng toán thống kê và một số phần mềm tin học để xử lý các kết quảđiều tra khảo sát, kết quả khảo nghiệm
Trang 178 Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài Phần Mở đầu; Kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo;Phụ lục, nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về bồi dưỡng kỹ năng hướng nghiệp cho giáo
Trang 18Phần 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TƯ VẤN
HƯỚNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng giáo viên
là vấn đề phát triển cơ bản trong phát triển giáo dục Việc tạo mọi điều kiệnthuận lợi để mọi người có cơ xã hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên đểkịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động phù hợp với sựphát triển KT-XH là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục nhất
là giáo dục hướng nghiệp có vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lựccủa đất nước
Tại Pakistan, có chương trình bồi dưỡng về sư phạm do nhà nước quyđịnh trong thời gian 3 tháng, gồm các nội dung như giáo dục nghiệp vụ dạyhọc, cơ sở tâm lý giáo dục, phương pháp nghiên cứu, đánh giá và nhận xét họcsinh, đối với đội ngũ giáo viên mới vào nghề chưa quá 3 năm
Ở Philippin, công tác bồi dưỡng cho giáo viên không tổ chức trong nămhọc mà tổ chức bồi dưỡng vào các khoá học trong thời gian học sinh nghỉ hè
Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học, tâm lý học vàđánh giá trong giáo dục; hè thứ hai gồm các môn về quan hệ con người, triếthọc giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; hè thứ ba gồm nghiên cứugiáo dục, viết tài liệu trong giáo dục và hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kĩnăng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy sách giáokhoa, sách tham khảo,…
Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên và giáo viênTHPT quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm.Tùy theo thực tế của từng đơn vị cá nhân mà các cấp quản lý giáo dục đề ra các
Trang 19phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định.
Cụ thể là mỗi trường cử từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theochuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học
Tại Thái Lan, từ 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trungtâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kĩ năngnghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội
Triều Tiên là một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồidưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên Tất cả đội ngũ giáo viên đều phải thamgia học tập đầy đủ các nội dung chương trình về nâng cao trình độ và nghiệp vụchuyên môn theo quy định Nhà nước đã đưa ra hai chương trình lớn được thựcthi hiệu quả trong thập kỉ vừa qua; đó là: “Chương trình bồi dưỡng giáo viênmới” để bồi dưỡng giáo viên thực hiện trong 10 năm và “Chương trình traođổi” để đưa giáo viên đi tập huấn tại nước ngoài
Giáo dục hướng nghiệp luôn là một vấn đề được các nước trên thế giới đặcbiệt quan tâm và bồi dưỡng giáo dục hướng nghiệp đã trở thành một nhiệm vụquan trọng với bất kỳ quốc gia dân tộc nào bởi việc bồi dưỡng hướng nghiệp chogiáo viên tốt hay không sẽ ảnh hưởng lớn đến thế hệ sau này của cả quốc gia đó
1.1.2 Ở Việt Nam
Ngay sau năm 1975, việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên nói chung đượcthực hiện trong bối cảnh cả nước phải khắc phục hậu quả khốc liệt của cuộcchiến tranh chống Mỹ, nên gặp rất nhiều khó khăn Chương trình đào tạo giáoviên ở các vùng miền được tổ chức theo các hình thức khác nhau, nội dung đàotạo khác nhau dẫn tới trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viêncũng khác nhau Để đáp ứng yêu cầu của cải cách giáo dục, Đảng và Nhà nước
ta có những chủ trương cấp bách để đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viêngiáo dục hướng nghiệp theo nhiều loại hình khác nhau đặc biệt là đội ngũGVTHPT như: đào tạo chính quy, tại chức, ngắn hạn và cấp tốc theo các hệkhác nhau dẫn đến trình độ của GV THPT không đồng đều
Trang 20Từ năm 1986, cả nước ta bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện để thực hiệnmục tiêu CNH-HĐH, Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng phát triển giáo dụcnhằm tạo động lực phát triển KT-XH Bắt đầu từ đây, việc đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ giáo viên đã có những chuyển biến tích cực nhằm dần dần chuẩn hoáđội ngũ này, mặc dù nguồn ngân sách giáo dục còn rất hạn hẹp Hai chu kì bồidưỡng thường xuyên 1992-1996 và 1997-2000 đã cho phép đúc rút được nhữngkinh nghiệm bổ ích về hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm cho độingũ giáo viên phổ thông nói chung và GV THPT nói riêng; đồng thời cũng bộc
lộ nhiều điều bất cập về nội dung, chương trình, hình thức tổ chức, cơ sở vậtchất, tài liệu, thời gian, và đặc biệt cho thấy những hạn chế trong các công tácquản lý của các cấp, dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng thường xuyên chưa cao, chưađáp ứng kịp với sự phát triển giáo dục
Do đó vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao chất lượng của độingũ giáo viên nói chung và GV tư vấn hướng nghiệp nói riêng còn cần phải tiếptục nghiên cứu để đề ra những biện pháp hữu hiệu và có tính khả thi đáp ứngyêu cầu của giai đoạn mới
Khái quát các kết quả nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra kết luận:
- Cùng với những nghiên cứu về GDHN, TVHN cho học sinh đã đượcquan tâm nghiên cứu với tư cách là một nội dung của GDHN cho học sinh Tuyvậy, những nghiên cứu về TVHN cho học sinh cũng có bước thăng trầm Cáccông trình nghiên cứu không được thường xuyên và có giai đoạn (giữa nhữngnăm 90 trở đi) vắng bóng các công trình nghiên cứu về vấn đề này
- Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đã có những tác độngnhất định đối với lĩnh vực tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trườngphổ thông ở các cấp độ, các bình diện khác nhau, nhưng vẫn còn thiếu nhữngcông trình đi sâu vào bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho GV THPTtrong giai đoạn nền kinh tế thị trường hiện nay, gắn với một khu vực, một vùng,miền nhất định Điều này, một lần nữa khẳng định tính cấp thiết của việc triểnkhai nghiên cứu luận văn
Trang 211.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Khái niệm tư vấn, tư vấn hướng
nghiệp * Khái niệm tư vấn
Trong các sách báo nước ngoài, khái niệm tư vấn hàm chứa hai ý nghĩa: tưvấn thông tin và tư vấn tâm lý (tham vấn) Tư vấn thông tin nặng về cung cấpthông tin chuyên môn còn tư vấn tâm lý mang nhiều ý nghĩa của sự trợ giúpmang tính cá nhân và riêng tư về những vấn đề riêng của con người
Bản thân khái niệm tư vấn cũng được hiểu rất khác nhau Nghiên cứu củaKell & Burown (1998) đã viện dẫn một số minh hoạ như sau: Good - một nhà
biên soạn Từ điển Giáo dục đã định nghĩa: “Tư vấn là một loại trợ giúp mang tính cá nhân và riêng tư về những vấn đề riêng của con người về vấn đề giáo dục, vấn đề nghề nghiệp” [39] Định nghĩa này nhấn mạnh đến cơ sở của nhận thức và vận dụng sự hỗ trợ của các nguồn lực bên ngoài trong quá trình tư vấn.
