Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển ĐTN cho LĐNT, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông thôn, khuyến khích, huy động và tạo đ
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN QUANG NGỌC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ VĂN TỪ
ĐẮK LẮK - NĂM 2021
Trang 3của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Văn Từ
Các nội dung nghiên cứu, số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Các tài liệu trích dẫn, số liệu minh họa trong Luận văn là trung thực có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng
Đắk Lắk, ngày 22 tháng 02 năm 2021
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phan Quang Ngọc
Trang 4Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia khu vực Tây Nguyên, các quý thầy,
cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn và biết ơn sâu sắc tới TS Lê Văn Từ đã trực tiếp hướng dẫn, dành nhiều thời gian và tận tình chỉ bảo trong quá trình nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Văn phòng Tỉnh uỷ, Văn phòng
Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội Nông dân và Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk
đã tạo điều kiện thuận lợi, tận tình cung cấp tài liệu, số liệu để tôi hoàn thành Luận văn
Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng, song Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học và các quý thầy, cô giáo để Luận văn hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Đắk Lắk, ngày 22 tháng 02 năm 2021
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phan Quang Ngọc
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
1.1 Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 10 1.2 Thực hiện chính sách về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 18 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách về đào tạo nghề
1.4 Kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách về đào tạo nghề cho lao động nông thôn và bài học rút ra cho Đắk Lắk 35
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách về đào tạo nghề
cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 40
2.2 Tình hình thực hiện chính sách về đào tạo nghề cho lao động nông
2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách về đào tạo nghề cho lao
Chương 3: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 77
3.1 Quan điểm, định hướng về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 77 3.2 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 86
Trang 6BCĐ Ban Chỉ đạo
LĐ - TB và XH Lao động - Thương binh và Xã hội
NN và PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 71 Bảng 2.1 Dân số, lao động, việc làm khu vực nông
thôn tỉnh Đắk Lắk
44
2 Sơ đồ 2.1 Phân công, phối hợp thực hiện chính
sách ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
57
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn Đề tài
Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn, dân số tương đối trẻ và đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với nguồn nhân lực dồi dào nhất từ trước đến nay Tính đến nay, dân số nước ta hơn 97 triệu người, trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước đạt trên 55 triệu người Cơ cấu lực lượng lao động phân theo hai khu vực thành thị và nông thôn; nhìn chung, lực lượng lao động ở nước ta chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn
Hiện nay, lao động nông thôn (LĐNT) ở nước ta chiếm tỷ lệ lớn trong
cơ cấu lao động của cả nước, khoảng 66% dân số trong độ tuổi lao động và có
vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước, LĐNT nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, một bộ phận người lao động ở một số lĩnh vực, khu vực mất đất sản xuất, mất việc làm, năng lực, tay nghề chưa đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động Thực trạng đó đòi hỏi phải có chính sách giải quyết việc làm cho LĐNT trên cơ sở cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa với trình độ khoa học, công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện nay Do đó, đào tạo nghề (ĐTN) cho LĐNT vừa đông đảo về số lượng, vừa có trình độ, tay nghề, kỹ năng lao động cần thiết, phù hợp với vị trí công việc được xã hội phân công là một trong những chiến lược quan trọng, góp phần xoá đói giảm nghèo và an sinh xã hội
Nhận thức về tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực lao động xã hội, đặc biệt là nguồn nhân lực qua ĐTN, những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ và khuyến khích công tác ĐTN cho LĐNT Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7, khóa
Trang 9X ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 về “nông nghiệp,
nông dân, nông thôn”, đã xác định: “Hình thành Chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm hàng năm đào tạo khoảng một triệu LĐNT; phấn đấu đến năm 2020 lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội; tỷ lệ LĐNT qua đào tạo đạt trên 50%” [1]
Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số TTg, ngày 27/11/2009 phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Đề án của Chính phủ đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng
1956/QĐ-và Nhà nước ta: “ĐTN cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển ĐTN cho LĐNT, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông thôn, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia ĐTN cho LĐNT” [27]
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Đắk Lắk đã quan tâm, ban hành cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới công tác quản lý và triển khai thực hiện chính sách ĐTN; gắn ĐTN với giải quyết việc làm cho LĐNT; đã có bước phát triển và đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, tạo cơ hội có việc làm cho người lao động, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của tỉnh
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk vẫn còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế: Chỉ tiêu ĐTN chưa đạt kế hoạch đề ra; trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị có
Trang 10liên quan trong thực hiện chính sách chưa được phát huy đầy đủ; chưa quan tâm xác định rõ đối tượng ưu tiên ĐTN, các yếu tố đặc thù về LĐNT, lao động dân tộc thiểu số; hoạt động tư vấn, hướng nghiệp học nghề, việc làm chưa thật hiệu quả, chưa gắn công tác tuyển sinh, ĐTN với giải quyết việc làm; trang thiết bị được đầu tư tại một số đơn vị GDNN chưa đồng bộ, có nơi
sử dụng chưa hiệu quả; sau khi được ĐTN vẫn còn một bộ phận lao động chưa tìm được việc làm hoặc làm nhưng không đúng với nghề đã học
Xuất phát từ thực trạng trên, đề tài mong muốn tìm ra một số giải pháp tăng cường thực hiện chính sách về ĐTN cho LĐNT, nhằm phát triển nguồn nhân lực, chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho LĐNT, phục vụ tốt hơn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước nói
