1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biện pháp tu từ so sánh và biện pháp tu từ nhân hóa trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của tô hoài

111 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 246,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LẠI THỊ HƯƠNG BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ NHÂN HÓA TRONG TÁC PHẨM VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN H

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LẠI THỊ HƯƠNG

BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH VÀ BIỆN PHÁP TU

TỪ NHÂN HÓA TRONG TÁC PHẨM VIẾT CHO

THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LẠI THỊ HƯƠNG

BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH VÀ BIỆN PHÁP TU

TỪ NHÂN HÓA TRONG TÁC PHẨM VIẾT CHO

THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI

Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã số: 8220102

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TÚ QUYÊN

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận vănchưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lại Thị Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS Nguyễn Tú Quyên người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiêncứu và hoàn thành luận văn Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáoKhoa Ngữ Văn, các thầy cô Khoa Sau Đại học, các thầy cô trường Đại học Sưphạm, Đại học Thái Nguyên đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợitrong quá trình học tập, nghiên cứu để em hoàn thành luận văn

-Vì thời gian có hạn, khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên kết quả nghiêncứu có thể còn nhiều thiếu xót Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo củacác thầy giáo, cô giáo và các bạn đang quan tâm tới vấn đề được trình bày trongluận văn, để luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019

Tác giả

Lại Thị Hương

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang bìa phụ

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu , 5

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc của luận văn. 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Khái quát về biện pháp tu từ 7

1.1.2 Biện pháp tu từ so sánh và biện pháp tu từ nhân hóa 10

1.2 Cơ sở thực tiễn 29

1.2.1 Tiểu sử của tác giả Tô Hoài 29

1.2.2 Sự nghiệp của tác giả Tô Hoài 30

1.2.3 Đặc điểm ngôn ngữ trong văn xuôi của Tô Hoài 34

1.3 Tiểu kết 37

Trang 6

Chương 2 BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH TRONG TÁC PHẨM

VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI 38

2.1 Biện pháp tu từ so sánh trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài xét về mặt cấu tạo hình thức 38

2.1.1 Nhận xét chung 38

2.1.2 Mô hình của cấu trúc so sánh 38

2.1.3 Đặc điểm ngữ pháp của các thành tố trong cấu trúc so sánh 45

2.2 Biện pháp tu từ so sánh trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài xét về mặt ngữ nghĩa 49

2.2.1 Ngữ nghĩa khái quát của biện pháp tu từ so sánh trong tác phẩm của Tô Hoài 49

2.2.2 Các kiểu cấu trúc so sánh được phân loại theo ngữ nghĩa của đối tượng được so sánh (A) và đối tượng so sánh (B) 53

2.3 Vai trò của biện pháp tu từ so sánh trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài 56

2.3.1 Bộc lộ đặc điểm của nhân vật 56

2.3.2 Thể hiện văn hóa của người Việt 59

2.3.3 Thể hiện cái tài sử dụng ngôn từ của tác giả 60

2.4 Tiểu kết 63

Chương 3 BIỆN PHÁP TU TỪ NHÂN HÓA TRONG TÁC PHẨM VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI 64

3.1 Biện pháp tu từ nhân hóa trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài xét về mặt cấu tạo hình thức 64

3.1.1 Nhận xét chung 64

3.1.2 Phân loại và miêu tả các kiểu cấu tạo hình thức của các phương tiện tu từ nhân hóa 64

Trang 7

3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của biện pháp tu từ nhân hóa trong tác phẩm viết

cho thiếu nhi của Tô Hoài 73

3.2.1 Nhận xét chung 73

3.2.2 Đối tượng được nhân hóa là động vật 74

3.2.3 Đối tượng được nhân hóa là thực vật 78

3.2.4 Đối tượng được nhân hóa là đồ vật 80

3.3 Vai trò của biện pháp tu từ nhân hóa trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài 82

3.3.1 Bộc lộ thái độ của tác giả đối với thế giới sự vật không phải là người 82

3.3.2 Thể hiện sự sống động của thế giới sự vật vô tri, vô giác 85

3.3.3 Thể hiện cái tài quan sát hiện thực của nhà văn 87

3.4 Tiểu kết 89

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU THỐNG KÊ 94

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.1 Các kiểu cấu trúc so sánh 45

Bảng 2.2 Các dạng của yếu tố được so sánh 47

Bảng 2.3 Các dạng của yếu tố so sánh 49

Bảng 2.4 Các từ ngữ so sánh trong các kiểu so sánh 52

Bảng 2.5 Tần xuất các từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh 53

Bảng 2.6 Sáu kiểu so sánh được phân loại dựa vào ý nghĩa của A và B 56

Bảng 3.1 Bảng tần xuất số lần xuất hiện các kiểu câu đơn 70

Bảng 3.2 Bảng số lần xuất hiện của các đối tượng được nhân hóa 73

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nghiên cứu biện pháp ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương nóichung, nghiên cứu biện pháp tu từ nói riêng là một trong những hướng nghiêncứu được chú ý trong ngôn ngữ học hiện đại Nghiên cứu ngôn ngữ trong tácphẩm của Tô Hoài cũng nằm trong hướng nghiên cứu đó

1.2 Tô Hoài là một nhà văn có tên tuổi trong nền văn học nước nhà Văncủa ông, đặc biệt những trang văn viết cho thiếu nhi đã để lại những ấn tượng sâusắc trong lòng người đọc Một trong những nguồn gốc hình thành nên những tácphẩm xuất sắc của Tô Hoài là bởi tài năng sử dụng ngôn từ, trong đó có các biệnpháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ… của một nhà văn lão luyện

1.3 Đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào dành riêng cho việc tìmhiểu các biện pháp tu từ trong tác phẩm của Tô Hoài cũng như chưa công trìnhnghiên cứu biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong văn ông một cách bàibản Theo thống kê ban đầu của chúng tôi, đây là hai biện pháp tư từ được TôHoài sử dụng khá nhiều, chúng góp phần quan trọng làm nên diện mạo phong

cách văn ông Vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài: “Biện pháp tu từ so sánh và

biện

pháp tu từ nhân hóa trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài” để

nghiên cứu, một phần nhằm góp thêm tiếng nói khẳng định giá trị văn chươngcủa tác giả Tô Hoài

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Một số công trình nghiên cứu về các biện pháp tu từ

Biện pháp tu từ là một phương diện quan trọng trong việc nghiên cứu nộidung và nghệ thuật trong một tác phẩm văn học Trong đó, chúng tôi có chú ý đến

các cuốn giáo trình nền tảng: Đinh Trọng Lạc với Giáo trình Việt ngữ (Nxb GD, 1964), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb GD, 1966),

Phong cách học tiếng Việt (Nxb GD, 1998), Cù Đình Tú với cuốn Phong cách

Trang 11

học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (Nxb ĐH & THCN, 1983), Hữu Đạt với cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại (Nxb ĐHQGHN, 2001), Nguyễn Thế Lịch

với Từ so sánh đến ẩn dụ (Tạp chí ngôn ngữ, số 3,1991)…

Có thể nhận thấy trong những công trình nghiên cứu kể trên, các tác giả

đã chú trọng đến việc hình thành khái niệm, phân loại và tìm ra hiệu quả vai tròcủa các biện pháp tu từ trong đó có hai biện pháp tu từ là so sánh và nhân hóa.Đây là cơ sở lý thuyết quan trọng để có thể tham khảo và đi sâu nghiên cứu các

biện pháp tu từ nói chung, trong đó có có hai biện pháp tu từ so sánh và biện pháp tu từ nhân hóa trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài.

