1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Tín dụng lý luận và thực tiển ở Việt Nam docx

30 430 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tín Dụng Lý Luận Và Thực Tiễn Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tín dụng
Thể loại Bài luận
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 305,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tín dụng ra đờirất sớm, khi xã hội bắt đầu có sự phân công lao động xã hội và chế độ sở hữu triểnmạnh mẽ, cùng với sự tồn tại các mối quan hệ cung- cầu về hàng hoá, vật tư,sức lao động t

Trang 1

Tín dụng lý luận và thực

tiển ở Việt Nam

Trang 2

2 Cơ sở lí luận về tín dụng ở Việt Nam 3

Trang 3

I Mở Đầu.

Dù là tỷ phú hay là nhưng người dân nghèo nhất cũng đều phải đảmbảo các nhu cầu sống thiết yếu của mình, phải tham gia vào hoạt động sảnxuất, kinh doanh, kiếm tiền phục vụ cho cuộc sống của mình, từ đó phảitham gia vào các hoạt động đi vay tiền và cho vay tiền Muốn có vốn để đầu

tư vào kinh doanh, để thành lập doanh nghiệp, để mở rộng sản xuất, đảm bảosản xuất diễn ra bình thường cần phải có tiền, cần phải đi vay Muốn tiêudùng nhiều hơn khả năng tự có của mình, người ta phải đi vay Khi có nhiềutiền mà người ta không dùng đến, người ta có thể gửi ngân hàng hoặc chongười khác vay Có thể nói hầu hết mọi người khi phải tự lo cho bản thânmình cũng phải biết đến khái niệm đi vay và cho vay Hàng ngày chúng tavẫn thường xuyên tiếp xúc với khái niệm về tín dụng, tín dụng ngân hàng,tín dụng nhà nước, tín dụng thương mại v.v nhưng chúng ta đã hiểu đượcnhững gì về tín dụng? Và những lí luận cũng như thực tiễn về tình hình tíndụng ở Việt Nam hiện nay ra sao? Ta có thể hiểu khái niệm thể hiện mốiquan hệ giữa người cho vay và người vay Trong quan hệ này, người cho vay

có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay chongười đi vay trong một thời gian nhất định Người đi vay có nghĩa vụ trả sốtiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèmtheo một khoản lãi Tín dụng có thể nói là vô cùng quan trọng trong nền kinh

tế của cả thế giới, của mỗi quốc gia, của mỗi doanh nghiệp, của mỗi gia đình

và mỗi người Thiếu tín dụng thì xã hội sẽ không thể tồn tại và phát triển, làđiều kiện cơ bản để hình thành nên thị trường Mỗi một cá nhân khi tham giavào đi vay và cho vay tiền là đã tham gia vào hoạt động tín dụng Với tầmquan trọng như vậy chúng ta cần hiểu rõ hơn về lí luận tín dụng và thực tiễntín dụng nói chung và ở Việt Nam để có những kiến thức căn bản về tín dụngcho bản thân và phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và chính cuộcsống của mình

Trang 4

II Nội Dung

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết

Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá- hiện đại hoá đấtnước, muốn vậy cần có nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cao Trong đónhu cầu về vốn là hết sức cần thiết, được coi là yếu tố hàng đầu, là tiền đềphát triển kinh tế.Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII củađảng đã đề ra: “để công nghiệp hoá hiện ại hoá đất nước cần huy động nhiềunguồn vốn sẵn có với sử dụng vốn có hiệu quả, trong đó nguồn vốn trongnước là quyết định nguồn vốn bên ngoài là quan trọng ” Tín dụng ra đờirất sớm,

khi xã hội bắt đầu có sự phân công lao động xã hội và chế độ sở hữu triểnmạnh mẽ, cùng với sự tồn tại các mối quan hệ cung- cầu về hàng hoá, vật tư,sức lao động thì quan hệ cung cầu về tiền vốn đã xuất hiện và ngày một pháttriển như một đòi hỏi cần thiết khách quan của nền kinh tế nhằm đáp ứngnhu cầu tiết kiệm và đầu tư

Nhà nước đã sử dụng tín dụng như một công cụ quan trọng trong hệthống các đòn bẩy kinh tế để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hữu tưnhân về tư liệu sản xuất Tín dụng đã tồn tại và phát triển ở nhiều nền kinh tếvới các mức độ phát triển khác nhau Đặc biệt hiện nay trong nền kinh tế thịtrường, nền sản xuất hàng hoá phát triển ngày càng mạnh mẽ, thúc đẩy sựphát triển của nền kinh tế quốc dân Để thấy rõ hơn sự ảnh hưởng của tíndụng với Việt Nam nói riêng chúng ta cùng tìm hiểu vấn đề “Tín dụng: cơ

sở lí luận và thực tiễn ở Việt Nam”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lí luận về tín dụng

- Phân tích tình hình tín dụng ở Việt Nam

- Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt

Trang 5

Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hóa và có quá trình ra đời,tồn tại và phát triển cùng với phát triển của kinh tế hàng hóa Lúc dầu cácquan hệ tín dụng hầu hết là tín dụng hiện vật và một phần nhỏ là tín dụnghiện kim, tồn tại dưới hình thức là tín dụng nặng lãi, cơ sở của quan hệ tíndụng lúc bấy giờ chính là sự phát triển bước đầu của các quan hệ hàng hóatiền tệ trong điều kiện của nền sản xuất hàng hóa kém phát triển.

