Do 1 số lỗi nên file bị mất phần công thức trong phần xem trước, nếu các bạn tải về sẽ có công thức hiển thị đầy đủ ^^ Lạm phát ở Việt Nam đang nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về vai trò của nó đối với sự tăng trưởng kinh tế. Sau hơn một thập kỷ lạm phát ở mức vừa phải, hiện nay lạm phát ở nước ta đang ở mức cao (đặc biệt là có phần giống năm 2007 và 2008) và nó đã và đang là “kẻ phá hoại” có tác động xấu đến các hoạt đông kinh tế. Nó như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể mong muốn đạt kết quả khả quan. Cùng với sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế, và nguyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp. Trong sự nghiệp phát triển thị trường ở nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước, việc nghiên cứu về lạm phát, tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát có vai trò to lớn góp phần vào sự phát triển đất nước. Vì vây, chúng em chọn đề tài “ Lạm Phát ở Việt Nam: Lạm Phát Việt Nam 2007- 2008” để có thể nghiên cứu kỹ hơn về lạm phát ở Việt Nam và qua đó chúng em có thể rút ra các biện pháp khắc phục nhằm giảm lạm phát trong thời kỳ kinh tế mở và phát triển một cách đồng bộ ở Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu đề tài chắc chắn còn nhiều thiếu sót, chúng em kính mong sự góp ý chân thành của thầy cô và bạn đọc để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!
Cơ sở lý luận
Khái niệm về lạm phát
Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian, dẫn đến sự mất giá trị của tiền tệ Khi giá cả tăng cao, sức mua của một đơn vị tiền tệ giảm, khiến người tiêu dùng có thể mua ít hàng hóa và dịch vụ hơn Để đánh giá lạm phát, người ta thường sử dụng các chỉ số như chỉ số giảm phát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giá hàng tư liệu sản xuất (PPI).
Các quốc gia thường kỳ vọng lạm phát ở mức 5% trở xuống, trong khi mức tăng trưởng kinh tế dự kiến khoảng 10% Khi tiền mất giá 5%, điều này dẫn đến tăng trưởng thực sự của quốc gia chỉ đạt 5%.
- Thước đo tình trạng lạm phát chủ yếu trong một thời kỳ là tỷ lệ lạm phát.
Phân loại lạm phát
1.2.1 Căn cứ vào mức độ định lượng
Lạm phát có 3 mức độ:
- Lạm phát tự nhiên (vừa phải) : 0 – dưới 10%
Lạm phát tự nhiên, hay còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ dưới 10% mỗi năm, dẫn đến sự biến động giá cả tương đối Trong giai đoạn này, nền kinh tế hoạt động bình thường và đời sống của người lao động ổn định, thể hiện qua việc giá cả tăng chậm, lãi suất tiền gửi không cao, và không xảy ra tình trạng mua bán hay tích trữ hàng hóa lớn Lạm phát vừa phải tạo ra tâm lý an tâm cho người lao động, giúp họ chỉ tập trung vào thu nhập Đồng thời, các doanh nghiệp có thu nhập ổn định, ít rủi ro, sẵn sàng đầu tư cho sản xuất và kinh doanh.
- Lạm phát phi mã: 10% đến dưới 1000%
Lạm phát phi mã xảy ra khi giá cả tăng nhanh chóng với tỷ lệ từ 2 đến 3 con số, dẫn đến sự gia tăng đột ngột của giá cả chung và gây ra biến động lớn trong nền kinh tế Khi lạm phát phi mã diễn ra, người dân có xu hướng tích trữ hàng hóa, vàng bạc và bất động sản, đồng thời tránh cho vay tiền với lãi suất bình thường Nếu tình trạng này kéo dài, nó có thể gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
Siêu lạm phát là hiện tượng khi giá hàng hóa tăng lên mức ba con số hàng năm, gây ra những tác động tiêu cực nghiêm trọng cho nền kinh tế Tốc độ lưu thông tiền tệ gia tăng nhanh chóng, dẫn đến giá cả tăng không ổn định và làm giảm mạnh sức mua thực tế Tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin thị trường trở nên không chính xác, và các yếu tố thị trường bị biến dạng, khiến hoạt động kinh doanh rơi vào tình trạng hỗn loạn Tuy nhiên, siêu lạm phát xảy ra rất hiếm hoi.
