1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên cho mục đích phát triển bền vững du lịch huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc​

123 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.3.2 Phương pháp nghiên cứu (42)
  • CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN TAM ĐẢO (14)
    • 2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên (46)
      • 2.1.1 Vị trí địa lý - Tài nguyên vị thế (46)
      • 2.1.2 Địa hình - Tài nguyên địa mạo (48)
      • 2.1.3 Địa chất - Tài nguyên khoáng sản (48)
      • 2.1.4 Khí hậu - Tài nguyên khí hậu (49)
      • 2.1.5 Thủy văn - Tài nguyên nước (52)
      • 2.1.6 Thổ nhưỡng - Tài nguyên đất và hiện trạng sử dụng đất (53)
    • 2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội (58)
      • 2.2.1 Hiện trạng phát triển kinh tế (58)
      • 2.2.2 Dân cư, lao động (60)
      • 2.2.3 Hiện trạng cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch (63)
    • 2.3 Hiện trạng phát triển du lịch (67)
      • 2.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên (67)
      • 2.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn (70)
      • 2.3.3 Hiện trạng phát triển du lịch (74)
      • 2.3.4 Hiện trạng tổ chức lãnh thổ du lịch (80)
      • 2.3.5 Khả năng liên kết du lịch của huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc trong không (81)
  • CHƯƠNG 3. ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH HUYỆN TAM ĐẢO (46)
    • 3.1 Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên để phát triển du lịch (86)
      • 3.1.1 Lựa chọn đối tượng đánh giá (86)
      • 3.1.2 Xây dựng thang đánh giá (89)
      • 3.1.3 Tiến hành đánh giá (92)
      • 3.1.4 Đánh giá kết quả (93)
      • 3.2.1 Cơ sở xây dựng định hướng (97)
      • 3.2.2 Định hướng phát triển du lịch huyện Tam Đảo (100)
      • 3.2.3 Định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch (103)
      • 3.2.4 Các giải pháp thực hiện (108)
      • 3.2.5 Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về du lịch (110)

Nội dung

Đặc biệt trong lĩnh vực du lịch, cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển du lịch, dịch vụchưa được đầu tư đồng bộ, nhiều công trình đã xuống cấp; các sản phẩm du lịch cònnghèo nàn, chất lượ

ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN TAM ĐẢO

Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý - Tài nguyên vị thế

Tam Đảo nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Vĩnh Phúc, gần ngã ba ranh giới của Vĩnh Phúc với hai tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên Tam Đảo cách Thành phố Vĩnh Yên 10 km và cách Thủ đô Hà Nội 60 km, những nơi có dân số đông, có sự phát triển kinh tế năng động, có sức lan tỏa lớn.

Tam Đảo là huyện miền núi, nằm trên phần chính, phía Tây Bắc của dãy núi Tam Đảo, nơi bắt nguồn của sông Cà Lồ (sông này nối với sông Hồng và sông Cầu). Các vùng của huyện chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, mỗi vùng đều có những điều kiện tự nhiên, những nguồn lực kinh tế đặc thù tạo nên những sắc thái riêng trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là kinh tế nông, lâm nghiệp và dịch vụ du lịch Tam Đảo nổi bật với địa hình vùng núi bởi dãy núi Tam Đảo, vùng rừng quốc gia tạo cảnh quan và những điều kiện đặc thù về yếu tố lịch sử, tín ngưỡng cho sự phát triển du lịch, nhất là du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái và du lịch tâm linh.

Người thành lập: Lê Thị Thúy OanhNgười hướng dẫn: PGS.TS Trần Viết KhanhHình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc

2.1.2 Địa hình - Tài nguyên địa mạo Địa hình huyện Tam Đảo được tạo thành là kết quả hoạt động tổng hợp từ các quá trình địa chất nội sinh và ngoại sinh cùng với tác động của con người Nhìn chung địa hình nằm trên một bán bình nguyên bóc mòn, mang tính chất miền đồi với độ cao trung bình khoảng 500 m, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và được chia thành 2 vùng: núi; đồi và đồng bằng xen kẽ.

