Tác giả thực hiện lược khảo các kết quả nghiên cứu trước từ các nghiên cứu nước ngoài và trong nước để tìm hiểu các tiêu chí đo lường mức độ minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG
TY NIÊM YẾT NGÀNH NGUYÊN VẬT LIỆU TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG
TY NIÊM YẾT NGÀNH NGUYÊN VẬT LIỆU TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã ngành: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HÀ XUÂN THẠCH
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
∗
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ngành nguyên vật liệu trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học
của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và được thu thập từ những nguồn dữ liệu được kiểm chứng, khách quan Tôi xin chịu trách nhiệm về tính độc lập và trung thực của luận văn, các kết quả của luận văn này chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Người cam đoan NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
Trang 5MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
TÓM TẮT
ABSTRACT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
6 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6
1.1 Nghiên cứu về minh bạch thông tin trên BCTC 6
1.1.1 Sự minh bạch thông tin trên BCTC 6
1.1.2 Các phương pháp đo lường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC 9
1.1.2.1 Chỉ số CIFAR của IAAT (1995) 10
1.1.2.2 Chỉ số T&D của Standard & Poor’s (2001) 10
1.1.2.3 Hệ thống xếp hạng mức độ công bố và minh bạch hóa thông tin IDTRS (2003) 12
1.1.2.4 Đo lường công bố và minh bạch thông tin theo nguyên tắc Quản trị công ty của OECD (2004) 14
1.1.2.5 Chỉ số GTI của Singapore (2009) 16
1.2 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin trên BCTC 18
1.2.1 Nghiên cứu nước ngoài 18
1.2.2 Nghiên cứu trong nước 23
Trang 61.3 Khoảng trống nghiên cứu và xác định vấn đề nghiên cứu của đề tài 27
1.3.1 Khoảng trống nghiên cứu 27
1.3.2 Vấn đề nghiên cứu 29
TỔNG KẾT CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 31
2.1 Khái quát chung về BCTC và minh bạch thông tin trên BCTC 31
2.1.1 Khái quát chung về BCTC 31
2.1.2 Khái niệm minh bạch thông tin BCTC và tầm quan trọng của minh bạch thông tin BCTC 32
2.1.2.1 Khái niệm minh bạch thông tin BCTC 32
2.1.2.2 Tầm quan trọng của minh bạch thông tin BCTC 34
2.1.3 Khái niệm thị trường chứng khoán 36
2.2 Cơ sở lý thuyết 36
2.2.1 Lý thuyết thông tin hữu ích 36
2.2.1.1 Nội dung lý thuyết 36
2.2.1.2 Áp dụng lý thuyết cho vấn đề minh bạch TTTC của các CTNY 37
2.2.2 Lý thuyết về thông tin bất cân xứng 38
2.2.2.1 Nội dung lý thuyết 38
2.2.2.2 Áp dụng lý thuyết cho vấn đề minh bạch TTTC của các CTNY 39
2.2.3 Lý thuyết tiết kiệm chi phí thông tin 41
2.2.3.1 Nội dung lý thuyết 41
2.2.3.2 Áp dụng lý thuyết cho vấn đề minh bạch TTTC của các CTNY 42
2.2.4 Lý thuyết đại diện 43
2.2.4.1 Nội dung lý thuyết 43
2.2.4.2 Áp dụng lý thuyết cho vấn đề minh bạch TTTC của các CTNY 44
2.3 Tổng quan về các CTNY ngành hàng nguyên vật liệu trên HSX 45
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin BCTC các CTNY ngành nguyên vật liệu trên TTCK Việt Nam 46
2.4.1 Các nhân tố đặc điểm tài chính 46
2.4.1.1 Quy mô công ty 46
Trang 72.4.1.2 Đòn bẩy tài chính 47
2.4.1.3 Lợi nhuận 47
2.4.1.4 Hiệu suất sử dụng tài sản 48
2.4.1.5 Tài sản đảm bảo 49
2.4.2 Các nhân tố đặc điểm quản trị công ty 49
2.4.2.1 Công ty kiểm toán 49
2.4.2.2 Tỷ lệ sở hữu cổ đông nhà nước 50
2.4.2.3 Mức độ sở hữu tập trung 50
2.4.2.4 Mức sở hữu cổ đông nước ngoài 51
2.4.2.5 Cơ cấu HĐQT 51
2.5 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 53
2.5.1 Mô hình nghiên cứu 53
2.5.2 Các giả thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin BCTC 54
2.5.2.1 Nhóm giả thuyết ảnh hưởng của các nhân tố đặc điểm tài chính 54
2.5.2.2 Nhóm giả thuyết ảnh hưởng của các nhân tố đặc điểm quản trị công ty 54
TỔNG KẾT CHƯƠNG 2 55
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 56
3.1 Thiết kế nghiên cứu 56
3.1.1 Quy trình nghiên cứu 56
3.1.2 Phương pháp nghiên cứu 57
3.1.2.1 Phương pháp định lượng 57
3.1.2.2 Mô tả thống kê 57
3.1.2.3 Phân tích hồi quy 57
3.2 Mô hình nghiên cứu dự kiến 58
3.3 Đo lường các biến nghiên cứu 59
3.3.1 Biến phụ thuộc 59
3.3.1.1 Căn cứ đo lường biến phụ thuộc 59
3.3.1.2 Đo lường biến phụ thuộc 59
3.3.1.3 Chỉ số mức độ minh bạch thông tin trên BCTC 63
3.3.2 Biến độc lập 64
Trang 83.4 Thu thập dữ liệu 65
3.5 Phương pháp ước lượng mô hình 66
3.5.1 Lựa chọn mô hình 66
3.5.2 Kiểm định các khuyết tật của mô hình 66
TỔNG KẾT CHƯƠNG 3 66
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 68
4.1 Thống kê các tiêu chí phản ánh mức độ minh bạch thông tin trên BCTC 68
4.1.1 Sự tin cậy, đầy đủ và nhất quán 68
4.1.2 Sự kịp thời 69
4.1.3 Tính trung thực 69
4.1.4 Sự thuận tiện 70
4.1.5 Mức độ minh bạch thông tin trên BCTC 72
4.2 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 72
4.3 Mối quan hệ tương quan giữa các biến trong mô hình 72
4.3.1 Kiểm định đa cộng tuyến: VIF và ma trận tương quan 72
4.3.1.1 Phân tích tương quan 73
4.3.1.2 Phân tích hồi quy bội 74
4.4 Ước lượng mô hình và kiểm định các giả thuyết 75
4.4.1 Phân tích các mô hình Pooled OSL, REM, FEM 75
4.4.2 Kiểm tra các khuyết tật trong mô hình hồi quy 76
4.4.3 Kiểm tra hiện tượng phương sai sai số thay đổi 76
4.4.4 Kiểm tra hiện tượng tự tương quan giữa các phần dư 76
TỔNG KẾT CHƯƠNG 4 79
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
5.1 Kết luận 80
5.2 Các hàm ý và đề xuất từ kết quả nghiên cứu 80
5.2.1 Các hàm ý rút ra từ kết quả nghiên cứu 80
5.2.1.1 Đối với nhân tố Quy mô doanh nghiệp 81
5.2.1.2 Đối với nhân tố mức sinh lời 81
5.2.1.3 Đối với nhân tố hiệu suất sử dụng tài sản 81
Trang 95.2.1.4 Đối với nhân tố tài sản đảm bảo 82
5.2.1.5 Đối với nhân tố chủ thể kiểm toán 82
5.2.1.6 Đối với nhân tố sở hữu cổ đông nhà nước 82
5.2.1.7 Đối với nhân tố mức sở hữu cổ đông nước ngoài 82
5.2.1.8 Đối với đòn bẩy tài chính 83
5.2.2 Một số đề xuất nhằm tăng cường tính minh bạch thông tin trên BCTC của các CTNY 83
5.2.2.1 Đối với các công ty niêm yết 83
5.2.2.2 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 84
5.2.2.3 Đối với doanh nghiệp kiểm toán và hội nghề nghiệp kiểm toán 85
5.2.2.4 Đối với nhà đầu tư 87
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 87
TỔNG KẾT CHƯƠNG 5 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 1
TÀI LIỆU TIẾNG ANH 1
PHỤ LỤC 3
PHỤ LỤC 01: TÓM LƯỢC TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BCTC 3
PHỤ LỤC 02: DANH SÁCH 58 CÔNG TY CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU 9
PHỤ LỤC 03: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUY 11
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
CBTT Công bố thông tin
TTTC Thông tin tài chính
HOSE Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM
HNX Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
VACPA Hội Kiểm Toán Viên Hành Nghề Việt Nam
EY Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam
Deloitte Công ty TNHH Deloitte Việt Nam
PwC Công ty TNHH Pricewaterhouse Coopers Việt Nam AVA Công ty TNHH Kiểm toán và Thẩm định giá Việt Nam A&C Công ty cổ phần kiểm toán và tư vấn
AASC Công ty TNHH hãng kiểm toán AASC
ANVIET CPA Công ty TNHH Kiểm toán &Tư vấn An Việt
GTV Công ty TNHH Grant Thornton (Việt Nam)
AISC Công ty kiểm toán và dịch vụ tin học
VAE Công ty TNHH Kiểm toán và Định giá Việt Nam
AAC Công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
TL-TDK Công ty TNHH kiểm toán và định giá Thăng Long - TDK RSM Công ty TNHH kiểm toán & tư vấn RSM Việt Nam CPA VIETNAM Công ty TNHH kiểm toán CPA Việt Nam
MAZARS
VIETNAM Công ty TNHH Mazars Việt Nam
UHY ACA Công ty TNHH kiểm toán và tư vấn UHY
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Nội dung chỉ số T&D của Standard & Poor’s (2001) 11
Bảng 1.2 Nội dung của Hệ thống xếp hạng mức độ công bố và minh bạch hóa thông tin IDTRS (2003) 12
Bảng 1.3 Nội dung của nguyên tắc Quản trị công ty của OECD (2004) 14
Bảng 1.4 Cách để đo lường mức độ minh bạch TTTC 16
Bảng 1.5 Nội dung của Chỉ số GTI của Singapore (2009) 17
Bảng 3.1 Bảng phân nhóm công ty kiểm toán 60
Bảng 3.2 Cách tính điểm mức độ uy tín của công ty kiểm toán 61
Bảng 3.3 Cách tính điểm mức độ kịp thời của thông tin BCTC 62
Bảng 3.4 Cách tính điểm mức độ trung thực của thông tin BCTC 62
Bảng 3.5 Cách tính điểm mức độ thuận tiện của thông tin BCTC 63