chung, của tỉnh Đắk Lắk nói riêng Vì vậy, học viên chọn Đề tài “Thực hiện chính sách về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” làm Đề tài Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài Luận văn
Chính sách và thực hiện chính sách ĐTN, ĐTN cho LĐNT gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là đề tài được nhiều nhà lãnh đạo, quản lý, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu, bài viết xoay quanh vấn đề ĐTN cho LĐNT và thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT ở những khía cạnh, góc độ khác nhau Có thể kể đến các công trình sau đây:
- Các công trình nghiên cứu về ĐTN cho LĐNT:
+ Viện Nghiên cứu khoa học Dạy nghề (2011), Mô hình dạy nghề và giải quyết việc làm cho lao động ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất
Cuốn sách được biên soạn dựa trên các tài liệu nghiên cứu, các tài liệu thực tế
Trang 11thông qua các đề tài, đề án của Viện Nghiên cứu khoa học Dạy nghề và của các tác giả, các cơ quan trong và ngoài nước Nội dung nêu những vấn đề chung về quá trình đô thị hóa và những hệ lụy đối với nông thôn Việt Nam nói chung và những người dân ở những khu vực bị mất đất do chuyển đổi mục đích sử dụng nói riêng; nhu cầu học nghề của người lao động và những
mô hình dạy nghề, giải quyết việc làm cho các nhóm LĐNT khác nhau [39]
+ Nguyễn Tiến Dũng (2014), Mô hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách nên những nội dung cơ bản
về ĐTN cho LĐNT; đánh giá một số mô hình dạy nghề cho LĐNT đã được triển khai trong thực tế và chỉ ra những vấn đề vướng mắc chưa giải quyết được hiện nay [11]
+ Nguyễn Hồng Nhung (2017), Đào tạo nghề cho lao động nông thôn - Thực trạng và giải pháp Bài viết đã phân tích đánh giá thực trạng công tác
ĐTN cho LĐNT; đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả ĐTN cho LĐNT trong thời gian tiếp theo [17]
- Các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT: + Lê Thị Mỹ Hằng (2017), Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công,
Học viện Hành chính Quốc gia Tác giả đã phân tích, đánh giá hoạt động quản
lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, chỉ ra thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động của khách thể này; đề xuất một
số giải pháp, kiến nghị cho công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTN cho LĐNT nhằm hoàn thiện công tác này tại địa phương [14]
+ Bùi Thị Hải (2017), Quản lý nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc
gia Trên cơ sở nghiên cứu, luận giải về lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước
Trang 12đối với ĐTN trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, tác giả đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực này, đáp ứng yêu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho xã hội giai đoạn hiện nay và các năm tiếp theo [12]
+ Nguyễn Anh Tài (2017), Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, Luận văn Thạc sĩ Quản
lý công, Học viện Hành chính Quốc gia Luận văn đã phân tích, đánh giá tình hình ĐTN cho thanh niên dân tộc thiểu số, trong đó có một bộ phận là lao động ở vùng nông thôn Đắk Lắk; đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng ĐTN nói chung và ĐTN cho thanh niên dân tộc thiểu số nói riêng [26]
- Các công trình nghiên cứu về chính sách về ĐTN cho LĐNT:
+ Trần Việt Tiến (2012), Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng
và định hướng hoàn thiện Bài viết đã góp phần làm rõ thực trạng chính sách
việc làm ở nước ta hiện nay Từ đó đưa ra định hướng các giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm đến năm 2020 [34]
+ Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2017), Thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, Luận văn Thạc sĩ
Chính sách công, Học viện Hành chính Quốc gia Tác giả đã đưa ra và phân tích các nội dung của thực thi chính sách ĐTN cho LĐNT như: Thực trạng về nhu cầu sử dụng lao động, nhu cầu học nghề của người lao động, thực trạng
về ngành nghề và hình thức ĐTN cho lao động trên địa bàn huyện Trên cơ sở
đó, tác giả phân tích và đánh những thành tựu và những khó khăn trong quá trình thực hiện ĐTN cho LĐNT tại huyện Thanh Ba; đề xuất các giải pháp để thực thi có hiệu quả hơn chính sách ĐTN cho LĐNT [16]
+ Võ Thanh Tùng (2018), Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam, Luận văn Thạc sĩ Chính sách
Trang 13công, Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam Luận văn đã khái quát cơ sở lý luận chung về chính sách ĐTN cho LĐNT; trên cơ sở thực trạng việc thực hiện chính sách này tại tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2013 - 2017 để phân tích, đánh giá, nêu lên những kết quả, những thành công cũng như như tồn tại, hạn chế của chính sách, để từ đó đề xuất, hệ thống một số quan điểm, định hướng nhằm huy động các nguồn lực cho ĐTN; quan điểm hoàn thiện chính sách; quan điểm gắn ĐTN và giải quyết việc làm cho LĐNT ở Quảng Nam [35]
Những công trình nghiên cứu, tư liệu nêu trên là nguồn tài liệu quý giá
để tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài của mình Tuy nhiên, vẫn chưa có đề tài, công trình nào nghiên cứu chuyên sâu trực tiếp đến thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT của tỉnh Đắk Lắk Trên góc độ chính trị, xã hội, tác giả mong muốn tiếp tục làm rõ thực trạng, kết quả đã đạt được, đồng thời đề xuất một số giải pháp cơ bản để tăng cường thực hiện chính sách về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là nghiên cứu về thực hiện chính sách ĐTN cho
LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk để củng cố và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận và đề xuất những giải pháp tăng cường thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của Luận văn là:
- Hệ thống hoá, phân tích và làm rõ thêm cơ sở khoa học thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT
Trang 14- Đánh giá và phân tích thực trạng thực hiện chính sách về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
- Đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách về
ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2010 đến năm 2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu: Tìm hiểu các nghiên cứu đã có về chính sách và thực hiện chính sách về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk và ở Việt Nam; đánh giá các quan điểm hợp lý và chưa hợp lý từ đó đưa
ra các kiến giải theo cách tiếp cận của tác giả
- Phương pháp thực chứng: Dựa trên những tư liệu thực tiễn của các ngành, các địa phương để phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; những kết quả, hạn chế làm cơ sở