- Vùng núi: dãy núi Tam Đảo là địa hình núi trung bình, (thuộc địa bàn của ba tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang) hình thành liên quan đến sự hoạt động của núi lửa thuộc hệ Triat thống trung (cách ngày nay khoảng 145 triệu năm). Dãy Tam Đảo có chiều dài hơn 50 km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với hơn 10 đỉnh cao trên dưới 1.400 m, trong đó đỉnh cao nhất là Tam Đảo (1.592 m) và ba đỉnh Thạch Bàn (1.388 m), Thiên Thị (1.375 m), Phù Nghĩa (1.400 m) nối liền với nhau như ba hòn đảo Trong địa phận tỉnh Vĩnh Phúc dãy Tam Đảo kéo dài từ xã Đạo Trù (Tam Đảo) - điểm cực Bắc của tỉnh đến xã Ngọc Thanh (Phúc Yên) - điểm cực Đông của tỉnh với chiều dài trên 30 km.

Miền núi Tam Đảo với nhiều dạng địa hình đặc biệt như cacxtơ, suối, thác nước là những nguồn tài nguyên du lịch phong phú thu hút được nhiều du khách, điển hình là thác Bạc, suối Bát Nhã, suối Bạc, suối Vàng, hang Dơi

- Vùng đồi và đồng bằng xen kẽ: kế tiếp vùng núi, chủ yếu là đồi tích tụ, được hình thành do quá trình tích tụ và xâm thực, phân bố ở các cửa suối lớn trong chân núi Tam Đảo như các suối ở Đạo Trù, Tam Quan, Hợp Châu, … Do tích tụ nên dạng đồi này có diện tích nhỏ, cấu tạo chủ yếu là cuội, cát, sỏi, bột sét… Các đồi thường bị dòng nước ăn vào một bên sườn hoặc cả hai bên nếu ở giữa có dòng chảy.

Xen kẽ giữa các đồi tích tụ là đồng bằng giới hạn, được hình thành do sự phá huỷ lâu dài của vùng núi, do sự bóc mòn, xâm thực của nước mặt, nước ngầm và nước sông băng (thời kỳ băng hà) Chính những yếu tố ngoại lực này đã biến vùng núi cao thành vùng núi thấp, dần dần thành vùng đồi và sau đó thành vùng đồng bằng có giới hạn (do bao quanh nó vẫn là đồi núi).

2.1.3 Địa chất - Tài nguyên khoáng sản

Theo công trình Địa chí Vĩnh Phúc (2012), trên địa bàn huyện Tam Đảo phân bố sáu nhóm đá khác nhau [54]:

- Đá trầm tích lục nguyên màu đỏ: phân bố ở phía Đông Nam huyện Tam Đảo, bao gồm cát kết, đá phiến sét màu đỏ nâu, phớt lục, phớt tím xen kẽ với bột kết, đá phiến sét phớt đỏ hệ tầng Nà Khuất.

- Đá trầm tích lục nguyên có chứa than: phân bố thành dải hẹp ở khu vực xã Đạo Trù (Tam Đảo), thành phần gồm cuội kết, cát kết, đá phiến sét, sét than và lớp than đá; phần trên gồm cát kết, bột kết, đá phiết sét màu xám vàng, xám thẫm thuộc hệ tầng Văn Lãng Các trầm tích Neogen lộ ra ở khu vực dọc rìa Tây Nam huyện Tao Đảo, nằm kẹp giữa các hệ thống đứt gãy sông Chảy và sông Lô, bao gồm cát kết và sét kết màu xám đen.

- Đá phun trào: phân bố chiếm toàn bộ dãy núi Tam Đảo, bao gồm tướng phun trào thực sự: đá ryolit đaxit, ryolit porphyr có ban tinh thạch anh, felspat, plagiolas; tướng á phun trào: xuyên cắt các loại đá phun trào, gồm ryolit porphyr có ban tinh lớn, ít felspat dạng đai mạch nhỏ; tướng phun nổ: các thấu kính từ chứa ít mảnh dăm, bom núi lửa của hệ tầng Tam Đảo Các loại đá phun trào Tam Đảo chủ yếu là đá ryolit, một số là đaxit.

- Đá magma xâm nhập: thuộc phức hệ sông Chảy, phân bố ở phía Tây Bắc huyện Lập Thạch, bao gồm đá granodiorit, granit hạt từ vừa đến lớn, granit 2 mica, granit muscovit hạt vừa đến nhỏ, các mạch aplit, pegmatit Đặc điểm của các loại đá này là giàu nhôm, giàu kiềm Các loại đá magma xâm nhập nằm trong hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam, gồm hệ thống đứt gãy sông Chảy và sông Lô.