Bảng 3.6 Biến độc lập và cách đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin BCTC của CTNY 64
Bảng 4.1 Kết quả thống kê các tiêu chí phản ánh mức độ MBTT trên BCTC 68
Bảng 4.2 Kết quả thống kê các CTNY theo tiêu chí sự tin cậy, đầy đủ và nhất quán 68
Bảng 4.3 Kết quả thống kê các CTNY theo tiêu chí tính trung thực 70
Bảng 4.4 Kết quả thống kê các CTNY theo tiêu chí sự thuận tiện 71
Bảng 4.5 Thống kê mô tả các biến phân tích hồi quy 72
Bảng 4.6 Ma trận tương quan giữa các biến 73
Bảng 4.7 Kết quả các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC 74
Bảng 4.8 Kết quả hồi quy mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin 75
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định hiện tương phương sai sai số thay đổi 76
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định tự tương quan giữa các phần dư 77
Bảng 4.11 Kết quả hồi quy mô hình FEM 77
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Các thành phần ảnh hưởng đến minh bạch công ty theo kết quả nghiên cứu của Robert Bushman và cộng sự (2001) 18 Hình 1.2: Các thành phần ảnh hưởng đến minh bạch công ty theo nghiên cứu của Cheung
và cộng sự (2005) 20 Hình 1.3: Các thành phần ảnh hưởng đến minh bạch công ty theo nghiên cứu của Jouini Fathi (2013) 22 Hình 1.4: Mô hình nghiên cứu chỉ số minh bạch TTTC của Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) 25 Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch TTTC của các CTNY ngành nguyên vật liệu trên TTCK Việt Nam 53
Trang 13TÓM TẮT
Bài nghiên cứu kế thừa nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tính MBTT trên BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam của Ts Lê Thị Mỹ Hạnh (2015), trong điều kiện mới, thực hiện để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ngành nguyên vật liệu trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2004-2017
Tác giả đo lường biến phụ thuộc (TRANS) được căn cứ vào 2 cơ sở: Khái niệm về minh bạch thông tin trên BCTC được sử dụng trong luận văn, và các nguyên tắc quản trị công
ty của OECD (2004) Tác giả sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng, thông qua các kiểm định phù hợp tác giả lựa chọn một trong ba mô hình hồi quy dữ liệu bảng để ước lượng
mô hình: (1) mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS); (2) Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effect Model – REM); (3) Mô hình ảnh hưởng cố định (Fixed Effect Model – FEM)
Kết quả cho thấy mức độ minh bạch thông tin BCTC của các CTNY ngành nguyên vật liệu có xu hướng cải thiện qua các năm Các biến có quan hệ đồng biến với minh bạch thông tin báo cáo tài chính của các CTNY ngành nguyên vật liệu trên thị trường chứng khoán Việt Nam bao gồm: Quy mô doanh nghiệp (FSIZE), mức sinh lời (PROL), hiệu suất sử dụng tài sản (EASSET), tài sản đảm bảo (FIX), chủ thể kiểm toán (AUDIT), sở hữu cổ đông nhà nước (OWNP), sở hữu cổ đông nước ngoài (FORES), một biến quan
hệ nghịch biến là đòn bẩy tài chính (LEV)
Hàm ý rằng, cơ quan quản lý nhà nước và các công ty kiểm toán cần lưu ý đến những công ty niêm yết có quy mô nhỏ, nhà đầu tư thận trọng và có những đánh giá toàn diện hơn khi cân nhắc đầu tư vào các CTNY có mức sinh lời thấp, tỷ lệ sở hữu cổ đông nhà nước, cổ đông nước ngoài của các công ty ngành nguyên vật liệu cũng là yếu tố cần được xem xét
Từ khóa: minh bạch thông tin BCTC, nguyên tắc quản trị công ty của OECD, mô hình ảnh hưởng cố định (FEM)
Trang 14ABSTRACT
This research, inheriting Dr Le Thi My Hanh's work (2015) of researching the criteria that affect information transparency on financial reports of public corporation on Vietnam stock market, is recently adopted to inspect how public corporations of material field on Vietnam stock market (2014-2017) affected by those criteria
The researcher measured dependent variable (TRANS) on 2 basics: Definition of information transparency on financial report used in dissertation, and policies of corporation management from OECD (2004) The author used model of panel data regression analysis to make evaluation: (1) Pooled OLS; (2) Random Effect Model (REM); (3) Fixed Effect Model (FEM)
The result showed improvement over years on information transparency level of material-related public corporations The covariate variables of information transparency on financial report of public corporations on Vietnam stock market include: corporation scale (FSIZE), profit level (PROL), asset efficiency (EASSET), fixed asset (FIX), auditing subject (AUDIT), State shareholders (OWNP), Foreign shareholders (FORES), inverted variable of financial leverage (LEV)
For implication, state management and auditors should pay attention to small public corporations, prudent investors to have more comprehensive evaluations investing in public corporations with low profit level Ratio of state shareholders and foreign shareholders of public corporation in material-field are also worth considering factors
Keywords: information transparency on financial report, OECD, Fixed Effect Model
(FEM)
Trang 151
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay trong giai đoạn kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam cần thu hút nhiều hơn nữa sự quan tâm từ các nhà đầu tư trong
và ngoài nước Để các nhà đầu tư gia tăng niềm tin vào thị trường, yêu cầu về minh bạch thông tin từ các CTNY, nâng cao chất lượng BCTC và chất lượng CBTT là điều thiết yếu
Trên TTCK, tính minh bạch và công bố thông tin của CTNY là những điều kiện căn bản giúp các nhà đầu tư trong nước và quốc tế có thể tiếp cận và đánh giá tiềm năng đầu tư Khi tổ chức đang sử dụng khoản tiền đầu tư của các cổ đông, họ phải thực hiện công bố một cách minh bạch việc sử dụng số tiền đó Khi không có minh bạch, báo cáo tài chính và thông tin của nó là vô ích cho các nhu cầu ra quyết định Nó không chỉ ảnh hưởng đến cổ đông, mà còn ảnh hưởng đến quyết định của tổ chức trong tương lai Hậu quả nhà đầu tư mất lòng tin vào TTCK, chuyển sang kênh đầu tư khác, thị trường mất thanh khoản, có thể gây nên tác động tiêu cực đến thị trường tài chính quốc gia
Nói đến tính minh bạch, trước hết người ta thường nói đến tính minh bạch trong việc quản trị công ty Việc minh bạch trong hoạt động quản trị sẽ khuyến khích các hành
vi có trách nhiệm và hỗ trợ ra quyết định tốt hơn cho các doanh nghiệp ở cả khu vực công và khu vực tư, đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động ổn định, mang lại lợi ích kinh
tế và tăng trưởng vững chắc Các doanh nghiệp càng minh bạch thì càng được nhà đầu
tư, đối tác và khách hàng tin tưởng, nâng cao được thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường Khi đã tạo được niềm tin được với các nhà đầu tư, các đối tác kinh doanh, CTNY sẽ dễ dàng tiếp cận việc huy động vốn đầu tư, tìm kiếm đối tác kinh doanh, thuận lợi trong việc vay vốn ngân hàng
Thị trường chứng khoán Việt Nam sau hơn 19 năm hoạt động (2000-2019), đã chứng kiến sự tăng trưởng mạnh về số doanh nghiệp tham gia giao dịch, quy mô vốn hóa và số tài khoản giao dịch của nhà đầu tư, cùng với đó là sự cải thiện rõ rệt về chất lượng quản trị, tính minh bạch và tầm nhìn chiến lược về phát triển bền vững của rất nhiều tổ chức niêm yết Thành tựu này có được nhờ rất nhiều chính sách và giải pháp sáng tạo được thực thi bởi các bên tham gia
Trang 162 Tính đến cuối năm 2018, tổng số công ty đại chúng đã đăng ký với UBCKNN là 1.926 công ty, trong đó CTNY trên hai sàn giao dịch chứng khoán HOSE và HNX là
754 và trên sàn UPCoM là 805 Trong số 686 CTNY trên TTCK Việt Nam, chỉ có 266 công ty đạt chuẩn công bố thông tin (từ kết quả khảo sát của Vietstock năm 2018), tương đương 38,78% Tuy nhiên vẫn còn nhiều vụ việc có liên quan đến sự minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp đã được phát hiện như Công ty cổ phần Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAG), Công ty cổ phần Container Việt Nam (VSC), Công ty Cổ
phần Bóng đèn Điện Quang (DQC), Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết (BBT), hay các
trường hợp kết quả kinh doanh chuyển từ lãi sang lỗ sau kiểm toán của Công ty cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (TTF), Công ty cổ phần Thiết bị y tế Việt Nhật (JVC), , khi bị phát hiện giá cổ phiếu của các công ty này giảm và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của NĐT Qua đó cho thấy MBTT ngày càng trở nên cấp thiết hơn khi các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng phạm vi kinh doanh toàn cầu, minh bạch là chìa khóa để thúc đẩy môi trường kinh doanh bền vững