Ví dụ: Lạm phát ở Zimbabwe
1.2.2 Căn cứ vào mức độ định tính
Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng:
Lạm phát cân bằng xảy ra khi mức tăng giá cả tương ứng với thu nhập thực tế của người lao động, đồng thời phù hợp với hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp.
Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và đến nền kinh tế nói chung.
- Lạm phát không cân bằng: Tăng không tương ứng với thu nhập của người lao động.Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra.
Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường:
Lạm phát dự đoán trước là loại lạm phát diễn ra hàng năm trong một khoảng thời gian dài với tỷ lệ ổn định, cho phép người dân dễ dàng dự đoán tỷ lệ lạm phát trong các năm tiếp theo Sự quen thuộc với tình trạng lạm phát này giúp người dân chuẩn bị tốt hơn, từ đó không ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống và nền kinh tế.
Lạm phát bất thường là hiện tượng xảy ra đột ngột, thường chưa từng xuất hiện trước đây, gây ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống của người dân do họ chưa kịp thích nghi Hệ quả là loại lạm phát này tạo ra biến động trong nền kinh tế và làm giảm niềm tin của người dân vào chính quyền.
Giảm phát, hay còn gọi là súc phát, là hiện tượng khi mức giá chung trong nền kinh tế liên tục giảm Tình trạng này hoàn toàn trái ngược với lạm phát, và có thể được hiểu là lạm phát với tỷ lệ âm.
Là lạm phát ở tỷ lệ rất thấp Ở Việt Nam, có nhiều người thường nhầm lẫn thiểu phát với giảm phát
Nỗ lực nâng cao mức giá chung để chống lại áp lực giảm phát
Tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên nhưng với tốc độ chậm hơn trước
Lạm phát đột biến, chưa từng xuất hiện trước đây, tác động mạnh mẽ đến tâm lý và đời sống của người dân do họ chưa kịp thích nghi Hệ quả là sự biến động trong nền kinh tế và niềm tin của nhân dân vào chính quyền có xu hướng giảm sút.
Đo lường lạm phát
Tỷ lệ lạm phát: Tỷ lệ phần trăm gia tăng của mức giá chung của kỳ này so với kỳ trước:
Tỷ lệ lạm phát hàng năm được tính:
Không có một phép đo chính xác duy nhất cho tỷ lệ lạm phát, vì giá trị của nó phụ thuộc vào các chỉ số trong từng lĩnh vực kinh tế cụ thể Một số phép đo phổ biến cho chỉ số lạm phát bao gồm:
1.3.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumer Price Index): là chỉ số đo lường thông dụng nhất, cơ bản nhất, phản ánh giá một giỏ hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng điển hình mua.
Chú ý: Trong khi tính toán thì phải chọn một số nhóm hàng tiêu dùng mang tính chất hiện đại từ đó khảo sát biến động giá.
Giá của sản phẩm loại i trong giỏ hàng hóa điển hình thời kỳ t.
: Giá của sản phẩm loại i trong giỏ hàng hóa điển hình thời kỳ gốc.
: Số lượng hàng hóa loại i trong giỏ hàng hóa điển hình kỳ gốc.
1.3.2 Chỉ số giảm phát theo GDP hay chỉ số điều chỉnh GDP (Id – GDP deflator): phản ánh sự thay đổi của mức giá trung bình của tất cả hàng hóa và dịch vụ sản xuất ở năm hiện hành (năm t) so với năm gốc.
Id của năm t được tính theo công thức:
: Khối lượng sản phẩm i sản xuất năm t.
: Đơn giá sản phẩm i năm gốc.
: Đơn giá sản phẩm i năm t.
So sánh giữa CPI và I d có 3 điểm khác nhau:
Id thể hiện mức giá trung bình của tất cả hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế, trong khi CPI phản ánh giá của các hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng mua.
Chỉ số Id chỉ thể hiện giá hàng hóa và dịch vụ trong nước, vì vậy khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng, điều này chỉ được phản ánh trong chỉ số CPI mà không ảnh hưởng đến Id.