Trang 15để đối chứng, phân tích và đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Ngoài ra còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích trong quá trình nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp và phân tích định lượng: Dựa trên tài liệu, thông tin thực tiễn của các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp (GDNN), các trường trung cấp, cao đẳng và các dữ liệu thu thập được để phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; những kết quả và hạn chế làm cơ sở để đưa ra những kết luận và đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1 Đóng góp về lý luận của Luận văn
Về lý luận, Luận văn hệ thống hoá, làm rõ thêm khái niệm liên quan đến chính sách và thực hiện chính sách về ĐTN cho LĐNT; xác định rõ những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của Luận văn
Về thực tiễn, những đề xuất của Luận văn là cơ sở để hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm tăng cường thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Luận văn là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và cơ quan hữu quan trong thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng, sơ đồ, chữ cái viết tắt, nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương:
Trang 16Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Trang 17Chương 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.1 Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Đào tạo nghề
Tại khoản 2, Điều 3, Luật GDNN được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ
8 thông qua ngày 27/11/2014 đưa ra khái niệm: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [19]
Như vậy, đào tạo nghề nghiệp bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là dạy nghề và học nghề Luật GDNN cũng quy định có các cấp trình độ đào tạo là sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên
ĐTN là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức đến người học nghề
để hình thành và phát triển một cách có hệ thống những kỹ năng, kiến thức và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu bản thân người học nghề, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu quốc gia
Mục tiêu của ĐTN là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo;
có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm
Trang 18nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn
Từ những cơ sở lý luận trên có thể hiểu: ĐTN là hoạt động dạy nghề, học nghề nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp đối với công việc hiện tại và trong tương lai để người lao động có thể tự tạo việc làm, tìm kiếm việc làm hoặc có cơ hội nâng cao chất lượng của quá trình lao động và thăng tiến trong nghề nghiệp ĐTN
là một nhiệm vụ trọng tâm trong việc phát triển nguồn nhân lực và gắn với việc giải quyết nhu cầu về việc làm của người lao động
1.1.1.2 Lao động nông thôn
LĐNT có thể hiểu đây là một bộ phận quan trọng trong lực lượng lao động xã hội LĐNT bao gồm toàn bộ người lao động trong độ tuổi lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân; những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh
tế quốc dân và hiện sinh sống ở khu vực nông thôn
1.1.1.3 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Từ khái niệm ĐTN và khái niệm LĐNT, khi nói đến ĐTN cho LĐNT được hiểu là:
- ĐTN cho LĐNT là hoạt động dạy nghề, học nghề nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp đối với công việc hiện tại và trong tương lai để người LĐNT có thể tự tạo việc làm, kiếm việc làm hoặc có cơ hội nâng cao chất lượng của quá trình lao động hoặc thăng tiến trong nghề nghiệp và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn
Trang 19- ĐTN cho LĐNT là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức đến người LĐNT để hình thành và phát triển một cách có hệ thống những kỹ năng, kiến thức và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu bản thân người LĐNT, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu quốc gia
- ĐTN cho LĐNT là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.1.1.4 Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chính sách ĐTN cho LĐNT là sự vận dụng quan điểm “chính sách công” vào trong lĩnh vực ĐTN cho LĐNT, hay nói cách khác chính sách ĐTN cho LĐNT là một chính sách công Chính sách công được hiểu, đây là
sự lựa chọn hành động của Nhà nước, được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do Nhà nước ban hành và tác động lên đối tượng để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển theo định hướng nhất định
Từ khái niệm chính sách công, khi bàn đến chính sách ĐTN cho LĐNT
có thể được hiểu: Chính sách ĐTN cho LĐNT là một tập hợp các quyết định
có nội dung liên quan với nhau do các cơ quan Nhà nước ban hành nhằm lựa chọn mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp, công cụ để thực hiện ĐTN cho LĐNT, góp phần nâng cao kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp đối với công việc, để người LĐNT có thể tự tạo việc làm, tìm kiếm việc làm hoặc có cơ hội nâng cao chất lượng của quá trình lao động, đáp ứng yêu cầu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Như vậy, chính sách ĐTN cho LĐNT được hiểu là ý chí của Nhà nước thể hiện thông qua tập hợp các quyết định để lựa chọn, xác định mục tiêu,
Trang 20nguyên tắc và các biện pháp nhằm phát triển quy mô, cơ cấu, số lượng và chất lượng nguồn lao động khu vực nông thôn nhằm phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân vùng nông thôn
Chính sách ĐTN cho LĐNT được thực hiện chủ yếu thông qua các chương trình như: Xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng các trường, cơ sở ĐTN; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị các đơn vị thực hiện ĐTN; sử dụng, bồi dưỡng và quy định các chế độ đối với cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề; thực hiện miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu học phí đối với người học nghề; xây dựng chương trình học nghề theo khung trình độ
1.1.2 Mục tiêu, đối tượng và nội dung chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.1.2.1 Mục tiêu của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
ĐTN nói chung và ĐTN cho LĐNT cũng như chính sách ĐTN cho LĐNT nói riêng luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa X về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn” đã xác định một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng của Nghị quyết là việc thực hiện ĐTN, giải quyết việc làm
cho LĐNT Nghị quyết đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 “…giải quyết
cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% trên tổng lao động xã hội, tỷ lệ LĐNT qua đào tạo đạt trên 50%” [1] Triển khai thực hiện Nghị
