Những sai phạm điển hình trong thời gian qua có thể kể đến: việc thực hiện không đúng quy định của Đảng và Nhà nước trong tiếp nhận, bổ nhiệm công chức; có biểu hiện vụ lợi trong việc tu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NÔNG BÍCH THẢO
THANH TRA TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÔNG CHỨC –
TỪ THỰC TIỄN THANH TRA CỦA BỘ NỘI VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI – 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NÔNG BÍCH THẢO
THANH TRA TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÔNG CHỨC –
TỪ THỰC TIỄN THANH TRA CỦA BỘ NỘI VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Mã số: 8 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN QUỐC VĂN
HÀ NỘI – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép
từ bất kỳ nguồn nào hoặc hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả
Nông Bích Thảo
Trang 4Tác giả xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Quốc Văn, người trực tiếp hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin chân thành cảm ơn giáo viên chủ nhiệm Nguyễn Thị Ngân cùng toàn thể các thầy, cô giáo và cán bộ Học viện Hành chính Quốc Gia đã giảng dạy và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành khóa học và luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí, lãnh đạo Thanh tra Bộ Nội vụ
đã tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập thông tin và số liệu
để thực hiện luận văn này
Mặc dù đã cố gắng để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên do kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều, thời gian nghiên cứu ngắn, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của Quý thầy cô và các bạn để bản thân được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Nông Bích Thảo
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Tuyển dụng, sử dụng công chức TDSDCC
Văn bản quy phạm pháp luật VBQPPL
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÔNG CHỨC 8
1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của hoạt động thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức 8
1.1.1 Khái niệm thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 8
1.1.2 Đặc điểm thanh tra trong lĩnh vực tuyển dụng, sử dụng công chức 12
1.1.3 Vai trò của hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 16
1.2 Nội dung, nguyên tắc và quy trình tiến hành hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 19
1.2.1 Nội dung thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 19
1.2.2 Nguyên tắc thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 21
1.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 26
1.3.1 Yếu tố khách quan 26
1.3.2 Yếu tố chủ quan 31
Tiểu kết Chương 1 34
Chương 2 THỰC TRẠNG THANH TRA TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÔNG CHỨC CỦA THANH TRA BỘ NỘI VỤ 35
2.1 Khái quát chung về thanh tra Bộ Nội vụ 35
2.2 Thực tiễn nội dung và quy trình tiến hành hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức của Thanh tra Bộ Nội vụ 36
2.2.1 Nội dung thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức của Thanh tra Bộ Nội vụ 36
2.2.2 Quy trình tiến hành 41
2.3 Đánh giá kết quả hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức của Thanh tra Bộ Nội vụ 49
Trang 72.3.1 Những mặt đạt được và nguyên nhân 49
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 56
Tiểu kết Chương 2 61
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC THANH TRA TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÔNG CHỨC 62
3.1 Quan điểm về công tác thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 62
3.1.1 Quan điểm chỉ đạo về thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 62
3.1.2 Quan điểm của tác giả về công tác tuyển dụng, sử dụng công chức và hoạt động thanh tra trong lĩnh vực tuyển dụng, sử dụng công chức 63
3.2 Giải pháp bảo đảm hoạt động công tác thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 68
3.2.1 Giải pháp chung bảo đảm hoạt động công tác thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 68
3.2.2 Giải pháp đối với Bộ Nội vụ 74
Tiểu kết Chương 3 81
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài luận văn
Trong hoạt động của Nhà nước, đội ngũ công chức là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác xây dựng và thực thi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việc xây dựng một đội ngũ công chức đáp ứng đầy đủ cả về năng lực và phẩm chất, cống hiến hết mình cho nền công vụ là điều tất yếu trước tình hình đổi mới đất nước để xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, thống nhất và hiệu quả Trong đó, công tác tuyển dụng và sử dụng công chức là hai khâu trọng yếu, quyết định trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ công chức
Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Công tác cán bộ được đổi mới có vai
trò quyết định thực hiện thắng lợi mục tiêu đó” [2] Sau hơn 20 năm thực hiện,
đội ngũ cán bộ các cấp đã có bước trưởng thành, lớn mạnh về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên Đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng được đòi hỏi công việc, luôn tu dưỡng, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao, cống hiến cho sự
nghiệp vĩ đại của dân tộc
Công tác cán bộ được triển khai đồng bộ, toàn diện ở các khâu, trong đó có nhiều khâu tạo được sự chuyển biến tích cực như công tác: quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm và thực hiện chính sách cán bộ Nội dung, phương pháp, cách thức triển khai chặt chẽ, đúng nguyên tắc, quy trình Việc phân cấp quản lý cán bộ được thực hiện hợp lý hơn nhằm tăng cường phân cấp cho cấp dưới Công tác kiểm tra, giám sát công tác cán bộ được tăng cường;
Trang 9công tác bảo vệ chính trị nội bộ tiếp tục được quan tâm… qua đó từng bước góp phần đổi mới công tác cán bộ Việc đề bạt, bổ nhiệm, bố trí cán bộ bảo đảm chặt chẽ, đúng về thủ tục, đủ về tiêu chuẩn, điều kiện, phù hợp với năng lực, sở trường và triển vọng phát triển Không có tình trạng cục bộ, khép kín, lợi ích nhóm; lợi dụng để bố trí người nhà, người thân, người quen vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý dù không đủ điều kiện, tiêu chuẩn Các quy trình công tác cán
bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch, khoa học và dân chủ hơn Công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện đồng bộ, có hiệu quả hơn Việc
xử lý kịp thời, nghiêm minh các cá nhân, tổ chức vi phạm đã góp phần cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa tiêu cực trong công tác cán bộ đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận ấy, công tác cán bộ nói chung và công tác tuyển dụng, sử dụng công chức nói riêng vẫn còn tồn tại những bất cập và hạn chế gây xôn xao dư luận Những sai phạm điển hình trong thời gian qua có thể kể đến: việc thực hiện không đúng quy định của Đảng và Nhà nước trong tiếp nhận, bổ nhiệm công chức; có biểu hiện vụ lợi trong việc tuyển dụng, sử dụng công chức là người thân của lãnh đạo; bổ nhiệm sai quy trình, sử dụng công chức khi chưa đủ các tiêu chuẩn: thời gian công tác ở lĩnh vực mình phụ trách về chuyên môn nghiệp vụ ít nhất từ ba năm trở lên, có trình độ Trung cấp lý luận chính trị trở lên, đã qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước; cơ quan có số lượng cấp phó suýt soát tổng biên chế hay các sai phạm trong đánh giá chất lượng thí sinh ứng tuyển công chức: chấm giảm điểm để đánh trượt thí sinh, chấm khống hoặc nhắc bài, làm lộ đề… Nhiều sai phạm đã và đang diễn
ra ở nền công vụ nước nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ công chức, lãng phí nguồn nhân lực, công tác cán bộ tồn tại hành vi tham nhũng, tiêu cực, thiếu hiệu quả, kém chuyên nghiệp Điều này đã gióng lên hồi chuông báo động về việc thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, đặc biệt là
ở khâu tuyển dụng, sử dụng
Tại Hội nghị phòng chống tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ
Trang 10rõ quyền lực luôn có nguy cơ bị tha hóa cho nên phải thiết lập một cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực, quyền lực phải ràng buộc với trách nhiệm, “bất cứ
ai cũng không có quyền lực tuyệt đối ngoài pháp luật” Nghị quyết 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII cũng đề ra nhiệm vụ tăng cường kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức chạy quyền
Từ đó cho thấy, đẩy mạnh công tác thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về tuyển dụng, sử dụng công chức là yêu cầu cấp thiết trong tình hình mới, đặc biệt là việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác này nhằm phát hiện những sơ hở, hạn chế để có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục kịp thời