Các quan hệ tín dụng trong thời kì chiếm hữu nô lệ và chế độ phongkiến phản ánh thực trạng của nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ Chỉ đến khiphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, các quan hệ tín dụng mới cóđiều kiện phát triển Tín dụng bằng hiện vật đã nhường chỗ cho tín dụngbằng hiện kim, tín dụng phi kinh tế nhường chỗ cho các loại hình tín dụngkhác ưu việt hơn như tín dụng ngân hàng, tín dụng chính phủ

Trong thực tế tín du ̣ng hoa ̣t đô ̣ng rất phong phú và đa da ̣ng nhưng ở bất cứ

da ̣ng nào tín du ̣ng cũng thể hiê ̣n 2 mă ̣t cơ bản:

- Người sở hữu 1 số tiền hoă ̣c hàng hóa chuyển giao cho người khác sử du ̣ng trong 1 thời gian nhất đi ̣nh

- Đến thời ha ̣n do 2 bên thỏa thuâ ̣n, người sử du ̣ng hoàn la ̣i cho ngườisở hữu 1 giá tri ̣ lớn hơn Phần tăng thêm được go ̣i là phần lời hay nói theongôn ngữ kinh tế là lãi suất

Danh từ tín dụng dùng để chỉ một số hành vi kinh tế rất phức tạp như:bán chịu hàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo hành,ký thác, phát hành giấybạc

Trong mỗi một hành vi tín dụng có hai bên cam kết với nhau như sau:

- Một bên thì trao ngay một số tín tệ hay tài hóa

- Còn một bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của sổ tài hoátrong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó

Nhà kinh tế pháp, ông Louis Baudin, đã định nghĩa tín dụng như là

“Một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hóa tương lai” ở đây yếu tố thờigian đã xen lẫn vào và cũng vì có sự xen lẫn đó cho nên có thể có sự bấttrắc, rủi ro xảy ra và cần có sự tín nhiệm của hai bên đương sự đối với nhau.Hai bên đương sự dựa vào sự tín nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau vìvậy mới có danh từ thuật ngữ tín dụng Những hành vi tín dụng có thể do bất

cứ ai thực hiện Chẳng hạn hai người thường có thể cho nhau vay tiền Tuynhiên ngày nay khi nói tới tín dụng người ta nói ngay tới các ngân hàng vìcác cơ quan này chuyên làm các việc như cho vay, bảo lảnh, chiết khấu, kíthác và phát hành giấy bạc

2.1.2 Cơ sở ra đời của tín dụng

Khi có sự phân công lao động xã hội và sự xuất hiện của sở hữu tưnhân về tư liệu sản xuất thì tín dụng ra đời Sở hữu tư nhân về tư liệu sản

Trang 6

xuất dẫn đến sở hữu tư nhân về sản phẩm làm ra Xã hội có sự phân hoá giàunghèo Những người nghèo khi gặp khó khăn trong cuộc sống họ phải vaymượn Tín dụng ra đời Trên phương diện xã hội, do có sự phân công laođộng xã hội hình thành sản xuất hàng hoá và tiền tệ đã xuất hiện để sử dụngtrong quá trình sản xuất hàng hoá Người sản xuất có lúc thiếu vốn bằng tiền

để tiến hành sản xuất kinh doanh nhưng có lúc thừa vốn bằng tiền Để điềuchỉnh nhu cầu và khả năng vốn bằng tiền của các chủ thể trong quá trình sảnxuất hàng hoá đòi hỏi tín dụng ra đời Trong lịch sử phát triển kinh tế xã hội,hình thức đầu tiên của tín dụng là tín dụng nặng lãi được ra đời vào thời kì

cổ đại Trong xã hội nô lệ và nhất là ở xã hội phong kiến,khi mà xã hội bắtđầu phân chia giai cấp, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và có hiện tượngphân hóa giàu nghèo Những người đứng đầu các thị tộc, các bộ lạc chiếmđược nhiều tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng Trong khi đó đại bộ phậncác gia đình nông nô không có hoặc có rất ít tư liệu trên, để duy trì cuộcsống bình thường trong xã hội, tất yếu phải diễn ra có trình điều hòa sảnphẩm từ nơi ‘thừa” đến nơi “thiếu”, từ giàu đến nghèo Quá trình này đượcthực hiện dưới hình thức vay mượn Do sản phẩm dư thừa dùng để cho vaythì ít mà người cần vay thì nhiều nên người cho vay thu lãi rất cao, vì vậyquan hệ tín dụng này được gọi là “tín dụng nặng lãi” Tín dụng nặng lãi đãphát triển và mở rộng hơn Đặc điểm của tín dụng nặng lãi là lãi suất rất cao,hình thức vận động của vốn rất đa dạng, dưới nhiều hình thức