quyết của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ngày 28/10/2008, trong đó việc xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về đào
Trang 21tạo nguồn nhân lực ở nông thôn là một trong những chương trình quan trọng của Nghị quyết và với mục tiêu:
- Tập trung đào tạo nguồn nhân lực nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của LĐNT tăng lên 2,5 lần so với hiện nay
- Tập trung xây dựng kế hoạch, đề ra các giải pháp để đào tạo con em nông dân có đủ trình độ, năng lực để vào làm việc trong các cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ sở dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp; đối với bộ phận nông dân còn tiếp tục sản xuất nông nghiệp thì tiến hành đào tạo, trang bị kiến thức, kỹ năng cho họ, để nâng cao trình độ, nắm bắt được kỹ thuật, công nghệ sản xuất mới; bên cạnh đó tập trung đào tạo nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ quản
lý, cán bộ cơ sở [9]
Căn cứ Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “ĐTN cho LĐNT đến năm 2020” Đề án đã xác định mục tiêu: Bình quân hàng năm ĐTN cho khoảng 1 triệu LĐNT, trong đó đào tạo, bồi dưỡng 100.000 lượt cán bộ, công chức xã Nâng cao chất lượng và hiệu quả ĐTN, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của LĐNT; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ, năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý hành chính, quản lý, điều hành kinh tế - xã hội và thực thi công vụ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn [27]
Như vậy, mục tiêu của chính sách ĐTN cho LĐNT là nhằm đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách
Trang 22nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn
1.1.2.2 Đối tượng của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Theo Đề án ĐTN cho LĐNT đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ, đối tượng của chính sách ĐTN cho LĐNT được xác định là:
Thứ nhất, LĐNT trong độ tuổi lao động, có trình độ học vấn và sức
khỏe phù hợp với nghề cần học Trong đó ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng
là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ ngh o, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ ngh o, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác [27] Qua 5 năm thực hiện Đề án ĐTN cho LĐNT, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 971/QĐ-TTg, ngày 01/7/2015 về sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1956/QĐ-TTg, theo đó đối tượng của chính sách được xác định là: LĐNT từ
đủ 15 tuổi đến 60 tuổi (đối với nam), 55 tuổi (đối với nữ), có trình độ học vấn
và sức khỏe phù hợp với nghề cần học, bao gồm: Người lao động có hộ khẩu thường trú tại xã và người lao động có hộ khẩu thường trú tại phường, thị trấn đang làm nông nghiệp hoặc hộ gia đình có đất nông nghiệp bị thu hồi Trong các đối tượng này, ưu tiên ĐTN cho người lao động thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, hộ cận ngh o, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người thuộc hộ gia đình bị
thu hồi đất nông nghiệp, ngư dân [29]
Thứ hai, cán bộ chuyên trách Đảng, đoàn thể chính trị - xã hội, chính
quyền và công chức chuyên môn xã; cán bộ nguồn bổ sung thay thế cho cán
Trang 23bộ, công chức xã đến tuổi nghỉ công tác hoặc thiếu hụt do cơ học có độ tuổi phù hợp với quy hoạch cán bộ đến năm 2015 và đến năm 2020 [27]
1.1.2.3 Nội dung của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Đề án ĐTN cho LĐNT đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định những nội dung cơ bản của chính sách ĐTN cho LĐNT, bao gồm:
Thứ nhất, chính sách đối với người học: LĐNT khi học nghề nhất là
LĐNT được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ ngh o, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác… được hỗ trợ chi phí học nghề, được vay vốn tín dụng để học nghề và sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm, lập thân, lập nghiệp Chính phủ
đã ban hành các văn bản pháp lý nêu rõ về các chính sách như: Quyết định số 52/2012/QĐ-TTg, ngày 16/11/2012 về chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm
và ĐTN cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Thứ hai, chính sách đối với giáo viên, giảng viên: Chính sách đối với
giáo viên, giảng viên dạy nghề ngày càng được quan tâm Hiện nay họ được hưởng các chính sách chung đối với nhà giáo trong hệ thống giáo dục quốc dân Ngoài ra, còn có một số chế độ, chính sách riêng đối với giáo viên dạy nghề như: Chính sách về phụ cấp cho giáo viên khi dạy thực hành các nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp đặc thù cho giáo viên dạy nghề cho người tàn tật, khuyết tật và phụ cấp lưu động Giáo viên dạy nghề ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có nhiều đồng bào dân
tộc thiểu số đều có chế độ đãi ngộ riêng
Thứ ba, chính sách đối với cơ sở ĐTN cho LĐNT: Nhà nước có chính
sách đầu tư mở rộng mạng lưới cơ sở ĐTN; hỗ trợ kinh phí, đầu tư cơ sở vật chất thiết bị dạy nghề cho trung tâm dạy nghề; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng
Trang 24nghiệp vụ sư phạm giáo dục nghề đối với giảng viên, giáo viên, kỹ năng dạy học đối với người dạy nghề, nghiệp vụ quản lý dạy nghề cho LĐNT đối với cán bộ quản lý Ngày 23/5/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 761/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020” với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 40 trường nghề chất lượng cao đủ năng lực đào tạo một số nghề được các nước tiên tiến trong khu vực ASEAN hoặc quốc tế công nhận, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện ĐTN ở Việt Nam và đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đề án cũng đã nêu rõ những ưu đãi về đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại để phát triển hệ thống các trường này, góp phần đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ, có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp cao, trên cơ sở tăng cường
năng lực cạnh tranh của người lao động [27], [28]
1.1.3 Vai trò và tầm quan trọng của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Vai trò và tầm quan trọng của chính sách ĐTN cho LĐNT được thể hiện ở những điểm sau:
Một là, chính sách ĐTN cho LĐNT là cơ sở pháp lý để triển khai công
tác ĐTN cho LĐNT được đồng bộ, thống nhất và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Hai là, chính sách ĐTN cho LĐNT là một trong những giải pháp đột
phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nhằm đào tạo nguồn lao động
có tay nghề, phát triển nhanh đội ngũ lao động kỹ thuật trực tiếp, phục vụ cho
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần đảm bảo an sinh
xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước
Ba là, chính sách ĐTN cho LĐNT góp phần chuyển dịch lao động,
Trang 25chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là thực hiện giảm nghèo bền vững, từng bước giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn
Chính vì vậy, ĐTN và nâng cao chất lượng ĐTN cho lao động nói chung và LĐNT nói riêng có một ý nghĩa rất lớn, là yêu cầu cần thiết và cấp bách, là chính sách hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong thời gian qua cũng như trong giai đoạn đến
1.2 Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.2.1 Khái niệm thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Thực hiện đơn giản có nghĩa là thực thi hay tiến hành Tổ chức thực hiện chính sách là yêu cầu tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của chính sách với tư cách là công cụ vĩ mô theo yêu cầu quản lý của Nhà nước và cũng
là để đạt được mục tiêu mà chính sách theo đuổi Nghiên cứu vấn đề này, một
số học giả đưa ra khái niệm:
- Nguyễn Hữu Hải (2014), Chính sách công - những vấn đề cơ bản, định nghĩa: “Tổ chức thực thi chính sách đưa ra là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo cách thức khác nhau nhằm hiện thực hoá nội dung
chính sách công một cách hiệu quả” [13, tr.127]
- Lê Như Thanh, Lê Văn Hòa (2016), Hoạch định và thực thi chính sách công, đưa ra khái niệm: “Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện
chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công” [36, tr.97]
Trang 26Như vậy, thực hiện chính sách công là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo các cách thức khác nhau để đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự
án thực hiện chính sách và tổ chức thực hiện nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách công một cách có hiệu quả
Do chính sách ĐTN cho LĐNT là một chính sách công và từ những đặc điểm chung, cách tiếp cận thực hiện chính sách công nêu trên, chúng tôi hiểu:
Thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT đó là một khâu cấu thành của chu trình chính sách ĐTN, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của Nhà nước về ĐTN cho LĐNT vào trong thực tiễn cuộc sống thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực hiện chính sách ĐTN và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách và đạt được mục tiêu Nhà nước đề ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
1.2.2 Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chính sách ĐTN cho LĐNT là một chính sách có tính nhân văn sâu sắc, tính xã hội hóa cao, liên quan đến các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội cùng tham gia thực hiện Qua thực hiện chính sách đã giúp cho nhiều LĐNT, đặc biệt là lao động là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh khó khăn có cơ hội học nghề, được tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống Ngoài ra, việc thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT tốt sẽ góp phần làm tăng uy tín của Nhà nước, chủ thể hoạch định và ban hành chính sách Trên cơ sở nhận thức
về vị trí, vai trò của chính sách ĐTN cho LĐNT cho thấy hoạt động này có ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng đặc biệt, đó là:
Trang 27Thứ nhất, thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT nhằm biến ý đồ chính
sách thành hiện thực Trong quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước phải đối xử với nhiều đối tượng có quan hệ khác nhau, có địa vị chính trị, kinh tế, xã hội và pháp lý khác nhau, nên vai trò của từng đối tượng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội cũng khác nhau Để phát huy tác dụng của các đối tượng trong quá trình vận động đến mục tiêu, Nhà nước có thái độ ứng xử một cách thích hợp với mỗi vấn đề phát sinh thông qua công
cụ là chính sách Với mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong đó có đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Nhà nước hoạch định ra chính sách ĐTN cho LĐNT và thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT chính là giai đoạn biến thái độ ứng xử của Nhà nước với các đối tượng quản lý (hay ý đồ chính sách) thành hiện thực
Thứ hai, thực hiện chính sách nhằm từng bước hiện thực hoá mục tiêu
chính sách Các mục tiêu của chính sách ĐTN cho LĐNT chỉ có thể đạt được thông qua quá trình thực hiện, vì thực hiện chính sách bao gồm các hoạt động
có tổ chức được các cơ quan nhà nước và các đối tác xã hội thực hiện hướng tới đạt được mục đích, mục tiêu đã xác định trong chính sách Trong quá trình thực hiện, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thiết lập các văn bản, chương trình, dự án để hiện thực hoá các mục tiêu và mục đích chính sách và triển khai các hoạt động để thực hiện các văn bản, chương trình, dự án đó
Thứ ba, thực hiện chính sách nhằm khẳng định tính đúng đắn của chính
sách Quá trình hoạch định chính sách cho ra đời chính sách ĐTN cho LĐNT Tuy nhiên, chính sách ĐTN cho LĐNT có thực sự đúng đắn hay không chỉ có thể được nhận thức đầy đủ trong quá trình thực hiện Thực hiện chính sách sẽ cung cấp những bằng chứng thực tiễn về mục tiêu của chính sách có thích hợp không; các giải pháp có phù hợp với vấn đề mà chính sách hướng tới giải quyết không Trên phương diện lý thuyết, chính sách ĐTN cho LĐNT khi
Trang 28được hoạch định, ban hành được coi là tốt thì giá trị của nó mới chỉ dừng lại ở phương diện nguyện vọng, mong muốn và chỉ được các chủ thể ban hành thừa nhận; nhưng khi triển khai vào thực tiễn đời sống xã hội, thì tính đúng đắn của chính sách được khẳng định ở mức cao hơn, tức là được xã hội và các đối tượng thụ hưởng chính sách khẳng định một cách chắc chắn
Thứ tư, thực hiện chính sách nhằm giúp cho chính sách ngày càng hoàn
thiện hơn Chính sách được ban hành ban đầu thường chỉ mang tính định hướng về mục tiêu và giải pháp để giải quyết vấn đề ĐTN cho LĐNT Căn cứ vào mục tiêu, giải pháp ban đầu và thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước các cấp thiết kế, ban hành các quy định, thủ tục hay chương trình, dự án để cụ thể hoá các mục tiêu, giải pháp cho phù hợp với điều kiện, bối cảnh thực hiện Đồng thời, thông qua thực hiện chính sách, những người thực hiện đưa ra những đề xuất điều chỉnh, bổ sung chính sách cho phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và rút ra bài học cho thiết kế chính sách trong tương lai Những điều chỉnh, bổ sung về mục tiêu hay biện pháp chính sách đang thực hiện chính là giúp cho chính sách ngày càng hoàn thiện hơn
1.2.3 Chủ thể thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chính sách ĐTN cho LĐNT là một đề án, chương trình quốc gia lớn,
do đó chủ thể tham gia thực hiện chính sách rất đông đảo, gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng LĐNT và các đối tượng của chính sách; trong đó chủ thể trước hết và quan trọng nhất là các cơ quan hành chính nhà nước cùng với công chức của các cơ quan đó Các chủ thể này