Nước ta đã có hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết
và hướng dẫn các nội dung thanh tra liên quan đến tuyển dụng và sử dụng công chức Hệ thống này cơ bản đã được hoàn thiện, đổi mới tạo cơ sở pháp lý cho công tác thanh tra được thực hiện trơn tru, hiệu quả Trải qua hơn 40 năm xây dựng và trưởng thành, Thanh tra Bộ Nội vụ đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp tổ chức nhà nước và sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống thanh tra nhà nước Mỗi năm thực hiện nhiều cuộc thanh tra ở lĩnh vực quản lý, đặc biệt là lĩnh vực tuyển dụng, sử dụng công chức, thực hiện giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân Qua các cuộc thanh tra đã phát hiện, ngăn chặn, xử lý, kiến nghị xử lý sai phạm, đề xuất nhiều biện pháp chấn chỉnh; đồng thời kiến nghị với cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật nhằm khắc phục thiếu sót, sơ hở trong công tác quản lý góp phần nâng cao hiệu quả công tác tổ chức nhà nước Quá trình hoạt động thanh tra thực tế của Thanh tra
Bộ Nội vụ cho thấy những thiếu hụt nhất định như: hệ thống pháp luật thanh tra thiếu chặt chẽ, cụ thể; công tác thanh tra còn bị động, không có nhiều chủ thể tham gia, chuyên trách, năng lực thanh tra chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn; kết luận thanh tra chưa được thực hiện nghiêm túc, biện pháp thiếu cứng rắn và chế tài chưa đủ sức răn đe
Trang 11Từ tình hình pháp luật và thực tiễn đòi hỏi bức thiết là cần phải có những nghiên cứu về đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra nói chung và thanh tra trong tuyển dụng, sử dụng công chức nói riêng, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức Với những lý do trên, em
lựa chọn đề tài: “Thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức - từ thực tiễn
thanh tra của Bộ Nội vụ” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến tổ chức và hoạt động của thanh tra nhà nước ở nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học, bài viết nghiên cứu pháp luật về thanh tra, thanh tra chuyên ngành như:
- Luận án Tiến sỹ Quản lý công: “Thẩm quyền thanh tra trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước”, Phạm Huỳnh Công, Hà Nội – 2018 Luận án làm bật lên thẩm quyền thanh tra trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay trên nhiều khía cạnh: luận giải các lý thuyết, nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật, chỉ ra mặt mạnh và hạn chế Từ đó đề xuất các giải pháp, khuyến nghị khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền thanh tra; các giải pháp đổi mới phương thức tổ chứ, cách thức hoạt động thanh tra, nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền thanh tra trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước ở nước ta;
- Luận văn Thạc sĩ Luật: “Tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa”, Trịnh Công Sơn, Hà Nội – 2017 Luận văn tập trung làm sáng tỏ những lý luận cơ bản và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Thanh tra cấp huyện, đánh giá những ưu, nhược điểm và đề xuất các định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác tổ chức và hoạt động của thanh tra huyện với vai trò là cơ quan tham mưu, giúp việc cho UBND huyện trong công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng trong thời gian tới;
- Luận văn Thạc sĩ Luật: “Pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế từ thực
Trang 12tiễn tỉnh Hà Nam”, Nguyễn Tuấn Linh, Hà Nội – 2016 Luận văn đã chỉ ra những cơ sở lý thuyết về thanh tra và thanh tra chuyên ngành, làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội, dung và vai trò của pháp luật thanh tra chuyên ngành y tế Trên
cơ sở đó, đánh giá các quy định của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế và thực tiễn thực hiện pháp luật thanh tra chuyên ngành y tế trên địa bàn, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế tại các địa phương trên cả nước;
- Luận văn Thạc sỹ Luật: “Thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực Nội vụ ở tỉnh Nam Định”, Nguyễn Thanh Thủy, Hà Nội – 2016 Từ cơ sở lý luận và thực trạng công tác thanh tra chuyên ngành Nội vụ trên địa bàn tác giả đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra chuyên ngành Nội vụ tại tỉnh Nam Định;
- Luận văn Thạc sĩ Luật: “Tổ chức và hoạt động của Thanh tra lao động, thương binh và xã hội – Thực trạng và giải pháp”, Nguyễn Thị Hồng Diệp, Hà Nội - 2009 Luận văn đã làm rõ khái niệm, đặc điểm về thanh tra và thực trạng
tổ chức, hoạt động của Thanh tra lao động, thương binh và xã hội; Trên cơ sở tham khảo mô hình tổ chức và hoạt động của các bộ, ngành trong nước cũng như
ở nước ngoài, chỉ ra những mô hình hiệu quả, tính khả thi và các điều kiện, giải pháp để thực hiện mô hình đó nhằm đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước trong lĩnh thương binh và xã hội;
- Luận văn Thạc sĩ Luật: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong tổ chức
và hoạt động của thanh tra ở Việt Nam”, Lê Thị Thu Oanh, Hà Nội – 2004; Tạp chí: “Thực hiện kết luận, kiến nghị sau thanh tra – thực trạng và giải pháp”, Nguyễn Thị Hồng Thúy, Tạp chí Thanh tra số 25/06/2015
Các công trình, luận văn trên đã tập trung nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn, đồng thời đưa ra những giải pháp tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả trong công tác thanh tra, thanh tra chuyên ngành cũng như phương thức
tổ chức và cách thức hoạt động của cơ quan Thanh tra
Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về thanh tra việc
Trang 13tuyển dụng, sử dụng công chức, sự tương quan giữa pháp luật về thanh tra và
pháp luật về cán bộ, công chức từ phương diện luật hành chính, hiến pháp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung và thực tiễn của hoạt động thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nội vụ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức, tập trung trong phạm vi của các Bộ, cơ quan ngang bộ, và các tổ chức hành chính trực thuộc tại Trung ương; các Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh và các tổ chức hành chính trực thuộc tại địa phương trong thời gian từ 2015 đến nay
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn nhằm làm rõ những vấn đề lý luận chung về thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức Trên cơ sở thực tiễn tìm
ra các giải pháp có tính khả thi để đảm bảo hoạt động thanh tra việc tuyển dụng,
sử dụng công chức có hiệu quả, góp phần xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh và hiện đại
Để đạt được các mục đích trên, đề tài luận văn có nhiệm vụ làm rõ những vấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức
- Phân tích và đánh giá thực trạng thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức
- Đề xuất quan điểm và giải pháp đảm bảo công tác thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài luận văn
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về tuyển dụng, sử dụng công chức
Trang 14Đồng thời, luận văn được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp; thống kê; điều tra xã hội học…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Góp phần làm rõ và sâu sắc hơn các yếu tố làm ảnh hưởng tới hiệu quả tổ chức và hoạt động thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức
Về mặt thực tiễn, luận văn cung cấp tài liệu tham khảo cho các cơ quan trực tiếp thực hiện chức năng thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức ở địa phương có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của mình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn có 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Chương 2: Thực trạng thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức của thanh
tra Bộ Nội vụ
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm hoạt động công tác thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÔNG CHỨC
1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của hoạt động thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức
1.1.1 Khái niệm thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
a) Khái niệm về thanh tra
Thuật ngữ thanh tra xuất phát từ gốc tiếng Latinh là “inspectare” có nghĩa
là “nhìn vào bên trong”, chỉ được kiểm tra, xem xét từ bên ngoài của chủ thể có thẩm quyền đối với hoạt động của đối tượng nhất định Khái niệm thanh tra theo
từ điển luật học Đức được hiểu là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định, đó là