Ngoài những cuốn giáo trình có tính chất nền tảng trên, còn có nhiều những công trình nghiên cứu về các mặt khác nhau của các biện pháp tu từ: Đỗ Hữu Châu

với các cuốn: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt (Nxb Khoa học xã hội, H, 1986),

Cơ sở ngữ dụng học (Nxb, Đại học Sư phạm, H, 2001), Giáo trình ngữ dụng học, (Nxb Đại học Sư phạm, H, 2003), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (Nxb Giáo dục, H,

1994), Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Ngọc Phiến với cuốn

Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (Nxb Giáo dục, H, 2001)…

2.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm của Tô Hoài

Với một khối lượng tác phẩm đồ sộ, tính đến nay có rất nhiều nhữngcông trình khoa học nghiên cứu về ông cũng như về các tác phẩm của ông ởmọi phương diện từ nội dung đến nghệ thuật Sau đây, chúng tôi tổng quát một

số cuốn giáo trình, chuyên khảo, luận văn, luận án tiêu biểu về tác giả Tô Hoài

và sự nghiệp văn học của ông:

* Giáo trình:

Giáo trình Văn học hiện đại 3A, giới thiệu về tiểu sử, sự nghiệp văn học và

phong cách nghệ thuật của tác giả Tô Hoài, Nxb Đại học sư phạm Thái Nguyên

* Chuyên khảo:

- Sổ tay viết văn, tác giả Tô Hoài, Nxb Văn học Đây là đứa con tinh thần

do chính Tô Hoài chắt chiu, gom góp Đây được xem như cuốn sách gối đầugiường dành cho những ai yêu thích chủ nghĩa Với ông viết là thành quả lao

Trang 12

động và người viết cần phải chăm chút, tỉ mỉ Tô Hoài như một từ điển sống,một pho sách sống Nhà thơ Trần Đăng Khoa “Ông như cuốn Bách khoa toànthư mà không viện sĩ nào, không học giả nào sánh được”.

- Những gương mặt của tác giả Tô Hoài Nxb Văn học Đây được coi là tác

phẩm mở đầu cho thành công về đề tài chân dung văn học của Tô Hoài Tô Hoài đã

dành những nét vẽ chân thật và sinh động để phác họa về một thế hệ cầm bút:Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng Tô Hoài đã quan sátmột cách tổng quát, góp nhặt những cái hay, cái dở đưa vào sáng tác của mình

* Bài báo, tạp chí:

- Tô Hoài, người sinh ra để viết đăng trong Tạp chí văn nghệ quân đội

của tác giả Nguyễn Đăng Điệp, 6/2011 Trong bài viết này, tác giả giới thiệu vềcuộc đời, sự nghiệp văn học của nhà văn Tô Hoài Tô Hoài là cây bút gắn bó với

2 mảnh đất: con người phong thổ ngoại ô Hà Nội và vùng đất Tây Bắc Bài viếtnói về phong cách, giọng điệu rất riêng của nhà văn Tô Hoài Bài viết cũng có sự sosánh giữa hai nhà văn Tô Hoài và Nguyễn Tuân Nguyễn Tuân truy tìm cái

đẹp đượm màu lý tưởng, đó là cái đẹp kì vĩ, khác lạ Còn Tô Hoài thì đi tìm cáiđẹp từ trong đời thường, những cái bình dị và thân thương nhất…

- Tô Hoài, Một biểu tượng sống của Hà Nội, tác giả Hà Thủy - Thu

Hoài đăng trên báo Thể thao và văn hóa: Đề tài Hà Nội luôn trở đi trở lại trongcác tác phẩm của Tô Hoài Có thể nói bóng dáng và linh hồn Hà Nội luôn luônhiện hữu trong tâm tưởng và các trang viết của ông

* Luận văn, luận án:

- Tác giả Hoàng Thị Diệu với Văn xuôi viết cho thiếu nhi của Tô Hoài sau

cách mạng tháng tám, luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, người hướng dẫn khoa học,

PGS.TS Vân Thanh Trong đó, tác giả viết về vị trí của Tô Hoài trong nền văn họcthiếu nhi Việt Nam, những nét đặc sắc trong thể loại văn xuôi viết cho thiếu nhi của

Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám và những đặc điểm nghệ

thuật trong văn xuôi viết cho thiếu nhi của Tô Hoài

Trang 13

- Tác giả Phó Thị Hồng Oanh với Trường từ vựng - ngữ nghĩa trong

truyện Tây Bắc của Tô Hoài, Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, Người hướng dẫn

khoa học, PGS.TS Nguyễn Thị Nhung Đây là công trình khoa học nghiên cứu vềđặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa trong truyện Tây Bắc, vai trò của việc sửdụng các từ ngữ thuộc các trường nghĩa khác nhau trong truyện Tây Bắc của TôHoài để thấy được vẻ đẹp, sự giàu có của thiên nhiên Tây Bắc, sự đặc biệt của khíhậu, sự đa dạng của địa hình và phong tục, văn hóa đặc trưng Tây Bắc

- Tác giả Giáp Thị Thủy với Hội thoại trong Dế Mèn phiêu lưu kí, Luận

văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, Người hướng dẫn khoa học, PGS.TS Tạ Văn Thông

Đây là công trình khoa học nghiên cứu về đặc điểm của cuộc hội thoại trong Dế

Mèn phiêu lưu kí và sự thể hiện của những quan hệ liên cá nhân - phép lịch sự

trong Dế Mèn phiêu lưu kí Chúng cho thấy sự hồi đáp phối hợp đa dạng của

người nói và người nghe sự tương tác uyển chuyển qua những phát ngôn

- Tác giả Tạ Minh Thủy với Nghệ thuật tự sự trong truyện viết cho

thiếu nhi của Tô Hoài, luận văn thạc sĩ chuyên ngành lý luận văn học, người

hướng dẫn khoa học, PGS.TS Lý Hoài Thu Đây là công trình nghiên cứu khoa

học khái quát về nghệ thuật tự sự và sáng tác của Tô Hoài trong bức tranh thiếu nhiViệt Nam, nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật trong truyện thiếunhi của Tô Hoài và người kể chuyện, ngôn ngữ trần thuật trong truyện viết chothiếu nhi của Tô Hoài