Kế thừa nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tính MBTT trên BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam của Ts Lê Thị Mỹ Hạnh (2015), với điều kiện mới Thông
tư 200/2014/TT-BTC ra đời, tiếp cận gần hơn chuẩn mực kế toán quốc tế, Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014, sự ra đời của Thông tư 155/2015/TT-BTC ngày 06 tháng 10 năm 2015 yêu cầu khắt khe hơn về việc CBTT, tính minh bạch thông tin BCTC, tác giả tập trung nghiên cứu các CTNY trên TTCK Việt Nam mà không thuộc trong ngành tài chính, ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm Tác giả thu thập BCTC từ năm 2014 đến năm 2017 của 58 công ty thuộc nhóm ngành nguyên
vật liệu (theo phân ngành toàn cầu GISC của MSCI Inc và Standard & Poor’s) niêm yết
trên sàn giao dịch HOSE để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của BCTC trong điều kiện mới, chính sách mới Ngành nguyên vật liệu là một phần quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, thu hút dòng tiền đầu tư lớn từ các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, ngày càng hướng đến phát triển bền vững, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường Ngành nguyên vật liệu có nhiệm vụ làm yếu tố đầu vào cho các ngành khác, đặc điểm của ngành nguyên vật liệu là ngành kinh tế thâm dụng vốn, phụ thuộc rất lớn vào nguồn tài nguyên và công nghệ, tài sản và chi phí cố định của ngành khá cao, áp lực cạnh tranh trong nước khá lớn khiến biên lợi nhuận gộp giảm, rủi ro do nhập khẩu, lãi suất khá lớn do thường sử dụng đòn bẩy hoạt động để tăng
Trang 173 lợi nhuận, đặc tính nổi bật của ngành là nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền kinh
tế vĩ mô Nghiên cứu này đánh giá tính minh bạch thông tin trên BCTC của các CTNY của một ngành đặc thù là ngành nguyên vật liệu nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch góp phần giúp TTCK Việt Nam nói chung và ngành nguyên vật liệu nói riêng hoạt động bền vững và hiệu quả Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Các nhân
tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Luận văn nhằm hướng đến các mục tiêu:
+ Mục tiêu chung: nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Câu hỏi nghiên cứu:
Để làm được điều này, tác giả tập trung giải quyết câu hỏi nghiên cứu:
(i) Các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các các CTNY ngành nguyên vật liệu trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
(ii) Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến minh bạch thông tin trên BCTC của các CTNY ngành nguyên vật liệu trên TTCK Việt Nam như thế nào?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của CTNY sản xuất kinh doanh
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào nghiên cứu: nhóm nhân tố đặc điểm tài chính và nhóm nhân tố đặc điểm quản trị công ty của các CTNY ngành nguyên vật liệu trên TTCK Việt Nam Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả thu thập BCTC của 58 CTNY ngành nguyên vật liệu trên sàn giao dịch HOSE BCTC được lựa chọn đối với các công ty mẹ
là BCTC hợp nhất
Trang 184
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2014 đến 2017
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Tác giả thực hiện lược khảo các kết quả nghiên cứu trước từ các nghiên cứu nước ngoài và trong nước để tìm hiểu các tiêu chí đo lường mức độ minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính và những nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam Ngoài ra, luận văn tiến hành đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin trên BCTC, từ đó xây dựng mô hình hồi quy phản ánh mối tương quan giữa các nhân tố đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các CTNY ngành nguyên vật liệu trên TTCK Việt Nam
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài kiểm định để khẳng định tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới tính minh bạch thông tin trên BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam Kết quả có ý nghĩa giúp nhà đầu tư và doanh nghiệp có cái nhìn đầy đủ về vấn đề này nhằm đánh giá, cải thiện giúp tăng tính minh bạch của thông tin công bố trên BCTC
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được tổ chức thành 5 chương với nội dung chính như sau:
Chương 1- Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan, xác định những nội dung nghiên cứu mà đề tài sẽ kế thừa và phát triển Từ đó, tìm ra khe hổng nghiên cứu, xác định vấn đề nghiên cứu của đề tài
Chương 2- Tổng hợp và phân tích cơ sở lý thuyết về minh bạch thông tin trên BCTC, các nhân tố có thể ảnh hưởng đến minh bạch thông tin trên BCTC của các CTNY ngành nguyên vật liệu trên TTCK Việt Nam
Chương 3- Phương pháp nghiên cứu, chương này thiết kế nghiên cứu, xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và xác định phương pháp nghiên cứu áp dụng để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
Chương 4- Trình bày và phân tích kết quả nghiên cứu Kết quả về các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin trên BCTC của các CTNY ngành nguyên vật liệu trên TTCK Việt Nam
Chương 5- Chương này đưa ra kết luận và gợi ý chính sách nhằm bảo vệ các bên có liên quan (nhà đầu tư, công ty niêm yết, Bộ Tài chính, cơ quan quản lý nhà nước) thông qua
Trang 195 việc nâng cao minh bạch thông tin trên BCTC của các công ty ngành nguyên vật liệu niêm yết trên TTCK Việt Nam, đồng thời gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 206
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chương 1 giới thiệu về tổng quan các nghiên cứu trong nước và nước ngoài về minh bạch thông tin trên BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin trên BCTC
Từ đó đưa ra khe hổng nghiên cứu, cho thấy được tính mới của bài nghiên cứu
1.1 Nghiên cứu về minh bạch thông tin trên BCTC
Đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về minh bạch thông tin tài chính với những đóng góp quan trọng góp phần xem xét đến tính minh bạch của doanh nghiệp
1.1.1 Sự minh bạch thông tin trên BCTC
Năm 1994, nghiên cứu của Carolyn Streuly “The primary objective of financial reporting: How are you doing?” (Tạp chí CPA Ohio số 53.6) thực hiện thông qua ba
lần tổng hợp thư khảo sát, cuộc điều tra, nhận được kết quả từ 508 từ 1.300 chuyên gia phân tích tài chính (CFAs) ở Mỹ, kết quả nghiên cứu cho thấy thông tin BCTC hữu ích
và thuyết minh BCTC rõ ràng cung cấp thông tin để các nhà đầu tư, chủ nợ, người dùng khác cho các quyết định đầu tư hợp lý Theo nghiên cứu của Ball et al (1968) cho thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa thông tin lợi nhuận được công bố trên BCTC với giá
cổ phiếu, khi có thông tin mới về một sự gia tăng bất thường của lợi nhuận công ty sẽ làm tăng giá trị tương ứng của doanh nghiệp, giá cổ phần sẽ phản ánh đầy đủ các thông tin hiện có trong thị trường hiệu quả và sẽ gia tăng giá cổ phần ngay khi thông tin trên BCTC được công bố và sẽ chấm dứt sau ngày công bố Theo nghiên cứu về mối quan
hệ giữa thông tin BCTC và giá cổ phiếu của Dimitropoulos et al (2009) “The value relevance of financial statements and their impact on stock prices” (tạp chí Managerial
Auditing 24 3, P248-265), tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy OLS để kiểm định cho các giả thuyết đưa ra và thu thập dữ liệu của 101 CTNY trên TTCK Athens từ năm 1995 – 2004 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ suất lợi nhuận và doanh thu trên tổng tài sản có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập cổ phiếu, ngược lại tỷ lệ vốn lưu động trên tổng tài sản
và tỷ suất lợi nhuận có tác động tiêu cực đến thu nhập cổ phiếu
Năm 2006, nhóm tác giả Mensah và cộng sự đã đưa ra mô hình các mức độ minh bạch thông tin, nghiên cứu này chính thức hóa minh bạch là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá các báo cáo tài chính theo quan điểm của người sử dụng bên ngoài Cũng trong năm
2006, nghiên cứu của Zarb, Bert đề cập đến sự khác biệt trong cách nhìn nhận của nhà đầu tư và người lập báo cáo về tính minh bạch của thông tin báo cáo tài chính v.v…