sự tác động có tính trực thuộc Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học năm 2010 thì thanh tra được hiểu là sự kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp [44] Theo quan niệm này, thanh tra bao hàm kiểm soát, xem xét, phát hiện và ngăn chặn những gì trái với quy định
Ở mỗi quốc gia, khái niệm thanh tra được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau như: phạm vi hoạt động, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền thực hiện chức năng thanh tra Tùy thuộc vào chế độ chính trị, cấu trúc nhà nước và các đặc điểm riêng của mỗi quốc gia, dân tộc mà việc thiết lập
cơ quan thanh tra theo nhiều cách khác nhau như: cơ quan thanh tra nằm trong tổ chức trong hệ thống cơ quan hành pháp hoặc chức năng thanh tra gắn liền với kiểm toán và được tổ chức thành một cơ quan độc lập
Ở nước ta quan niệm về thanh tra được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau thể hiện qua mô hình nhà nước trong lịch sử, các quy định của pháp luật từng thời kỳ như: Thời phong kiến khái niệm thanh tra chưa được sử dụng nhưng có các chức quan làm công việc giống như thanh tra (Gián nghị đại phu, Ngự sử đài, Quan ngự sử )
Trang 16Thuật ngữ thanh tra mang tính pháp lý lần đầu tiên xuất hiện trong Sắc lệnh
số 64/SL ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chính phủ sẽ thành lập ngay một Ban thanh tra đặc biệt, có ủy nhiệm là đi giám sát tất cả công việc và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ” [21] Luật thanh tra năm 2010 khẳng định: “Thanh tra Nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo quy trình thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra
hành chính và thanh tra chuyên ngành” [27] Hiến pháp năm 2013 quy định chức
năng thanh tra gắn liền với nhiệm vụ của Chính phủ như sau: “tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham
nhũng trong bộ máy nhà nước ” [29]
Thanh tra có tác động tích cực đối với quản lý và góp phần nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước Trong vai trò của mình, thanh tra không chỉ là hoạt động kiểm tra, giám sát; kịp thời phát hiện sai phạm; kiến nghị, xử lý nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm và đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa mà hơn hết là phương tiện để chủ thể quản lý phát hiện những biểu hiện trì trệ, không phù hợp với thực tiễn khách quan của cơ chế, phương pháp quản lý
đã và đang cản trở các hoạt động quản lý, từ đó đề xuất các biện pháp cải cách hoàn thiện các hoạt động quản lý nhà nước
Khi tiến hành hoạt động thanh tra thì những hành vi vi phạm thường được
xử lý bằng các biện pháp kỷ luật hành chính, do đó ta có thể phân thành hai loại
gồm: thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành
Đối với thanh tra chuyên ngành: là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó [27] Hoạt động thanh tra chuyên ngành do các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực tiến hành (Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở) và cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ
Trang 17thanh tra chuyên ngành (Tổng cục, Cục thuộc bộ, Chi cục thuộc sở được giao
chức năng thanh tra chuyên ngành) Như vậy, hoạt động thanh tra chuyên ngành
chủ yếu hướng tới việc kiểm soát việc chấp hành chính sách, pháp luật chuyên ngành của mọi đối tượng thuộc phạm vi quản lý nhằm phục vụ hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Mục đích của hoạt động thanh tra chuyên ngành tập trung và phát hiện những sơ hở trong
cơ chế quản lý và chính sách pháp luật để kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý kịp thời phòng ngừa phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh
vực quản lý nhà nước
Đối với thanh tra hành chính: là hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao [27] Như vậy, thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra trong nội bộ bộ máy nhà nước; đối tượng của thanh tra hành chính là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc Nội dung của thanh tra hành chính nhằm xem xét, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của cơ quan, tổ chức và cá nhân trực thuộc Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành Nó thể hiện quan hệ trong chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, kiểm soát giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cơ quan có thẩm quyền với đối tượng trực thuộc chịu
sự quản lý
b) Khái niệm công chức và tuyển dụng, sử dụng công chức
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong
cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan
Trang 18phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy
ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [26]
Công chức có vị trí rất quan trọng trong việc duy trì hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị Chính vì thế việc tuyển dụng và sử dụng được quan tâm đặc biệt Có thể hiểu tuyển dụng công chức là quy trình do cơ quan có thẩm quyền tiến hành nhằm sàng lọc và tuyển chọn những người đáp ứng đầy đủ năng lực, phẩm chất theo yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế của cơ quan sử dụng công chức Ngoài ra còn phải đáp ứng các điều kiện riêng nhất định do Luật Cán bộ, Công chức quy định Trường hợp đáp ứng các điều kiện đã nêu và cam kết tình nguyện làm việc từ 5 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc người học theo chế độ cử tuyển, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ thì tuyển dụng thông qua xét tuyển
Sử dụng công chức là việc sắp xếp vị trí việc làm của cơ quan có thẩm quyền đối với công chức dưới các hình thức: bố trí, phân công công tác; chuyển ngạch, nâng ngạch công chức; điều động, luân chuyển, biệt phái công chức; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm công chức; đánh giá công chức nhằm phát huy tối đa năng lực làm việc của công chức theo yêu cầu nhiệm vụ, theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng công chức trên cơ sở quy định của pháp luật
Việc đánh giá công chức là hoạt động được tiến hành hàng năm trước khi bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng kết thúc nhiệm kỳ, kết thúc thời gian luân chuyển đối với công chức và trước khi bổ nhiệm quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, kết thúc thời gian biệt phái đối với công chức Mục đích đánh giá công chức được xác định là để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo,
Trang 19bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức Việc đánh giá công chức là người đứng đầu cơ quan, đơn vị sử dụng công chức thực hiện
c) Khái niệm thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức (TDSDCC) được tiến hành theo một trình tự, thủ tục luật định nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục Đối với cơ quan Nội vụ nói riêng: thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
là một nội dung của thanh tra chuyên ngành Nội vụ, được tiến hành bởi các cơ quan thanh tra nhà nước (Thanh tra Bộ Nội vụ, Thanh tra Sở Nội vụ) đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ và cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ chấp hành quy định pháp luật trong các lĩnh
vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ [16]
Như vậy: Thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức là hoạt động đánh giá, xem xét, kết luận của cơ quan thanh tra ngành Nội vụ đối với việc thực hiện các quy định pháp luật về tuyển dụng, sử dụng công chức của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý mà pháp luật quy định cho thanh tra nội vụ
1.1.2 Đặc điểm thanh tra trong lĩnh vực tuyển dụng, sử dụng công chức
a) Đặc điểm về chủ thể và đối tượng thanh tra
Mục đích của hoạt động thanh tra nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Do đó, chủ thể của hoạt động thanh tra TDSDCC là các cơ quan thanh tra nhà nước (Thanh tra Bộ Nội vụ, Thanh tra Sở Nội vụ); đối tượng của thanh tra là đối tượng quản lý nhà nước Đây là những yếu tố căn bản để phân biệt hoạt động thanh tra với các phương thức kiểm soát khác như hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, của công dân đối với hoạt động hành chính nhà nước
Kiểm tra và thanh tra đều là một chức năng chung của quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất “phản hồi” của chu trình quản lý Kiểm tra và thanh
Trang 20tra có quan hệ gần gũi, bổ sung lẫn nhau Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì kiểm tra bao hàm thanh tra, hay nói cách khác thanh tra là một loại hình đặc biệt của kiểm tra mà ở đó nó luôn luôn do một loại chủ thể là Nhà nước tiến hành và mang tính quyền lực nhà nước Ngược lại, nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì thanh tra cũng bao hàm kiểm tra Các hoạt động, các thao tác nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra chính là kiểm tra Ví dụ như việc kiểm tra sổ sách, giấy tờ, tài liệu; kiểm tra kho quỹ của đối tượng thanh tra; so sánh, đối chiếu, đánh giá các số liệu thu thập được trong quá trình thanh tra đó chính là kiểm tra