Như vậy, cho đến nay chưa thấy có tài liệu nghiên cứu riêng nào nghiêncứu một cách đầy đủ và sâu sắc về phương thức so sánh và nhân hóa trong các tácphẩm của Tô Hoài đặc biệt là trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài

2.3 Những vấn đề còn bỏ ngỏ

Đề tài của chúng tôi sẽ tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của các nhànghiên cứu đi trước, đồng thời đề tài sẽ cố gắng vận dụng những lí luận củaNgữ dụng học để tìm hiểu hai biện pháp tu từ so sánh và biện pháp tu từ nhânhóa trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài

Trang 14

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là biện pháp tu từ so sánh và biện pháp tu từ nhân hóa trong tác phẩm của Tô Hoài viết cho thiếu nhi

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi ngữ liệu khảo sát: Đối tượng khảo sát của luận văn là ba tuyển tập:

+ Tô Hoài (1997), Tuyển tập Văn học thiếu nhi, Tập 1, Nxb Văn học, Hà

- Phạm vi nội dung nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu biện pháp tu từ so sánh và biện pháp tu từ nhân hóa

Trang 15

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đã đặt ra, đề tài tài xác định một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

- Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết liên quan được dùng làm căn cứ lí luận cho đề tài

- Khảo sát, thống kê và phân loại đối tượng nghiên cứu theo các tiêu chí

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp và thủpháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp thống kê - phân loại: Phương pháp nghiên cứu này được

dùng để thống kê và phân loại các biểu thức ngôn ngữ dùng để thực hiện biệnpháp tu từ so sánh và biện pháp tu từ nhân hóa trong các tác phẩm đã nói trên

5.2 Phương pháp phân tích miêu tả: Phương pháp nghiên cứu này dùng

để phân tích các ngữ liệu khảo sát, sau đó kết luận những kết quả đã nghiên cứutheo từng loại, từng nhóm

5.3 Phương pháp đối chiếu so sánh: Phương pháp nghiên cứu này dùng để đối

chiếu việc sử dụng hai biện pháp tu từ đang bàn với trường hợp không dùng chúng trong một bối cảnh ngôn ngữ để thấy được vai trò của các biện pháp tu từ này.

6 Cấu trúc của luận văn.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo nội dung chính củaluận văn chia làm 3 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2 Biện pháp tu từ so sánh trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của

Tô Hoài

Chương 3 Biện pháp tu từ nhân hóa trong tác phẩm viết cho thiếu nhi của Tô Hoài.

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái quát về biện pháp tu từ

1.1.1.1 Khái niệm biện pháp tu từ

Trong cuộc sống, mọi hoạt động của con người đều nhằm những mụcđích thực tiễn Và để đạt được mục đích đó, con người phải sử dụng nhữngphương tiện (công cụ) theo những cách thức (biện pháp) nhất định Do đó tronghoạt động ngôn ngữ cũng như trong mọi hoạt động khác của con người cầnphân biệt mục đích, phương tiện và biện pháp Con người sử dụng ngôn ngữnhư một phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và có hai loại phương tiện:phương tiện ngôn ngữ trung hoà và phương tiện ngôn ngữ tu từ; đồng thờingoài những biện pháp sử dụng ngôn ngữ thông thường còn có những biện

pháp sử dụng ngôn ngữ một cách đặc biệt, gọi là những biện pháp tu từ.

Tuy nhiên, việc xác định khái niệm biện pháp tu từ có nhiều quan điểmkhác nhau Cù Đình Tú đồng nhất biện pháp tu từ với cách tu từ, phép mĩ từ.Hiểu như vậy có nghĩa là hạn chế nó chỉ trong các hình thức chuyển nghĩa, tức

“những hình thức diễn đạt bóng bẩy, gợi cảm, có sức hấp dẫn, lôi cuốn trong khi trình bầy” Đinh Trọng Lạc dùng một thuật ngữ chung (biện pháp tu từ)

nhưng khi đi miêu tả cụ thể ở mỗi cấp độ thì lại dùng những thuật ngữ khácnhau như: phương thức, biện pháp Đỗ Hữu Châu cũng dùng một thuật ngữthống nhất là biện pháp tu từ song với cách hiểu không xác định, ví dụ như biệnpháp tu từ từ vựng được dùng để chỉ biện pháp tu từ ngữ nghĩa hoặc biện pháp

tu từ cú pháp lại bao gồm cả các phương tiện tu từ cú pháp…Những cách hiểubiện pháp tu từ như vậy không phân biệt được phương tiện tu từ với biện pháp

tu từ và đã thu hẹp phạm vi hoạt động của biện pháp tu từ chỉ ở hai cấp độ: ngữnghĩa và cú pháp

Trang 17

Như vậy, cần phải định nghĩa phương tiện tu từ và biện pháp tu từ một cáchkhái quát, nhất quán ở mọi cấp độ Phương tiện tu từ được các nhà phong cách học

quan niệm: “Phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa

cơ bản (ý nghĩa sự vật - logic) ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc

tu từ và được hình thành từ bốn yếu tố: biểu cảm (chứa đựng yếu tố hình tượng), cảm xúc (chứa đựng những yếu tố diễn đạt tình cảm, cảm xúc), bình giá (chứa đựng những yếu tố khen chê) và phong cách chức năng (chỉ rõ phạm vi sử dụng thường xuyên, cố định)” Hiểu như vậy có nghĩa là cho rằng phương tiện tu từ bao

giờ cũng nằm trong thế đối lập tu từ học tiềm tàng (trong

ý thức của người bản ngữ) với phương tiện tương liên có tính chất trung hoà của

hệ thống ngôn ngữ

Biện pháp tu từ còn được gọi là phương thức tu từ, được các nhà phong

cách học hiểu như sau: “[…] là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời

nói các phương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không có màu sắc

tu từ, trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ (tức tác dụng gây ấn

tượng về hình ảnh, cảm xúc, thái độ, hoàn cảnh) Hiểu như vậy có nghĩa biện

pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một hoàn cảnh cụ thể,nhằm một mục đích tu từ nhất định Nó đối lập với biện pháp sử dụng thôngthường trong mọi hoàn cảnh, chỉ nhằm mục đích diễn đạt lí trí

1.1.1.2 Phân biệt khái niệm phương tiện tu từ và biện pháp tu từ

Để có thể nhận biết dễ dàng và sử dụng hiệu quả phương tiện tu từ, biệnpháp tu từ, ta cần phải xác định một cách rõ ràng, chính xác, đồng thời cầnphân loại chặt chẽ và miêu tả đầy đủ chúng Ta có thể phân biệt phương tiện tu

từ và biện pháp tu từ dựa trên một số yếu tố cơ bản sau:

Trang 18

Biện pháp tu từ Phương tiện tu từ

- Là những cách phối hợp sử dụng các - Là những yếu tố thuộc các cấp độđơn vị lời nói trong giới hạn của một khác nhau, được đánh dấu về tuđơn vị thuộc bậc cao hơn từ học trong giới hạn của một cấp