Một quan niệm khác lại cho rằng: Tư vấn là một mối quan hệ trong đó có mộtngười cố gắng giúp người khác hiểu biết và giải quyết vấn đề cần được điềuchỉnh của mình Lĩnh vực cần điều chỉnh thường là trong tư vấn tâm lý giáodục, tư vấn xã hội Như vậy, tư vấn là một công việc hai chiều, quan hệ đến cảhai người: người tư vấn (tư vấn viên) và người được tư vấn (thân chủ)
Định nghĩa được coi là có giá trị và được sử dụng khá phổ biến trongtrường học là định nghĩa của nhà Tâm lý học Wrenn: Tư vấn là một cuộc đặtquan hệ có mục đích giữa hai người, trong đó các cách thức đối xử thường thayđổi theo tính chất nhu cầu của học sinh, nhưng luôn có sự tham gia tương hỗgiữa tư vấn viên và học sinh tập trung vào việc phân biệt (tự làm cho rõ ràng,trong sáng) và tự quyết định của học sinh
Mặc dù có những quan niệm khác nhau về tư vấn, nhưng nhìn chung cácquan điểm này đều thừa nhận tư vấn là một tiến trình định hướng học hỏi, hoànthành một tương tác xã hội đơn giản, một người với một người Trong đó tưvấn viên là người có nghiệp vụ cao với những kỹ năng thành thạo và hiểu biết,
Trang 22tìm cách giúp thân chủ bằng những phương pháp thích hợp đối với nhu cầuthân chủ trong phạm vi tổng thể nghiên cứu về chính bản thân họ.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định: Tư vấn là một hoạt động thông tin, là một tương tác xã hội giữa nhà tư vấn và người được tư vấn, trong
đó nhà tư vấn đưa ra những lời khuyên hoặc các gợi ý giúp đối tượng cần tư vấn có được những thông tin và những tri thức cần thiết về những vấn đề mà
họ quan tâm.
* Tư vấn hướng nghiệp
Công tác tư vấn hướng nghiệp cũng giống như định hướng nghề và tuyểnchọn nghề được tiến hành trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, cónhững quy luật phát triển đặc thù, đồng thời được xem là biện pháp tác độngtrực tiếp đến con người Tư vấn hướng nghiệp là một trong những nhân tố hìnhthành ở con người hệ thống thái độ đối với thế giới nghề nghiệp và đối với bảnthân mình
Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà ở mỗi nước có cách nhìn và cách gọikhác nhau về tư vấn hướng nghiệp ví dụ như ở Mỹ, Canada thì gọi là “Hướngdẫn chọn nghề” hay “Hướng dẫn con đường mưu sinh” và cho rằng: “Hướngdẫn chọn nghề là quá trình giúp đỡ học sinh chọn nghề, là quá trình chuẩn bịcho học sinh đi làm, cũng tức là quá trình giúp con người có cơ thành đạt trongnghề” Ở Liên Xô (cũ) các nhà nghiên cứu gọi là “Hướng nghiệp”, cho rằng:
“Hướng nghiệp gồm ba khâu là: định hướng nghề, tư vấn nghề, tuyển chọnnghề, có nhiệm vụ chuẩn bị về tư tưởng và thực tế cho học sinh tốt nghiệptrung học sẵn sàng tham gia lao động và lựa chọn nghề nghiệp
Theo ý kiến của K.K Platonov tư vấn hướng nghiệp là: “Hệ thống những
hình thức y học và những hình thức tác động đa dạng khác nhằm phát hiện và khám phá những khả năng tinh thần và thể lực của học sinh trong lựa chọn” [22].
Trong từ điển Tâm lý học của Đức cũng cho rằng tư vấn hướng nghiệp làhoạt động tư vấn giúp cá nhân, đặc biệt là thanh niên trong quá trình địnhhướng, tìm chọn cũng như thay đổi nghề
Trang 23Ở Việt Nam, tư vấn hướng nghiệp đã được đề cập đến nhưng chưa đượcquan tâm nghiên cứu đúng mức Tư vấn hướng nghiệp là một khâu nằm trongcông tác hướng nghiệp Những năm gần đây do nhu cầu của xã hội, trước tìnhhình thực tế sự phân công lao động trong xã hội có nhiều bất cập nên công táchướng nghiệp và tư vấn nghề đang là một vấn đề được toàn xã hội quan tâm.
Theo tác giả Nguyễn Văn Hộ: “Tư vấn hướng nghiệp là một hoạt động thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu của một cá nhân hay của một nhóm người muốn hiểu biết về một đối tượng, hoạt động nghề mà họ chưa có điều kiện tiếp cận một cách cặn kẽ và hoàn chỉnh” [17].
Theo tác giả Đặng Danh Ánh: “Tư vấn nghề (hướng nghiệp) được hiểu là
hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo dục và y học nhằm phát hiện và đánh giá nhân cách của học sinh, giúp các em chọn nghề trên cơ sở khoa học Nói cách khác, tư vấn nghề là việc đối chiếu yêu cầu của nghề, yêu cầu của thị trường lao động với hứng thú, khuynh hướng của học sinh rồi cho các em lời khuyên nên học nghề nào thì phù hợp” [1].
Từ những khái niệm trên cho thấy, tư vấn hướng nghiệp là một hoạt độngcung cấp thông tin về nghề nghiệp, trong đó chủ thể tư vấn phải giúp cho đốitượng tư vấn (có thể là một cá nhân hoặc một nhóm người) hiểu được về hoạtđộng nghề nghiệp nào đó mà họ chưa có điều kiện hiểu biết một cách cặn kẽ.Giúp cho đối tượng tư vấn nhận thức được đặc điểm tâm sinh lý vốn có của bảnthân và những nhu cầu xã hội, từ đó họ có sự lựa chọn nghề nghiệp một cáchphù hợp Tư vấn nghề dựa trên cơ sở nghiên cứu nhân cách và những kiến thức
về nhu cầu nền kinh tế quốc dân Tư vấn hướng nghiệp được tiến hành đối vớitất cả những đặc điểm toàn diện của nhân cách học sinh, những hình thức,phương pháp giúp đỡ sư phạm cho học sinh trong lựa chọn nghề
Từ sự phân tích trên, chúng tôi quan niệm: Tư vấn hướng nghiệp là một hoạt động thông tin nhằm cung cấp cho đối tượng tư vấn về một hoạt động nghề mà họ chưa có điều kiện hiểu biết một cách cặn kẽ, trên cơ sở đối chiếu
Trang 24với năng lực, hứng thú của cá nhân, nhu cầu của xã hội, giúp đối tượng tư vấn lựa chọn nghề phù hợp.