CPI được tính dựa trên một giỏ hàng hóa cố định, trong khi Id lại được tính bằng cách sử dụng giỏ hàng hóa thay đổi theo thời gian.
Cả chỉ số CPI và Id đều có những nhược điểm riêng; trong đó, CPI thường đánh giá quá cao sự tăng giá sinh hoạt, trong khi Id lại có xu hướng đánh giá quá thấp sự tăng giá này.
Tính If bằng Id chính xác hơn CPI vì Id phản ánh giá trung bình của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước.
Tính If bằng CPI dễ dàng và nhanh chóng hơn Id.
CPI được nhiều nước sử dụng để tính tỷ lệ lạm phát.
1.3.3 Chỉ số giá sản xuất (PPI – Production Price Index): đo mức giá mà cấc nhà sản xuất nhận được không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán.
1.3.4 Chỉ số giá sinh hoạt (CLI – Cost of Living Index): là sự tăng trên lý thuyết trong giá cả sinh hoạt của một cá nhân, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ.
1.3.5 Chỉ số giá bán buôn (WPI – Whole Price Index): đo sự thay đổi trong giá cả của một sự lựa chọn các hàng hóa bán buôn (thông thường là trước khi bán có thuế) Chỉ số này rất giống với PPI.
Các nguyên nhân gây ra lạm phát
1.4.1 Lạm phát do cầu kéo (Demand-Pull Inflation)
Khi nhu cầu thị trường tăng cao, giá cả của mặt hàng đó cũng sẽ tăng theo, kéo theo sự tăng giá của nhiều loại hàng hóa khác Hiện tượng này dẫn đến lạm phát, cụ thể là lạm phát do cầu kéo, khi nhu cầu tiêu dùng trên thị trường gia tăng.
Giá tăng từ PO tới P1 (từ PO đến P1 là lạm phát- Hình 1)
Lạm phát được coi là do sự tồn tại của mức cầu quá cao
AD tăng có thể do:
Khu vực tư nhân lạc quan về nền kinh tế, nên tiêu dùng tự định và đầu tư tự định tăng lên
Chính phủ tăng chi tiêu
Ngân hàng trung ương tăng lượng cung tiền
Người nước tăng mua hàng hóa và dịch vụ trong nước
Kết quả đường tổng cầu AD sẽ dịch chuyển sang phải, trong ngắn hạn sẽ làm cho sản lượng tăng lên, đồng thời mức giá chung tăng lên
1.4.2 Lạm phát do chi phí đẩy ( Cost- Pull Inflation)
Chi phí đẩy của doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá nguyên liệu đầu vào, máy móc và thuế Khi giá của một hoặc nhiều yếu tố này tăng, tổng chi phí sản xuất cũng tăng theo, dẫn đến giá thành sản phẩm tăng để bảo toàn lợi nhuận Hiện tượng này được gọi là “lạm phát do chi phí đẩy” khi mức giá chung của nền kinh tế gia tăng.
Đường tổng cung đã dịch chuyển sang trái từ AS0 sang AS1, dẫn đến sản lượng giảm từ YO xuống Y1 Mức giá tăng từ P0 lên P1, cho thấy nền kinh tế đang trải qua tình trạng suy thoái.
Các nhân tố làm tăng chi phí:
Chi phí tiền lương gia tăng do áp lực từ công đoàn và chính sách điều chỉnh lương của chính phủ, dẫn đến mức lương tăng vượt quá mức tăng năng suất lao động, từ đó làm tăng chi phí.
Lợi nhuận: Nếu doanh nghiệp có quyền lực thị trường ( độc quyền, độc quyền nhóm ) có thể đẩy giá tăng lên để kiếm lợi nhuận cao hơn.
Nhập khẩu lạm phát xảy ra khi các doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài với chi phí tăng cao do nhiều yếu tố ngoài tầm kiểm soát Điều này buộc các doanh nghiệp phải chấp nhận mua nguyên vật liệu với giá cao hơn, ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phi NVL tăng cao có thể do các nguyên nhân sau:
Tỉ giá hối đoái ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị hàng hóa trong nước Khi đồng nội tệ mất giá, hàng hóa trong nước trở nên rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến việc chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu (NVL) tăng cao, gây áp lực cho doanh nghiệp.