có mối quan hệ tương tác với nhau trong quá trình thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT
Căn cứ Đề án ĐTN cho LĐNT đến năm 2020 của Thủ tướng Chính
Trang 29phủ, có thể nhóm các chủ thể tham gia thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT thành ba nhóm, bao gồm:
Nhóm thứ nhất: Chủ thể thực hiện là các cơ quan nhà nước và nhân sự
của các cơ quan đó - đây là chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT Trong đó ngành Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ -
TB và XH) là cơ quan thường trực của Đề án, chủ trì phối hợp với các ngành,
cơ quan hữu quan để triển khai Đề án ĐTN cho LĐNT
Nhóm thứ hai: Chủ thể tham gia là các đối tác phi nhà nước, đây là các
doanh nghiệp, nhà máy, công xưởng, trang trại, cơ sở sản xuất, kinh doanh
Nhóm thứ ba: Chủ thể tham gia với tư cách là đối tượng thụ hưởng
chính sách ĐTN là LĐNT tham gia học nghề Đây là chủ thể quan trọng, có tính quyết định đến sự thành công trong thực hiện chính sách ĐTN là LĐNT
1.2.4 Các bước tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Quá trình tổ chức thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT là giai đoạn hiện thực hoá chính sách, đưa chính sách vào thực tiễn đời sống xã hội Xuất phát từ tầm quan trọng của giai đoạn hiện thực chính sách, do đó các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền cần phải đặc biệt quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách Để tổ chức, điều hành có hiệu quả quá trình này, các cơ quan nhà nước, chính quyền, cán bộ, công chức cần thực hiện nhiều nội dung quản lý khác nhau, nhưng phải tuân thủ quy trình, các bước sau:
1.2.4.1 Xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT được xây dựng trước khi đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống Các cơ quan triển
Trang 30khai thực hiện chính sách các cấp đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Một là, kế hoạch tổ chức, điều hành: Nội dung kế hoạch bao gồm
những dự kiến về hệ thống các cơ quan chủ trì và phối hợp; số lượng, chất lượng nhân sự tham gia tổ chức thực hiện; dự kiến trách nhiệm của cán bộ quản lý và trách nhiệm của công chức thực thi; cơ chế tác động giữa các cấp thực hiện
Hai là, kế hoạch cung cấp các nguồn lực: Bao gồm dự kiến về các cơ
sở kiến trúc, trang thiết bị kỹ thuật; các nguồn lực tài chính, các vật tư, văn phòng phẩm…
Ba là, kế hoạch thời gian thực hiện: Là dự kiến thời gian duy trì chính
sách; dự kiến các bước triển khai thực hiện từ tuyên truyền đến tổng kết rút kinh nghiệm Mỗi bước đều có mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu
Bốn là, kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách: Là những dự
kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát, đôn đốc tổ chức thực hiện chính sách
Năm là, dự kiến những nội quy, quy chế: Bao gồm nội quy, quy chế về
tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật tập thể, cá nhân trong thực hiện chính sách
1.2.4.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách, pháp luật về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Sau khi bản kế hoạch thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT được thông
Trang 31qua, các cơ quan nhà nước, các địa phương tiến hành triển khai tổ chức thực hiện theo kế hoạch Công việc trước tiên cần làm trong quá trình này là tuyên truyền, vận động Nhân dân, LĐNT tham gia thực hiện chính sách Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với các cơ quan nhà nước, các địa phương và các đối tượng thực hiện chính sách
Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp các đối tượng chính sách và người LĐNT tham gia thực hiện hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách;
về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định; về tính khả thi của chính sách để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của Nhà nước, đồng thời, còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao
Phổ biến, tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách đang được thực hiện, để mọi đối tượng cần tuyên truyền luôn có niềm tin vào chính sách và tích cực tham gia thực hiện chính sách Phổ biến, tuyên truyền bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng hoặc gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng, phát tờ rơi, panô, áp phích…Tuỳ theo yêu cầu của các cơ quan quản lý, tính chất của từng loại chính sách và điều kiện cụ thể mà lựa chọn hình thức tuyên truyền, phổ biến thích hợp
1.2.4.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chính sách ĐTN cho LĐNT thường được thực hiện trên phạm vi rộng lớn, vì thế số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực hiện chính sách là rất
Trang 32lớn Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách, người lao động thực hiện và bộ máy tổ chức thực hiện của Nhà nước Bên cạnh đó, các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách diễn ra rất phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian, chúng đan xen, thúc đẩy hay kìm hãm nhau theo quy luật
Do đó, muốn tổ chức thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực hiện chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách Sự phân công, thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT là phân công cơ quan chủ trì và các cơ quan
có liên quan phối hợp thực hiện chính sách Hoạt động phân công diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách
1.2.4.4 Kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT là hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền thông qua các công cụ hữu ích
và dựa trên nội dung kế hoạch đã được xây dựng, ban hành, nhằm làm cho các chủ thể thực hiện chính sách nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng của chính sách ĐTN cho LĐNT
Thông qua kiểm tra tình hình tổ chức thực hiện chính sách sẽ kịp thời
bổ sung, hoàn thiện chính sách, vừa chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách, giúp nâng cao kết quả thực hiện chính sách của các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương Trong quá trình kiểm tra để đảm bảo tính khách quan, chính xác về kết quả kiểm tra cần có sự tham gia của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, thậm chí là của chính đối tượng chính sách,
Trang 33có như vậy mới đảm bảo được tính dân chủ trong quá trình thực hiện chính sách
Gắn liền công tác kiểm tra thực hiện chính sách phải thường xuyên đôn đốc thực hiện Vì trên thực tế, khi triển khai thực hiện chính sách, không phải