Thanh tra với giám sát đều là các hình thức của phương pháp kiểm soát nói chung, trong kiểm soát hoạt động quản lý nhà nước nói riêng Giám sát được hiểu là việc theo dõi, kiểm tra, xem xét của chủ thể bên ngoài hướng vào các cơ quan hành chính nhà nước trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý Giám sát thường là hoạt động của chủ thể ngoài hệ thống đối với đối tượng thuộc hệ thống khác, tức là giữa cơ quan giám sát và cơ quan chịu sự giám sát không nằm trong một hệ thống phụ thuộc nhau
Như vậy, chủ thể của hoạt động thanh tra TDSDCC mang tính quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra TDSDCC được xác
định về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tổ chức thanh tra Thanh tra TDSDCC xuất hiện, tồn tại và tiêu vong cùng với Nhà nước Tính quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra TDSDCC được cụ thể hoá trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra, mà chủ yếu là cơ quan thanh tra nội vụ, cơ quan có nhiệm vụ chính về thanh tra TDSDCC Để thực hiện quyền hạn thanh tra theo pháp luật, các cơ quan thanh tra có quyền quyết định tổ chức các cuộc thanh tra theo chương trình, kế hoạch được phê duyệt; trình thủ trưởng
cơ quan quản lý hành chính phê duyệt hoặc quyết định thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật; yêu cầu các cơ quan, đơn vị và cá nhân
có liên quan cung cấp những thông tin và những tư liệu cần thiết phục vụ cho
Trang 21công tác thanh tra cũng như có quyền yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp tài liệu và trả lời chất vấn của cán bộ thanh tra Ngoài ra, cơ quan thanh tra, thanh tra viên và cán bộ thanh tra có thẩm quyền còn có các quyền hạn khác như trưng cầu giám định, niêm phong tài liệu và tài sản khi có căn cứ nhận định rằng tài liệu và tài sản đó liên quan đến vi phạm pháp luật hoặc tạm đình chỉ hay đình
chỉ công tác đối với một người nào đó nếu thấy cần thiết
Ngoài ra, xuất phát từ bản chất của thanh tra, thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức có tính độc lập tương đối Là bộ phận quan trọng, không thể
thiếu trong cơ cấu bộ máy nhà nước, là công cụ đắc lực để giữ gìn, bảo vệ và tăng cường trật tự, kỷ cương quản lý, là chức năng thiết yếu của các cơ quan quản lý nhà nước, nhưng có tính độc lập tương đối với cơ quan quản lý Cơ quan thanh tra TDSDCC chịu sự chỉ đạo trực tiếp của thủ truởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác tổ chức, nghiệp vụ thanh tra của thanh tra Chính phủ; chịu sự hướng dẫn về công tác, nghiệp vụ của cơ quan thanh tra cấp trên; thủ trưởng các cơ quan thanh tra nhà nước được quyền ra quyết định xử lý theo quy định của pháp luật đối với những hành vi vi phạm
Đối tượng thanh tra TDSDCC là các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm
vi quản lý của Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa
vụ chấp hành quy định pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ Do đó, Đối tượng thanh tra TDSDCC là các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành các văn bản, quy định liên quan đến tuyển dụng, sử dụng công chức và trực tiếp tổ chức thực hiện công tác tuyển dụng, bố trí, phân công công tác; chuyển ngạch, nâng ngạch công chức; điều động, luân chuyển, biệt phái công chức; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm công chức; đánh giá công chức cơ sở quy định của pháp luật, là một bộ phận của hệ thống công vụ
b) Đặc điểm về hình thức thanh tra
Thanh tra TDSDCC là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp
Trang 22hành pháp luật chuyên ngành về TDSDCC Hoạt động thanh tra chỉ xem xét, đánh giá đối tượng thanh tra trên một hoặc một số mặt hoạt động nhất định liên quan đến thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước Đồng thời được thực hiện dưới ba hình thức: thanh tra theo kế hoạch, thanh tra thường xuyên hoặc thanh tra đột xuất:
Thứ nhất, thanh tra theo kế hoạch: được tiến hành theo kế hoạch đã được
phê duyệt Chánh thanh tra bộ, chánh thanh tra sở ra quyết định thanh tra và thành lập đoàn thanh tra Đối với những vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, đơn vị, nhiều cấp, nhiều ngành thì bộ trưởng, giám đốc sở ra quyết định thanh tra và thành lập đoàn thanh tra
Thứ hai, thanh tra thường xuyên: được tiến hành trên cơ sở chức năng,
nhiệm vụ của cơ quan nội vụ được giao thực hiện chức năng thanh tra TDSDCC
Thứ ba, thanh tra đột xuất: được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu vi
phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc phòng, chống tham nhũng hoặc theo yêu cầu của bộ trưởng, chánh thanh tra bộ, giám đốc sở, chánh thanh tra sở Chánh thanh tra bộ, chánh thanh tra sở ra quyết định thanh tra đột xuất, thành lập đoàn thanh tra và gửi quyết định thanh tra đột xuất để báo cáo bộ trưởng, giám đốc sở Đối với vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, đơn vị, nhiều cấp, nhiều ngành thì thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định thanh tra đột xuất và thành lập đoàn thanh tra
Thanh tra TDSDCC được tiến hành theo phương thức đoàn thanh tra với cơ cấu, tổ chức chặt chẽ, thành viên của đoàn bao gồm: trưởng đoàn thanh tra, thanh tra viên và các thành viên khác Trưởng đoàn là người chịu trách nhiệm quản lý và chỉ đạo toàn bộ hoạt động của đoàn thanh tra, là một trong các yếu tố quyết định đến kết quả hoạt động của đoàn thanh tra
Thanh tra TDSDCC là một nội dung của thanh tra chuyên ngành nội vụ, do
đó, thanh tra viên ngành nội vụ có các tiêu chuẩn đặc thù [16] Thanh tra viên được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra và các
Trang 23nhiệm vụ khác theo sự phân công của chánh thanh tra Bộ Nội vụ, chánh thanh tra Sở Nội vụ Thanh tra viên được cấp trang phục, thẻ thanh tra Cộng tác viên thanh tra ngành nội vụ là người có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với nhiệm
vụ thanh tra được thanh tra Bộ Nội vụ, thanh tra Sở Nội vụ trưng tập tham gia đoàn thanh tra và không thuộc biên chế của các cơ quan thanh tra nhà nước
1.1.3 Vai trò của hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Thứ nhất, gắn liền với quản lý nhà nước trong lĩnh vực tuyển dụng, sử dụng công chức Là một giai đoạn của chu trình quản lý nhà nước trong lĩnh vực
TDSDCC vì thế thanh tra TDSDCC gắn liền với vai trò của Nhà nước trong kiểm soát nhà nước, kiểm soát xã hội để thực hiện những chức năng chung của nhà nước Để quản lý nhà nước, thanh tra là một công cụ để xem xét, định
hướng đánh giá kết quả quản lý trong lĩnh vực TDSDCC
Trong mối quan hệ giữa quản lý và thanh tra TDSDCC thì quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra TDSDCC (quy định thẩm quyền, tổ chức, quyết định và kết luận, sử dụng các kết quả và thông tin từ phía các cơ quan thanh tra) Mặt khác, hoạt động chấp hành của quản lý nhà nước thường bao hàm cả sự điều hành, cho nên trong quá trình thực hiện các văn bản pháp luật đòi hỏi phải có sự kiểm tra nghiêm ngặt của các cơ quan có thẩm quyền Thanh tra TDSDCC nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện sự tác động lên các đối tượng bị quản lý là những vấn đề liên quan đến TDSDCC Xem xét
cơ cấu, chức năng của quản lý thì thanh tra TDSDCC là công cụ, phương tiện để quản lý nhà nước
Thứ hai, là một trong những chức năng quan trọng và thiết yếu trong hoạt động quản lý nhà nước, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự xã hội nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Nhà nước là chủ thể của quản lý nhà nước với việc tập trung quyền lực của nhân dân, thể hiện tâm tư, ý chí,
Trang 24nguyện vọng và đảm bảo quyền lợi của nhân dân Nhà nước quản lý mọi mặt hoạt động của xã hội bằng pháp luật; các chế tài, thiết chế quyền lực nhà nước
và quản lý nhà nước thông qua các cơ quan chuyên môn với nhiệm vụ, chức
năng nhất định
Hiệu lực quản lý của Nhà nước phần lớn tuỳ thuộc vào nội dung, chất lượng và biện pháp tổ chức thực hiện các quyết định quản lý nhà nước Trong khi đó Thanh tra TDSDCC là một chức năng quan trọng của quản lý nhà nước nên nó là một trong những phương thức đảm bảo các quyết định quản lý được tuân thủ một cách nghiêm túc, đồng thời góp phần xem xét cả tính hiệu quả của quản lý nhà nước Hiệu quả của quản lý nhà nước được tính trên hai phương diện kết quả đạt được cuối cùng và chi phí thực hiện để đạt kết quả (con người, tiền bạc, thời gian, công sức ) Hiệu quả trong quản lý là đạt kết quả cuối cùng đạt được so với mục tiêu đề ra với chi phí ở mức tối thiểu