Tín dụng nặng lãi phát triển và trở thành một hình thức cho vay phổ biếntrong chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến Với hàng nghìn năm lịch sửcủa xã hội loài người, nền sản xuất nhỏ của 2 chế độ xã hội này là “mảnhđất” tốt để tín dụng nặng lãi tồn tại và phát triển

Thời gian đầu, tín dụng nặng lãi được thực hiện bằng hiện vật hànghóa, về sau, theo quá trình phát triển của nền kinh tế, vừa cho vay bằng hànghóa, vừa cho vay bằng tiền Do lãi suất quá cao nên tiền vay chỉ được sử dụnvào mục đích tiêu dùng cấp bách, hoàn toàn không dùng vào mục đích sảnxuất Mặt khác cũng do lãi suất quá cao nên hầu hết người đi vay đều rời vàotình trạng phá sản Vì vậy,tín dụng nặng lãi đã trở thành một nhân tố làmgiảm sức sản xuất xã hội Song nó cũng góp phần làm nhanh chóng tan rãnền “kinh tế tự nhiên”, mở rộng quan hệ hàng hóa – tiền tệ và tạo tiền đề chochủ nghĩa tư bản ra đời

Khi phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa hình thành và phát triển,nền sản xuất hàng hoá lớn được mở rộng, tín dụng tư bản chủ nghĩa về cơbản đã thay thế tín dụng nặng lãi Tuy vậy tín dụng nặng lãi không mất đi

mà vẫn tồn tại và phát triển ở nhiều nền kinh tế với các mức độ phát triểnkhác nhau Hiện nay tín dụng nặng lãi vẫn tồn tại phổ biến ở các nước chậm

Trang 7

phát triển Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, tín dung cũng khôngngừng mở rộng và phát triển đa dạng Chủ thể tham gia tín dụng bao gồm tất

cả các thành phần kinh tế: Nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân, tư nhân tậpthể, tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương, các tổ chức chính phủ, phichính phủ trong nước,quốc tế Các quan hệ tín dụng được mở rộng cả về đốitượng và quy mô hoạt động Thể hiện ở các ngân hàng có mặt ở hầu hết mọinơi Hầu như toàn bộ các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh đều sử dụng vốntín dụng dưới hình thức vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, mua chịu hànghoá Khối lượng vốn tín dụng ngày ngày càng lớn, các hình thức tín dụngngày càng đa dạng (tín dụng nhà nước,ngân hàng, thuê mua, nặng lãi ) tíndụng được phân loại theo các tiêu thức: thời hạn tín dụng (tín dụng ngắn hạn,trung hạn, dài hạn); đối tượng tín dụng (tín dụng vốn cố định, tín dụng vốnlưu động); mục đích sử dụng vốn (tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá,tín dụng trong tiêu dùng); chủ thể trong quan hệ tín dụng (tín dụng hàng hoá,tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước)

2.1.3 Bản chất của tín dụng

Tín dụng rất phong phú và đa dạng về hình thức Bản chất của tíndụng thể hiện ở các phương diện sau: Một là người sở hữu một số tiền hoặchàng hoá chuyển giao cho người khác sử dụng một thời gian nhất định Lúcnày, vốn được chuyển từ người cho vay sang người vay Hai là, sau khi nhậnđược vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng để thõa mãn một haymột số mục đích nhất định Ba là, đến thời hạn do hai bên thỏa thuận, ngườivay hoàn trả lại cho người cho vay một giá trị lớn hơn vốn ban đầu, tiền tăngthêm được gọi là phần lãi Các Mác đã viết về bản chất của tín dụng nhưsau: “ Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sơ hữu một thời gian và chẳngqua chỉ tạm thời chuyển từ tay người tư hữu sang tay nhà tư bản hoạt động,cho nên tiền không phải bỏ ra để thanh toán, cũng không phải tự đem bán đi

mà cho vay, tiền chỉ đem nhượng lại với một điều kiện là nó sẽ quay vềđiểm xuất phát sau một kì hạn nhất định” Đồng thời CácMác cũng vạch rayêu cầu của việc tiền quay trở về điểm xuất phát là: “vẫn giữ được nguyênvẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn lên trong quá trình vận động” Đếnnay các nhà kinh tế đã có nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng nhưng đềuphản ánh một bên là đi vay và một bên là cho vay, nó dựa trên cơ sở củalòng tin Lòng tin được thể hiện trên khía cạnh: người cho vay tin tưởngngười đi vay sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và là quan hệ có thời hạn,

có hoàn trả Đây là bản chất của tín dụng

2.1.4 Chức năng của tín dụng.

Có 3 chức năng cơ bản:

Thứ nhất: chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ

Trang 8

Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ chức năng này của tín dụng

mà các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi “thừa” đến nới

“thiếu” để sử dụng nhằm phát triển kinh tế

Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai mặt hợp thành chức năng cốt lõicủa tín dụng

- Ở tập trung: nhờ sự hoạt động của hệ thống mà các nguồn tiền nhànrỗi được tập trung lại bao gồm: tiền của dân chúng, vốn bằng tiền của cácdoanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể xã hội

- Ở mặt phân phối lại vốn tiền tệ: Đây là mặt cơ bản của chức năngnày, dó là sự chuyển hóa để sử dụng nguồn vốn đã tập trung được để đápứng nhu cầu của sản xuất lưu thông hàng hóa cũng như nhu cầu tiêu dùngtrong toàn xã hội

Cả hai mặt này đều dược thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả, vì vậytín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích thích mặt tập trung vốn và thúc đẩy sửdụng vốn có hiệu quả

Thứ 2: chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội.Nhờ hoạt động tín dụng mà nó có thể phát huy chức năng tiết kiệm tiền mặt

và chi phí lưu thông cho xã hội, điều này được thể hiện qua các mặt sau

- Hoạt động tín dụng trước hết tạo điều kiện ra đời cho các công cụlưu thông tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, các loại séc, cácphương tiện thanh toán hiện đại như thẻ tín dụng, thẻ thanh toán… cho phépthay thế một số lượng lớn tiền mặt trong lưu thông, làm giảm chi phí vẫnchuyển, in tiền, đúc tiền

- Mở ra khả năng lớn trong việc mở tài khoản ngân hàng và giao dịchthanh toán thông qua ngân hàng dưới các hình thức chuyển khoản hoặc bùtrừ cho nhau, cho phép giải quyết nhanh chóng các mối quan hệ kinh tế, thúcđẩy quá trình ấy, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển

- Nhờ hoạt động tín dụng mà các nguồn vốn nhàn rỗi nằm trong xã hộiđược huy động để sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và lưu thông hànghóa, tăng tốc độ chu chuyển tiền của toàn xã hội

Thứ 3: chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế

Đây là hệ quả của 2 chức năng trên, sự vận động của vốn tín dụng phần lớn

là sự vận động gắn liền với sự vận động của vật tư, hàng hóa, chi phí trongcác doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế Vì vậy tín dụng không những là tấmgương phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà cònthông qua đó thực hiện việc kiểm soát các hoạt động ấy nhằm ngăn chặn cáchiện tượng tiêu cực, lãng phí, vi phạm luật pháp trong họa động sản xuấtkinh doanh

2.1.5 Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường:

Trang 9

- Tín dụng góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra thườngxuyên, liên tục Do tính đa dạng trong luân chuyển vốn của các doanhnghiệp trong nền kinh tế thị trường, tại một thời điểm nhất định trong nềnkinh tế có một số doanh nghiệp “thừa vốn” tạm thời do bán hàng hoá có tiềnnhưng chưa có nhu cầu sử dụng ngay( như chưa trả lương cho công nhânviên ) đã làm nảy sinh nhu cầu cho vay vốn để trách tình trạng ứa đọng vốn

và có thêm lợi nhuận.Trong khi đó có những doanh nghiệp thiếu vốn tạmthời do hàng háo chưa bán được, nhưng lại có nhu cầu mua nguyên vật liệu,thanh toán tiền lương làm nảy sinh nhu cầu đi vay để duy trì sản xuất kinhdoanh mang lại lợi nhuận Tín dụng với việc cung cấp tín dụng cho vay kịpthời, đã tạo khả năng đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất kinhdoanh, cho phép các doanh nghiệp thoả mãn nhu cầu về vốn luôn thay đổi vàkhông để tồn đọng vốn trong quá trình luân chuyển