Trang 217 Năm 2010, có nghiên cứu của Thomas J et el xem xét quan điểm soạn lập BCTC, kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhà quản lý doanh nghiệp có mong muốn thiết lập BCTC dựa trên các chuẩn mực kế toán, trong khi các nhà đầu tư và chủ nợ lại nghiêng về quan điểm nên thiết lập BCTC dựa trên luật lệ
Theo nghiên cứu của Zarzeski (1996) cho rằng văn hóa và sức mạnh của thị trường tác động đến mức độ CBTT thông qua các nhân tố: Đòn bẩy tài chính, quy mô công ty và doanh thu xuất khẩu Các thuộc tính của minh bạch thông tin được đưa ra bởi nghiên cứu của Vishwanath và Kaufmann (2001) bao gồm: tiếp cận, tính toàn diện, tính liên quan, chất lượng và sự đáng tin cậy Tác giả Phạm Đức Tân (2008) cũng thông qua khảo sát BCTC và báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên TTCK HoSE trong 3 năm 2006, 2007, 2008 kết hợp so sánh đối chiếu với hệ thống pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến việc công bố thông tin tài chính để đo lường sự minh bạch thông tin tài chính, kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống công nghệ thông tin yếu kém, các yếu tố phát triển chưa đồng bộ gây ra sự chậm trễ trong việc công bố thông tin, việc các công ty niêm yết che dấu thông tin vẫn phổ biến
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy (2008) với nghiên cứu về hoàn thiện minh bạch hóa thông tin tài chính của các CTNY trên TTCK Việt Nam, 100 phiếu điều tra đã được thu
về từ 150 phiếu điều tra từ các NĐT ở các sàn giao dịch chứng khoán đo lường minh bạch thông tin bằng cách lập bảng câu hỏi dành cho NĐT khảo sát về các chỉ tiêu mà nhà đầu tư quan tâm khi phân tích báo cáo tài chính, kết hợp với khảo sát 4 công ty thông qua các chỉ tiêu: chỉ số lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh so với doanh thu thuần, chỉ số lợi nhuận trên doanh thu, chỉ số sinh lợi trên vốn cổ phần, lãi cơ bản trên cổ phiếu Kết luận của khảo sát cho thấy minh bạch hóa thông tin tài chính các CTNY trên TTCK Việt Nam tuy vẫn còn hạn chế: thông tin chưa được công bố đầy đủ, kịp thời, đều đặn
và bị rò rỉ trước CBTT, nhưng cũng đã có những tích cực là có kênh thông tin đáng tin cậy từ các tổ chức phân tích tài chính chuyên nghiệp
Trên quan điểm người sử dụng thông tin, các tác giả Blanchet (2002), Prickett (2002)
và Kulzick (2004) cho rằng sự minh bạch thông tin bao gồm: sự chính xác, sự nhất quán,
sự thích hợp, sự đầy đủ, sự rõ ràng, sự kịp thời và sự thuận tiện Kế thừa nghiên cứu này, nghiên cứu khảo sát thực trạng sự minh bạch TTTC công bố của các CTNY trên TTCK Việt Nam của tác giả Nguyễn Đình Hùng (2010) đưa ra các biến đại diện để đo lường sự minh bạch là: sự kịp thời, sự thuận tiện, sự chính xác, sự đầy đủ và sự nhất
Trang 228 quán Kết quả thống kê của nghiên cứu cho thấy số ngày trung bình công bố thông tin lớn hơn so với số ngày tối đa cho phép theo Thông tư số 38/2007/TT-HTC năm 2017 là
19 ngày và năm 2018 là 15 ngày Việc chậm trễ này làm giảm tính kịp thời của thông tin, giảm tính minh bạch thông tin tài chính Dù năm 2007 và 2008 là năm thực hiện chuẩn mực mới về BCTC hợp nhất và thông tin các bên liên quan, dù sự minh bạch thông tin còn kém nhưng ghi nhận sự chuyển biến tích cực qua các năm Sự thuận tiện, mức độ chính xác trong số liệu trên các BCTC trước kiểm toán rất thấp, tuy nhiên về hình thức các CTNY đã công bố BCTC số lượng đầy đủ và nhất quán, điểm thiếu minh bạch là do các CTNY không cung cấp được số liệu, cơ sở để kiểm toán xác minh các số liệu do các CTNY trình bày trên BCTC, điều này dẫn đến ý kiến loại trừ của kiểm toán
Từ kết quả khảo sát tác giả tiến hành xây dựng mô hình và đưa ra kiến nghị, giải pháp
về hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính của các CTNY trên TTCK Việt Nam
Nghiên cứu tình huống cụ thể tại Úc với bài báo “Key Issues Accounting Information Quality Management: Australian Case Studies” kế thừa kết quả nghiên cứu của Xu và cộng sự (2003) khẳng định lại lần nữa các yếu tố bên trong gồm yếu tố con người và hệ thống (sự tương tác giữa con người với hệ thống máy tính; giáo dục và nâng cao trình
độ nhân viên; nâng cấp hệ thống), các vấn đề liên quan đến tổ chức (cơ cấu tổ chức; văn hóa tổ chức; các chính sách và chuẩn mực); lẫn bên ngoài đơn vị gồm kinh tế toàn cầu; mối quan hệ giữa các tổ chức và giữa các quốc gia; sự phát triển công nghệ; thay đổi các quy định pháp lý ảnh hưởng đến chất lượng của thông tin kế toán
Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Hà đã phân tích nguyên tắc “công khai và minh bạch” theo yêu cầu của OECD Công trình khoa học cấp bộ của tác giả Nguyễn Thị Hà cũng
đề cập đến tính minh bạch thông tin như “Tính minh bạch trong BCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa” (2011)
Năm 2009, nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Tâm đã phân tích các nguyên nhân làm cho TTTC chưa thực sự minh bạch Cùng năm, tác giả Lâm Thị Hồng Hoa đã đưa ra 7 nguyên nhân chính dẫn đến sự thiếu minh bạch về thông tin bao gồm: (1) cách thức điều hành nền kinh tế, (2) quan niệm giữ bí mật trong kinh doanh bị lạm dụng, (3) năng lực quản trị còn yếu kém, tâm lý ngại thay đổi, (4) cách thức soạn thảo và trình bày văn bản
đã có dấu ấn của lợi ích cục bộ của ngành, địa phương, (5) chưa có chế tài cho việc xử phạt CBTT cho NĐT thiếu minh bạch, (6) chưa có hệ thống chỉ tiêu để người sử dụng
Trang 239 thông tin kiểm chứng thông tin đó minh bạch hay chưa, (7) hoạt động kiểm toán chưa thực sự góp phần cho thông tin được minh bạch
Năm 2012, luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thúy Anh cũng đề cập đến sự minh bạch thông tin trên TTCK Cũng trong năm này, tổ chức tài chính quốc tế (IFC) cũng đã nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến minh bạch thông tin và quản trị công ty của các CTNY tại TTCK Việt Nam Năm 2016, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Anh và các cộng sự “Minh bạch thông tin trước thềm hội nhập AEC” sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, triển khai từ nguồn dữ liệu thứ cấp là thông tin tài chính của 240 công ty niêm yết chọn ngẫu nhiên trên sàn HOSE năm 2014 được thu thập để xử lý và phân tích, sử dụng điểm số ARA năm 2014 của Công ty Dragon Capital đánh giá Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ minh bạch thông tin giữa các ngành không chênh lệch nhiều Nhóm công ty thuộc ngành nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng 18% và đạt điểm số ARA là 53.3 điểm Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số nguyên nhân các công ty chưa minh bạch thông tin như: chọn giữ lãi để công bố vào các đợt bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng, điều chỉnh lợi nhuận và hạch toán vào các giai đoạn tùy theo mục đích của từng doanh nghiệp
Từ năm 2012 cho đến nay, Sở GDCK Hà Nội đã triển khai chương trình đánh giá Công
bố thông tin và minh bạch hàng năm, liên tục nghiên cứu cập nhật các thay đổi trong văn bản pháp quy mới và các thông lệ quốc tế mới, đặc biệt là bộ nguyên tắc về quản trị công ty năm 2015 của OECD Năm 2018, HNX áp dụng chương trình này cho các doanh nghiệp đại chúng quy mô lớn trên thị trường UPCoM
Trên đây là khảo lược các nghiên cứu trong và ngoài nước, qua các góc độ nghiên cứu, thực hành, sự minh bạch thông tin tài chính được thể hiện qua sự sẵn có của thông tin
mà người muốn sử dụng mong muốn, và các thông tin chất lượng có đặc tính thể hiện
sự sẵn có thông qua các tiêu chí: sự kịp thời, sự thuận tiện, sự chính xác, sự đầy đủ và
sự nhất quán
1.1.2 Các phương pháp đo lường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC
Đo lường mức độ minh bạch và CBTT có ý nghĩa rất quan trọng đối với các CTNY nói riêng và sự phát triển của thị trường chứng khoán nói chung NĐT thường đo lường mức
độ minh bạch thông tin của CTNY thông qua BCTC đã được kiểm toán với BCTC được CBTT chính thức, sự khác biệt giữa hai báo cáo này ít nhiều phản ánh sự minh bạch thông tin tài chính của CTNY Do cách tiếp cận theo nhiều quan điểm và mức độ khác
Trang 2410 nhau nên việc đo lường sự minh bạch thông tin nói chung và minh bạch thông tin tài chính nói riêng được đo bằng nhiều biến đại diện và phương pháp khác nhau Tuy nhiên,
để đánh giá mức độ minh bạch thông tin của một công ty là một nhiệm vụ rất khó khăn, hiểu đầy đủ về minh bạch thông tin là điều rất phức tạp Vì thế cho đến nay, vẫn chưa
có một công thức hay thước đo chung nào được đưa ra để đánh giá mức độ minh bạch thông tin của một công ty
1.1.2.1 Chỉ số CIFAR của IAAT (1995)