Khi giá cả hàng hóa toàn cầu tăng, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải đối mặt với chi phí sản xuất cao hơn, đặc biệt nếu họ sử dụng những hàng hóa này làm nguyên liệu cho hoạt động kinh doanh.
Những cú sốc từ bên ngoài: Các cuộc khủng hoảng về nguyên liệu, vật liệu chính như dầu mỏ, sắt thép, than đá,… làm chi phí sản xuất tăng.
Sự thiếu hụt tài nguyên cũng đẩy giá cả tăng khi khai thác cạn kiệt.
Thiên tai, mất mùa, chiến tranh…
1.4.3 Lạm phát theo thuyết số lượng tiền tệ (Monetary- Theory Inflation)
Các nhà kinh tế theo trường phái tiền tệ cho rằng lạm phát xảy ra do sự gia tăng quá mức của cung tiền trong lưu thông, dẫn đến việc giá cả tăng lên Điều này có thể được giải thích thông qua một phương trình kinh tế cụ thể.
M: lượng cung tiền danh nghĩa
V: tốc độ lưu thông tiền tệ
Giả thuyết cho rằng khi V và Y không thay đổi, chỉ số giá sẽ phụ thuộc vào lượng cung tiền danh nghĩa Khi cung tiền tăng, mức giá cũng tăng theo tỷ lệ tương ứng, dẫn đến hiện tượng lạm phát.
Thuyết này chỉ đúng khi V và Y không đổi
Tác động của lạm phát
Lạm phát có sự ảnh hưởng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội tùy theo mức độ ̣của nó
Lạm phát ở mức độ vừa phải có tác động tích cực đến nền kinh tế, thường được chính phủ duy trì như một chất xúc tác để thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Lạm phát dẫn đến sự phân phối lại thu nhập và tài sản, trong đó những người sở hữu tài sản và vay nợ hưởng lợi nhờ vào việc giá trị tài sản tăng lên, trong khi giá trị đồng tiền lại giảm Ngược lại, những người làm công ăn lương, cho vay và gửi tiền thường chịu thiệt hại trong bối cảnh này.
Lạm phát cao gây bất ổn cho nền kinh tế, làm tăng giá hàng hóa và dẫn đến tình trạng đầu cơ tích trữ Điều này cũng ảnh hưởng đến tỉ giá hối đoái và khiến hoạt động tín dụng rơi vào khủng hoảng, với nguồn tiền gửi giảm nhanh chóng.
Ngoài ra lạm phát còn tác động đến tỉ lệ thất nghiệp: khi lạm phát tăng thì thất nghiệp giảm xuống và ngược lại.
Thực trạng lạm phát ở Việt Nam
Giai đoạn lạm phát 2007-2008
2.1.1 Giai đoạn lạm phát tăng nhanh
Dấu hiệu lạm phát ở Việt Nam bắt đầu từ tháng 6 năm 2007 khi chỉ số CPI tăng 1%, điều này trái ngược với xu hướng ổn định giá cả trong hơn một thập kỷ Mặc dù đã có sự ghi nhận và xử lý kịp thời, nhưng do không phân tích đúng nguyên nhân và việc thực hiện không nghiêm túc, lạm phát đã đạt mức kỷ lục 12,63% trong khi tăng trưởng kinh tế ở mức cao 8,5% So với các quốc gia trong khu vực và thế giới, lạm phát của Việt Nam cao hơn nhiều, như Trung Quốc 6,5%, Indonesia 6,59%, Mỹ 4,08%, Thái Lan 3,21%, khu vực đồng Euro 3,07% và Nhật Bản 0,7%.
Nửa đầu năm 2008, lạm phát tại Việt Nam tăng cao, vượt qua các quy luật đã tồn tại nhiều năm, dẫn đến việc chính phủ phải điều chỉnh chính sách từ ưu tiên tăng trưởng kinh tế sang việc kiềm chế lạm phát.