- Tín dụng góp phần tích tụ, tập trung vốn thúc đẩy sản xuất kinhdoanh

Tập trung vốn phải dựa trên cơ sở tích luỹ Trong thực tế, có nhữnglượng tích luỹ rất lớn được nắm giữ ở các chủ thể khác nhau trong nền kinh

tế Nhưng rất nhiều người tích luỹ không muốn cho vay trực tiếp hoặc khôngmuốn có cổ phần trong các dự án đầu tư vì ngoài lí do mất khả năng thanhkhoản thì người tích luỹ còn bị hạn chế bởi khả năng, kiến thức về tài chính

và pháp lí để thực hiện trực tiếp đầu tư hoặc cho vay Với hoạt động của hệthống tín dụng có đủ độ tin cậy, do tính chuyên môn hoá cao trong hoạt độngtín dụng và đa dạng hoá các doanh mục đầu tư thông qua nhiều nhà đầu tưcủa nhiều dự án khác nhau vay, từ đó làm giảm bớt rủi do cá nhân củanhững người tích luỹ, tạo nên quá trình tập trung vốn được thực hiện nhanhchóng và có hiệu quả đã tạo khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt

là nguồn vốn dài hạn các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nhờ nguồn vốn tíndụng có thể nhanh chóng mở rộng sản xuất, thực hiện các dự án đầu tư tạonhững bước nhảy vọt về năng lực sản xuất do tiếp cận được với phương tiệnmáy móc hiện đại, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển

- Tín dụng góp phần điều chỉnh ổn định và tăng trưởng kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, các nhà đầu tư thường chỉ tập trung vốn đầu tưvào các lĩnh vực có lợi nhuận cao, trong khi đó, nền kinh tế đòi hỏi phải có

sự phát triển cân đối, đồng bộ giữa các ngành và các vùng, yêu cầu phải cónhững ngành then chốt, mũi nhọn để tạo đà cho nền kinh tế phát triển nhanhchóng Tín dụng thông qua cung cấp vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạnđầy đủ, kịp thời với lãi suất và điều kiện cho vay ưu đãi, có vai trò quantrọng trong việcgóp phần đảm bảo vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, hình thànhcác ngành then chốt, mũi nhọn và các vùng kinh tế trọng điểm góp phần

Trang 10

hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu Chẳng hạn, với ưu đãi về vốn, lãi suất, thờihạn và điều kiện vay vốn với nông nghiệp , nông thôn để xây dựng cơ sở vậtchất, kết cấu hạ tầng, tín dụng góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp Tín dụng còn là phương tiện để nhà nước thực hiện chính sáchtiền tệ thích hợp để ổn định nền kinh tế khi nền kinh tế có dấu hiệu bất ổn.Chẳng hạn như khi nền kinh tế phát triển chậm, sản xuất đình trệ, nhà nướcthực hiện chính sách tiền tệ “nới lỏng”, ngân hàng trung ương thực hiện muacác chứng khoán của các ngân hàng thương mại, tạo áp lực giảm lãi suất dẫnđến chi phí vay vốn giảm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng sảnxuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ngược lại Hơn nữa, với sự tham giacủa tín dụng thông qua dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt đã giảm chiphí lưu thông và an toàn trong thanh toán.

- Tín dụng góp phần nâng cao đời sống của nhân dân và thực hiện cácchính sách xã hội khác của nhà nước Với các hình thức tín dụng, cơ chế vàlãi suất thích hợp tín dụng đã góp phần nâng cao đời sống của nhân dân ngay

cả khi thu nhập còn hạn chế

Thông qua các ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn vay đối vớingười nghèo và các đối tượng chính sách, tín dụng đã đóng vai trò quantrọng nhằm thực hiện các chính sách việc làm, dân số và các chương trìnhxoá đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội

- Tín dụng góp phần mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Hoạt động tíndụng không chỉ bó hẹp trong nền kinh tế của một quốc gia, mà còn mở rộngtrên phạm vi quốc tế Trong điều kiện kinh tế mở, vay nợ nước ngoài ngàynay trở thành một nhu cầu khách quan đối với tất cả các nước trên thế giới,

nó lại càng tỏ ra bức thiết hơn đối với các nước đang phát triển Việt Namcũng như nhiều nước đang phát triển khác, là nước nghèo, tích luỹ trongnước còn hạn chế, trong khi cần lượng vốn rất lớn để phát triển kinh tế Nhờ

có tín dụng, các nước có thể mua hàng hoá, nhập khẩu máy móc, thiết bị vàtiếp cận với những thành tựu khoa học kĩ thuật mới cũng như trình độ quản

lý tiên tiến trên thế giới Việc cấp tín dụng của các nước không chỉ mở rộng

và phát triển quan hệ ngoại thương, mà còn tạo điều kiện thúc đẩy phát triểnkinh tế ở các nước nhập khẩu Tín dụng đã tạo môi trường thuận lợi cho đầu

tư quốc tế trực tiếp – một hình thức hợp tác kinh tế ở mức độ cao hơn

2.2 Một số hình thức tín dụng chủ yếu

2.2.1 Tín dụng thương mại ( commercial credit)

Là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghệp với nhau và được biểuhiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá Người bán chuyển hàng hoácho người mua, người mua được sử dụng hàng hoá trong một thời gian nhất

Trang 11

định Đến hạn nhất định người mua phải trả tiền cho người bán thông thườngbao gồm cả lãi suất Trong trường hợp này người mua không được hưởngchiết khấu bán hàng.