Chỉ số CIFAR (the Center for International Financial Analysis and Research) là chỉ số được xây dựng năm 1995 bởi Trung tâm phân tích và nghiên cứu tài chính quốc tế (IAAT – International Accounting and Auditing Trends), chỉ số này gồm 90 khoản mục TTTC và phi tài chính được công bố trên các báo cáo thường niên của các CTNY Báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, phương pháp
kế toán, dữ liệu giá cổ phiếu, quản trị công ty (giám đốc, HĐQT, lương thưởng, cổ đông lớn, …) và các thông tin khác là các khoản mục thông tin được sử dụng để tính chỉ số CIFAR Theo quan điểm của chỉ số CIFAR có mối quan hệ thuận chiều mức độ CBTT
và sự minh bạch thông tin, sự minh bạch của thông tin có thể đo lường bằng mức độ CBTT
Nghiên cứu của La Porta, Lopez-De-Silanes, Shleifer và Vishny (1999) sử dụng chỉ số này làm thước đo chất lượng của hệ thống kế toán Nghiên cứu của Bushman và cộng
sự (2001); Jeffrey J và Marie E Archambault (2003) sử dụng chỉ số này làm thước đo mức độ CBTT Chỉ số này được xây dựng tùy thuộc vào môi trường kinh doanh, pháp luật của từng quốc gia
1.1.2.2 Chỉ số T&D của Standard & Poor’s (2001)
Năm 2001, một cách thức xếp hạng tính minh bạch và công bố thông tin (Transparency and Disclosure - T&D) lần đầu tiên được đưa ra cho hơn 300 doanh nghiệp lớn ở các thị trường đang phát triển bởi tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới Standard and Poor’s T&D Index được S&P xây dựng bằng cách điều tra các CTNY bằng bảng hỏi với 98 câu hỏi được chia thành 3 nhóm gồm 109 tiêu chí dựa trên các báo cáo tài chính thường niên về việc thực hiện CBTT với 2 nội dung chính là thông tin về cơ cấu sở hữu, quyền của cổ đông và TTTC, hoạt động của công ty (thông qua báo cáo thường niên, thông tin về kinh doanh, thông tin về HĐQT và Ban điều hành, chế độ đãi ngộ đối với HĐQT và ban điều hành) Cụ thể:
Trang 2511
Bảng 1.1 Nội dung chỉ số T&D của Standard & Poor’s (2001)
Nhóm 1 28 câu hỏi
Liên quan đến minh bạch thông tin về cấu trúc sở hữu và quyền của nhà đầu tư Các câu hỏi này đề cập đến vấn đề minh bạch trong quyền sở hữu, mức độ tập trung quyền sở hữu, quy trình biểu quyết và họp cổ đông
Nhóm 2 35 câu hỏi
Liên quan đến minh bạch thông tin tài chính và tình hình kinh doanh Các câu hỏi này tập trung vào vấn đề mục tiêu kinh doanh, xem xét chi tiết chính sách kế toán và thông tin đối với kiểm toán viên
Nhóm 3 35 câu hỏi
Liên quan đến minh bạch thông tin về cơ cấu và hoạt động quản trị của hội đồng quản trị và ban giám đốc Các câu hỏi liên quan đến cấu trúc của ban giám đốc, vai trò của ban giám đốc, đào tạo
và khen thưởng giám đốc, phương pháp đánh giá nhà quản trị, …
(Nguồn: chỉ số T&D của Standard & Poor’s (2001))
Trong đó liên quan đến minh bạch TTTC gồm 30 khoản mục là chính sách kế toán, các chuẩn mực kế toán và áp dụng cho các khoản mục trên các BCTC, các khoản mục tuân thủ theo các chuẩn mực quốc gia, BCTC năm tuân thủ theo một trong các hệ thống chuẩn mực phổ biến: Chuẩn mực quốc tế (IFRS), chuẩn mực Hoa kỳ (U.S GAAP),
…Đối với TTCK Mỹ, mẫu báo cáo 10-K, các báo cáo gửi cơ quan nhà nước, báo cáo gửi tới các cổ đông được yêu cầu bởi Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SEC), cũng được căn cứ để xếp hạng chỉ số này
Các công ty được điều tra trả lời các câu hỏi dưới dạng “Yes/No” về các nội dung CBTT của công ty và được xếp hạng trên thang điểm 10 Sau đó căn cứ trên tỷ lệ giữa số lượng các yếu tố mà công ty đạt được so với tổng số 98 tiêu chí đã đặt ra để xếp hạng chung Chỉ số T&D ngoài việc được sử dụng để đánh giá và xếp hạng sự minh bạch và CBTT trên các TTCK, theo nghiên cứu của Mine Aksu (2006) chỉ số này được sử dụng để cải thiện sự minh bạch và CBTT của TTCK Instanbul, Thổ Nhĩ Kỳ
Tuy nhiên, nghiên cứu của Churchwell (2003) và Schnackenberg (2003) đưa ra nhận định rằng mức độ công bố thông tin của các công ty được xếp hạng và đánh giá bởi T&D của S&P chỉ dừng lại ở việc đánh giá các báo cáo chính công bố thông tin ra đại chúng xem các CTNY có công bố các thông tin liên quan hay không mà chưa đánh giá toàn diện được chất lượng của thông tin đã được công bố chính thức, bỏ qua một số các
Trang 2612 loại thông tin khác về công ty như nguồn thông tin trên website của công ty, … có thể dẫn đến sai sót trong việc đo lường tính minh bạch thông tin là hạn chế của chỉ số T&D
1.1.2.3 Hệ thống xếp hạng mức độ công bố và minh bạch hóa thông tin IDTRS (2003)
Năm 2003, theo sự chỉ đạo của SGDCK Đài Loan (TWSE) và Sàn Giao dịch chứng khoán phi tập trung (GTSM), Viện Nghiên cứu Chứng khoán và Hợp đồng tương lai (Securities and Futures Institute - SFI) đã công bố Hệ thống xếp hạng mức độ công bố
và minh bạch hóa thông tin (IDTRS – Information Disclosure and Transparency Ranking System) để đo lường mức độ minh bạch hóa thông tin của tất cả các CTNY trên TTCK Đài Loan trên 2 sàn giao dịch chứng khoán TWSE và GTSM, loại trừ một
số công ty đang gặp khó khăn về tài chính Tất cả các công ty niêm yết được chấm điểm, đánh giá dựa trên một hệ thống các tiêu chí về công bố thông tin Bộ tiêu chí này gồm
62 câu hỏi khi mới bắt đầu vào năm 2003, tăng lên thành 88 câu hỏi năm 2004 và đến năm 2012 là 113 câu hỏi Bộ tiêu chí gồm 5 nội dung chính, với các câu hỏi tương ứng
… Nội
Các câu hỏi, như: công ty có tự nguyện thông tin về
dự báo tài chính hay không? Công bố các yếu tố có thể làm thay đổi kết quả sản xuất, kinh doanh thực tế
Trang 27Công bố báo cáo
thường niên - công
bố thông tin trong
các báo cáo thường
niên
Nhằm đánh giá tính minh bạch về tình hình tài chính, khả năng hoạt động, chất lượng nhân viên, cơ cấu hội đồng quản trị và cơ cấu sở hữu
Nội
dung 5
Công bố thông tin
trên website của
Cụ thể như: Website có cho biết quy trình mua bán, thanh lý tài sản cố định? Mối quan hệ với nhà đầu tư?
Có cung cấp ghi âm hoặc video cuộc họp đại hội đồng cổ đông? Có công bố thành phần ban giám đốc,
bộ máy kiểm soát nội bộ và chức năng nhiệm vụ của họ?
(Nguồn: Hệ thống xếp hạng IDTRS (2003))
Hàng năm các kết quả xếp hạng theo chỉ số ITDRS sẽ được công bố rộng rãi làm cơ sở cho các nghiên cứu cũng như các thay đổi trong thực tế về chính sách quản lý thị trường
và quản trị của các CTNY
Mô hình nghiên cứu của Yu-Chih Lin và cộng sự (2007) đã dựa trên chỉ số Hệ thống xếp hạng về sự minh bạch và công bố thông tin ITDRS, sử dụng cơ sở dữ liệu của các CTNY trên TTCK Đài Loan trong năm tài chính 2003 và 2004, để đánh giá mức độ minh bạch thông tin của các CTNY ở Đài Loan để xem xét mối quan hệ giữa minh bạch
thông tin và thu nhập kế toán Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của nhóm tác giả cho
thấy rằng, mức độ minh bạch thông tin được đo bằng chỉ số ITDRS làm giảm sút thông tin về thu nhập kế toán Tuy nhiên, nếu mức độ minh bạch thông tin được đo bằng tỷ số các khoản đầu tư cổ phiếu dài hạn thì thông tin thu nhập kế toán sẽ gia tăng ở các công
ty có mức độ minh bạch cao Kết quả cũng cho thấy, theo đánh giá của nhà đầu tư, số liệu của kế toán hữu ích và có giá trị hơn so với kết quả xếp hạng của chỉ số ITDRS Nhóm tác giả cũng cho rằng sử dụng chỉ số ITDRS không phải là cách tốt để đánh giá
sự minh bạch của TTTC
Trang 2814 Nghiên cứu “Ảnh hưởng của hệ thống xếp hạng công bố và minh bạch thông tin đến các nhà đầu tư tại Đài Loan” của Huang, Chang, Fu (2007) đã đưa ra những bằng chứng cho thấy những ảnh hưởng nhất định của chỉ số IDTRS, nó góp phần cảnh báo sớm những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai, và khẳng định chỉ số IDTRS góp phần quan trọng trong việc cải thiện tình trạng minh bạch thông tin trên thị trường, gia tăng giá trị doanh nghiệp, tạo lập và giữ vững niềm tin của các nhà đầu tư
1.1.2.4 Đo lường công bố và minh bạch thông tin theo nguyên tắc Quản trị công ty của OECD (2004)
Năm 1999, bộ tiêu chí này của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) được phê chuẩn lần đầu và sửa đổi vào năm 2004 Về bản chất, khi tình hình có sự thay đổi quan trọng, bộ nguyên tắc này luôn được phát triển và cần được xem xét lại
Bảng 1.3 Nội dung của nguyên tắc Quản trị công ty của OECD (2004)
Mục Tiêu chí Nội dung chính
I
Đảm bảo Cơ sở
cho một Khuôn
khổ Quản trị
Công ty Hiệu quả
Khuôn khổ quản trị công ty cần thúc đẩy tính minh bạch
và hiệu quả của thị trường, phù hợp với quy định của pháp luật, và phân định rõ ràng trách nhiệm giữa các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi
III Đối xử Bình đẳng đối với Cổ đông
Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo sự đối xử bình đẳng đối với mọi cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu số
và cổ đông nước ngoài Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại hiệu quả khi quyền của họ bị vi phạm
IV
Vai trò của các
Bên có Quyền lợi
liên quan trong
Quản trị Công ty
Khuôn khổ quản trị công ty phải công nhận quyền của các bên có quyền lợi liên quan đã được pháp luật hay quan hệ hợp đồng quy định và phải khuyến khích sự hợp tác tích cực giữa công ty và các bên có quyền lợi liên quan trong việc tạo dựng tài sản, việc làm và ổn định tài chính cho doanh nghiệp
V Công bố Thông tin và Tính minh
bạch
Khuôn khổ quản trị công ty phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty
VI Trách nhiệm của Hội đồng Quản trị
Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo định hướng chiến lược của công ty, giám sát có hiệu quả công tác quản lý của Hội đồng Quản trị và trách nhiệm của Hội đồng Quản trị đối với công ty và cổ đông
(Nguồn: Nguyên tắc Quản trị công ty của OECD (2004))
Trang 2915 Trong đó mục V của bộ nguyên tắc OECD về Công bố thông tin và Tính minh bạch gồm 6 thành phần từ A đến F cụ thể như sau:
Thành phần Nội dung
A Các nội dung được yêu cầu CBTT
B Chất lượng của nội dung CBTT
C Yêu cầu của đơn vị kiểm toán hàng năm
D Trách nhiệm của kiểm toán độc lập
F Các biện pháp phân tích, tư vấn có liên quan tới quyết định của nhà đầu tư
(Nguồn: Mục V - Nguyên tắc Quản trị công ty của OECD (2004))
Năm 2005, nhóm tác giả Cheung và cộng sự trong nghiên cứu “Determinants of Corporate Disclosure and Transparency: Evidence from Hong Kông and Thailand” đã
sử dụng bảng khảo sát được thiết kế dựa trên nguyên tắc quản trị của OECD do học viện Hiệp hội các giám đốc của Thái Lan thực hiện với số lượng 265 CTNY trên TTCK Thái Lan và 148 CTNY trên TTCK Hồng Kông để xem xét đánh giá các mức độ công bố thông tin và tính minh bạch của các CTNY ở 02 thị trường là Thái Lan và Hồng Kông,
vì 2 quốc gia này bằng cách thức khác nhau vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính năm
1997 Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về mức độ công bố và minh bạch thông tin của CTNY TTCK Thái Lan và Hồng Kông
Năm 2012, bảng câu hỏi xây dựng từ các nguyên tắc quản trị của OECD cũng được Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) phối hợp với UBCKNN ở góc độ nghiên cứu của các tổ chức quốc tế sử dụng trong phần đánh giá mức độ công bố và minh bạch thông tin của các công ty cổ phần đại chúng thuộc các chương trình tư vấn đánh giá thẻ điểm quản trị công ty của Việt Nam Thông qua kết quả khảo sát và dữ liệu nghiên cứu của 100 CTNY trên TTCK VN, kết quả nghiên cứu cho thấy các CTNY đã cung cấp thông tin chung chung, mức điểm trung bình về minh bạch và công bố thông tin chỉ đạt 40,1%, chưa đạt được một nửa điểm số cần đạt đối với hoạt động CBTT có chất lượng Tuy nhiên, nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến vấn đề QTCT, minh bạch và CBTT chỉ là một vấn đề đặt ra trong nội dung nghiên cứu về QTCT nên kết quả phân tích chưa đi sâu về mức độ minh bạch TTTC của các CTNY Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở việc phân tích thực trạng về mức độ MBTT nói chung và minh bạch TTTC nói riêng của các CTNY
Trang 30Bảng 1.4 Cách để đo lường mức độ minh bạch TTTC
Cách 1
Đánh giá mức độ minh bạch thông tin
tài chính dựa trên các đặc điểm của
Để làm cơ sở xây dựng bảng câu hỏi, đối chiếu, sau đó so sánh với cách 2
Cách 2
- Mục đích đo lường mức độ minh
bạch TTTC và chứng minh các giả
thuyết nghiên cứu của tác giả,
- Sử dụng phiếu khảo sát để đánh giá
(Theo Nghiên cứu của Ts Lê Thị Mỹ Hạnh (2015))
Tuy nhiên việc dựa vào phiếu khảo sát nhà đầu tư để đo lường phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người khảo sát, dữ liệu tác giả thu thập chỉ 2 năm, sử dụng mô hình hồi quy
đa biến để xác định nhân tố ảnh hưởng mức độ minh bạch TTTC có độ tin cậy không cao
1.1.2.5 Chỉ số GTI của Singapore (2009)
Năm 2009, nhóm các chỉ số quản trị và minh bạch thông tin (Governance and Transparency Index - GTI) được ra đời với sự tài trợ của CPA Australia và sự hỗ trợ của Hiệp hội Đầu tư và Quản lý Singapore, tờ Business Times, Trung tâm quản trị công ty (CGIO), các học viện và các tổ chức thuộc Trường Kinh doanh - Đại học Quốc gia
Trang 3117 Singapore phối hợp cùng xây dựng để đánh giá mức độ minh bạch của các CTNY thay thế cho Chỉ số minh bạch thông tin công ty (CTI) đã sử dụng từ năm 2000
Chỉ số này được chia thành 2 nhóm chính gồm: quản trị công ty và minh bạch thông tin, với số điểm đánh giá cao nhất cho mỗi nhóm lần lượt là 75 và 25 Các điểm cơ bản đánh giá công ty dựa trên bốn vấn đề:
Bảng 1.5 Nội dung của Chỉ số GTI của Singapore (2009)
Quản trị
công ty
Về hội đồng quản trị và ban giám đốc 35 điểm
Minh bạch
thông tin Về minh bạch và mối quan hệ với nhà đầu tư 25 điểm
(Nguồn: Chỉ số GTI của Singapore (2009))
Tổng điểm GTI của các công ty niêm yết trên TTCK Singapore được cộng thêm điểm hoặc bị trừ điểm từ các điểm điều chỉnh bao gồm: đánh giá “chế độ đãi ngộ và hệ thống thưởng phạt” Các nguồn thông tin sơ cấp được sử dụng, như: các báo cáo thường niên của năm trước đó, các thông tin công bố trên SGDCK Singapore (SGXNet) hoặc website của công ty để đánh giá được tổng điểm GTI
Các hình thức mẫu được cung cấp trên website của báo Business Times, Trung tâm Quản trị doanh nghiệp và Báo cáo tài chính Singapore (CGFR) và CPA Australia để các công ty có thể lấy, điền thông tin và tự đánh giá điểm GTI của mình Đây cũng là điểm nổi bật của phương pháp này So với các phương pháp đánh giá minh bạch thông tin khác, điểm mới của phương pháp này là CGFR hoặc CPA Australia chi nhánh tại Singapore sẽ đưa ra những nhận xét sau khi nhận được bản tự đánh giá này từ các công
ty gửi, việc này sẽ giúp cho công ty có thể cải thiện được chỉ số này, cho phép các công
ty có thể chủ động hơn trong việc cải thiện niềm tin đối với các nhà đầu tư
Tuy nhiên, GTI vẫn chưa có chỉ số đánh giá riêng tính minh bạch thông tin của các công
ty niêm yết, và GTI vẫn cần tiếp tục cải thiện hơn nữa về mặt nội dung, như: chú trọng hơn đến vấn đề công bố chính sách mua - bán cổ phiếu của công ty, thâm niên của giám đốc độc lập, công bố thông tin về việc bầu lại CEO hay công bố các thông tin về rủi ro phi tài chính, … vì hiện tại GTI là chỉ số tổng hợp đánh giá cả tình hình quản trị công ty
và minh bạch thông tin của các công ty niêm yết trên TTCK Singapore
Trang 322 nhóm nhân tố: (1) Minh bạch TTTC (tính kịp thời, độ tin cậy, khả năng tiếp cận thông tin); (2) MBTT quản trị Các thành phần ảnh hưởng đến minh bạch công ty như sau: (1) Báo cáo công ty; (2) Khả năng thu thập thông tin riêng và mức độ truyền thông; (3) Phổ biến thông tin (Các kênh truyền thông) Cụ thể như sau:
Hình 1.1: Các thành phần ảnh hưởng đến minh bạch công ty theo kết quả nghiên cứu của Robert Bushman và cộng sự (2001)
(Theo nghiên cứu của Robert Bushman và cộng sự (2001))
Nghiên cứu này cũng đánh giá mức độ ảnh hưởng của nhân tố luật pháp và kinh tế đến tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp thông qua mẫu khảo sát của các CTNY trên
41 đến 46 quốc gia Kết quả nghiên cứu cho thấy minh bạch trong QTCT liên quan mật thiết với cơ chế pháp lý, đến chính sách kinh tế, đến quy mô doanh nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu của Bushman và nhóm tác giả chỉ dừng lại ở mức thống kê mô tả các nhân
tố liên quan đến tính minh bạch thông tin và trình bày các thước đo để đo lường tính
Báo cáo công ty
- Độ tin cậy của BCTC (AUDIT));
Khả năng thu thập thông tin
riêng và mức độ truyền thông
Minh bạch công ty
Phổ biến thông tin (Các kênh
truyền thông)
Trang 3319 minh bạch thông tin mà chưa đưa ra được mối tương quan giữa các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin
Almazan và cộng sự (2002) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa minh bạch thông tin với
cơ cấu vốn của doanh nghiệp Nghiên cứu của Robert và Abbie (2003) nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin, đặc biệt là thông tin từ BCTC kiểm toán và vấn đề quản trị công ty Mô hình nghiên cứu của Jeffrey và Marie E Archambault (2003) đưa