độ nào đó của ngôn ngữ

- Ý nghĩa tu từ học của biện pháp tu từ - Ý nghĩa tu từ học của phương tiệnnảy sinh ra trong ngữ cảnh của một đơn tu từ được củng cố ở ngay

vị lời nói nào đó, bị quy định bởi những phương tiện đó, được quy địnhquan hệ cú đoạn giữa các đơn vị của bởi những quan hệ hệ hình củamột bậc hay các bậc khác nhau các yếu tố cùng bậc

Tuy rằng giữa phương tiện tu từ và biện pháp tu từ là hai phương diệnkhác biệt, nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ biện chứng Một mặt, việc sửdụng các phương tiện tu từ sẽ tạo ra các biện pháp tu từ, mặt khác việc sử dụngmột biện pháp tu từ nào đó trong lời nói cũng có thể chuyển hoá nó thành mộtphương tiện tu từ (đây là trường hợp của so sánh) Hơn nữa, cùng một phươngtiện tu từ có thể xây dựng nên những biện pháp tu từ khác nhau Và ngược lại,những phương tiện tu từ khác nhau có thể cùng tham gia vào việc xây dựngcùng một biện pháp tu từ duy nhất

Tóm lại, biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một

hoàn cảnh cụ thể nhằm mục đích tu từ nhất định, đó là cách diễn đạt ngôn ngữ mới

mẻ, thể hiện tài năng sáng tạo độc đáo của người sử dụng ngôn ngữ Do vậy, việcphân loại và miêu tả các biện pháp tu từ đạt được tính hệ thống, tính nhất quántrong tất cả các cấp độ ngôn ngữ sẽ giúp cho người học luôn có ý thức nhận thứcđược tầm quan trọng nổi bật của sự đối lập quen thuộc, mới mẻ giữa các biện phápthông thường và biện pháp tu từ (biện pháp đặc biệt) Sự lựa chọn, sử dụng cácbiện pháp tu từ ở người sử dụng ngôn ngữ luôn là sự sáng tạo không ngừng, nhưngkhông nên nghĩ rằng phải luôn dùng hình thức diễn đạt mới mẻ,

Trang 19

bóng bẩy mới hay, bởi trình độ cao trong việc sử dụng ngôn ngữ không phải ởchỗ biết nhiều, dùng nhiều biện pháp tu từ mà thể hiện ở khả năng lựa chọn sửdụng các yếu tố ngôn ngữ nói chung phù hợp với đặc trưng của từng phongcách chức năng của hoạt động lời nói Vì thế, có khám phá, phát hiện và khaithác giá trị sử dụng của các biện pháp tu từ, người đọc mới có thể phát hiện vànhận thức sâu sắc về giá trị thẩm mĩ của ngôn từ.

Căn cứ vào cấp độ ngôn ngữ của các phương tiện ngôn ngữ được phốihợp sử dụng, các biện pháp tu từ được chia ra: biện pháp tu từ từ vựng, biệnpháp tu từ ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tu từ văn bản, biệnpháp tu từ ngữ âm - văn tự

1.1.2 Biện pháp tu từ so sánh và biện pháp tu từ nhân hóa

1.1.2.1 Biện pháp tu từ so sánh

a Định nghĩa:

So sánh là một thao tác của tư duy Đó là thao tác đem sự vật này đốichiếu với sự vật khác để nhìn thấy nét tương đồng và khác biệt giữa chúng Cóthể dễ dàng nhận thấy, phép so sánh được sử dụng phổ biến và rộng rãi trongnhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: từ cuộc sống sinh hoạt đời thường đếntrong thơ ca nghệ thuật hay trong các ngành khoa học khác

Cùng bàn về biện pháp tu từ so sánh đến nay các tác giả đã đưa ra rấtnhiều định nghĩa khác nhau Dưới đây là một số định nghĩa tiêu biểu:

* Định nghĩa trong từ điển

Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển bách khoa - Viện Ngôn ngữ

học, Hà Nội 2010 do Hoàng Phê chủ biên: so sánh là: “nhìn vào cái này mà xem

xét cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém” [52, tr.106].

Trong cuốn Từ điển tiếng Việt dành cho học sinh, Nxb Văn hóa Thông

tin, Hà Nội 2010 do Song Dương, Đặng Thông chủ biên so sánh là: “xem xét để tìm ra những điểm giống, tương tự hoặc khác biệt về mặt số lượng, kích thước, phẩm chất” [14, tr.382].

Trang 20

Các định nghĩa trên tuy có phần khác nhau nhưng đều chung ở một điểm:

So sánh là đối chiếu hai hay nhiều sự vật với nhau để tìm ra điểm tương đồnghoặc khác biệt giữa chúng

* Định nghĩa của một số nhà nghiên cứu khác

Nhìn từ góc độ phong cách học, so sánh là một phương thức phổ biến ởmọi ngôn ngữ Vì thế, đây cũng là một trong những vấn đề được các nhà ngôn

ngữ học quan tâm nghiên cứu: A.Ju.Xtêpannov với Phong cách học tiếng

Pháp (1965), Vinôgradov với Phong cách học tiếng Nga (1969), Moorren với Phong cách học tiếng Pháp (1970)… Những công trình này được giới thiệu ở

Việt Nam góp phần làm sáng tỏ về mặt lý thuyết và ứng dụng của phương thức

so sánh cũng như khẳng định giá trị của phương thức này trong sáng tạo hìnhtượng nghệ thuật

Phương thức so sánh cũng sớm được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ họcnước ta đề cập đến Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỉ 20, khi xuất hiệnnhững công trình nghiên cứu tiếng Việt, so sánh cũng được nhắc đến trong cácbài giảng về phong cách học

Có thể kể tới một số công trình tiêu biểu đã đề cập tới so sánh như:

Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Đình Tú, Nxb Đại học và

trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 1973; Giáo trình Việt ngữ, tập 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1994 (Đinh Trọng Lạc chủ biên); 99 phương tiện và biện pháp tu

từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1998, (Đinh Trọng Lạc chủ biên), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1998, (Đinh Trọng Lạc chủ biên)…

Trong các công trình này, các tác giả đều đưa ra quan niệm về so sánh.

Trong cuốn Giáo trình Việt ngữ, tác giả Đinh Trọng Lạc đã quan niệm

về so sánh như sau: “So sánh là định nghĩa sự vật, hiện tượng hoặc khái niệm

ở trong ngôn ngữ nghệ thuật thông qua sự so sánh chúng với hiện tượng hoặc khái niệm có cùng dấu hiệu chung Mục đích so sánh là cụ thể hóa những sự

vật trừu tượng, để người đọc dễ hiểu, dễ tưởng tượng hơn” Ở cuốn giáo trình

Trang 21

này, tác giả chủ yếu tiến hành khảo sát hình thức biểu hiện của so sánh Có thểnói, đây chính là một trong những giáo trình đầu tiên của môn Phong cách học

ở Việt Nam

Trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục

1994, tác giả Đinh Trọng Lạc định nghĩa: “So sánh là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng” [42, tr.154].