1.2.2 Kỹ năng, kỹ năng tư vấn hướng nghiệp
* Kỹ năng
Trong Tâm lý học, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm kỹ năng; - Quan niệm thứ nhất chú trọng khía cạnh cách thức hành động, coi việc nắmđược cách thức hành động là có kỹ năng Tác giả: A.G Covaliôp cho rằng kỹnăng là phương thức thực hiện hoạt động đã được con người nắm vững
- Quan niệm thứ hai: Coi kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật củahành động mà còn là một biểu hiện năng lực của con người Kỹ năng theo quanniệm này vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và tínhmục đích Tác giả: A.V Pêtrôpxki xem kỹ năng là năng lực sử dụng các trithức, các dữ kiện hay khái niệm đã có để lựa chọn thực hiện những phươngthức hành động tương ứng với mục đích đề ra
- Quan niệm của các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam: Kỹ năng thườngđược là khả năng của con người thực hiện có hiệu quả hành động tương ứngvới các mục đích và điều kiện trong đó hành động xảy ra Kỹ năng bao giờcũng có tính khái quát và được sử dụng trong những tình huống khác nhau.Theo Từ điển tiếng Việt năm 2000 (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa: Kỹnăng là khả năng vận dụng những kiến thức thu được trong một lĩnh vực nào đóvào thực tế Nói khác đi, kỹ năng là khả năng thực hiện một công việc hay mộthoạt động nào đó một cách có chất lượng và hiệu quả theo yêu cầu cụ thể, nhằmđạt được mục đích nhất định trong những điều kiện nhất định
Những định nghĩa trên thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quanniệm cá nhân của nhà nghiên cứu Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhậnrằng kỹ năng được hình thành khi con người áp dụng kiến thức vào thực tiễn
Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành độngnhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng
Trang 25* Kỹ năng tư vấn hướng nghiệp
Mục đích cuối cùng của TVHN là học sinh lựa chọn được ngành, nghềphù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của bản thân và nhu cầu nhân lực của thịtrường lao động Để trợ giúp học sinh đạt được mục tiêu đó, thì hoạt động tưvấn phải bắt đầu từ người được tư vấn.Người được tư vấn (học sinh) đến vớinhà tư vấn vì họ đang gặp khó khăn để lựa chọn một nghề Có thể họ chưa cóhiểu biết gì về bản thân, về nghề nghiệp hay về thị trường lao động; hoặc họ cóhiểu một chút nhưng chưa đúng và đầy đủ; hoặc là họ đang gặp mâu thuẫn giữanăng lực và hứng thú, giữa cái bản thân muốn nhưng gia đình không cho phép,giữa nghề họ hứng thú nhưng lại khó xin việc…Từ đó, có nhiều quan điểmkhác nhau về tư vấn hướng nghiệp cho học sinh từ các nhà tâm lý học trong vàngoài nước
Năm 1942, cuốn sách “Tư vấn và tâm lý trị liệu” của Carl R Rogers đượcxuất bản, với phương pháp “tư vấn thân chủ trọng tâm” là nguyên nhân để xemxét lại toàn bộ những giả định đã được thiết lập trước đây trong TVHN Nhữngngười theo C Roger cho rằng: (1) các khái niệm như tình cảm, động lực hànhđộng cần được xem xét trong quá trình tư vấn, (2) thân chủ tự chấp nhận bảnthân và tự hiểu bản thân là những mục tiêu cơ bản, (3) điều quan tâm nữa làmối tương tác giữa thân chủ - nhà tư vấn và chia sẻ của thân chủ trong quá trình
tư vấn Thực chất, mối quan hệ tư vấn là sự tôn trọng lẫn nhau, trực tiếp hướngtới việc thân chủ đạt được sự tự hiểu biết bản thân và từng bước điều khiểnđược chính mình.Trung tâm của mối quan hệ tư vấn thay đổi về phía thân chủ
và kỹ thuật tư vấn, với sự giảm đi việc dùng bài kiểm tra (test), ghi chép hồ sơ
và quyền uy của nhà tư vấn Tư vấn nghề nghiệp theo một qúa trình cần tậptrung vào việc tạo cho các cá nhân khả năng tận dụng thế mạnh của họ để tựđưa ra quyết định và để có ảnh hưởng tới những lựa chọn trong tương lai hơn là
chỉ thích nghi với những áp lực của khách quan Như vậy: kỹ năng tư vấn hướng nghiệp là sự hướng dẫn, trợ giúp của giáo viên giúp học sinh chọn được một nghề phù hợp với bản thân, đáp ứng yêu cầu xã hội.
Trang 26Kỹ năng tư vấn hướng nghiệp bao gồm:
1.2.3 Bồi dưỡng, bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho GV THPT
Ví dụ: Bồi dưỡng đạo đức lý luận, bồi dưỡng NVSP
Công tác bồi dưỡng được thực hiện trên nền tảng các loại trình độ đãđược đào tạo cơ bản từ trước Hoạt động bồi dưỡng là hoạt động thường xuyênliên tục cho mỗi giáo viên để không ngừng nâng cao trình độ của mình để thíchứng với đòi hỏi của nền kinh tế Nội dung bồi dưỡng được triển khai ở các mức
độ khác nhau cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể.Bồi dưỡng thực chất làquá trình bổ sung tri thức, kỹ năng, nhằm nâng cao trình độ trong lĩnh vực hoạtđộng chuyên môn nào đó mà người ta đã có một trình độ chuyên môn nhấtđịnh Bồi dưỡng được coi là quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc đãlạc hậu, bổ túc văn hoá hoặc bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cốnhững kĩ năng về chuyên môn hay nghiệp vụ sư phạm theo các chuyên đề Đốivới giáo viên, hoạt động bồi dưỡng nhằm tạo điều kiện cho người giáo viên vàgiáo viên THPT quản lý giáo dục có cơ xã hội củng cố và mở rộng một cách có
hệ thống những tri thức, kĩ năng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm hoặc quản
lý giáo dục sẵn có để lao động nghề nghiệp một cách có hiệu quả hơn; mặt kháccũng qua bồi dưỡng người học biết chọn lọc, tiếp thu phát huy các mặt mạnh,khắc phục bổ sung những mặt còn hạn chế, bồi dưỡng kịp thời, động viên họlàm việc tự giác với tinh thần trách nhiệm đạt hiệu suất cao
Trang 27Như vậy theo chúng tôi "Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiếnthức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực trình độ, phẩm chất của người laođộng về một lĩnh vực hoạt động mà người lao động đã có một trình độ năng lựcchuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó".
* Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPT:
Bồi dưỡng kỹ năng là trang bị thêm kiến thức, nhằm nâng cao năng lực
tư vấn của giáo viên để quá trình tư vấn đạt kết quả cao Dưới vai trò tổ chức,hướng dẫn của báo cáo viên, giáo viên cần tự giác, tích cực tự rèn luyện để hìnhthành kỹ năng tư vấn cho bản thân Do đó trong quá trình bồi dưỡng, giáo viêncần nhận thức đúng ý nghĩa, vai trò của kỹ năng tư vấn đối với nghề nghiệp củamình trong tương lai, có động cơ rèn luyện đúng đắn, phải biến quá trình bồidưỡng thành quá trình tự bồi dưỡng Có như vậy, quá trình bồi dưỡng kỹ năng
tư vấn của GV THPT mới đạt kết quả cao Hay nói cách khác, quá trình bồidưỡng kỹ năng tư vấn là quá trình cần sự tự giác, tính độc lập cao
Như vậy có thể hiểu: Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho GV THPT là quá trình tổ chức các hoạt động nhằm bổ sung, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, rèn luyện kỹ năng của GV làm công tác hướng nghiệp ở trường THPT một cách có kế hoạch, có hệ thống thông qua các sự kiện, chương trình, khóa tập huấn, hội thảo, lớp học ngắn hạn theo chuyên đề, đảm bảo cho GV đạt được các trình độ kiến thức, kỹ năng để thực hiện công tác tư vấn hướng nghiệp một cách hiệu quả.
Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp nhằm bổ sung những nhữngkiến thức chuyên đề khuyết thiếu cho GV, hướng dẫn về phương pháp, cáchthức tổ chức hoạt động tư vấn hướng nghiệp, phát huy những năng lực, phẩmchất, kinh nghiệm và các mối quan hệ xã hội của bản thân để thực hiện tốt nhấtchức năng, nhiệm vụ của công tác tư vấn hướng nghiệp
Trang 281.3 Một số vấn đề lý luận về bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPT
1.3.1 Chức năng nhiệm vụ của Giám đốc Sở GD & ĐT Trong việc bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPT
- Là vai trò chủ đạo trong việc Bồi dưỡng cho CBGV - Là cơ quan tham mưu với UBND Thành phố về lĩnh vực giáo dục.
Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên theo thông tư 26/2012 của Bộ
1.3.2 Mục tiêu và tầm quan trọng của bồi dưỡng KN TVHN cho GV THPT
Sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng KH-CN, sự phát triểnkinh tế tri thức, xu hướng toàn cầu hoá và xã hội nhập quốc tế đã tác độngmạnh mẽ và toàn diện đối với đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của xãhội Khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng cũng ngày càng được rút ngắn.Con người được coi là trung tâm của sự phát triển Một xã hội dựa vào sứcmạnh của tri thức, bắt nguồn từ sự khai thác tiềm năng của con người, lấy việcphát huy nguồn lực con người làm nhân tố cơ bản của sự phát triển nhanhchóng và bền vững Những đặc trưng trên dẫn đến những yêu cầu mới vềnhiệm vụ cho giáo dục nói chung và tư vấn hướng nghiệp nói riêng khôngnhững chỉ trang bị kiến thức mà phải chăm lo hình thành trong lớp trẻ các hành
vi về tình cảm, thái độ, khả năng thích ứng đề góp phần xây dựng mái nhàchung của thế giới, ngăn chặn các hiểm hoạ, nhằm phát triển xã hội bền vững
và ổn định
Trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội như hiện nay, nhiều ngành nghề mới xuất hiện, nhiều nghề bị mai một Đối với HS THPT, khi chuẩn bị “vào
Trang 29đời” học sinh thường rất ngỡ ngàng trước thế giới nghề nghiệp phức tạp và đadạng Các em thiếu hiểu biết về nghề, thiếu cái nhìn thực tế về tình hình đấtnước, đánh giá về bản thân mình lại chưa chính xác, nên rất dễ bị ảnh hưởng từ
dư luận xã hội, từ những thành kiến về nghề nghiệp Các em rất cần sự hướngdẫn, giúp đỡ của những người đi trước, đặc biệt là các thầy cô giáo Để làm tốtđược công việc “trợ giúp” cho HS, GV cần có vốn hiểu biết về ngành nghềtrong xã hội, cần biết cách tư vấn, hướng dẫn HS, giúp các em biết được nănglực của bản thân, hiểu được “chính mình”, nắm được nhu cầu của xã hội, từ đóchọn cho mình một hướng đi đúng Chính vì vậy, việc tổ chức bồi dưỡng nhằmnâng cao năng lực tư vấn hướng nghiệp cho đội ngũ giáo viên làm công táchướng nghiệp trong các trường THPT là một việc làm quan trọng, cần thiếttrong giai đoạn hiện nay, góp phần làm tốt công tác phân luồng học sinh sauTHPT, đáp ứng mục tiêu giáo dục, yêu cầu xã hội
1.3.3 Nội dung bồi dưỡng KN TVHN cho GV THPT
1.3.3.1 Tổ chức bồi dưỡng các kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho GV THPT
Một số kỹ năng quan trọng đối với người làm công tác tư vấn nói chung
và làm công tác tư vấn hướng nghiệp nói riêng đã được nhiều tác giả đưa ra bànluận trong một thời gian dài, đây chính là những kỹ năng cần bồi dưỡng cho
GV để họ có thể làm tốt công tác tư vấn hướng nghiệp cho HS trong nhà trườngTHPT bao gồm:
- Kỹ năng lắng nghe
Nghe không đơn thuần chỉ là sử dụng thính giác mà còn phải biết kết hợpquan sát và thể hiện sự cảm thông của mình với thân chủ Nghe cũng là mộtcách tìm hiểu để nắm bắt những ý kiến, cảm xúc, đồng thời theo dõi những sắcthái tình cảm hoặc thái độ của người đó qua giọng nói và cách nói Nghe trướchết là nắm bắt thông tin, sau nữa phải khuyến khích được sự thoải mái và sự
chân thật của thân chủ để họ diễn đạt suy nghĩ, băn khoăn, lo lắng - Kỹ năng giao tiếp không lời
Trang 30Kỹ năng giao tiếp không lời có thể là những biểu hiện về trạng thái nộitâm của thân chủ Không chỉ có vậy người làm công tác tư vấn tâm lý nóichung và tư vấn nghề nói riêng cũng phải biết sử dụng ngôn ngữ giao tiếpkhông lời Nếu sử dụng giao tiếp không lời hiệu quả sẽ tạo điều kiện giao tiếpbằng lời từ đó xây dựng được mối quan hệ tư vấn tâm lý Qua ngôn ngữ cử chỉ,nét mặt, giọng nói,… người làm công tác tư vấn tâm lý thể hiện được thái độvới thân chủ và ngược lại.