Công tác thanh tra TDSDCC với mục đích xem xét, đánh giá thực hiện quyết định quản lý công tác cán bộ đồng thời xem xét kết luận, đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu, chương trình, nhiệm vụ của chính cơ quan quản lý nhà nước Thông qua thanh tra TDSDCC nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, tiêu cực trong công tác cán bộ đã được phát hiện, từ đó các chủ thể quản lý nắm bắt được tình hình thực hiện pháp luật và nhiệm vụ mà nhà nước giao cho các đối tượng quản lý thuộc quyền, phát hiện những ưu, khuyết điểm trong quản lý, trong công tác điều hành, chỉ đạo, từ đó kịp thời ban hành những quyết định hay biện pháp khắc phục, sửa chữa cũng như các biện pháp tác động phù hợp nhằm củng cố trật tự pháp luật và phát huy dân chủ trong đời sống xã hội
Đối với hoạt động thanh tra TDSDCC đòi hỏi phải thu thập và xử lý; nhận xét và đánh giá, phân tích tổng hợp nguyên nhân, dữ liệu, số liệu nhiều hơn, phức tạp hơn Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước các cơ quan quản
lý nhà nước nhất thiết phải tiến hành hoạt động thanh tra thực hiện các quyết định liên quan đến việc TDSDCC mà mình đã ban hành Đó là một khâu không thể thiếu và có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình hoạt động quản lý nhà nước
Trang 25Thứ ba, là một biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật Vi phạm pháp luật xảy ra với nhiều lý do khác nhau,
nhà nước có thể áp dụng nhiều biện pháp từ giáo dục, thuyết phục đến cưỡng chế
Vi phạm pháp luật xuất phát từ thiếu trách nhiệm trong quá trình thực thi công vụ cần phải có hình thức xử lý nghiêm khắc, mạnh mẽ để cho người vi phạm hiểu và sửa chữa những sai phạm đồng thời răn đe với những hành vi tương tự khác có
thể xảy ra
Thanh tra TDSDCC góp phần phát hiện và kiến nghị cơ quan, đơn vị có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh những tồn tại, hạn chế trong cơ chế quản lý, điều hành trong lĩnh vực chuyên ngành nội vụ Hoạt động của cơ quan thanh tra được tiến hành định kỳ, thường xuyên hay đột xuất là sự nhắc nhở, đồng thời tạo ra một “sức ép” nhất định lên các đối tượng vi phạm để hạn chế vi phạm pháp luật có thể xảy ra trên thực tế Ngoài chức năng bảo đảm pháp chế thanh tra TDSDCC còn có chức năng tìm hiểu, giúp đỡ tìm hướng cho các đối tượng thực hiện đúng các quy định của pháp luật
Các kiến nghị xử lý được đưa ra từ hoạt động thanh tra TDSDCC hướng vào việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật được phát hiện qua việc phân tích, mổ
xẻ một cách sâu sắc đầy đủ về nguyên nhân, động cơ, mục đích, tính chất mức
độ của hành vi vi phạm Ngoài ra còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật, ngăn ngừa tận gốc mầm mống phát sinh những vi phạm pháp luật tương tự xảy ra ở một nơi khác hoặc vào một thời điểm khác Vai trò phòng ngừa của thanh tra TDSDCC mang tính chủ động Trong rất nhiều trường hợp, qua thanh tra mà có thể dự báo được một hành vi vi phạm sẽ xảy ra trong tương lai nếu không có sự chấn chỉnh, không có sự định hướng lại cho các đối tượng một cách kịp thời
Thứ tư, là phương thức bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm chỉnh Với tư cách là một chức năng quản lý nhà nước, thanh tra
TDSDCC chính là hoạt động xem xét tại chỗ việc làm của các cơ quan, tổ chức
cá nhân có đúng chính sách, pháp luật hay không Nếu họ làm sai hoặc làm
Trang 26chậm thì giúp họ sửa chữa và làm cho đúng Mục đích của thanh tra TDSDCC là nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật, bảo đảm để các
cơ quan, tổ chức và cá nhân tuân thủ và chấp hành một cách chính xác, đầy đủ
và nghiêm chỉnh pháp luật nhà nước Để mọi người hiểu biết pháp luật cần nâng cao công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật nhằm tăng cường tính pháp chế
1.2 Nội dung, nguyên tắc và quy trình tiến hành hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
1.2.1 Nội dung thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Nội dung của hoạt động thanh tra TDSDCC chủ yếu hướng tới việc kiểm soát việc chấp hành chính sách, pháp luật liên quan đến lĩnh vực tuyển dụng, sử dụng công chức của các đối tượng thuộc phạm vi quản lý nhằm phục vụ hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực này Nghị định số 90/2012/NĐ-CP ngày 25/11/2012 có nêu nội dung thanh tra ngành Nội vụ:
“Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành về các lĩnh vực: tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán
bộ, công chức, viên chức nhà nước; hội, tổ chức phi chính phủ; phối hợp với các
tổ chức thuộc Bộ thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành về các lĩnh vực: cơ yếu, tôn giáo, thi đua – khen thưởng và văn thư – lưu trữ” [16]
Ngày 10/12/2012, Thông tư số 09/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ đã quy định quy trình, nội dung thanh tra về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức,
Trang 27viên chức Đây là văn bản pháp luật quy định cụ thể nhất từ trước đến nay về lĩnh vực thanh tra TDSDCC, tạo căn cứ pháp lý vững chắc cho các cuộc thanh tra TDSDCC trên toàn quốc Theo đó, nội dung thanh tra bao gồm:
“Các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, đường lối, chính sách của Đảng được cơ quan, đơn vị là đối tượng áp dụng liên quan đến việc tuyển dụng,
sử dụng và quản lý công chức trong giai đoạn và phạm vi thanh tra
Các văn bản của cơ quan, đơn vị là đối tượng thanh tra và các cơ quan, đơn
vị thuộc và trực thuộc đối tượng thanh tra ban hành liên quan đến việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức được áp dụng trong giai đoạn, phạm vi thanh tra.” [6]
Như vậy, hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức được bao gồm các nội dung chính sau:
Thứ nhất, thanh tra các căn cứ pháp lý của việc tuyển dụng, sử dụng và
quản lý công chức: các VBQPPL của Nhà nước, đường lối, chính sách của Đảng được cơ quan, đơn vị là đối tượng áp dụng liên quan đến việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; các văn bản của cơ quan, đơn vị là đối tượng thanh tra ban hành liên quan đến việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức được
áp dụng trong giai đoạn, phạm vi thanh tra
Thứ hai, thanh tra công tác thực hiện tuyển dụng công chức của cơ quan,
đơn vị là đối tượng thanh tra Đoàn thanh tra tiến hành thanh tra các căn cứ, điều kiện, thẩm quyền tuyển dụng công chức; thanh tra các nội dung thi tuyển, xét tuyển công chức; thanh tra các nội dung về xét chuyển công chức cấp xã thành công chức cấp huyện trở lên
Thứ ba, thanh tra việc bố trí, phân công công tác đối với công chức
Thứ tư, thanh tra việc chuyển ngạch, nâng ngạch và tiêu chuẩn ngạch công chức Thứ năm, thanh tra căn cứ, lý do để thực hiện điều động, luân chuyển, biệt
phái công chức; trình tự, thủ tục; việc bố trí, phân công công tác đối với công chức; việc thực hiện chế độ, chính sách đối với công chức; thời hạn điều động, luân chuyển, biệt phái
Trang 28Thứ sáu, thanh tra các căn cứ, tiêu chuẩn, điều kiện và quy trình về công
tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý Trình tự, thủ tục bổ nhiệm đối với nguồn nhân sự tại chỗ và bổ nhiệm đối với nguồn nhân
sự từ nơi khác
Thứ bảy, thanh tra việc từ chức, miễn nhiệm của công chức giữ chức vụ
lãnh đạo, quản lý
1.2.2 Nguyên tắc thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Sau Luật thanh tra 2004, ngày 10/11/2006 Quyết định số TTCP được ban hành đã quy định những nội dung quan trọng của Đoàn Thanh tra,
2151/2006/QĐ-cụ thể là nguyên tắc, chế độ làm việc trong hoạt động thanh tra;những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thanh tra; tổ chức và hoạt động thanh tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Đoàn Thanh tra Năm 2010 Luật thanh tra ra đời đã góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của ngành Thanh tra, theo đó, nguyên tắc của hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức là những quy tắc chỉ đạo, tiêu chuẩn hành động xuyên suốt trong quá trình tiến hành thanh tra của cơ quan thanh tra Nội vụ và bao gồm những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức tuân theo pháp luật Khi có đầy đủ những căn cứ do pháp luật quy định, thanh
tra TDSDCC được quyền tiến hành hoạt động thanh tra một cách độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Việc can thiệp không có căn cứ pháp luật của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào đều là bất hợp pháp và tùy theo mức độ nặng, nhẹ sẽ bị xử lý