Sau này, các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa ở giáo trình

Phong cách học tiếng Việt cũng đưa ra định nghĩa về so sánh: “So sánh là

phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe ” [44,

tr190]

Tác giả Hữu Đạt đã định nghĩa so sánh tu từ như sau: “So sánh là đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra các

sự giống nhau và khác biệt giữa chúng ” [15, tr.294].

Như vậy, theo tác giả Hữu Đạt, về bản chất, phép so sánh tu từ dùngthuộc tính hay tình trạng của sự vật hay hiện tượng này giải thích cho thuộctính, tình trạng của sự vật

Trong bài Các yếu tố và cấu trúc của so sánh nghệ thuật (đăng trên

Tạp chí Ngôn ngữ số 1, 1998), tác giả Nguyễn Thế Lịch đã đưa ra quan niệm

về so sánh: “So sánh thường được hiểu là đưa một sự vật ra đối chiếu về một

mặt nào đó với một sự vật khác khác loại nhưng lại có đặc điểm tương tự mà giác quan có thể nhận biết để hiểu sự vật đưa ra đó dễ dàng hơn” [47, tr36] Điều kiện cần thiết để một phép so sánh tu từ tồn tại là: Hai sự vật được đem ra đối chiếu phải khác loại Ví dụ: Mặt cô ấy tươi như hoa

Trang 22

* Quan điểm của luận văn về phép so sánh

Trên cơ sở tiếp thu những quan niệm của các nhà nghiên cứu đã nêu ởtrên, luận văn trình bày quan niệm về phép so sánh (trong đó có cả so sánh luận

b Phân biệt so sánh luận lí và so sánh tu từ

Khi nghiên cứu về biện pháp tu từ so sánh cần phải phân biệt so sánh luận lí và so sánh tu từ:

* So sánh luận lí

So sánh luận lí là kiểu so sánh, đối chiếu giữa hai đối tượng cùng loạinhằm xác lập sự tương đồng giữa hai đối tượng này Đây là kết quả của tư duykhái niệm, tư duy khoa học theo những quy luật thông thường

Tác giả Cù Đình Tú chỉ rõ: So sánh luận lí là phép so sánh mà trong đó:

“Cái được so sánh và cái so sánh là các đối tượng cùng loại và mục đích của

sự so sánh này là xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng”[62, tr.175].

Chức năng chủ yếu của so sánh logic là nhận thức Kiểu so sánh này làdạng thức được dùng phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, giúp ngườinghe hiểu rõ, hiểu sâu sắc phương diện nào đó của sự vật Mục đích của sosánh luận lí là xác lập một giá trị, một đại lượng, một tính chất, một đặc trưngnào đó bằng cách đối chiếu đối tượng này với một đối tượng khác có giá trị lớnhơn bằng hoặc kém nó

Ví dụ 1: Đức cao hơn Minh.

Ví dụ 2: Con mèo đen to hơn con mèo tam thể

Trang 23

ở so sánh tu từ, các đối tượng được đưa ra so sánh là những đối tượng khác loại.Mục đích của so sánh tu từ là làm cho các đối tượng giàu hình ảnh, gợi hình, gợicảm, giàu sức hấp dẫn.

Ví dụ 1:

“Con gặp lại nhân dân như nai về suối

cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa.”

c Cấu trúc so sánh

Có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc so sánh

Trang 24

* Theo tác giả Cù Đình Tú

Cấu tạo của so sánh tu từ bao giờ cũng phô bày hai vế: Vế được so sánh

và vế so sánh Mỗi vế này có thể gồm một hoặc nhiều đối tượng Các đối tượngnày gắn với nhau, tạo thành những kiểu hình thức so sánh:

- A như (y như, coi như, tựa như, như là…) B

- A bao nhiêu B bấy nhiêu

Trong đó A là cái được so sánh, B là cái so sánh

* Quan điểm của tác giả Đinh Trọng Lạc và tác giả Nguyễn Thái Hòa

Tác giả Đinh Trọng Lạc và tác giả Nguyễn Thái Hòa cho rằng, cấu trúc

so sánh có thể ở dạng đầy đủ và dạng không đầy đủ

- Cấu trúc so sánh ở dạng không đầy đủ:

Theo hai tác giả này, cấu trúc so sánh trên không phải là cố định Tùytừng trường hợp, trật tự của các yếu tố có thể thay đổi hoặc bớt một số yếu tốtrong cấu trúc Trường hợp cấu trúc so sánh vắng một hay một số yếu tố là cấutrúc so sánh ở dạng không đầy đủ Chẳng hạn:

+ Cấu trúc so sánh vắng yếu tố (t), mô hình cấu trúc là: A + t + tss + B.

+ Cấu trúc so sánh vắng yếu tố A và t, mô hình cấu trúc là: tss + B.

+ Cấu trúc so sánh có mô hình là: A + t + B

Trang 25

+ Cấu trúc so sánh có mô hình là: A bao nhiêu B bấy nhiêu:

+ Cấu trúc so sánh có mô hình A là B Từ là có giá trị như từ như nhưng có

sắc thái khác nhau Nếu thay từ là bằng từ như thì nội dung cơ bản không thay

đổi chỉ thay đổi về sắc thái ý nghĩa từ sắc thái khẳng định chuyển sang giả định

* Quan điểm của tác giả Hữu Đạt:

Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, tác giả Hữu Đạt đã đưa ra mô

hình khái quát của phép so sánh là: A - X - B

Trong đó: A là đối tượng được so sánh, X là từ so sánh, B là đối tượng so

sánh

Quan sát vào cấu trúc này, dễ dàng nhận thấy, so với quan điểm của tácgiả Đinh Trọng Lạc và tác giả Nguyễn Thái Hòa, cấu trúc so sánh mà tác giảHữu Đạt đưa ra chỉ có 3 yếu tố, thiếu yếu tố chỉ phương diện so sánh

Tác giả Hữu Đạt cũng nêu rõ biến thể của cấu trúc này chỉ có hai loại là:

- So sánh không có từ so sánh với mô hình cấu trúc là: A - B

2) là ruộng đồng nước non.