- Kỹ năng phản hồi
Là khả năng tiếp nhận thông tin và truyền lại thông tin bằng hành vi Đó
là nói lại bằng ngôn ngữ của mình hoặc nhắc lại lời thân chủ một cách cô đọnghoặc làm rõ hơn điều thân chủ vừa bày tỏ và được sự tán thành của thân chủ
- Kỹ năng thu thập thông tin
Giúp người làm công tác tư vấn tâm lý có thể thu thập đầy đủ thông tin
về thân chủ và cả cảm xúc của họ từ đó sẽ giúp thân chủ Kĩ năng thu thậpthông tin gồm có: + Kĩ năng đặt câu hỏi + Kĩ năng tóm lược:
- Kỹ năng thông đạt
Thể hiện sự hiểu biết một cách nồng hậu, trung thực không lấn át thânchủ Khả năng thông đạt là hiểu biết và thông cảm những gì bộc lộ để giúp thânchủ thấy được nội dung các sự kiện, thấy rõ cảm xúc của mình, thấy được giátrị của mình qua đó giúp họ đương đầu với vấn đề họ gặp phải Đây cũng là cơ
sở tạo lòng tin
- Kỹ năng nói
Nói là truyền đạt hay chuyển tới đối tác một lượng thông tin, một ýtưởng, một ý kiến, một cảm xúc bằng lời nói Nói cung cấp thông tin đến thânchủ, giúp thân chủ hiểu rõ nguyên nhân và nguồn gốc sự lo lắng của vấn đề họquan tâm giúp họ giải quyết vấn đề dựa trên lí trí và tình cảm Nói còn biểuhiện sự thiện chí, cảm tình và nói lên sự đảm bảo đối với đối tượng Khi nói
Trang 31cần dùng ngôn ngữ đơn giản có tính phổ thông, nói phải rõ ràng, có sức biểucảm, thu hút thân chủ, nói những điều mà thân chủ cần nghe, tránh những từlàm thân chủ sợ hãi sẽ làm ảnh hưởng tới trạng thái tâm lí và tinh thần của thânchủ ảnh hưởng tới hiệu quả tư vấn.
- Kỹ năng sử dụng các công cụ tư vấn:
Sử dụng các Test đo đặc điểm nhân cách (khí chất, xu hướng, năng lực,tính cách), sử dụng dụng cụ đo đặc điểm sinh lý…
1.3.4 Phương pháp và hình thức bồi dưỡng KNTVHN cho GV THPT
Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho GV THPT cần được thựchiện thông qua nhiều phương pháp và hình thức khác nhau, đảm bảo tính đadạng, phong phú, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với thực tiễn
1.3.4.1 Phương pháp bồi dưỡng
- Sử dụng phương pháp thuyết trình cung cấp kiến thức chuyên đề, phântích, giải thích, lý giải về kiến thức mới những vấn đề thuộc chuyên môn cáclĩnh vực khác nhau
- Phương pháp thực hành, cho GV trực tiếp thực hành xử lý tình huống, tự
tổ chức các hoạt động, trên cơ sở đó phân tích rút ra kinh nghiệm về tổ chứchoạt động tư vấn hiệu quả
- Phương pháp cùng tham gia: có sự tác động luân phiên và tương hỗ giữangười giảng viên và học viên, giảng viên đóng vai trò là người điều hành, dẫndắt, định hướng, nêu vấn đề; học viên là người thảo luận, thực hành, rút ranhững kinh nghiệm, kiến thức cho bản thân (đối thoại, thảo luận nhóm, hỏi đáp,trò chơi )
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: giúp GV nhận diện và thảo luận vềcác tình huống, các hoạt động thực tế, một vấn đề hay loạt vấn đề nào đó để từ
đó GV có thể khái quát, rút ra được kinh nghiệm hay nhận ra được vấn đề rộnghơn từ một tình huống, trường hợp cụ thể
- Phương pháp xử lý tình huống và phương pháp dự án
Trang 321.3.4.2 Hình thức bồi dưỡng
- Cử GV tham gia các khóa bồi dưỡng về kỹ năng tại Bộ Giáo dục và đào tạo, tại Sở Giáo dục và Đào tạo
- Mời các chuyên gia bồi dưỡng tại trường
- Tổ chức và phối hợp tổ chức các lớp bồi dưỡng ngắn hạn tập huấn cho
GV tại trường
- Hỗ trợ nguồn lực, trực tiếp tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho GV tại trường
- Bồi dưỡng qua các thức thức tham quan hoạt động thực tế
- Trang bị tài liệu cho GV tự nghiên cứu, tự học, tự rèn luyện
1.4 Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPT
1.4.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng
Trong hoạt động bồi dưỡng TVHN cho GV ởTHPT thì việc xây dựng kếhoạch bồi dưỡng là vấn đề trước nhất và mang tính định hướng cho mọi hoạtđộng Kế hoạch đó phải thể hiện được các yêu cầu chủ yếu sau:
1) Khảo sát tình hình đội ngũ giáo viên để phân loại thành các nhóm khác nhau nhằm định hướng các nội dung và hình thức bồi dưỡng cho mỗi nhóm.