bộ phận nào cũng làm tốt, làm nhanh như nhau, vì thế cần có hoạt động đôn đốc để vừa thúc đẩy các chủ thể nỗ lực nhiều hơn để hoàn thành nhiệm vụ, vừa phòng chống các hành vi vi phạm quy định trong thực hiện chính sách
1.2.4.5 Duy trì và điều chỉnh chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Duy trì chính sách là làm cho chính sách sống được, tồn tại được trong môi trường thực tế và phát huy tác dụng Việc tổ chức duy trì thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT là bước quan trọng để đưa chính sách thực sự đi vào cuộc sống Do đó, cần thường xuyên tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực hiện chính sách; tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực hiện chính sách; tăng cường thực hiện dân chủ
để người lao động mạnh dạn tham gia quản lý xã hội, trong đó tự giác chấp hành chính sách và tham gia tìm kiếm, đề xuất các biện pháp thực hiện mục tiêu Ngoài ra, các cơ quan nhà nước có thể kết hợp sử dụng các biện pháp hành chính để duy trì chính sách
Chính sách ĐTN cho LĐNT trong quá trình thực hiện do tác động của nhiều yếu tố sẽ bộc lộ sự bất cập Điều chỉnh chính sách là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách Điều chỉnh chính sách được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế việc điều chỉnh các biện pháp, cơ chế
Trang 34chính sách diễn ra rất linh hoạt, vì thế cơ quan quản lý nhà nước, các cấp, các ngành chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện có hiệu quả chính sách, miễn là không làm thay đổi mục tiêu chính sách
Một nguyên tắc quan trọng trong điều chỉnh chính sách là chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu, hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách, thì coi như chính sách không tồn tại
1.2.4.6 Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Tổ chức thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình đó, các chủ thể thực thi chính sách tiến hành đánh giá, sơ kết theo từng giai đoạn hay đánh giá tổng kết kết quả thực hiện chính sách Việc đánh giá, sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách được tiến hành theo trình tự từ dưới lên trên
Đánh giá tổng kết thực hiện chính sách là quá trình xem xét, kết luận về công tác chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực hiện chính sách Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực hiện chính sách là các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương các cấp; vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và xã hội trong việc tham gia thực hiện chính sách
Cơ sở để đánh giá, tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện chính sách trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch được giao những nội quy, quy chế đã được xây dựng, phê duyệt; đồng thời, kết hợp với các văn bản liên tịch giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội và các văn bản quy phạm pháp luật khác để xem xét tình hình chỉ đạo, điều hành thực hiện chính sách của các tổ chức chính trị - xã hội và xã hội đối với Nhà nước
Trang 35Việc đánh giá tổng kết kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước còn xem xét, đánh giá việc thực hiện của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp, gián tiếp
từ chính sách Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện của các đối tượng này là tinh thần, thái độ hưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện cụ thể
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Quá trình thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT nói chung và trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng là cả một quá trình, có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân, vì thế, kết quả của hoạt động này cũng chịu sự tác động của nhiều yếu tố
1.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa
- Điều kiện tự nhiên: Các yếu tố về tự nhiên, đặc biệt là vị trí địa lý của
vùng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến cách thức và hiệu quả thực hiện chính sách ĐTN cho LĐNT trên địa bàn đó Trong quá trình thực hiện chính sách, tất nhiên các địa phương phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc chung nhưng cũng phải có sự linh hoạt ở cách thức triển khai thực hiện để khiến chính sách có thể phát huy tối đa hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của từng nơi, từng vùng
- Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa: Có thể nói, mỗi địa phương đều
có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, tùy thuộc vào nhiều yếu tố tác động, thậm chí các tỉnh trong khu vực nhưng vẫn có thể có sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội Tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương mà đề ra những hành động phù hợp để thực hiện chính
Trang 36sách, chẳng hạn, không thể mang cách thức thực hiện chính sách ĐTN ở những tỉnh, thành phố có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển để áp dụng vào những tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn hay vùng sinh sống đông đảo của đồng bào dân tộc thiểu số
Bên cạnh đó, yếu tố văn hóa vùng miền và tín ngưỡng, tôn giáo phổ biến ở mỗi địa phương cũng rất quan trọng Văn hoá của các dân tộc, của địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến việc thiết kế và thực hiện các chương trình thực thi chính sách ĐTN cho người lao động Một chính sách không phù hợp với tri thức địa phương, không phù hợp với tín ngưỡng, tôn giáo phổ biến ở địa phương đó, sẽ khó có thể được người dân địa phương chấp nhận
1.3.2 Quy mô và chất lượng của lực lượng lao động nông thôn
Nói đến chính sách ĐTN cho LĐNT trên địa bàn nào thì lao động của địa bàn đó chính là đối tượng cốt yếu và quan trọng nhất Nên trước hết, chính sách và việc thực hiện chính sách phải nhận được sự đồng tình và chấp hành của đối tượng này Như vậy, lao động tham gia học nghề là nhân tố trung tâm,
có tính quyết định đối với công tác ĐTN Trình độ văn hóa, sự hiểu biết, tâm
lý, cá tính, quỹ thời gian cùng nhận thức và thái độ nghề của những học viên
có ảnh hưởng lớn đến thực hiện chính sách ĐTN
Để chính sách ĐTN cho LĐNT thực hiện thực sự đạt hiệu quả, thì giữa các ngành nghề đào tạo đòi hỏi người lao động phải có trình độ nhất định Chẳng hạn, ĐTN trong lĩnh vực nông nghiệp, điều kiện học vấn chỉ đòi hỏi ở mức tốt nghiệp trung học cơ sở Còn đối với những ngành công nghiệp, dịch
vụ thì điều kiện cần về học vấn cao hơn, tối thiểu là trung học phổ thông Ngoài ra, đạo đức, tác phong, kỷ luật của người lao động là những phẩm chất
để đánh giá sự chuyên nghiệp hay không trong điều kiện sản xuất của một xã hội phát triển Những điều này, một mặt được hình thành từ tập quán, thói
Trang 37quen, lối sống của người lao động, hơn nữa, nó được hình thành thông qua quá trình đào tạo, giáo dục và bồi dưỡng trong các cơ sở giáo dục đào tạo