- So sánh có từ so sánh, với mô hình cấu trúc là: A - X - B

Trang 26

* Quan điểm của tác giả Nguyễn Thế Lịch

Trong bài Cấu trúc so sánh trong tiếng Việt đăng trên Tạp chí ngôn

ngữ, số 7 năm 2001, tác giả Nguyễn Thế Lịch cũng đưa ra một số cấu trúc so

sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố (giống như quan điểm của tác giả Đinh TrọngLạc đã nói ở trên) đó là:

- Yếu tố cần đưa ra so sánh, có thể là được hay bị xét về tương quan với

chuẩn (YTĐ/ BSS): A

- Yếu tố nêu rõ so sánh về phương diện nào (YTPD): (t)

- Yếu tố thể hiện mối quan hệ trong so sánh (YTQH): (tss)

- Yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (YTSS): (B)

Theo đó, tác giả đã đưa ra một ví dụ minh họa về cấu trúc so sánh:

Đặc điểm của từng yếu tố được Nguyễn Thế Lịch trình bày cụ thể như sau:

Về yếu tố được/bị so sánh (YTĐSS: A), tác giả cho rằng, về nguyên tắc,

bất luận yếu tố được/bị so sánh là sự vật, hiện tượng gì thì cũng có thể đem ra

Ví dụ:

“Lạt mềm như bún”

(Nguyễn Khuyến)

Trang 27

- Về yếu tố phương diện so sánh (YTPD), tác giả Nguyễn Thế Lịch cho

rằng, trong cấu trúc so sánh, yếu tố phương diện so sánh có vai trò xác định ý nghĩacủa so sánh Nó thể hiện thuộc tính của sự vật mà yếu tố được so sánh biểu thị Nóikhác đi, thuộc tính này là thuộc tính tiêu biểu của sự vật mà yếu tố được so sánhbiểu thị

Đối với cấu trúc so sánh vắng YTPD (t), người nghe (đọc) phải dựa vào liên tưởng để tìm ra nét tương đồng giữa YTĐSS và YTSS, từ đó mới có thể xác định YTĐSS đã được so sánh về phương diện nào.

Ví dụ: Tóc đen như gỗ mun.

Ở đây, sự tương đồng giữa tóc và gỗ mun là có màu sắc giống nhau (màuđen) Tóc có màu đen bóng, đẹp Gỗ mun là cây gỗ quý, cũng có màu đenbóng Từ sự so sánh này, người dùng có mục đích là khen Sự tương đồng này

là căn cứ để suy ra (t) - YTPD

- Yếu tố quan hệ so sánh (YTQH: tss): Yếu tố này là yếu tố được coi là

đơn giản nhất trong cấu trúc so sánh Nó bao gồm các từ so sánh như: như, tựa, như là, như thể, chừng như, tựa như, hồ như, bao nhiêu… bấy nhiêu…

Ví dụ:

“Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau »

(Ca dao)

Từ là trong cấu trúc so sánh có giá trị tương đương từ như, nhưng sắc thái

ý nghĩa hoàn toàn khác nhau Là đem đến cho cấu trúc này sắc thái khẳng định

sự đồng nhất hoàn toàn sự đánh giá có cơ sở khách quan, khác với như là mang sắc

thái giả định, chỉ có một sự tương đồng về một khía cạnh nào đó, do cảm nhận chủquan mang lại

Cặp từ hô ứng: bao nhiêu… bấy nhiêu Ví dụ:

Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy

nhiêu (Ca dao)

Trang 28

- Yếu tố so sánh (YTSS: B): Yếu tố này được xem là yếu tố quan trọng

nhất và không thể thiếu của cấu trúc so sánh Bởi nó là cái chuẩn của so sánh

Không có chuẩn thì không thành so sánh sự xuất hiện của yếu tố này là kết quảcủa quá trình quan sát, liên tưởng, lựa chọn và thông qua quá trình đó nó mangtrong mình sắc thái tâm lý, tư duy, văn hóa của người nói Không thể hiểuYTSS thì không thể hiểu ý nghĩa của so sánh

Cần lưu ý thêm là, không phải lúc nào cấu trúc so sánh cũng hội tụ đủ 4yếu tố trên, tức là có trường hợp cấu trúc so sánh không hoàn chỉnh, đó là:

+ Cấu trúc so sánh vắng yếu tố phương diện (vắng t), tức cấu trúc so sánh là: A + tss + B

(Nguyễn Văn Trỗi)

+ Cấu trúc so sánh vắng yếu tố bị / được so sánh (vắng A), mô hình cấu trúc so sánh chỉ có t+ tss + B.

Trang 29

Theo tác giả, cấu trúc vắng yếu tố được so sánh đã tạo ra rất nhiều các

thành ngữ so sánh: Cao như núi, mềm như bún, dai như đỉa, ngọt như mía lùi,

đỏ như son… giúp cho việc tiếp nhận trở nên dễ dàng.

+ Cấu trúc so sánh vắng yếu tố bị / được so sánh và yếu tố phương diện,

- Ở dạng đầy đủ, cấu trúc so sánh gồm có 4 thành tố: A (cái được so sánh),

t (phương diện so sánh), tss (từ so sánh) và B (cái so sánh).

- Ở dạng không đầy đủ, cấu trúc so sánh có thể khuyết một hoặc hai trong

4 thành tố trên

*Quan điểm của luận văn về cấu trúc so sánh

- Ở dạng đầy đủ, một cấu trúc so sánh bao gồm 4 yếu tố:

A + t + tss +B

Trong đó: + A: Yếu tố được so sánh

+ t: Yếu tố phương diện so sánh

+ tss: Yếu tố biểu thị quan hệ so sánh

+ B: Yếu tố so sánh

Ví dụ: Mặt đỏ như gấc.

A tss t B

Trang 30

- Ở dạng không đầy đủ, cấu trúc so sánh có thể khuyết một hay hai thành

Tùy mục đích và cách sử dụng từ ngữ mà mô hình cấu trúc hoàn chỉnh

kể trên có thể tạo ra biến thể bằng cách bớt hoặc đảo trật tự trong cấu trúc

d Các kiểu so sánh

* Quan điểm của tác giả Đào Thản

Nhìn nhận phép so sánh ở mặt nội dung và phân chia dựa vào mục đích

so sánh Theo đó, tác giả đã đưa ra 8 kiểu so sánh:

- So sánh để giải thích

Ví dụ: Ở nông thôn, nước ví như sông mà chủ nghĩa xã hội ví như

thuyền, nước sông lên thì thuyền đi lại dễ dàng.

Trang 31

sự so sánh Kiểu so sánh này không được dùng khi diễn đạt thuộc tính.

Ví dụ:

Cây khô xuống núi cũng khô Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo

(Ca dao)

* Quan điểm của tác giả Hữu Đạt

Tác giả Hữu Đạt dựa vào cả hai tiêu chí là hình thức và nội dung để phânloại cấu trúc được tác giả chia thành ba loại đó là:

Trang 32

- So sánh ngang bằng Ví dụ:

Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ

Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa.

có thể phân chia so sánh thành hai kiểu:

1) So sánh đồng nhất bao gồm:

- So sánh tương tự: So sánh kiểu này thường dùng các từ so sánh: như, như

là, như thể, tỉ như, giá như, tựa, kém gì, hơn gì, khác gì… mang tính chất giả định.

Trang 33

- So sánh ngang bằng: Ở kiểu so sánh này thường có các từ so sánh: bằng, là… mang tính khẳng định.

và B được xếp theo thứ tự phân hạng đánh giá.