Có thể tổ chức việc khảo sát và phân loại theo các cách tiếp cận sau:
- Phân loại theo nội dung bồi dưỡng: bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ;bồi dưỡng năng lực, phương pháp sư phạm; bồi dưỡng việc thực hiện và đảmbảo chương trình và sách giáo khoa mới; bồi dưỡng việc sử dụng phương tiện
- Phân loại theo tính chất và quy mô: bồi dưỡng giáo viên giỏi, bồi dươnggiáo viên cốt cán, bồi dưỡng đại trà,
Trang 33- Phân loại theo kế hoạch thời gian: bồi dưỡng dài hạn; ngắn hạn; bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ; bồi dưỡng theo chuyên đề,
2) Xác định mục tiêu của hoạt động bồi dưỡng
Cần chỉ ra hoạt động bồi dưỡng nhằm vào đối tượng nào, bồi dưỡng đểngười tham dự bồi dưỡng thu nhận được những kiến thức, kỹ năng và có thái
độ như thế nào Nói cụ thể hơn là sau bồi dưỡng thì đội ngũ giáo viên đạt đượcmức độ như thế nào so với mục tiêu đề ra
3) Dự kiến các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực và thời gian) cho hoạt động bồi dưỡng
Đây là công việc chuẩn bị về lĩnh vực tổ chức nhằm định hướng đượcchọn ai, ở đâu để làm giảng viên, chi phí cho mọi hoạt động bồi dưỡng sẽ ởnguồn nào, tài liệu và phương tiện vật chất khác (như hội trường máy mócthiết bị, ) được khai thác ở đâu, thời lượng để thực hiện chương trình bồidưỡng và tổ chức vào thời gian nào trong năm học,
4) Dự kiến các biện pháp thực và hình thức hiện mục tiêu bồi dưỡng
Dự kiến các biện pháp và hình thức tổ chức là việc làm cũng không kémphần quan trọng Việc này được thực hiện khi thực hiện chương trình bồidưỡng Nó thể hiện việc tổ chức bồi dưỡng tập trung cả thời gian, hay tập trungtừng giai đoạn, tổ chức thành lớp hay theo nhóm, ở tại huyện hay tổ chức kếthợp với tham quan thực tế, và cuối cùng là biện pháp đánh giá như thế nào?
1.4.2 Tổ chức hoạt động bồi dưỡng
Tổ chức bồi dưỡng là quá trình triển khai, thực hiện một hoạt động cụ thểtrong kế hoạch bồi dưỡng đã được xác định Tổ chức bồi dưỡng cần trả lời cáccâu hỏi cơ bản như: Có những hoạt động cụ thể nào? Phân công phối hợp nhưthế nào cho có hiệu quả?Tổ chức sao cho chi phí phù hợp để kết quả cao?
Do đó, để tổ chức bồi dưỡng tốt, cần phân tích kế hoạch bồi dưỡng thànhcác công việc cụ thể: Ra quyết định tổ chức khóa bồi dưỡng, triệu tập học viên,
in ấn tài liệu, mời giảng viên, tổ chức chọn địa điểm, điều phối chương trình,
Trang 34theo dõi các hoạt động giảng dạy, chi phí thanh toán, đánh giá kết quả đầu vào, kết thức, báo cáo sơ tổng kết, thanh quyết toán.
- Mối quan hệ phối hợp chỉ đạo giữa Giám đốc Sở GD&ĐT, nhà trường
và giáo viên trong hoạt động tổ chức bồi dưỡng năng lực tư vấn hướng nghiệpcho giáo viên Trung học phổ thông
- Thực hiện quy trình hóa: Mỗi công việc hay hoạt động được phân chia logic theo các bước, trình tự nhất định
- Phân công trách nhiệm thực hiện từng công việc cụ thể
- Phối hợp các đơn vị, bộ phận và các cá nhân trong quá trình thực hiện
kế hoạch bồi dưỡng
- Tiến hành thực hiện các hoạt động bồi dưỡng (tổ chức bồi dưỡng)
- Kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả kế hoạch bồi dưỡng
1.4.3 Chỉ đạo, triển khai hoạt động bồi dưỡng
Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độcủa những người tham gia bồi dưỡng nhằm đạt tới các mục tiêu và chất lượngbồi dưỡng đặt ra
Chỉ đạo là chức năng thứ ba trong quá trình quản lý hoạt động bồidưỡng, có vai trò cùng với chức năng tổ chức để hiện thực hoá các mục tiêu củahoạt động bồi dưỡng Chức năng chỉ đạo được xác định từ việc điều hành vàhướng dẫn các hoạt động bồi dưỡng nhằm đạt được các mục tiêu có chất lượng
và hiệu quả Thực chất của chức năng chỉ đạo là quá trình tác động và ảnhhưởng của nhà trường và Giám đốc Sở GD&ĐT tới những GV THPT nhằmbiến đổi những yếu tố chung của tổ chức, hệ thống và nhà trường thành nhu cầucủa mọi giáo viên, trên cơ sở đó mọi người tích cực, tự giác và mang hết khảnăng để tập luyện, rèn luyện nâng cao năng lực cá nhân Do vậy chức năng chỉđạo là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu bồidưỡng góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động bồidưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPT
Trang 35Chức năng chỉ đạo là một chức năng quản lý quan trọng và cần thiết choviệc thực hiện hoá các mục tiêu bồi dưỡng, do đó trong chỉ đạo hoạt động bồidưỡng phải quát triệt phương châm “duy trì - ổn định - đổi mới - phát triển”trong các hoạt động bồi dưỡng từ đó chức năng chỉ đạo trong hoạt động bồidưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPT cần thực hiện các nộidung sau:
(1) Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ bồidưỡng của nhà trường tới giáo viên
(2) Thường xuyên đôn đốc, động viên và kích thích các giáo viên tíchcực triển khai, duy trì các hoạt động bồi dưỡng một cách hệ thống nhằm nângcao năng lực cho lực lượng giáo viên tư vấn hướng nghiệp
(3) Giám sát hoạt động bồi dưỡng, đánh giá những kết quả đã đạt được
và những kết quả chưa đạt được và có biện pháp sửa chữa những tồn tại tronghoạt động bồi dưỡng để nâng cao chất lượng và hiệu quả bồi dưỡng
(4) Thúc đẩy các hoạt động phát triển, Giám đốc Sở GD&ĐT phối hợpban Giám hiệu các trường khuyến khích, động viên, tạo điều kiện để giáo viêntích cực tham gia bồi dưỡng kỹ tư vấn hướng nghiệp
Chức năng chỉ đạo có nguồn gốc từ hai thuật ngữ Directing (điều hành)
và thuật ngữ Leading (lãnh đạo), do đó, chỉ đạo vừa có ý nghĩa ra chỉ thị đểđiều hành vừa là tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ (ảnh hưởng tới quátrình hình thành động cơ làm việc) của giáo viên tham gia bồi dưỡng trong toàn
bộ hệ thống trên cơ sở sử dụng đúng đắn các quyền của người quản lý
Thực hiện quyền chỉ huy (giao việc) và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụbồi dưỡng cũng như tác động có ảnh hưởng tới các thành viên khác phải đảm bảophù hợp, thiết thực và cụthể với khả năng và trình độ của từng giáo viên
Việc thực hiện thường xuyên, đôn đốc, động viên và kích thích đối tượngtích cực tham gia bồi dưỡng có tác dụng như quá trình như quá trình tạo động
cơ bồi dưỡng cho mọi thành viên
Trang 36Giám sát (tương ứng với thuật ngữ Supervision) là quá trình hoạt độngcủa chủ thể quản lý nhằm theo dõi việc thực hiện các nhiệm vụ của cấp dưới,khi thấy có sự sai lệch, lúng túng thì giúp sửa chữa hoặc hỗ trợ, giúp đỡ mọiđối tượng thực hiện tốt các nhiệm vụ bồi dưỡng đặt ra.