Chỉ sau 6 tháng, chỉ số CPI đã tăng lên 26.8% so với tháng 6 năm 2007 và 18.44% so với cuối năm 2007, đặc biệt nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng tới 74.3% Sự gia tăng này đã phá vỡ mọi dự tính về kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô Tình hình càng nghiêm trọng hơn khi Việt Nam là một nước nông nghiệp, với hơn 60% dân số là nông dân, cho thấy sự phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào biến động trong sản xuất lương thực, thực phẩm, mặc dù tỷ trọng nông nghiệp trong GDP đã giảm xuống chỉ còn 20%.
Vào những tháng gần Tết, giá cả thường tăng nhanh, nhưng năm 2008 lại đặc biệt khi giá cả vẫn duy trì ở mức cao sau Tết Mậu Tý, trái ngược với quy luật giá cả trong những năm gần đây.
Sau hơn 10 năm kể từ năm 1992, lạm phát một lần nữa xuất hiện, đe dọa những thành tựu kinh tế xã hội mà Việt Nam đã đạt được.
Chỉ số giá tiêu dùng 10 tháng đầu năm 2008
Trong những tháng đầu năm 2008, giá cả tăng liên tục đã dẫn đến lạm phát gia tăng, với chỉ số CPI tháng 1 tăng 2.4%, tháng 2 tăng 6%, và tháng 3 đạt 9.2% Đến tháng 4, CPI đã vượt 11.6%, và tháng 5 tăng đột ngột lên 16% Đỉnh điểm lạm phát đạt 3.91% vào tháng 5, trùng với thời điểm giá gạo quốc tế lên tới 1000 USD/tấn, gây ra khủng hoảng lương thực toàn cầu Tại Việt Nam, dù là cường quốc xuất khẩu gạo, tin đồn thiếu gạo đã khiến người dân lo lắng về nạn đói như năm 1945 Các cơ quan chức năng đã yêu cầu doanh nghiệp ngừng xuất khẩu, mặc dù giá lúa gạo đang cao, gây thiệt hại cho người dân.
Trong nửa đầu năm, GDP chỉ tăng 6.5% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng của những năm gần đây Thị trường xuất hiện tình trạng "sốt ảo" đối với USD, vàng, gạo, thép và vật liệu xây dựng, trong khi thâm hụt thương mại tăng vọt, chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu Thị trường chứng khoán thiết lập đáy mới, chỉ đạt khoảng 1,173 điểm, đánh mất toàn bộ điểm tích lũy trong 3 năm qua Giá vàng có thời điểm lên đến xấp xỉ 20 triệu VND/lượng, và tỷ giá hối đoái trên thị trường đã từng vượt mốc 19,000 VND/USD.
Cuối tháng 5 và đầu tháng 6, nền kinh tế Việt Nam đứng trước nguy cơ khủng hoảng với những "bong bóng" lớn có thể nổ bất cứ lúc nào trên các thị trường tài chính, tín dụng ngân hàng và bất động sản.
Các tháng 6,7,8 chỉ số CPI đã lên cao chóng mặt lần lượt là 18.4%, 19.8% và 20,% Chỉ sau 3 quý đầu năm, CPI đã vượt mức 20%, đạt được mức kỷ lục từ
2.1.2 Giai đoạn giảm lạm phát (3 tháng cuối năm 2008)
Vào cuối năm 2007, giá nhiều loại hàng hóa đã chững lại và giảm xuống, dẫn đến việc chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cũng giảm, với tốc độ tăng trưởng kinh tế âm trong các tháng 10 (-0.19%), 11 (-0.76%) và 12 (-0.66%) Tỷ lệ lạm phát giảm từ 20.05% vào tháng 9 xuống còn 19.86% vào tháng 12, nhờ vào sự ổn định của giá lương thực - thực phẩm và sự giảm giá nhanh chóng của hàng hóa phi lương thực - thực phẩm Những biện pháp kiềm chế lạm phát của chính phủ, như Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP, đã có tác dụng tích cực trong việc ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội.
Chúng ta đã có quyết định đúng đắn khi giảm tốc độ tăng trưởng để tập trung vào việc chống lạm phát Thành công này đến từ hệ thống chống lạm phát toàn diện, phù hợp với nguyên nhân gốc rễ Đặc biệt, sức mạnh của chúng ta nằm ở việc huy động toàn bộ hệ thống chính trị, toàn dân và các doanh nghiệp cùng tham gia vào công cuộc chống lạm phát.