Cơ sở pháp lí để xác định nợ trong quan hệ tín dụng thương mại làcác giấy nợ Do có tín dụng thương mại nên đã đáp ứng được nhu cầu vốncho các doanh nghiệp tạm thời thiếu vốn trong thời hạn ngắn, giúp cho cácdoanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá, các chủ doanh nghiệp khai thác đượcnguồn vốn đáp ứng kịp thời cho sản xuất kinh doanh Để tín dụng thươngmại có thể hoạt động được ,cần phải có công cụ của nó – đó là thương phiếu(commercial Bill) ,còn gọi là kỳ phiếu thương mại, nghĩa là để đảm bảo chohành vi mua bán chịu được tiến hành và việc thanh toán tiền hàng mua chịuđược thực hiện chắc chắn thì nhất thiết phải có công cụ của nó là thươngphiếu

Thực chất của thương phiếu là một giấy nợ thương mại, có hình thứcngắn gọn , chặt chẽ và được pháp luật thừa nhận để sử dụng trong mua bánchịu hàng hóa Nó là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp trong quan

hệ tín dụng thương mại Thương phiếu gồm 2 loại:

+ 1 loại do người mua chịu lập ra để cam kết trả tiền cho người bán theothời gian và địa điểm ghi trên phiếu

+ loại khác được dùng phổ biến hơn là hối phiếu ( Bill of Exchange) còngọi là thương phiếu chuyển nhượng do người bán chịu lập ra

Thương phiếu có ba tính chất quan trọng sau:

- Một là : tính trừu tượng.Trên thương phiếu người ta không phản ánhnội dung của quan hệ thương mại, luật pháp cũng cho phép rằng giá trị pháp

lý của thương phiếu không phụ thuộc vào xuất xứ của nó

- Hai là: tính bắt buộc.Người trả tiền bắt buộc phải thanh toán số tiềncủa thương phiếu cho người thụ hưởng không được viện cớ để trì hoãn hoặc

từ chối việc trả tiền.Đây là tính chất rất quan trọng, làm cho thương phiếu rất

có uy tín ở trên thị trường

- Ba là tính lưu thông.Trong thời gian hiệu lực của thương phiếu, nó cóthể luân chuyển từ tay người này sang tay người khác bằng cách ký hậuchuyển nhượng, nhờ đó thương phiếu được sử dụng như là một phương tiệnthanh toán trong nền kinh tế

* Tín dụng thương mại có tác dụng

- Tín dụng thương mại trực tiếp thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa,nhờ đó sản phẩm hàng hóa được vận động từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng

để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.Với ý nghĩa đó tín dụng thương mại còn

có tác dụng lớn lao hơn là thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế

Trang 12

- Tín dụng thương mại góp phần giải quyết các nhu cầu về vốn cho nềnkinh tế nhờ đó đảm bảo sản xuất kinh doanh không những được duy trì mộtcách thường xuyên mà còn có điều kiện để không ngừng mở rộng

- Tín dụng thương mại còn có tác dụng làm giảm lượng tiền mặt lưu hànhnhờ mở rộng việc lưu thông thương phiếu do đó góp phần ổn định lưu thôngtiền tệ

Tuy nhiên tín dụng thương mại cũng có những hạn chế nhất định.Thứ nhất là hạn chế về quy mô tín dụng Nếu người cần vốn có nhu cầu caothì người bán không thể đáp ứng được Thứ hai là hạn chế về thời hạn chovay, thời hạn cho vay thường là ngắn Ba là hạn chế về số lượng người thamgia Chỉ có một số doanh nghiệp nhất định tham gia vào hình thức này Đó lànhững doanh nghiệp cần hàng hoá dự trữ để đưa vào sản xuất ngay, nhữngdoanh nghiệp cần tiêu thụ hàng hóa Bốn là chỉ thực hiện được trên cơ sở tínnhiệm lẫn nhau

2.2.2 Tín dụng ngân hàng:

Là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các chủthể xã hội Trong quan hệ tín dụng ngân hàng vừa là người đi vay vừa làngười cho vay ngân hàng là môi giơí trung gian giữa người có vốn và ngườicần vốn Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tập thể, Hoạt động tín dụng làhoạt động dựa trên những nguyên tắc cho vay nhất định Nguyên tắc cơ bản

là cho vay phải có hàng hoá tương đương đảm bảo như có tài sản thế chấphoặc phải có giấy tờ tín chấp Cho vay phải hoàn trả đúng hạn cả vốn và lãi