ĐTN cho LĐNT, vấn đề đặt ra không chỉ là việc đào tạo kỹ năng, nâng cao năng lực nhận thức và sáng tạo của đội ngũ này, mà quan trọng không kém chính là phải chú trọng giáo dục đạo đức, tác phong, kỷ luật lao động cho
họ Chỉ khi hình thành trong họ ý thức tự giác về kỷ luật lao động, trách nhiệm với công việc, nâng cao đạo đức nghề nghiệp và lối sống thì LĐNT mới phát huy hết khả năng của mình, trở thành một động lực quan trọng, đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước
1.3.3 Đội ngũ giáo viên, nhà quản lý và cơ sở vật chất trong các cơ
sở dạy nghề
Năng lực của các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được đề cập ở đây bao gồm cả năng lực chuyên môn, năng lực quản lý, điều hành của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân được giao nhiệm vụ Chính sách có tốt đến mấy nhưng không có một đội ngũ thực hiện tốt thì chính sách cũng chẳng thể phát huy được tác dụng
Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm và nhiệt huyết trong dạy nghề, truyền nghề sẽ góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng ĐTN Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên, nhà quản lý trong dạy nghề được xác định là chủ thể trong quá trình dạy nghề, truyền nghề; trong quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị, cơ sở vật chất giảng dạy; trong xây dựng chương trình, giáo trình phục vụ giảng dạy ; do đó, họ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng dạy nghề cũng như sự thành công trong việc thực hiện chính sách ĐTN, trong đó có ĐTN cho LĐNT ĐTN có những nét khác biệt so với cấp học khác trong nền giáo dục quốc dân, đó là ngành nghề đào tạo đa dạng, học viên và nghề học có nhiều cấp
Trang 38trình độ khác nhau Sự khác biệt đó làm cho đội ngũ giáo viên ĐTN cũng rất
đa dạng với nhiều cấp trình độ khác nhau
Ngoài yếu tố con người, yếu tố về cơ sở vật chất cũng không thể không được nhắc đến Điều kiện về cơ sở vật chất sẽ là công cụ hỗ trợ đắc lực cho các tổ chức, cá nhân trong tổ chức thực hiện, làm tăng hiệu quả của từng bước
trong quá trình thực hiện chính sách
1.3.4 Năng lực thực thi chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức
Năng lực thực thi chính sách của cán bộ, công chức trong bộ máy quản
lý Nhà nước có vai trò quyết định đến kết qủa tổ chức thực thi chính sách Năng lực thực thi chính sách của cán bộ, công chức là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về đạo đức công vụ, về năng lực thiết kế tổ chức, năng lực thực tế, năng lực phân tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó với những tình huống phát sinh trong tương lai
Nếu cán bộ, công chức có năng lực thực thi chính sách tốt, không những chủ động điều phối được các yếu tố chủ quan tác động theo định hướng, mà còn khắc phục phục được những ảnh hưởng tiêu cực của các yếu
tố khách quan để công tác thực thi chính sách mang lại kết quả thực sự Ngược lại, nếu năng lực của cán bộ, công chức đảm nhiệm thực thi chính sách yếu kém sẽ đưa ra những kế hoạch dự kiến không sát thực tế, làm lãng phí nguồn lực huy động, giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách, thậm chí còn làm biến dạng chính sách trong qúa trình thực hiện
1.3.5 Tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu nghề
Một trong những phương hướng, nhiệm vụ để đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, được Đảng ta xác định, đó là:
Trang 39- Phát triển có chọn lọc một số ngành công nghiệp chế tạo, chế biến, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp năng lượng, cơ khí, điện tử, hóa chất… Chú trọng phát triển các ngành có lợi thế cạnh tranh; công nghiệp hỗ trợ; công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn Tiếp tục phát triển hợp lý một số ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động
- Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu Đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển toàn diện cả về nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài; nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân từng bước hình thành các
tổ hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới và quá trình đô thị hóa một cách hợp lý, nâng cao chất lượng dịch vụ và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thu hẹp khoảng cách về phát triển giữa đô thị và nông thôn [3, tr.91-93]
Chủ trương này tác động rất lớn đến công tác ĐTN và thực hiện chính sách ĐTN cho lao động nói chung và LĐNT nói riêng, do có sự thay đổi cơ cấu nghề, chuyển đổi nghề để đáp ứng yêu cầu trong điều kiện mới Điều này đặt ra yêu cầu của chiến lược dạy nghề phải từng bước thay đổi cơ cấu lao động ở nông thôn hiện nay, đó là các sản phẩm công nghiệp do gia công, ít ứng dụng công nghệ cao phục vụ cho xuất khẩu sẽ không còn là thế mạnh; do vậy, một mặt phải nâng cao chất lượng các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh
Trang 40tranh, sử dụng nhiều lao động như ngành chế biến nông, lâm, thuỷ sản, may mặc, giày da , mặt khác phải chú trọng vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao Bên cạnh đó, chiến lược dạy nghề phải đáp ứng yêu cầu vừa là đào tạo, chuyển đổi ngành nghề đối với lao động trước đây họ
là nông dân bây giờ là công nhân, để cung ứng cho các nhà máy, cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đồng thời phải đào tạo đội ngũ lao động có trình độ cao để đáp ứng yêu cầu của các các ngành nghề áp dụng công nghệ mới để nâng cao giá trị sản phẩm, phục vụ cho xuất khẩu
1.3.6 Mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách
Mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách đó chính là lợi ích, động cơ của các bên liên quan, như: Những người thụ hưởng chính sách, các đối tác, những người có liên quan khác có ảnh hưởng lớn đến kết quả thực thi chính sách Nội hàm chủ yếu của mối quan hệ này thể hiện thống nhất hay không về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực thi chính sách Ảnh hưởng của họ đến quá trình thực thi chính sách công được thể hiện ở những phương diện dưới đây:
- Về tiềm năng chính trị và kinh tế: Các nguồn lực kinh tế và chính trị
của các bên liên quan ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách Các nhóm quyền lực bị ảnh hưởng bởi chính sách có thể ủng hộ hoặc chống đối chính sách, do đó, các cơ quan thực thi chính sách cần tranh thủ sự ủng hộ hoặc nhượng bộ với các nhóm này Hơn nữa, tiềm năng kinh tế của đối tượng thụ hưởng và các bên đối tác quyết định mức độ tham gia của họ vào quá trình thực thi chính sách Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà đối tượng thụ hưởng không thể tiếp cận được một chính sách thì coi như chính sách công đó thất bại, hoặc các bên đối tác không nhiệt tình tham gia vào quá trình tạo ra