Ví dụ: Nhất canh trì, nhì canh viên, tam canh điền.(Tục ngữ)

Tuy nhiên vẫn có những trường hợp thứ tự này chỉ mang tính ước lệ, tức

là người sáng tác quan tâm đến vần điệu nhiều hơn là thứ tự mức độ “quan trọng” của đối tượng được liệt kê Xếp một đối tượng nào đó theo thứ tự nhất,

nhì… còn tùy thuộc vào quan điểm chủ quan của người nói

+ So sánh dị biệt hơn tương đối: thường có những từ chuyên dụng: hơn, còn hơn….

Ví dụ:

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.

(Tục ngữ)+ So sánh dị biệt kém: Để biểu thị quan hệ so sánh dị biệt kém, người ta thường dùng các từ so sánh: thua, kém, không bằng, sao bằng, chẳng bằng, không tày…

Ví dụ:

Đêm nằm ở dưới bóng trăng Thương cha, nhớ mẹ, không bằng thương em.

(Ca dao)

Trang 34

Như vậy, hầu như các tác giả nói trên đều gặp nhau ở một điểm, về ngữnghĩa, có thể chia cấu trúc thành hai kiểu: So sánh đồng nhất và so sánh dị biệt.Mỗi kiểu so sánh lại có thể chia thành những nhóm nhỏ hơn, tùy theo nhữngtiêu chí phân loại.

1.1.2.2 Biện pháp tu từ nhân hóa

a Khái niệm

Bàn về biện pháp tu từ nhân hóa các tác giả đưa ra những quan niệm củamình:

* Quan điểm của tác giả Đinh Trọng Lạc

Trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt (Nxb GD

1999) tác giả Đinh Trọng Lạc định nghĩa: “Nhân hóa (còn gọi: là nhân cách hóa) là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói

có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình.”[42, tr.63]

* Quan điểm của tác giả Lại Nguyên Ân

Theo tác giả Lại Nguyên Ân: Nhân hóa (còn gọi là Nhân cách hóa là một dạng đặc biệt của ẩn dụ chuyển những đặc điểm của con người (và rộng

ra là những sinh thể) sang những đối tượng và hiện tượng không phải là con người (hoặc không có đặc tính của những cơ thể sống).[1]

Như vậy, nhân hóa là lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, hoạt động của người dùng để biểu thị thuộc tính, hoạt động của đối tượng khác loại dựa trên quan hệ liên tưởng nét tương đồng về thuộc tính, về hoạt động giữa người

và đối tượng không phải người (khác loại).

Ví dụ:

Trâu ơi, ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

(Ca dao)

Trang 35

b Các hình thức của biện pháp tu từ nhân hóa

* Tác giả Đinh Trọng Lạc:

Trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb GD

1994), tác giả đã phân loại như sau:

Về mặt hình thức, nhân hóa có thể được cấu tạo theo hai cách:

- Dùng những từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của đối tượng không phải con người:

Ví dụ:

Thân gầy guộc lá mong manh

Mà sao nên lũy nên thành tre ơi?

Ở đâu tre cũng xanh tươi Cho dù đất sỏi, đá vôi bạc màu.

(Nguyễn Duy)

- Coi đối tượng không phải như con người và tâm tình trò chuyện với nhau: Ví dụ:

Núi cao chi lắm núi ơi?

Núi che mặt trời chẳng thấy người thương! (Ca

dao)Như vậy, dựa trên sự liên tưởng nhằm phát hiện ra nét giống nhau giữađối tượng không phải là người và người, giúp cho những đối tượng nhân hóatrở nên sinh động và hấp dẫn hơn

Do có chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm - cảm xúc cho nênnhân hóa được sử dụng rộng rãi trong các phong cách: khẩu ngữ, chính luận,văn chương

Trong sinh hoạt hàng ngày ta thường nghe nói: điếu cày kêu sòng sọc, con đường lượn vòng, đá đổ mồ hôi, cái bụng muốn đi (mà) cái chân không muốn bước…

Trang 36

Trong lời nói nghệ thuật ta thường gặp nhân hóa: gió khóc, gió rền rĩ, trăng chiếu mơ màng, sông thì thầm mấy khúc hùng ca xưa cũ, nước biếc chao mình, mây vui đón em, khăn thương nhớ ai, đèn thương nhớ ai…

Nhân hóa chỉ có thể được thực hiện hóa trong một hoàn cảnh nhất định

Ví dụ:

“Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù Tre xung phong vào xe tăng, đại bác, tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín Tre hi sinh để bảo vệ con người Tre, anh hùng lao động! Tre anh hùng chiến đấu!”

(Thép Mới)

* Theo tác giả Phan Thị Thạch trong Giáo trình Phong cách học tiếng

Việt (Nxb Hà Nội, 1992) đã chia nhân hóa theo các kiểu như sau:

- Dùng từ ngữ chỉ tình cảm, hoạt động của con người để gắn cho đối tượng không phải là con người: Yêu, thương, chạy, nhảy…

Ví dụ:

Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất?

Khăn thương nhớ ai, Khăn vắt lên vai??

Khiêng nắng

Trang 37

* Quan điểm của luận văn

- Dùng những yếu tố chỉ đặc điểm thuộc về con người để chỉ đối tượng khác.

- Nhân hóa bằng cách sử dụng các đại từ xưng hô.

- Nhân hóa bằng cách sử dụng những yếu tố chỉ công việc lao động của con người.

- Gán cho sự vật tư thế, dáng vẻ của con người.

- Mặc cho sự vật trang phục như con người.

- Coi các con vật giống như con người đê tâm tình và trò chuyện với chúng.

- Sử dụng những từ ngữ chỉ tính cách, suy nghĩ, phẩm chất giống như con người khi miêu tả các con vật.

- Gán cho con vật những từ chỉ địa vị, chức tước và trình độ học vấn như của con người.

Như vậy có thể thấy được sự đa dạng của các hình thức nhân hóa.Đối vớitừng đối tượng ta có thể dùng các hình thức nhân hóa khác nhau sao cho phùhợp với đối tượng đó và phù hợp với hoàn cảnh xuất hiện của các đối tượngđược nhân hóa

Trang 38

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tiểu sử của tác giả Tô Hoài

Tên thật là Nguyễn Sen Các bút danh khác: Mắt Biển, Mai Trang, HồngHoa, Duy Phương… sinh ngày 07/09/1920 ở quê ngoại: Làng Nghĩa Đô, quậnCầu Giấy, Hà Nội, quê nội: thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, nay là xã Kim

An, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây

Tô Hoài sinh trưởng trong một gia đình nghèo làm nghề dệt lụa thủ công.Học xong bậc tiểu học, ông làm nhiều nghề: thợ cửi, dạy tư, bán giày, phụ kế toánhiệu buôn… Tuy quê gốc ở Thanh Oai nhưng ông lại gắn bó với làng Nghĩa Đô.Bút danh của ông được lấy từ hai địa danh phủ Hoài Đức và sông Tô Lịch

Từ năm 1938 chịu ảnh hưởng của phong trào Mặt trận Bình dân, Tô

Hoài bắt đầu tham gia hoạt động trong các tổ chức Ái hữu thợ dệt và Thanhniên dân chủ ở Hà Nội Lúc này, ông mới 17 tuổi Từ đây, nhà văn đã bắt đầutìm và đi theo cách mạng Ông đi giải chữ cho mọi người: Viết văn, truyền đơn,viết văn để mưu sinh và lấy văn chương để phục vụ cách mạng Giáo sư Phan

Cư Đệ viết: “Có những người từ sách vở lý luận, từ vốn văn hóa kiến thức đi vào văn học Tô Hoài chủ yếu từ cuộc sống mồ hôi nước mắt, từ cuộc đời lam

lũ của quần chúng, từ những cái gì rất dân tộc và dân gian mà đi vào con

đường sáng tác” Những sáng tác đầu tiên của ông được đăng trên Hà Nội tân

văn và Tiểu thuyết thứ bảy vào cuối những năm 30.