theo các quy định của pháp luật
Trong quá trình thanh tra TDSDCC, những người được giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra phải tuân thủ đúng những quy định của pháp luật
về hoạt động thanh tra, bảo đảm tính độc lập, nghiêm minh khi thực hiện những thủ tục cần thiết và trong phạm vi thẩm quyền cho phép Người ra kết luận thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận và việc làm của mình trong quá trình thanh tra
Trang 29Hoạt động thanh tra TDSDCC được tiến hành từ chương trình, kế hoạch hoạt động của các tổ chức thanh tra đến việc ra quyết định thanh tra, cử đoàn thanh tra, thanh tra viên đến việc kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động thanh tra đều phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật thanh tra Các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn thanh tra để thực hiện hành vi trái pháp luật, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra; thanh tra vượt quá thẩm quyền, phạm vi, nội dung thanh tra;
cố ý kết luận sai sự thật, quyết định, xử lý trái pháp luật, bao che cho người có hành vi vi phạm đều bị nghiêm cấm và bị xử lý theo quy định của pháp luật
Thứ hai, nguyên tắc hoạt động thanh tra không được làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra Hoạt động
thanh tra nhằm góp phần đảm bảo tuân thủ pháp chế và kỷ luật nhà nước, tăng cường hiệu quả, hiệu lực hoạt động quản lý hành chính nhà nước Mục đích cuối cùng của hoạt động thanh tra TDSDCC là góp phần bảo đảm sự phát triển ổn định và lành mạnh Chính vì vậy mà thanh tra không được làm cản trở hoạt động của đối tượng Đây là nguyên tắc thể hiện mối quan hệ giữa các cơ quan thanh tra TDSDCC với cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra; giữa cơ quan,
tổ chức, cá nhân thực thi quyền lực nhà nước với đối tượng chịu sự quản lý
Pháp luật trao cho cơ quan thanh tra những nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt vì thế khi tiến hành hoạt động thanh tra, cơ quan thanh tra phải đảm bảo không cản trở đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, cá nhân Có như vậy, thanh tra mới thực sự là công cụ để củng cố và tăng cường pháp chế và kỷ luật nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
Cơ quan thanh tra TDSDCC chỉ tiến hành thanh tra những nội dung ghi trong quyết định thanh tra, không được tự ý mở rộng phạm vi thanh tra hoặc kéo dài thời gian thanh tra… Việc kết luận phải chính xác, khách quan, không vì động cơ cá nhân, không được gây khó khăn, phiền hà, sách nhiễu làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra Nguyên tắc có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, khi vẫn còn tình trạng một bộ phận cán bộ thanh tra lợi dụng
Trang 30việc thanh tra để thực hiện nhưng hành vi tiêu cực, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của đối tượng thanh tra
Thứ ba, nguyên tắc thanh tra phải bảo đảm tính chính xác, khách quan, công khai, trung thực, dân chủ, kịp thời Tính chính xác bảo đảm cho công tác
thanh tra TDSDCC đạt hiệu quả cao, được đối tượng chấp nhận, nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo cơ sở thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra Muốn đảm bảo tính chính xác trong hoạt động thanh tra cần có quan điểm đúng đắn cũng như kiến thức, năng lực và phương pháp nghiệp vụ mới có thể đem lại kết quả chính xác Kết quả trong thanh tra TDSDCC không đảm bảo tính chính xác
sẽ dẫn đến việc nhìn nhận, đánh giá sai đối tượng thanh tra, từ đó có những kết
luận, kiến nghị xử lý thiếu đúng đắn, trái pháp luật
Tính khách quan bảo đảm phản ánh đúng sự thật, không thiên lệch và bóp méo sự thật Tính chính xác và tính khách quan có tác động qua lại lẫn nhau Có khách quan mới bảo đảm chính xác, ngược lại có chính xác mới thể hiện được tính khách quan Để bảo đảm tính khách quan, phải sâu sát thực tế, tôn trọng sự thật, phản ánh đúng sự thật Điều quan trọng là phải có bản lĩnh vững vàng, ý thức trách nhiệm cao và có năng lực xem xét, phân tích chính xác, khoa học Tính trung thực là phản ánh đúng và đầy đủ bản chất của sự việc, không thêm, bớt đồng thời cũng viện dẫn đầy đủ không cắt xén các quy định pháp luật
để xác định rõ đúng, sai
Tính công khai trong hoạt động thanh tra TDSDCC thể hiện ở chỗ phải thông báo nội dung thanh tra để mọi người biết nhằm động viên đông đảo nhân dân tham gia phát hiện, giám sát, kiểm tra góp phần bảo đảm tính chính xác Những nội dung cần công khai bao gồm: quyết định thanh tra; tiếp công khai đối tượng thanh tra và mọi người có liên quan ở nơi thanh tra; công khai kết luận thanh tra Tuỳ theo từng tính chất vụ việc thanh tra mà có hình thức công khai cho thích hợp trừ trường hợp về bí mật quốc gia, thuộc an ninh quốc phòng hoặc cần giữ bí mật về người tố cáo để bảo vệ họ thì không được phép công khai
Trang 31Tính dân chủ trong hoạt động thanh tra TDSDCC là thể hiện sự tôn trọng với đối tượng thanh tra góp phần tích cực vào kết quả kiểm tra, thanh tra Trong quá trình thanh tra cần coi trọng phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, coi trọng tính thuyết phục và việc thu thập, tiếp nhận thông tin có liên quan, kể cả tạo điều kiện cho đối tượng thanh tra được trình bày ý kiến của họ để rà soát lại tính đúng đắn từng việc làm cụ thể Cần tránh mọi biểu hiện chủ quan áp đặt, bất chấp ý kiến người khác Tuy nhiên qua ý kiến đóng góp trình bày của nhiều người, đoàn thanh tra, thanh tra viên phải xem xét, cân nhắc, để có sự quyết đoán chính xác, dám chịu trách nhiệm về các quyết định và việc làm của mình Nếu do dự hoặc không biết chọn lọc ý kiến sẽ rất lúng túng, mất tính chủ động trong kiểm tra, thanh tra
Tính kịp thời trong hoạt động thanh tra TDSDCC cũng rất quan trọng bởi
vì do yêu cầu quản lý nhà nước và những vấn đề cuộc sống đặt ra là phải được kiểm tra, thanh tra và trả lời đầy đủ, kịp thời mới có đối sách ứng xử cho sát hợp Nếu hoạt động thanh tra tiến hành chậm trễ hoặc không gắn với chu trình quản lý sẽ kém hiệu quả Muốn bảo đảm kịp thờiphải có kiến thức và năng lực
để phát hiện, phân tích, giám sát chiều sâu, làm rõ các mối liên hệ mới có thể đánh giá đúng bản chất của sự vật, không lầm lẫn Yêu cầu này nhằm đảm bảo phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời những việc làm vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tập thể và các cá nhân trong xã hội
Thứ tư, nguyên tắc không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra Thủ trưởng cơ
quan thanh tra TDSDCC cần nghiên cứu, xem xét kỹ các căn cứ và những điều kiện khác có liên quan trước khi ra quyết định thanh tra và thành lập đoàn thanh tra để tránh trùng lặp, cố gắng tránh hiện tượng có thể xảy ra là 1 năm liên tiếp
có nhiều đoàn kiểm tra, thanh tra đến một cơ quan, đơn vị, nhất là thanh tra, kiểm tra về cùng 1 nội dung Trong quá trình thanh tra, kiểm tra, trưởng đoàn và các thành viên cần thực hiện đúng kế hoạch thanh tra, đúng quyền hạn, trình tự
thủ tục và đúng thời gian, thời hiệu thanh tra
Trang 32Việc xác định đối tượng, phạm vi, nội dung hoạt động thanh tra có căn cứ
từ hai phương diện: mức khái quát, hệ thống quản lý cần thông tin về vấn đề gì
và thanh tra đáp ứng theo phương pháp nào lấy ngăn chặn, phòng ngừa là chính hay xử lý là chính; mức cụ thể, hoạt động thanh tra thuộc quản lý nhà nước ở lĩnh vực nào thì có đối tượng phạm vi, nội dung cụ thể theo lĩnh vực đó và điều
đó được thể hiện trực tiếp thông qua quyết định của cấp có thẩm quyền
Thứ năm, nguyên tắc sử dụng đúng quyền hạn trong hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức Quyền hạn trong hoạt động thanh tra TDSDCC
là yếu tố mang tính nguyên tắc đảm bảo cho thanh tra đạt được mục đích đề ra Hoạt động thanh tra TDSDCC là hoạt động nhân danh quyền lực hành chính nhà nước của cơ quan quản lý hành chính cấp trên đối với cấp dưới Do vậy giới hạn, phạm vi sử dụng quyền trong thanh tra TDSDCC nằm trong khuôn khổ của quyền lực hành chính nhà nước Việc sử dụng đúng quyền hạn trong thanh tra đòi hỏi trên các khía cạnh: phạm vi, tính chất vấn đề, hành động và không hành
hoặc gia hạn thời hạn thanh tra
Kết thúc cuộc thanh tra TDSDCC, đoàn thanh tra (thanh tra viên) phải có
báo cáo kết quả thanh tra, kiến nghị về các nội dung đã được thanh tra và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các kết luận, quyết định, các kiến nghị Người ra quyết định thanh tra TDSDCCphải ra kết luận thanh tra Kết luận thanh tra phải xác định rõ đúng, sai; xác định các nguyên nhân khách quan, chủ quan; quy rõ trách nhiệm Tất cả các kết luận đều phải có hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, vật mang tin khác bảo đảm