Tác động của lạm phát đến biến số vĩ mô
Lạm phát có tác động tiêu cực đến nền kinh tế, chính trị và văn hóa, có khả năng dẫn đến suy thoái kinh tế và gia tăng tỷ lệ thất nghiệp Một trong những tác động đầu tiên của lạm phát là sự gia tăng lãi suất danh nghĩa nhằm ổn định lãi suất thực, tuy nhiên điều này cũng có thể khởi đầu cho sự phát triển của suy thoái kinh tế.
Lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập thực tế của người lao động, khi thu nhập danh nghĩa không thay đổi nhưng thu nhập thực tế lại giảm do tỷ lệ lạm phát Điều này không chỉ tác động đến doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và lòng tin của người lao động đối với Chính Phủ.
Lạm phát gia tăng dẫn đến sự giảm giá trị đồng tiền và lãi suất cao hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trong việc vay vốn Tuy nhiên, tình trạng này cũng kích thích việc đầu cơ và vơ vét hàng hóa, gây mất cân bằng cung cầu trên thị trường Hệ quả là người nghèo ngày càng khó khăn trong việc tiếp cận hàng hóa thiết yếu, trong khi người giàu tiếp tục gia tăng sự giàu có, từ đó làm trầm trọng thêm tình trạng thu nhập không bình đẳng và rối loạn nền kinh tế.
Nợ quốc gia là vấn đề nghiêm trọng đối với các quốc gia đang phát triển, khi lạm phát gia tăng dẫn đến tỷ giá hối đoái tăng, làm giảm giá trị đồng tiền trong nước so với ngoại tệ Mặc dù chính phủ có thể thu lợi từ nguồn thu nội địa, nhưng sự mất giá của đồng tiền lại khiến tình trạng nợ quốc gia trở nên trầm trọng hơn Biểu đồ chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2008 minh chứng cho những biến động này.
Sau 12 năm, Việt Nam đối mặt với tình trạng lạm phát bùng phát mạnh mẽ vào năm 2008, điều này được thể hiện rõ qua các biểu đồ và bảng dữ liệu Cụ thể, bảng 2.1 cung cấp thông tin về chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ trong tháng 10 năm 2008.
Chỉ số giá tiêu dùng một số mặt hàng tăng vọt trong năm 2007:
Năm 2007, giá lương thực và thực phẩm tại thị trường Việt Nam đã tăng mạnh, đạt mức 18,9%, vượt xa tỷ lệ lạm phát 12,63% Trong đó, giá nhóm lương thực tăng 15,5% và thực phẩm tăng 21,16%.
Chỉ số giá tiêu dùng một số mặt hàng tăng vọt trong các quý đầu năm 2008
Trong 4 tháng đầu năm, giá LT-TP đã tăng 18,01%, cao gấp rưỡi mức 11,6% của lạm phát CPI và cao tương đương bằng mức tăng giá LT-TP của cả năm
2007, trong đó lương thực tăng 25%, còn thực phẩm tăng 15,6%
Dẫn đến hậu quả là:
Việc giảm chỉ tiêu tăng trưởng từ 8.5% xuống 7% sẽ làm chậm lại tốc độ phát triển tiền mặt trong xã hội, dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn và tiềm ẩn nguy cơ lạm phát trong các chu kỳ tiếp theo Trong bối cảnh hiện tại, tốc độ tăng trưởng có khả năng sẽ tiếp tục giảm xuống mức 6%-6.5%.
Sức tiêu thụ hàng hóa trong nước đang giảm dần, trong khi sản xuất công nghiệp bước vào tháng đầu quý 4 năm nay lại tăng chậm hơn so với các tháng trước Xu hướng này trái ngược với quy luật hàng năm.
+ Giá trị sản xuất công nghiệp 10 tháng ước tính đạt 330.121 tỷ đồng tăng 12,1% so với cùng kỳ 2007, thấp hơn mức tăng trung bình của 9 tháng đầu năm là 12,4%
Chính sách thắt chặt tiền tệ đã gây ra sự sụt giảm mạnh trên thị trường chứng khoán và bất động sản, ảnh hưởng tiêu cực đến nợ đọng, tính thanh khoản và độ an toàn của hệ thống ngân hàng.