ra giả thuyết về các nhân tố tài chính ảnh hưởng đến mức độ CBTT của doanh nghiệp là: quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, chính sách cổ tức, công ty kiểm toán và đòn bẩy tài chính ở góc độ công ty Nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu trên với mẫu khảo sát là 1.000 công ty công nghiệp hàng đầu ở 41 quốc gia (trong quá trình chạy mô hình thì chỉ còn lại 33 quốc gia) của nhóm tác giả có kết quả phù hợp với các giả thuyết quá trình hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các nhân tố quy mô công ty, ngành nghề kinh doanh và doanh thu xuất khẩu ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các CTNY Riêng nhân tố đòn bẩy tài chính, chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến mức độ CBTT Jeffrey J và Marie E Archambault kết luận rằng CBTT như là một chức năng của văn hóa, hệ thống chính trị và kinh tế quốc gia và các hệ thống chính sách tài chính với hoạt động của công ty Ngoài ra, nhóm tác giả cũng cho rằng CBTT là một quá trình phức tạp chịu sự ảnh hưởng bởi một tập hợp các yếu tố
Theo nghiên cứu “What Determines Corporate Transparency?” của Robert Bushman, Piotroski & Smith (2004) phạm vi toàn thế giới, nghiên cứu tại 45 quốc gia, phân tích
về sự minh bạch hóa thông tin của CTNY dựa trên 2 nhóm yếu tố: thông tin tài chính (tính kịp thời, độ tin cậy, khả năng tiếp nhận thông tin) và thông tin quản trị Kết quả nghiên cứu cho thấy minh bạch trong quản trị công ty liên quan đến chế độ pháp lý, minh bạch thông tin tài chính liên quan đến chính sách kinh tế; ở các nước thông luật tính minh bạch trong quản trị công ty cao hơn, ở các quốc gia có nền kinh tế có đặc điểm
sở hữu nhà nước thấp minh bạch thông tin tài chính cao hơn; doanh nghiệp có quy mô lớn thì mức độ minh bạch thông tin tài chính cao hơn, nhưng quy mô doanh nghiệp lại không liên quan đến mức độ minh bạch trong quản trị công ty Tuy nhiên nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức trình bày thước đo mức độ minh bạch thông tin, thống kê mô tả các nhân tố liên quan đến tính minh bạch thông tin mà chưa đưa ra mối tương quan giữa tính minh bạch thông tin và các nhân tố ảnh hưởng Cùng năm, nghiên cứu của các tác
Trang 3420 giả Assaf và Efraim đã phân tích mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nghiên cứu của Cheung và cộng sự (2005) dựa trên nghiên cứu của Bushman, Piotroski
& Smith (2004) đưa ra mô hình nghiên cứu tại Thái Lan và Hồng Kông, 8 biến thuộc 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT và tính minh bạch thông tin là: nhóm nhân
tố tài chính (mô hình 5 biến: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, kết quả tài chính, tài sản đảm bảo, hiệu quả sử dụng tài sản) và nhóm nhân tố quản trị công ty (mô hình 3 biến gồm: quyền sở hữu, cơ cấu HĐQT và quy mô của HĐQT)
Hình 1.2: Các thành phần ảnh hưởng đến minh bạch công ty theo nghiên cứu của Cheung và cộng sự (2005)
(Theo nghiên cứu của Cheung và cộng sự (2005))
Các nhân tố tài chính giải thích cho sự thay đổi mức độ CBTT và minh bạch thông tin cho các doanh nghiệp ở Hồng Kông, nhưng lại không ảnh hưởng đối với CTNY ở TTCK Thái Lan Các nhân tố quản trị công ty (quy mô và cơ cấu HĐQT) có ảnh hưởng đến mức độ CBTT và minh bạch ở TTCK Thái Lan nhưng không ảnh hưởng ở TTCK Hồng Kông Biến cơ cấu HĐQT “tỷ lệ GĐ điều hành không phải là thành viên HĐQT” càng lớn thì mức độ minh bạch và CBTT của CTNY càng cao ở cả 2 TTCK Nghiên cứu thực nghiệm ở TTCK Thái Lan cho thấy việc CBTT và minh bạch thông tin tốt hơn do quản
- Hiệu quả sử dụng tài sản
Nhóm nhân tố quản trị công ty:
- Quyền sở hữu,
- Cơ cấu HĐQT và
- Quy mô của HĐQT
Mức độ CBTT và tính minh bạch thông tin
Trang 3521 trị công ty tốt Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là chủ yếu so sánh mức độ ảnh hưởng của các nhân tố giữa 2 TTCK Thái Lan và Hồng Kông, đồng thời chỉ mới thống kê mô
tả mức độ ảnh hưởng của 2 nhóm nhân tố tài chính và quản trị mà chưa giải thích được nguyên nhân của các kết quả từ nghiên cứu thực nghiệm tại sao các nhân tố tài chính không ảnh hưởng đối với mức độ CBTT và minh bạch thông tin của CTNY ở TTCK Thái Lan nhưng lại có ảnh hưởng ở Hồng Kông? Năm 2010, nhóm tác giả Yan-LeungCheung và cộng sự dựa trên nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD đánh giá tính minh bạch 100 công ty lớn niêm yết của Trung Quốc, kết quả cho thấy có mối quan hệ tích cực và quan trọng giữa tính minh bạch của công ty và giá trị thị trường, sự tách bạch giữa CEO và chủ tịch HĐQT có xu hướng công bố nhiều hơn dựa trên cơ sở
tự nguyện
Nhóm tác giả Bartley và cộng sự (2007) có bài viết “Auditor Fees, Market Microstructure, and Firm transparency” (Journal of Business Finance & Accounting) đưa ra 2 giả thuyết là (1) phí kiểm toán càng cao thì rủi ro gian lận BCTC càng lớn, (2) doanh nghiệp trả phí cho danh tiếng của Công ty kiểm toán thì nhận thức của người sử dụng BCTC được cải thiện Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cũng chứng tỏ giả thuyết (1) của tác giả là đúng, giả thuyết (2) trong mẫu nghiên cứu của nhóm tác giả chưa tìm thấy mối liên hệ như giả thuyết Ngoài ra, nhóm tác giả Heibatollah Sami and Haiyan Zhou (2008) đã phân tích tác động của việc ban hành một loạt các chuẩn mực kiểm toán mới (năm 1996) đến môi trường thông tin của TTCK Trung Quốc
Nghiên cứu của Jouini Fathi (2013) về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tài chính (TTTC) được công khai của các CTNY tại Pháp, xem xét mối quan hệ giữa chất lượng của các TTTC được công khai và cơ chế quản trị đối với 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng gồm: (1) Đặc điểm của DN (Đòn bẩy, lợi nhuận, tình trạng niêm yết và ngành); (2) Đặc điểm của hội đồng quản trị; (3) Chất lượng kiểm toán; (4) Cơ cấu sở hữu đối với các DN Pháp được niêm yết trong thời gian 5 năm từ năm 2004 đến năm 2008 Kết quả cho thấy, những tác động tích cực của một số biến số đến chất lượng TTTC được công bố Tuy nhiên, tỷ lệ nắm giữ của các cổ đông tổ chức có tác động ngược chiều
Trang 3622
Hình 1.3: Các thành phần ảnh hưởng đến minh bạch công ty theo nghiên cứu của Jouini Fathi (2013)
(Theo nghiên cứu của Jouini Fathi (2013))
Năm 2015, Zinatul Iffah Binti Abdullah và các cộng sự đã nghiên cứu tìm ra mối quan
hệ giữa chuẩn mực kế toán, quản trị DN, kiểm soát bên ngoài, kiểm soát nội bộ và tiêu chuẩn đạo đức với BCTC dựa trên quan điểm của kiểm toán viên và quan điểm quản lý
ở Malaysia Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố trên đều ảnh hưởng đến thông tin trên BCTC Trong đó, nhân tố chuẩn mực kế toán, kiểm soát nội bộ, tiêu chuẩn đạo đức
có mức độ ảnh hưởng đến BCTC cao hơn các tiêu chí còn lại
Các nghiên cứu trên thế giới có sự kế thừa, ngày càng hoàn thiện về mặt nội dung và ý nghĩa, phân nhóm nhân tố ảnh hưởng mức độ minh bạch thông tin ngày càng hệ thống
và toàn diện hơn Không gian từ mức độ đa quốc gia, một quốc gia đến góc độ công ty,
để có những so sánh về mức độ ảnh hưởng qua đó có những nhận định cụ thể hơn Phương pháp nghiên cứu định lượng với cỡ mẫu ngày càng rộng cho độ tin cậy cao khắc phục những hạn chế của các nghiên cứu trước Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu ngoài một
số nhân tố được hầu hết các nghiên cứu đồng tình thì có nhiều nhân tố sau khi nghiên cứu thực nghiệm có những khác nhau, thậm chí là mâu thuẫn Như nhân tố đòn bẩy tài chính, theo nghiên cứu của Ahmed và Courtis (1999), Jeffrey và Marie (2003) có mối
Chất lượng kiểm toán
Cơ cấu sở hữu
Trang 3723 quan hệ thuận chiều giữa đòn bẩy tài chính và CBTT, còn Jaggi và Low (2000) cũng đồng ý trong trường hợp quốc gia theo trường phái thông luật, ngược lại, không có mối quan hệ nào ở quốc gia hệ thống pháp luật theo luật La Mã Nghiên cứu thực nghiệm của Meek (1995) cũng cho thấy không có mối quan hệ nào giữa đòn bẩy tài chính và CBTT, còn Wallace (1994) và Zarzeski (1996) cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa đòn bẩy tài chính và CBTT Sự khác nhau có thể do sự khác biệt mẫu nghiên cứu thực nghiệm, cỡ mẫu, thời điểm nghiên cứu, trình độ phát triển kinh tế của các nước ở những giai đoạn có sự khác biệt Từ đó, cần thận trọng trong lựa chọn mẫu và cỡ mẫu, và xem xét đánh giá chọn nhân tố nào phù hợp với môi trường Việt Nam
1.2.2 Nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của tác giả Lê Trường Vinh với luận án tiến sĩ “Minh bạch thông tin các công ty niêm yết” (2008) lấy mẫu là 30 CTNY trên HOSE cũng đã xây dựng mô hình 5 biến nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của các CTNY gồm: quy