Trang 331.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
1.3.1 Yếu tố khách quan
a) Yếu tố chính trị
Qua việc nghiên cứu quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác thanh tra cho thấy, hơn 70 năm qua, cùng với sự lớn mạnh và phát triển của đất nước, công tác thanh tra luôn luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng và nhất quán phương châm tăng cường củng cố và phát triển để đáp ứng yêu cầu nhà nước qua mỗi thời
kỳ cách mạng của đất nước Mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử, đất nước ta có một nhiệm vụ chính trị riêng, chính vì thế hoạt động thanh tra cũng vận hành phù hợp để góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị chung của đất nước
Vào những năm mới dành độc lập, nhiệm vụ chính trị đặt ra là ổn định đời sống nhân dân trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm các quyền của người dân được thực thi Từ ý nghĩa đó ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh
số 64/SL, thành lập Ban thanh tra đặc biệt, trong đó nêu rõ: “Ban thanh tra đặc biệt có toàn quyền nhận các đơn khiếu nại của dân; điều tra, hỏi chứng, xem xét các tài liệu giấy tờ của UBND hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho công việc giám sát; đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong UBND hay của Chính phủ đã phạm lỗi" [21] Người dành sự quan tâm đặc biệt đối với công tác thanh tra trong sự nghiệp cách mạng chung của cả nước Nội dung mà công tác thanh tra hướng tới trong thời gian này là giải quyết các khiếu nại của nhân dân và thanh tra, xem xét sự thi hành chủ trương, chính sách của Chính phủ Sau một thời gian dài, đất nước ta đã có nhiều thành tựu trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, giai đoạn mới đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức, hoạt động thanh tra cũng có những thay đổi phù hợp, trong đó phải kể đến
sự ra đời của Chỉ thị số 38 CT/TW ngày 20/2/1984 của Ban bí thư Trung ương:
"trước mắt, cũng như lâu dài, công tác thanh tra có tác dụng quan trọng trực tiếp đối với việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, giữ gìn pháp luật của Nhà nước" và "cần tăng cường cho các tổ chức thanh tra có đủ số lượng cán bộ
Trang 34thanh tra có phẩm chất, đạo đức tốt và có kiến thức, kinh nghiệm hoạt động thực tiễn" [1] hoặc Nghị quyết số 26-HĐBT ngày 15/2/1984: "Thanh tra là một khâu không thể thiếu trong công tác lãnh đạo Đường lối chủ trương của Đảng được Nhà nước cụ thể hoá bằng các chủ trương, chính sách và bằng việc tổ chức thực hiện, đồng thời phải thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc tiến hành chủ trương chính sách đã đề ra Mặt khác, đứng về Nhà nước và xã hội phải tăng cường xây dựng tổ chức ngành thanh tra" và "tổ chức thanh tra phải là một tổ chức có hiệu lực của Nhà nước chuyên chính vô sản, đồng thời phải là một hình thức tổ chức của quần chúng để thực hiện quyền làm chủ của mình trong kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước"
Ngày 01/4/1990, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Thanh tra, đến năm 2004 Quốc hội ban hành Luật Thanh tra đây là văn bản pháp lý cao nhất từ trước tới nay có phạm vi điều chỉnh tổng quát nhất, đề cập nhiều vấn đề có liên quan đến tổ chức và hoạt động thanh tra Luật Thanh tra ra đời có ý nghĩa quan trọng về thực tiễn và lý luận Đây là sự cụ thể ở mức cao quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với công tác thanh tra: “thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước” Trên cơ sở tổng kết thực tiễn tổ chức và hoạt động thanh tra;
kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Thanh tra năm 2004; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới về công tác thanh tra, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Luật Thanh tra năm 2010 với nhiều thay đổi về tổ chức, hoạt động thanh tra như làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi, phương thức hoạt động thanh tra và sự phối hợp của các cơ quan thanh tra, khắc phục sự chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động thanh tra; bảo đảm sự phối hợp
có hiệu quả giữa các công cụ giám sát, kiểm tra, thanh tra của bộ máy nhà nước
và của cả hệ thống chính trị đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân Hiến pháp năm 2013 một lần nữa quy định chức năng thanh tra gắn liền với nhiệm vụ của Chính phủ tại khoản 5, điều 96 như sau: “tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng
trong bộ máy nhà nước ” [29] Hiến pháp là cơ sở để Thủ tướng Chính phủ ban
Trang 35hành Chiến lược phát triển ngành Thanh tra đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 tại Quyết định số 2213/QĐ-TTg ngày 08/12/2015 với tinh thần nâng cao địa vị pháp lý của các cơ quan thanh tra phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; xây dựng ngành Thanh tra với đội ngũ nhân lực hội đủ năng lực, trình độ, phẩm chất nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế
Thanh tra TDSDCC là một hoạt động của ngành thanh tra, vì thế đặt ra yêu cầu mới trong thời kỳ mở cửa đó là quản lý tốt hoạt động liên quan đến đội ngũ công chức, những người đang thực thi nhiệm vụ trong các cơ quan nhà nước Qua trình thanh tra chịu áp lực không nhỏ từ xã hội cũng như yêu cầu của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền Để đảm bảo đáp ứng yêu cầu chính trị nào hiện nay thanh tra TDSDCC cần theo dõi, xem xét việc chấp hành các kế hoạch chỉ thị, chính sách đó, các địa phương
b) Yếu tố pháp luật
Tuân thủ pháp luật mang đến hiệu quả của pháp luật được thực hiện trên thực tế Pháp luật ban hành ra là để tất cả mọi ngời thực hiện và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật Chính vì thế hoạt động thanh tra cũng phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật Có thể nói tuân thủ pháp luật nói chung và các quy định pháp luật về thanh tra nói riêng là thước đo hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra Mức độ hoàn thiện của pháp luật ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của công tác thanh tra
Pháp luật có liên quan đến hoạt động thanh tra trong lĩnh vực TDSDCC bao gồm hai nhóm: các văn bản pháp luật về công chức và TDSDCC và các văn bản
về thanh tra
Thứ nhất, pháp luật về tuyển dụng, sử dụng công chức
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức tạo cơ sở pháp lý giúp cơ quan, đơn
vị xây dựng văn bản quản lý, tổ chức thực hiện công tác cán bộ có quy trình, quy
Trang 36định cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ hơn Việc đổi mới công tác cán bộ đã đặt ra yêu cầu đó là hệ thống pháp luật phải phù hợp với thực tiễn
Ngày 01/12/2017 Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 2823/QĐ-BNV về phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Nội vụ đến năm 2025, tầm nhìn đến năm
2035 với mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Nội
vụ đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính; có số lượng và cơ cấu hợp lý; có phẩm chất đạo đức tốt, năng động, sáng tạo; đề cao trách nhiệm giải trình, tăng cường
kỷ luật, kỷ cương hành chính, đạo đức công vụ” [10] Đây đã trở thành định
hướng cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân xây dựng kế hoạch, quy hoạch và hoàn thiện cơ chế chính sách công tác cán bộ trong những năm gần đây
Ngày 29/11/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 161/2018/NĐ-CP quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức và thăng hạng viên chức đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2010/NĐ-
CP, và ngày 14/5/2019 Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 03/2019/TT-BNV sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức và thực hiện chế
độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị
sự nghiệp công lập với những điểm mới thắt chặt hơn nữa quy trình TDSDCC nhằm tăng tính cạnh tranh minh bạch, công bằng; hạn chế tiêu cực
Thứ hai, các văn bản pháp luật về Thanh tra
Từ định hướng của các văn kiện Đảng như Nghị quyết số 48/2005/NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung tương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Kết luận Hội nghị Trung ương 5 (Khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng lãng phí… đã chỉ rõ cần đẩy mạnh thanh tra, tăng cường tính độc lập tự chịu trách nhiệm của các cơ quan thanh tra, tăng cường thanh tra việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ công vụ… trong đó có nội dung về TDSDCC
Trang 37Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật về thanh tra đã được ban hành với văn bản cụ thể như: Nghị định số 90/2012/NĐ-CP ngày 05/11/2012 của Chính phủ