Việc cần thiết trong quá trình chỉ đạo của Giám đốc Sở GD&ĐT là tạođiều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, thiết bị cũng như các điều kiện khác nhằmgiúp cho bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên THPT, nângcao năng lực hoạt động của giáo viên
- Xử lý thông tin liên quan đến việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng, thảoluận, bàn bạc dân chủ, công khai, phát huy sức mạnh của tập thể trong việc tổchức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng
Kiểm tra trong quản lý là quá trình xem xét thực tiễn để thực hiện cácnhiệm vụ đánh giá thực trạng, khuyến khích những nhân tố tích cực, phát hiệnnhững sai lệch và đưa ra những quyết định điều chỉnh nhằm giúp các đối tượnghoàn thành nhiệm vụ và góp phần đưa toàn bộ hệ thống được quản lý tới mộttrình độ cao hơn
Kiểm tra là chức năng cuối cùng của một quá trình quản lý, có vai trògiúp cho chủ thể quản lý biết được mọi người thực hiện các nhiệm vụ ở mứctốt, vừa, xấu như thế nào, đồng thời cũng biết được những quyết định bồidưỡng ban hành có phù hợp với thực tế hay không, trên cơ sở đó điều chỉnh cáchoạt động bồi dưỡng để nâng cao hiệu quả, giúp đỡ hay thúc đẩy các cá nhân,tập thể đạt được các mục tiêu bồi dưỡng đã đề ra Như vậy, chức năng kiểm trathể hiện rõ vai trò cung cấp thông tin và trợ giúp các cá nhân và đơn vị hoànthành nhiệm vụ bồi dưỡng theo mục tiêu kế hoạch đã xác định
Với những vai trò đặc biệt như vậy, chức năng kiểm tra không chỉ đơnthuần là chức năng cuối cùng trong một quá trình bồi dưỡng mà còn là tiền đềcho một quá trình bồi dưỡng và quản lý mới tiếp theo
Trang 37Chức năng kiểm tra là một trong những chức năng quan trọng của quátrình quản lý có nhiều vai trò trong việc giúp hoàn thành các nhiệm vụ của cácđối tượng quản lý.
Kiểm tra cần thực hiện các nội dung sau:
(1) Phát hiện thực hiện những điểm tốt và những điểm còn tồn tại của hoạtđộng bồi dưỡng nói chung và của từng cá nhân tham gia bồi dưỡng nói riêng
(2) Điều chỉnh: Bao gồm; tư vấn (uốn nắm, sửa chữa); thúc đẩy hoạtđộng bồi dưỡng (phát huy thành tích tốt); hoặc xử lý Theo dõi, đốn đốc tiếntrình thực hiện kế hoạch.Có các biện pháp điều chỉnh nhằm đạt kết quả cao sovới mục tiêu đề ra
Đánh giá bao gồm: Xác định chuẩn đạt được của kết quả bồi dưỡng củamỗi giáo viên Trung học phổ thông; thu thập thông tin; so sánh sự phù hợp củaviệc thực hiện với chuẩn mực Đánh giá phải đảm bảo tính khách quan (đánhgiá đầu vào, đánh giá ngay sau khi kết thúc hoạt động bồi dưỡng và đánh giátác động của hoạt động bồi dưỡng trong triển khai nhiệm vụ tại địa phương saukhi được bồi dưỡng )
1.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên Trung học phổ thông
* Những yếu tố khách quan
- Tình hình kinh tế- xãhôi::
Kinh tếxa ̃hôịcủa đất nước phát triển theo hướng nào cũng ảnh hưởngquyết đinḥ đến nôịdung bồi dưỡng ky ̃năng tư vấn hướng nghiêpp̣ cho giáo viên.Khi Giám đốc Sở GD&ĐT vàHiêụ trưởng các trường THPT xác đinḥ đươcp̣hướng đi, mucp̣ tiêu cùng chỉđaọ cơ bản thìse ̃quyết đinḥ nôịdung bồi dưỡng saocho phùhơpp̣ với điều kiêṇ thưcp̣ tếvàhoàn cảnh Giáo ducp̣ hướng nghiêpp̣ chinhlàgiúp hocp̣ sinh tìm đươcp̣ cho mình nghềnghiêpp̣ không chỉthích hơpp̣ với bảnthân màcòn phải phùhơpp̣ với hoàn cảnh điều kiêṇ kinh tế- xa ̃hôị Trong vàinăm gần đây, kinh tế- xã hội Việt Nam có những bước phát triển mạnh, việcthay đổi cơ cấu ngành nghề và trình độ của nhân lực lao động trong xã hội đã
Trang 38làm nảy sinh nhu cầu của người lao động Đó là được bồi dưỡng nâng cao trình
độ nghề nghiệp và đào tạo lại để chuyển đổi vị trí làm việc cũng như nghềnghiệp
Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình TVHN theo hướng chuẩn hóa,tiếp cận với trình độ kinh tế- xa ̃hôịcủa khu vực và thế giới; đồng thời, thíchứng với nhu cầu nguồn nhân lực cho các lĩnh vực kinh tế - của đất nước, củatừng vùng và từng địa phương đểhoaṭđôngp̣ bồi dưỡng ky ̃năng tư vấn hướngnghiêpp̣ diễn ra hiêụ quả hơn
- Sư :phát triển của khoa hoc: - công nghê::
Trong thời gian vừa qua, trên thế giới đang tiếp tục diễn ra cuộc cáchmạng khoa học-công nghệ, sự chuyển biến từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ
nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức Sự ra đời của các công nghệ cao
đã giúp các nước phát triển tái công nghiệp hoá, và giúp các nước đang pháttriển rút ngắn con đường công nghiệp hoá, làm thay đổi cơ cấu công nghiệp
nhiều nước Thế giới bước sang kỷ nguyên của xã hội thông tin Cách mạng thông tin đã thúc đẩy sự ra đời của nền kinh tế tri thức (knowledge economy).
Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng trithức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải,
nâng cao chất lượng cuộc sống Nền kinh tế tri thức đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng cao, có thể thích ứng với nhiều loại hình nghề nghiệp Từ đó, giáo
dục nghề nghiệp phải chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhân lựcphải đa năng… Người lao động phải biết di chuyển kĩ năng, di chuyển cảmxúc… khi chuyển đổi công việc Đây là vấn đề khó khăn đặt ra cho giáo dụcnghề nghiệp hiện đại
Trước thực trạng này, con người đối diện với tương lai không chắc chắn: sựkhông ổn định trong nghề nghiệp Vấn đề đặt ra trong hướng nghiệp là: làm thếnào để giúp con người đối mặt và giải quyết những khó khăn trong nghề nghiệp,giúp họ dịch chuyển một cách tốt nhất? Tư vấn hướng nghiệp trong thời đại hiệnnay phải giúp cá nhân đương đầu với những thay đổi bằng việc phân tích các tìnhhuống Nhà tư vấn hay GV tư vấn trong trường THPT cần giúp cá nhân thích ứngvới hoàn cảnh mới, vượt qua khó khăn, hình thành lại niềm tin
Hoạt động tư vấn nghề nghiệp vàbồi dưỡng tư vấn hướng nghiêpp̣ trong trường
Trang 39THPT cần phải hiểu và đánh giá đúng các năng lực của học viên và người đượcđào tạo, và phải giúp họ khám phá các lựa chọn nghề nghiệp.
- Nội dung chương trình TVHN
Nội dung chương trình phong phú, đa dạng cập nhật được các thông tin
mở rộng kiến thức tư vấn sẽ làm cho học sinh hào hứng, có tác dụng tác đôngp̣ đến tư tưởng giúp HS lưạ chọn nghềnghiệp cho bản thân
Lứa tuổi học sinh THPT có khả năng tư duy tốt, TVHN nên khơi dậy ởcác em nhu cầu ham học hỏi, tự tìm tòi kiến thức như vậy nội dung kiến thức sẽđược mở rộng, phong phú và cập nhật Hơn nữa, nội dung cũng cần đảm đảo sựcân đối giữa kiến thức chuyên môn, kiến thức văn hóa liên quan đến thực tiễnhọc tập phù hợp với lứa tuổi bám sát từng chủ đề hoạt động Có như vậy,TVHN mới đáp ứng mục tiêu của từng hoạt động, mục tiêu chung của giáo dục.Nếu nội dung nghèo nàn, đơn điệu sẽ khó thu hút các thành viên tham gia hoạtđộng, kết quả hạn chế
Thời gian thực hiện chương trình TVHN phải đảm bảo cân đối, phù hợpvới hoạt động khác của nhà trường
- Cơ sở vật chất để thực hiện hoạt động bồi dưỡng
Cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật là điều kiện và phương tiện tất yếu đểthực hiện hoạt động bồi dưỡng giáo viên Không thể tổ chức hoạt động bồidưỡng khi không có các điều kiện như kinh phí, tài liệu tham khảo, phòng học,thiết bị dạy học, phương tiện giao thông, điện, nước, sân vườn, bãi tập, Cầnxây dựng các chế độ chính sách, khuyến khích về vật chất và tinh thần, chế độthưởng phạt nghiêm minh đối với việc tự giác thực hiện việc bồi dưỡng của
mỗi giáo viên nhằm tạo động lực để giáo viên tích cực tự giác tham gia vào
hoạt động bồi dưỡng
* Các yếu tố chủ quan
- Nhận thức của các lực lượng giáo dục về TVHN
TVHN nó được diễn ra trong và ngoài nhà trường, để việc thực hiệnchương trình TVHN đạt hiệu quả thì nhận thức của lực lượng giáo dục có ảnhhưởng không nhỏ tới quá trình tổ chức Lực lượng giáo dục bao gồm: các đoànthể, tổ chức trong và ngoài nhà trường, phụ huynh, giáo viên, giáo viên quản lí
Trong quá trình tổ chức để thực hiện chương trình, thì người tổ chức và
Trang 40chức không những phải là người có uy ín, có năng lực cố vấn, điều hành màcòn phải có nhận thức đúng và am hiểu về lĩnh vực mình tổ chức.
Nhận thức của các lực lượng giáo dục nó sẽ trở thành yếu tố tích cựcthúc đẩy việc xác định mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức phù hợp mang lạihiệu quả giáo dục.Ngược lại nếu nhận thức của các lực lượng giáo dục khôngđúng nó sẽ dẫn tới việc xác định mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức sai lầmhay việc thực hiện qua loa, hình thức hiệu quả giáo dục thấp
- Tính chủ động của giáo viên trong công tác bồi dưỡng
Tính chủ động của giáo viên có tác động rất lớn tới việc thực hiệnchương trình TVHN Chủ thể giáo viên là chủ thể của hoạt động do vậy họ cần
có sự hiểu biết về chương trình TVHN, năng lực tổ chức, kinh nghiệm, uy tínvới tập thể giáo dục và đặc biệt là tính tích cực của học sinh
Giáo viên - chủ thể của hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quảthực hiện chương trình TVHN Nếu bản thân chủ thể nhận thức không đúngtham gia chương trình một cách thụ động, gò bó và mang tính hình thức Dovậy, để việc thực hiện chương trình đạt hiệu quả cao nhất cần giúp học sinhnhận thức rõ mục tiêu của TVHN là lựa chọn được hướng đi nghề nghiệp đúngđắn cho tương lai của mình Chính TVHN sẽ phát huy được tính tích cực củamỗi con người từ đó các em phát triển được kiến thức, kỹ năng, thái độ và hoànthiện nhân cách của mình
- Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng kỹnăng TVHN cho giáo viên
Để hoạt động bồi dưỡng giáo viên ngày càng có hiệu quả thì người hiệutrưởng phải kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng sau mỗi đợt tổ chức Hoạtđộng này giúp người hiệu trưởng biết được những mặt tốt để phát huy, nhữnglệch lạc để điều chỉnh và nhưng sai phạm để có quyết định xử lý; mặt khác nógiúp cho chính đội ngũ giáo viên biết được các hạn chế (chưa đạt yêu cầu củabồi dưỡng) để cố gắng hơn
Như vậy kiểm tra và đánh giá có tác động đến chất lượng và hiệu quả hoạt động bồi dưỡng giáo viên