mô doanh nghiệp, vòng quay tổng tài sản, lợi nhuận, tài sản cố định và nợ phải trả Với thông tin thu thập được qua cuộc khảo sát bằng 600 bảng câu hỏi được dùng để thăm dò thực tế từ các nhà đầu tư, cùng nguồn dữ liệu sơ cấp được xử lý bằng SPSS Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có biến lợi nhuận (PROFIT) đại diện cho tình hình tài chính ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các CTNY Các nhân tố thuộc về quản trị công ty chưa được xem xét có ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin hay không? Công trình nghiên cứu về hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin của tác giả Nguyễn Đình Hùng (2010) đề cập đến “Hệ thống kiểm soát sự minh bạch TTTC công bố của các CTNY tại Việt Nam’’, thông qua việc khảo sát 154 CTNY trên HOSE (công ty có thời điểm niêm yết từ 18/07/2000 đến 22/12/2008), dựa trên BCTC và báo cáo thường niên năm 2007 và 2008 đã xác định mối quan hệ và cơ chế hoạt động của hệ thống kiểm soát sự minh bạch TTTC bao gồm 6 thành phần: Hệ thống chuẩn mực kế toán, quy định liên quan đến công bố BCTC, kiểm soát nội bộ, ban giám đốc, ban kiểm soát, kiểm toán độc lập Kết quả nghiên cứu cho thấy từ việc không chủ động CBTT minh bạch thông tin tài chính từ các CTNY dẫn đến mức độ chất lượng thông tin được CBTT được đánh giá kém Tuy nhiên, nghiên cứu mới dừng lại ở việc thống kê mô tả của các biến đại diện đó mà chưa thể hiện mối quan hệ giữa các nhân tố nghiên cứu cũng như xác định được mức độ ảnh hưởng của các biến đó như thế nào đến sự minh bạch thông tin Đồng
Trang 3824 thời, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp định tính để biện luận cho các kết luận của mình
Nghiên cứu về các giải pháp nâng cao sự minh bạch TTTC của các công ty cổ phần niêm yết của Ngô Thị Thanh Hòa (2013) thông qua sự tự nguyện CBTT trên bản thuyết minh BCTC Thông qua thống kê số lượng thuyết minh của 100 CTNY, thời gian nghiên cứu trong 2 năm 2010 và 2011, đưa ra nhận định Cùng năm, nghiên cứu của Phạm Ngọc
Vỹ An (2013) khảo sát 30 doanh nghiệp và 20 nhà đầu tư để đánh giá tính minh bạch Các nhân tố được tác giả phân tích ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các CTNY trên HOSE gồm: Quy mô doanh nghiệp, vòng quay tài sản, lợi nhuận, tài sản cố định, nợ phải trả Kết quả khảo sát cho thấy Quy mô doanh nghiệp, vòng quay tài sản
và lợi nhuận có ý nghĩa thống kê, các biến còn lại không có ý nghĩa
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính MBTT của các CTNY trên HNX cùa tác giả Dương Thị Cẩm Vân (2014) đưa ra 8 giả thuyết tương ứng 8 biến độc lập ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các CTNY Kết quả cho thấy 4 nhân tố: Quy mô, ROA, thành phần và quy mô HĐQT ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của CTNY trên HNX Tác giả xây dựng bảng câu hỏi để chấm điểm mức độ MBTT theo nguyên tắc OECD còn mang tính cảm tính Cùng năm này, nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Nga (2014), đã tiến hành chọn ngẫu nhiên 155 đối tượng là kế toán trưởng, kế toán viên, giám đốc/phó giám đốc trong 52 DN để khảo sát thông qua hình thức phát phiếu khảo sát trực tiếp Thông qua ảnh hưởng của 2 biến độc lập là nhân sự kế toán và nhà quản lý; Hệ thống pháp luật và quản lý, giám sát của Nhà nước cho thấy, 2 biến này ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng thông tin kế toán của các DN Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả đã tổng hợp lý thuyết liên quan khái niệm về chất lượng thông tin kế toán và thang đo đo lường Đồng thời, kiểm định được một số nhân tố tác động đến chất lượng thông tin kế toán, tuy nhiên, chưa không xây dựng các thang đo đo lường các nhân tố tác động
Nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin BCTC của các CTNY trên HOSE” của tác giả Nguyễn Nhất Nam (2015) sử dụng phương pháp định tính và định lượng, xây dựng mô hình hồi quy các biến: quy mô, đòn bẩy tài chính, Lợi nhuận, hiệu quả sử dụng tài sản, khả năng thanh toán, thời gian hoạt động, sở hữu nhà nước, kiểm toán quy mô HĐQT, sự kiêm nhiệm giữa chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc và Quy
mô ban kiểm soát ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin BCTC Kết quả nghiên cứu
Trang 3925 cho tính minh bạch thông tin BCTC các CTNY trên HOSE ảnh hưởng bởi 7 biến: Quy
mô, đòn bẩy tài chính, tỷ suất sinh lời, khả năng thanh toán, thời gian hoạt động, kiểm toán, hiệu quả sử dụng tài sản Hạn chế của nghiên cứu là tác giả chỉ sử dụng dữ liệu chéo 1 năm 2013 để nghiên cứu
Nghiên cứu của Ts Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) đề xuất mô hình nghiên cứu chỉ số minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam gồm có 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch TTTC của các công ty niêm yết là nhóm nhân tố tài chính và nhóm nhân tố quản trị Nghiên cứu này sử dụng số liệu của 178 CTNY trên HOSE và đưa ra 8 nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC của các CTNY gồm: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, lợi nhuận, hiệu quả sử dụng tài sản, công ty kiểm toán, cơ cấu HĐQT, quy mô HĐQT, sự kiêm nhiệm giữa Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc
Hình 1.4: Mô hình nghiên cứu chỉ số minh bạch TTTC của Ts Lê Thị Mỹ Hạnh (2015)
(Theo nghiên cứu của Ts Lê Thị Mỹ Hạnh (2015))
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở TTCK Việt Nam cho thấy trong mô hình hồi quy nhóm nhân tố phản ánh đặc điểm tài chính gồm: đòn bẩy tài chính, lợi nhuận (ROE) và công ty kiểm toán có mối tương quan thuận với mức độ minh bạch TTTC còn và nhóm nhân tố phản ảnh đặc điểm quản trị gồm: cơ cấu HĐQT (Giám đốc điều hành không có
Nhóm nhân tố tài chính:
- Quy mô công ty,
- Đòn bẩy tài chính,
- Lợi nhuận,
- Hiệu quả sử dụng tài sản
- Công ty kiểm toán,
Nhóm nhân tố quản trị công ty:
- Cơ cấu HĐQT
- Quy mô của HĐQT
- Sự kiêm nhiệm giữa Chủ tịch
HĐQT và Tổng Giám đốc
Minh bạch TTTC
Trang 4026 trong HĐQT) có mối tương quan nghịch với mức độ minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK VN Tuy nhiên, tác giả chỉ tập trung vào CTNY trên sàn HOSE chưa bao quát hết TTCK và cũng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch TTTC thông qua các kết quả đã được trình bày trên BCTC của công ty niêm yết mà chưa đề cập đến đến các nhân tố mang tính nguyên nhân như: Hệ thống pháp lý
về kế toán, kiểm toán và công bố thông tin, năng lực và đạo đức nghề nghiệp của ban lãnh đạo, nhân viên kế toán, …
Theo nghiên cứu “Minh bạch thông tin trước thềm hội nhập AEC” của Nguyễn Thị Lan Anh và các cộng sự (2016) trong 5 yếu tố gồm tài sản số định, quy mô doanh nghiệp, vòng quay tổng tài sản, lợi nhuận và nợ phải trả chỉ có yếu tố quy mô doanh nghiệp có mối tương quan với tính minh bạch CBTT của CTNY trên sàn HOSE Nghiên cứu “Mối quan hệ giữa tính minh bạch trong CBTT trên BCTC và quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCK Việt Nam” sử dụng mà không kiểm định mô hình Modified Jones (1995) có phù hợp với TTCK Việt Nam hay không để tính toán quản trị lợi nhuận, thu thập thông tin trên BCTC năm 2014 và năm 2015 Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC và mức độ quản trị lợi nhuận theo quy mô công ty hoặc theo nơi niêm yết chứng khoán và mối quan hệ ngược chiều giữa mức độ minh bạch trong CBTT thông tin trên BCTC và quản trị lợi nhuận, khi mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC của công ty thấp thì
có khả năng nó sử dụng quản trị lợi nhuận, công ty có hành vi quản trị lợi nhuận tăng thì mức độ minh bạch trong CBTT trên BCTC giảm và ngược lại Cùng năm, nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Ngô Xuân Ban (2017) điều chỉnh lại cách đo lường các đặc điểm của thông tin: sự tin cậy, đầy đủ, nhất quán so với nghiên cứu của Ts Lê Thị Mỹ Hạnh (2015), dữ liệu sử dụng là BCTC kiểm toán và báo cáo thường niên 4 năm (từ năm 2013 đến năm 2016), tác giả sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng, thông qua các kiểm định phù hợp tác giả lựa chọn một trong ba mô hình hồi quy dữ liệu bảng để ước lượng mô hình: (1)
mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS); (2) Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effect Model – REM); (3) Mô hình ảnh hưởng cố định (Fixed Effect Model – FEM) Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố Quy mô doanh nghiệp, mức sinh lời, uy tín của chủ thể