Tín dụng ngân hàng được cung cấp dưới hình thức tập thể bao gồm:thương mại và bút tệ trong đó chủ yếu là bút tệ Tín dụng ngân hàng là hìnhthức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân và có quan hệ chặt chẽ vớitín dụng thương mại, bổ sung và hỗ trợ cho tín dụng thương mại Cácthương phiếu trong lĩnh vực thương mại được thanh toán qua ngân

hàng Nếu người trả không có tiền thì được ngân hàng cho vay Như vậy tíndụng ngân hàng đã tạo cơ sở cho tín dụng ngân hàng hoạt động Ngược lạihoạt động của tín dụng ngân hàng sẽ khắc phục được những hạn chế của lĩnhvực thương mại

2.2.3 Tín dụng nhà nước:

Là quan hệ giữa một bên là nhà nước còn bên kia là cư dân và các tổchức kinh tế xã hội Ở hình thức tín dụng này nhà nước vừa là người đi vayvừa là người cho vay, nhà nước có thể cho đân cư vay dưới hình thức pháthành các tín phiếu trái phiếu kho bạc, chính phủ nhà nước cho vay thường làchương chình tín dụng ưu đãi Phạm vi hoạt động và huy động vốn rộng lớngồm cả trong nước và nước ngoài

Vai trò của tín dụng nhà nước

Trang 13

- Bù đắp bội chi ngân sách nhà nước.Để đảm bảo chi tiêu cần thiết chonhà nước

- thực hiện các chính sách kinh tế xã hội

- Ngày nay tín dụng nhà nước tồn tại và quy mô ngày càng mở rộng làhết sức cần thiết cho mọi nhà nước trên thế giới

Hình thức huy động vốn rất phong phú Có thể dưói hình thức cho vay trựctiếp nước ngoài bằng công trái, bằng tiền, bằng vàng, bằng ngoại tệ dướihình thức là phiếu, tín phiếu, trái phiếu của chính phủ tín dụng ngắn hạn, tíndụng dài hạn Tín dụng nhà nước vừa mang tính lợi ích kinh tế vừa mangtính cưỡng chế chính trị xã hội Tín dụng nhà nước là loại tín dụng mangtính chất tín chấp cả về phía đi vay cũng như cho vay.Nhà nước dùng uy tíncủa mình để đảm bảo việc trả nợ đúng hạn số tiền đã vay

đa dạng Loại hình tín dụng này rất quan trọng trong việc cung cấp vốn chongười nghèo và những lúc cấp bách

2.2.5 Tín dụng thuê mua:

Là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp thuê tài sản với các tổchức tín dụng thuê mua như các công ty thuê mua, các công ty tài chính Tíndụng thuê mua là kiểu cho thuê tài sản chuyên dụng kèm theo lời hứa sẽ bánlại về sau, chậm nhất là khi kết thúc hợp đồng cho người thuê theo giá thoãthuận từ đầu Hoạt động thuê tài chính gồm có 3 bên liên quan: Người thuê,người bán tài sản và người cho thuê tài sản ( công ty tài chính) Thời hạnthuê thương là dài, người thuê có thể không mua tài sản này trong khoẳng70% thời hạn sử dụng của sản phẩm này

Việc thuê mua được thực hiện thông qua các hợp đồng thỏa thuận thuê muadưới hình thức tài trợ vốn cho đầu tư mới

2.3 Lãi suất tín dụng

Lãi suất là một phạm trù kinh tế tổng hợp, có liên quan chặt chẽ đến một sốphạm trù kinh tế khác và đóng vai trò như là một đòn bẩy kinh tế cực kỳnhạy bén có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của doanh nghiệp và dân

Trang 14

cư Quan trọng hơn, nó được Nhà nước sử dụng như một công cụ quản lý vĩ

mô trong nền kinh tế thị trường Một nhà kinh tế học nổi tiếng của PhápA.POIAL đã khẳng định: lãi suất là một công cụ tích cực trong phát triểnkinh tế và đồng thời lại là một công cụ kìm hãm của chính sự phát triển ấy,tuỳ thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dại trong việc sử dụng chúng

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá, vai trò của lãi suất được nhìn nhận mộtcách hết sức mờ nhạt và lệ thuộc, nhiều khi được hiểu như sự phân chia cuốicùng của sản xuất giữa giữa những người sản xuất, người đầu tư vốn vàngười cho vay Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất được các nhà kinh tếhọc định nghĩa là cái giá để vay mượn hoặc thuê những dịch vụ tiền Vì việcvay mượn hoặc thuê những dịch vụ tiền liên quan đến việc tạo ra tín dụng,

do vậy, người ta có thể coi lãi suất như là giá cả của tín dụng

Trong nền kinh tế thị trường, có nhiều loại lãi suất khác nhau: lãi suất cầm

cố thế chấp, lãi suất về những trái khoán công ty, lãi suất về trái phiếu khobạc, kỳ phiếu thương mại và nhiều công cụ tín dụng khác Vô số những lợitức khác nhau cùng tồn tại vào một thời điểm; do vậy, lãi suất được xem xéttrên cơ sở sự khác nhau về khả năng chuyển đổi trên thị trường vốn, rủi rosai hẹn hoặc không trả được nợ, độ dài kỳ hạn hoàn trả và những lý do vềthuế