Từ năm 1943, Tô Hoài tham gia hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc

và phong trào Việt Minh; viết bài báo bí mật Sau cách mạng tháng Tám và

trong kháng chiến chống Pháp, ông lên Việt Bắc làm báo Cứu quốc, sau đó về

công tác ở Hội văn nghệ Việt Nam.Từ năm 1957 đến năm 1980, ông liên tụctham gia công tác lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam.Từ năm 1966 đến năm 1996,ông làm chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội và còn đảm nhiệm nhiều chức trách xãhội khác.Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 2014, hưởng thọ 94 tuổi

Trang 39

Với một hành trình sáng tác không mệt mỏi cho đến nay ông đã sở hữumột gia tài văn học lớn Ông được coi là nhà văn Việt Nam có số trang viết kỷlục với khoảng trên 150 tác phẩm Trong đó có 60 tác phẩm viết cho thiếu nhithuộc các thể loại văn xuôi và văn cho thiếu nhi Sự nghiệp văn chương của TôHoài có 3 thành công tiêu biểu không phải nhà văn nào cũng đạt được Đó làthành công cho mảng viết cho thiếu nhi, thành công cho mảng viết về miền núi

và thành công cho mảng viết về Hà Nội Vì những đóng góp lớn lao trong lĩnhvực văn học nghệ thuật nên ông được nhà nước phong tặng giải thưởng Hồ ChíMinh năm 1996

1.2.2 Sự nghiệp của tác giả Tô Hoài

Tô Hoài vừa tự nhiên, vừa ngẫu nhiên vào nghề viết văn Theo lời ông kể:

“Tôi không thể so sánh và tưởng tượng ra giá một bài báo và công xá những việc tôi đã làm bấy lâu để kiếm sống Hãng giày Bata mỗi tháng trả lương tôi 6 đồng Bây giờ một cái truyện ngắn tôi được 10 đồng, lại có băng quấn quanh tờ giấy bạc, ngoài để tên mình Ôi, lịch sự! Mà một tháng, tôi có thể viết mấy cái truyện ngắn Điếc không sợ súng, tôi cứ viết tràn lan” [Tự Truyện, Tô Hoài].

Chặng đường văn học của ông được chia làm hai giai đoạn:

Trước năm 1945 ông viết:

Truyện thiếu nhi: Dế Mèn phiêu lưu kí (được gộp từ hai truyện Con dế

mèn

- Truyền bá số 3 và Dế Mèn phiêu lưu kí - Truyền bá số 16 và số 17) (Nxb Á Châu, 1941) Truyện ngắn: O chuột (NxbTân Dân, 1942), Nhà nghèo (NxbTân Dân, 1942), Nước lên (Nxb Tân Dân, 1942) Hồi ức: Cỏ dại (Nxb Hà Nội, 1944) Truyện vừa và dài: Giăng thề (Nxb Tân Dân, 1941), Quê người (Nxb Á Châu, 1942), Đêm mưa, Xóm Giếng (NxbTân Dân, 1944), Chuột thành phố (Tiểu thuyết

thứ 7, 1945)

Trang 40

Thành công lớn của Tô Hoài đó là mảng truyện về thiếu nhi Trong đó phải

kể đến Dế Mèn phiêu lưu kí Tác phẩm đã gắn liền với bao thế hệ thiếu nhi

Việt Nam và được dịch ra gần 40 thứ tiếng trên thế giới Đây là tập truyện “gối đầu giường” của biết bao thế hệ thiếu nhi Việt Nam Một tập truyện với thế giới nhân vật sinh động hấp dẫn đã đánh dấu thành công đầu tiên trên con

đường văn học của mình

Thế giới nhân vật trong truyện Dế Mèn phiêu lưu kí là thế giới côn trùng

phong phú về chủng loại và đa dạng về tính cách Trong đó không xuất hiệnnhững con vật to lớn có sức mạnh phi thường, đó không phải là những con vật đặcbiệt mà là những chú Dế nhỏ bé, đáng yêu, và gắn với tuổi thơ của trẻ em vùngnông thôn Đó cũng là những con vật gần gũi và gắn bó với người dân lao động.Những nhân vật đó là một xã hội thu nhỏ với đầy đủ tính cách của con người: tốt

có xấu có…Dế Mèn là một chàng thanh niên khỏe mạnh, tự lập, tự rèn luyện đượcbản thân mình qua các chương của truyện và ngày càng trưởng thành Sau cái chết

của Dế Choắt, Dế Mèn đã rút ra bài học đường đời cho mình: Ở đời đừng có thói

hung hăng, bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ rồi cũng có ngày chuốc họa vào thân Để tạo nên sức hấp dẫn của truyện tác giả đã xây dựng nên một hệ thống

nhân vật trong đó cáo cả nhân vật chính diện, các nhân vật phản diện, nhân vậttrung gian Đó là anh: Dế Trũi, bác Xiến Tóc, anh Gọng Vó, chị Cào Cào, chịCốc, bọn Nhện, …Đây là những nhân vật đại diện cho nhiều giai cấp, nhiều tầnglớp khác nhau lúc bấy giờ Không chỉ xây dựng thành công tính cách của các nhânvật, tác giả còn tạo nên những mối quan hệ anh em, bạn bè…

ở thế giới loài vật: Dế Mèn, Dế Trũi như anh em kết nghĩa, sẵn sàng hi sinh tính mạng của mình vì vì nghĩa lớn.Anh Xiến Tóc trầm lặng, vừa yêu đời vừa chán đời Chị Cào Cào ồn ào và duyên dáng Bọ Ngựa kiêu căng, ngạo mạn Từ đời sống và tích cách của từng con vật, nhà văn muốn bày tỏ quan niệm của mình về thế giới nhân sinh, về khát vọng chính đáng của người lao động, về một cuộc sống hòa bình, yên vui, về tình thương, lòng chân thành và sự đoàn kết Bởi thế câu chuyện về chú

Ngày đăng: 08/06/2021, 15:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w