+ Do nới lỏng tỷ giá hối đoái có thể dẫn đến đồng tiền Việt Nam (VNĐ) bị đánh giá quá cao
Mặc dù lạm phát có nhiều tác động tiêu cực đến đời sống và nền kinh tế, nhưng nó cũng mang lại một số lợi ích Khi lạm phát duy trì ở mức ổn định từ 2-5%, nền kinh tế của quốc gia sẽ phát triển ổn định hơn.
Tỷ lệ thất nghiệp giảm và tiêu dùng tăng cho thấy nền kinh tế đang phục hồi, trong khi việc vay nợ và đầu cơ trở nên an toàn hơn Chính phủ có thêm nhiều công cụ để kích thích đầu tư vào nội tệ Tuy nhiên, duy trì lạm phát ổn định là thách thức lớn, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Các chính sách của nhà nước trong giai đoạn 2007-2008
Vào tháng 6 năm 2007, lạm phát gia tăng nhanh chóng với chỉ số giá CPI đạt khoảng 1%, khác biệt so với xu hướng ổn định của hơn một thập kỷ qua Chính phủ đã kịp thời nhận diện tín hiệu lạm phát này và triển khai các chỉ thị để xử lý tình hình.
Ngày 01/8/2007 Thủ tướng chính phủ ban hành chỉ thị số 18/2007/CT-TTg về một số biện pháp cấp bách kiềm chế tốc độ tăng thị trường
Thủ tướng yêu cầu rà soát các chính sách điều hành tiền tệ nhằm kiểm soát mức tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và huy động tín dụng Cần thực hiện các biện pháp nghiệp vụ thị trường mở để điều tiết lượng tiền lưu thông hợp lý, đồng thời giữ bình ổn tỷ giá hối đoái và các lãi suất chủ đạo của đồng tiền Việt Nam, tránh để xảy ra đột biến trên thị trường tiền tệ.
Rà soát và tập trung vốn đầu tư cho các dự án quan trọng, điều chỉnh vốn cho các công trình triển khai chậm sang những dự án cấp thiết cần sớm đưa vào sử dụng Phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan để tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, chính sách, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ, tín dụng nhà nước và ODA, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông vận tải và nông nghiệp Ứng vốn cho các dự án gặp khó khăn về thủ tục thanh toán theo tiến độ thực hiện Tiếp tục triển khai các giải pháp tăng cường quản lý, giám sát thị trường chứng khoán, điều hòa cung cầu, và lựa chọn công ty uy tín để phát hành cổ phiếu thu hút vốn cho sản xuất Tăng cường quản lý thị trường, chống gian lận thương mại, và kiểm tra chất lượng hàng hóa theo tiêu chuẩn đã công bố, gắn với kiểm tra niêm yết giá và bán hàng theo giá niêm yết.
Vào ngày 31/10, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 23/2007/CT-TTg nhằm tăng cường các giải pháp điều hành giá cả và bình ổn thị trường trong những tháng cuối năm 2007, đồng thời chuẩn bị cho Tết Nguyên đán Mậu Tý 2008.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội ngành hàng để thực hiện quyết liệt các giải pháp nhằm duy trì sự ổn định của các cân đối kinh tế vĩ mô Đồng thời, cần kiên quyết triển khai các biện pháp được nêu trong Chỉ thị số 18/2007/CT-TTg ngày 01 tháng.
Vào năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị về các biện pháp cấp bách nhằm kiềm chế tốc độ tăng giá thị trường Chính phủ tiếp tục thực hiện các chỉ thị này với mục tiêu thực hành tiết kiệm và chống lãng phí, đặc biệt trong việc tiêu dùng điện, xăng, dầu, chi phí sản xuất kinh doanh, và trong xây dựng cơ bản Đồng thời, cần tiết kiệm trong tổ chức hội nghị, tổng kết cuối năm và các hoạt động đón mừng năm mới.
Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện đồng bộ các giải pháp rút tiền khỏi lưu thông, cơ cấu lại tín phiếu ngắn hạn, và mua ngoại tệ với mức độ phù hợp Mục tiêu là tăng cường dự trữ ngoại hối, kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán hợp lý, nhằm ngăn chặn sự tăng giá hoặc mất giá quá mức của đồng tiền Việt Nam.