3 Cơ sở thực tiễn tín dụng ở Việt Nam

3.1 Tổng quan về thực tiễn tín dụng ở Việt Nam.

Nước ta hiện nay hệ thống tín dụng bắt đầu phát triển mạnh Trongthời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải có nền kinh tế phát triểnvững mạnh Vì vậy nhu cầu về vốn ngày càng nhiều, vốn được coi là yếu tốhàng đầu, là tiền đề phát triển kinh tế Đảng và nhà nước đã sử dụng phươngpháp tín dụng là phương pháp chủ yếu để giúp đỡ về tài chính cho các tổchức kinh tế tập thể.Bằng phương pháp tín dụng, ngân hàng cho các tổ chứckinh tế tập thể vay vốn cố định và vốn lưu động để tăng thêm năng lực sảnxuất, áp dụng các thành tựu sản xuất vào trong đơn vị mình Thực tế đãchứng minh rằng đầu tư tín dụng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các

tổ chức kinh tế tập thể Trong nhiều cơ sở, đặc biệt là trong các hợp tác xãnông- lâm- ngư Vốn tín dụng chiếm một tỷ trọng khá lớn trong toàn bộ vốnhoạt động của đơn vị

Ở nước ta trước cách mạng tháng 8/45 và trong thời kì từ năm 54-75

ở miền nam các quan hệ tín dụng thể hiện sự bóc lột của chủ nghĩa đế quốcđối với dân tộc việt nam, của giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhândân lao động, của giai cấp phong kiến và bọn cho vay nặng lãi đối cới nhữngngười sản xuất nhỏ là nông dân và dân nghèo thành thị Việt nam, trước đây

Trang 15

bọn đế quốc và các giai cấp thống trị trong nước vừa thực hiện sự bóc lộtthông qua các hình thức tín dụng tư bản chủ nghĩa vừa duy trì sự bóc lộtbằng tín dụng nặng lãi Tình hình nay đã tác động rất xấu đến nền kinh tế và

xã hội nước ta Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 quan hệ giai cấp trong xãhội việt nam đã có nhiều thay đổi và tín dụng đẫ bắt đầu đem theo những nộidung kinh tế xã hội mới, hạn chế dần mặt bóc lột và chuyển sang phục vụquyền lợi của đại đa số nhân dân lao động Ở nước ta việc chuyển sang cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước, các hoạt động tín dụng cũngphải được đổi mới cả về nội dung, hình thức lẫn phạm vi tính chất của nó.Kinh tế thị trường tạo ra khả năng mở rộng phạm vi hoạt động của tín dụng;đến lượt mình, tín dụng lại thúc đẩy mạnhmẽ quá trình tích tụ và tập trungsản xuất Sự cạnh tranh giữa các tổ chức tíndụng đưa đến việc thu hút và huyđộng một lượng vốn trong thời gian nhanhnhất và với lãi suất thấp nhất, kịpthời đáp ứng mọi nhu cầu của doanh nghiệp.Thừa nhận hoạt động tín dụng làhoạt động kinh doanh tiền tệ thì lợi tức phảiđược xem như là giá cả của loạihàng hoá-tiền tệ và nó thay đổi theo quan hệcung cầu trên thị trường tiền tệ.Chính sự thay đổi của lợi tức trong từng thờikỳ góp phần vào việc điều hoàcung cầu về vốn tiền tệ trong toàn nền kinh tế.Với tác dụng đó, quan hệ tíndụng được sử dụng như là một công cụ kinh tế vĩmô, cùng với quan hệ tàichính, để điều tiết nền kinh tế.Do đó khi chuyển sang cơ chế thị trường thìquan hệ tín dụng ở Việt Namtồn tại dưới các hình thức sau:

- Tín dụng ngân hàng

Đây là hình thức tín dụng rất quan trọng và là quan hệ tín dụng chủ yếu giữangân hàng và các doanh nghiệp Nó là hình thức mà các quan hệ tín dụngđược thực hiện thông qua vai trò trung tâm của ngân hàng Nó đáp ứng phầnlớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân Theo đà phát triểncủa nền kinh tế, hình thức tín dụng ngân hàng ngày càng trở thành hình thứcchủ yếu không chỉ ở trong nước mà còn trên trường quốc tế.Tuỳ theo cáchphân chia khác nhau, tín dụng ngân hàng có các loại khác nhau

* Nếu phân chia theo thời gian:

+Tín dụng ngắn hạn

+ Tín dụng trung hạn ( trên 1 năm và dưới 5 năm)

+ Tín dụng dài hạn (trên 5 năm)

Nếu phân chia theo đối tượng đầu tư của tín dụng:

Ngày đăng: 12/12/2013, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w