về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành Nội vụ; Thông tư số 09/2012/TT-BNV ngày 10/12/2012 của Bộ Nội vụ đã Quy định quy trình, nội dung thanh tra về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động thanh tra TDSDCC
c) Yếu tố tập quán - văn hóa
Tập quán văn hóa có một ảnh hưởng không thể phủ nhận đối với pháp luật, đặc biệt trong quản lý nhà nước trên các lĩnh vực Tập quán văn hóa chính là những chuẩn mực của hành vi của con người trong cuộc sống Do đó, việc xây dựng pháp luật phải dựa trên những kinh nghiệm văn hóa, tức là pháp luật phải có khả năng biến thành văn hóa để điều chỉnh cuộc sống Văn hóa điều chỉnh hành vi của con người mạnh hơn cả pháp luật Vì thế pháp luật phải được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa đã có trong cuộc sống
Tập quán – văn hóa ảnh hưởng không chỉ đến pháp luật mà còn tác động trực tiếp tới tổ chức, hoạt động của cơ quan và công chức nhà nước Trong lĩnh vực thanh tra TDSDCC thì yếu tố tập quán – văn hóa được hiểu là những kinh nghiệm, thói quen mà cán bộ, công chức đang áp dụng để giải quyết công việc
mà pháp luật cho phép
Thực tế cho thấy ở Việt Nam không có tập quán, truyền thống “soi xét lại”
các quy định TDSDCC Thường xem việc TDSDCC là trách nhiệm của người đứng đầu, cho nên dẫn đến tình trạng thụ động, bị động trong tuân thủ các quy định của lãnh đạo về TDSDCC Ở Việt Nam chưa hình thành văn hóa thi tuyển, văn hóa công khai, minh bạch trong tuyển dụng, sử dụng nên dẫn đến tình trạng thi cử không minh bạch, còn chạy điểm, tiêu cực trong thi cử
Có thể nói Tập quán – văn hóa không giải quyết tốt sẽ trở thành những rào cản rất lớn cho công tác thanh tra Thậm chí ở nhiều cơ quan việc TDSDCC còn
là vấn đề bí mật nên không thể giám sát Tình trạng nàydiễn ra thường xuyên gây ảnh hưởng rất lớn đến việc thu thập thông tin để giải quyết, xử lý đối với các cuộc thanh tra
Trang 381.3.2 Yếu tố chủ quan
a) Việc tổ chức thực hiện hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Hoạt động thanh tra TDSDCC được tiến hành theo hai hình thức là theo kế hoạch và đột xuất Theo cách hiểu chung nhất, hình thức là cách thức tổ chức, tiến hành một hoạt động có mục đích, phương tiện, thời hạn, phạm vi, đối tượng, yêu cầu cụ thể Thực tiễn cho thấy, có cuộc thanh tra theo kế hoạch nhưng thời hạn thanh tra ngắn, phạm vi thanh tra hẹp và ngược lại, có cuộc thanh tra đột xuất nhưng đòi hỏi phải thanh tra toàn diện, nội dung phức tạp, kéo dài
Việc xác định rõ các nội dung theo từng hình thức thanh tra sẽ giúp việc tổ chức thực hiện hoạt động thanh tra TDSDCC đảm bảo tính toàn diện và cụ thể, sử dụng tối ưu nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý, tránh tình trạng chậm trễ chủ yếu trong ban hành Kết luận thanh tra hoặc không hoàn thành kế hoạch thanh tra do cơ quan thanh tra phải tiến hành nhiều cuộc thanh tra đột xuất
b) Công tác chỉ đạo đối với hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Tổ chức thanh tra TDSDCC phân bố từ trung ương đến địa phương phải đảm bảo sự chỉ đạo của cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên trong công tác xây dựng và phát triển ngành quy hoạch đội ngũ cán bộ thanh tra giỏi nghiệp vụ, tâm huyết gắn
bó với ngành; thống nhất thẩm quyền, căn cứ tiến hành thanh tra đột xuất
Thực tế cho thấy các cơ quan thanh tra thiếu tính độc lập và phụ thuộc vào
cơ quan quản lý cùng cấp về nhiều mặt: cơ cấu tổ chức, công tác nhân sự, kinh phí, xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra Điều này cần được quan tâm, điều chỉnh kịp thời tránh ảnh đến công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện hoạt động thanh tra TDSDCC và phải đảm bảo tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan thanh tra trong việc quyết định thanh tra
c) Yếu tố năng lực và đạo đức công vụ của các chủ thể trong hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức
Năng lực và đạo đức công vụ của các chủ thể trong hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức là yếu tố chủ quan tác chủ đạo quyết định đến hiệu quả của hoạt động này Hoạt động thanh tra TDSDCC hiện nay bao gồm các chủ thể sau: Thủ trưởng cơ quan hành chính; người ra quyết định thanh tra;
Trang 39trưởng đoàn thanh tra; thành viên đoàn thanh tra; giám định viên và các cơ quan phối hợp liên quan
Người ra quyết định thanh tra: Tuy không trực tiếp giải quyết các công
việc cụ thể của đoàn thanh tra nhưng người ra quyết định thanh tra có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với đoàn thanh tra Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra đoàn thanh tra thực hiện đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định thanh tra
Người ban hành quyết định thanh tra phải chọn những người có năng lực, trình độ, phù hợp với yêu cầu của cuộc thanh tra Trong đó, việc chọn cử trưởng đoàn là rất quan trọng, trưởng đoàn là người trực tiếp chỉ đạo, điều hành tiến hành cuộc thanh tra, chịu trách nhiệm trước người ra quyết định và trước pháp luật về kết quả cuộc thanh tra
Tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra các hoạt động của đoàn thanh tra Việc kiểm tra của người ra quyết định thanh tra đối với đoàn thanh tra rất quan trọng, giúp đoàn thanh tra khắc phục kịp thời những thiếu sót, tháo gỡ những vướng mắc, đảm bảo cho cuộc thanh tra đạt được mục đích, yêu cầu đề ra
Trưởng đoàn thanh tra: là người nghiên cứu kỹ nội dung thanh tra, nguồn
gốc và tài liệu làm căn cứ ra quyết định thanh tra để từ đó xác định mục đích, yêu cầu của cuộc thanh tra; xác định trọng tâm, trọng điểm, phương pháp tiến hành cuộc thanh tra; bố trí lực lượng, kinh phí phục vụ cho cuộc thanh tra Trưởng đoàn thanh tra phải lường được những thuận lợi, khó khăn, những yếu
tố tác động đến cuộc thanh tra Đây là việc quan trọng, có tác dụng định hướng xuyên suốt quá trình hoạt động thanh tra
Trưởng đoàn thanh tra có vai trò là người tổ chức và quản lý, nên phải là cán bộ có năng lực tổ chức và chỉ đạo, điều hành Hoạt động của đoàn thanh tra trong quá trình thanh tra phải được quản lý chỉ đạo chặt chẽ và rất cụ thể, tính kỷ luật cao Trưởng đoàn phải am hiểu về hoạt động quản lý, điều hành thì mới đề
ra được nhiệm vụ, kế hoạch thanh tra sát, đúng, phân công cho mỗi thành viên
và hướng dẫn họ hoạt động có trọng tâm, trọng điểm cụ thể để thực hiện theo đúng kế hoạch Đồng thời, trưởng đoàn phải có nhận thức bao quát hơn, có trình
Trang 40độ tổng hợp cao mới có thể từ những sự việc cụ thể, khác nhau, phân tích làm rõ mối liên hệ hữu cơ giữa các sự việc, hành vi đảm bảo cho việc kết luận chính xác, khách quan và kiến nghị xử lý đúng người, đúng lỗi và khả thi
Thành viên đoàn thanh tra: là người trực tiếp thực hiện các công việc
chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể như: giao nhận hồ sơ, tài liệu; kiểm tra thực trạng
hồ sơ, tài liệu có đảm bảo chất lượng, đúng yêu cầu không; trực tiếp quản lý hồ
sơ, tài liệu trong thời gian thanh tra; tiến hành các phương pháp kiểm tra, đối chiếu, đánh giá; yêu cầu đối tượng thanh tra giải trình và xác minh những vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra…
Với vai trò này, đòi hỏi các thành viên trong đoàn thanh tra phải đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định pháp luật; nắm được tình hình chính trị, kinh tế, xã hội có ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ của đối tượng thanh tra trong thời
kỳ được thanh tra; khái quát được kết quả thực hiện các nội dung được thanh tra;
ưu, khuyết điểm trong việc chỉ đạo, điều hành; nguyên nhân khách quan, chủ quan Đây là một trong những căn cứ quan trọng cho kết luận cuộc thanh tra sau
này không bị sai lệch, phiến diện
Trước yêu cầu đổi mới hoạt động thanh tra hiện nay, càng đòi hỏi mỗi thanh tra viên phải trau dồi, học tập, tìm hiểu thường xuyên chủ trương chính sách và thực tế xã hội, coi đó là một quá trình tích luỹ đối với mỗi thanh tra viên, tạo cho mình sự hiểu biết đa dạng, phong phú; đó là điều kiện cần thiết để
có thể thực hiện tốt nhiệm vụ trong tình hình mới
Ngoài ra, đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, các nhân có liên quan
đến nội dung thanh tra có trách nhiệm báo cáo, giải trình, cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra; thực hiện yêu cầu, kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của người có thẩm quyền Hoạt động thanh tra ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, quyền lợi kinh tế - chinh trị của đối tượng thanh tra nên sự hợp tác của đối tượng thanh tra có sự ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của cả quá trình thanh tra