Bộ Tài chính đang triển khai kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ năm 2007, 2008 nhằm hút bớt tiền về và phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các Bộ, ngành để đẩy mạnh giải ngân cho các dự án đầu tư của Nhà nước, tăng cường khả năng hấp thụ vốn cho nền kinh tế Đồng thời, Bộ Tài chính làm việc với Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế để kiểm soát giá cả các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, bất động sản, thuốc chữa bệnh, sắt thép, gas Các địa phương được chỉ đạo tăng cường quản lý giá, ngăn chặn tình trạng độc quyền và định giá bất hợp lý, đồng thời kiên quyết xử lý các vi phạm theo quy định của Pháp lệnh Giá.
Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chuẩn bị đủ hàng hóa với giá cả ổn định nhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tý, đảm bảo không khí vui vẻ, an toàn và tiết kiệm.
Bộ Thông tin và Truyền thông yêu cầu các cơ quan thông tin đại chúng phối hợp với các Bộ, ngành để tăng cường tuyên truyền, giúp doanh nghiệp và người tiêu dùng nắm rõ các biện pháp điều hành giá của Nhà nước Mục tiêu là tạo sự đồng thuận và ngăn chặn tâm lý tăng giá trên thị trường.
Mặc dù đã triển khai nhiều chính sách nhằm kiềm chế lạm phát, nhưng tình hình vẫn chưa được cải thiện đáng kể Lạm phát vẫn ở mức cao và các biện pháp kinh tế hiện tại dường như chưa giải quyết triệt để vấn đề này.
Trong bối cảnh nền kinh tế đang đối mặt với lạm phát cao, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chủ động thực hiện các biện pháp rút bớt tiền ra khỏi nền kinh tế bằng cách sử dụng nhiều công cụ khác nhau.
Tăng thêm 1% tỉ lệ dự trữ bắt buộc ( Quyết định số 187/QĐ-NHNN ) ngày 16/1/2008
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã phát hành tín phiếu bắt buộc trị giá 20.300 tỷ đồng với kỳ hạn 1 năm và lãi suất 7,8%/năm theo quyết định số 364/QĐ-NHNN ngày 13/2/2008 Đặc biệt, NHNN đã thực hiện điều hành linh hoạt các mức lãi suất chỉ đạo và đổi mới cơ chế điều hành lãi suất, bao gồm cả việc áp dụng quy định trần lãi suất theo công điện số 2 nhằm ổn định nhanh chóng thị trường tiền tệ đang bị xáo trộn do cuộc đua lãi suất.
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP vào ngày 17/4/2008 nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy tăng trưởng bền vững Nghị quyết này đề ra 8 nhóm giải pháp cụ thể để thực hiện các mục tiêu này.
Thắt chặt tài khóa thông qua rà soát cắt giảm đầu tư Nhà Nước
Tăng cường quản lý thị trường giá cả
Hỗ trợ các chương trình an sinh xã hội
Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền nhằm ổn định tâm lý xã hội và hạn chế kỳ vọng của lạm phát
Thắt chặt chính sách tiền tệ:
Chính phủ đã chọn chính sách tiền tệ làm trọng tâm cho việc kiềm chế lạm phát, cụ thể như sau :
Trong tháng 5/2008, nhu cầu ảo về USD tăng cao do tâm lý và hành vi đầu cơ, khiến giá USD/VND trên thị trường tự do tăng đột biến lên tới 19.000 VND/USD Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã linh hoạt điều hành tỷ giá, nới lỏng biên độ tỷ giá VND/USD từ ±0.5% lên ±3%, đồng thời can thiệp mua bán trên thị trường ngoại hối để ổn định tỷ giá và đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, thuốc chữa bệnh, và phân bón NHNN công bố mức dự trữ ngoại hối đạt 20,7 tỷ USD, ban hành quy chế thu đổi ngoại tệ, giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh ngoại tệ, cấm thu phí giao dịch và ngăn cấm các tổ chức tín dụng giao dịch USD thông qua đồng tiền thứ ba, đồng thời phối hợp với các cơ quan chức năng để xử lý các hoạt động đầu cơ nhằm bình ổn thị trường ngoại hối.