Huyện Tam Đảo không có nhiều tài nguyên khoáng sản Trên địa bàn huyện có cát, sỏi ở các xã ven sông Phó Đáy có thể khai thác làm vật liệu xây dựng; có quặng sắt và 2 mỏ đá ở xã Minh Quang với trữ lượng có thể khai thác trong vài chục năm, nhưng đang gây ô nhiễm và đặc biệt là ảnh hưởng đến cảnh quan, sự an toàn trong hoạt động du lịch của Huyện.

Tiềm năng khoáng sản ít là yếu tố bất lợi, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế chung của Huyện, nhất là công nghiệp khai khoáng Nhưng lại là yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của Tam Đảo với tư cách là Huyện lấy dịch vụ, trong đó dịch vụ du lịch làm trọng tâm trong phát triển kinh tế xã hội của Huyện Bởi vì, khai thác và chế biến khoáng sản tạo ô nhiễm, ảnh hưởng đến hoạt động du lịch.

2.1.4 Khí hậu - Tài nguyên khí hậu

Huyện Tam Đảo nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều có đặc điểm khí hậu của vùng trung du miền núi phía Bắc Do địa hình phía Đông Bắc là dãy núi Tam Đảo chạy dài xuống Đông Nam tạo nên một bức tường chắn gió mùa cực đới nên nhiệt độ mùa đông của Tam Đảo cao hơn so với một số tỉnh cùng vĩ độ ở vùng Đông Bắc Ngược lại về mùa hè lại là hướng mở đón gió nênTam Đảo có khá nhiều mưa Khí hậu của Tam Đảo chịu sự phân hóa theo đai cao.

Toàn bộ vùng núi Tam Đảo mang sắc thái của khí hậu ôn đới, nhiệt độ trung bình

18 o C - 19 o C, độ ẩm cao, quanh năm có sương mù che phủ Tháng lạnh nhất nhiệt độ xuống dưới 11 o C Tuy nhiên ở Tam Đảo quanh năm không có tháng nào nhiệt độ trung bình vượt quá 25 o C và nhiệt độ tối cao tuyệt đối không vượt quá 35 o C Do vậy, Tam Đảo là nơi có khí hậu thuận lợi nhất cho hoạt động du lịch, phù hợp với sức khoẻ con người, thuận tiện cho các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí và chữa bệnh.

Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2.1 Hiện trạng phát triển kinh tế

Tam Đảo là huyện miền núi có nhiều khó khăn về điều kiện tự nhiên, xã hội, nhưng sau 6 năm được tái lập và đi vào hoạt động Tam Đảo đã đạt được những thành tựu rất quan trọng về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng Liên tục trong 6 năm từ 2004 - 2010 kinh tế Tam Đảo luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, giá trị sản xuất tăng bình quân 18,22%, đặc biệt giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn các năm 2006 - 2010 tăng bình quân 18,53%/năm (mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện 2006 - 2010 là 14 - 16%/năm) Giá trị sản xuất tính theo giá so sánh bình quân đầu người tăng từ 3,6 triệu đồng năm 2004 lên 7,96 triệu đồng năm 2010 và từ 4,7 triệu đồng năm 2004 lên 17,75 triệu đồng năm 2010 tính theo giá thực tế. Kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch đúng hướng, kết cấu hạ tầng đang dần được hoàn thiện: Tổng giá trị sản xuất 5 năm (từ 2011 - 2015) đạt 11.442 tỷ đồng, tăng bình quân 13,23% (trong đó: nông - lâm nghiệp - thủy sản tăng 1,95%; công nghiệp - xây dựng tăng 17,29%; dịch vụ tăng 20,62%) Giá trị sản xuất bình quân đầu người theo giá thực tế là 35,869 triệu đồng [66]. Đối với nông, lâm, thủy sản: Đây là nhóm ngành có tốc độ tăng trưởng khá cao về giá trị sản xuất nếu so với các huyện khác trong tỉnh, với mức bình quân chung 11,16%/năm thời kỳ 2004 - 2010 và 12,55% giai đoạn 2006 - 2010 [4] Sự tăng trưởng nhanh của nhóm ngành này chủ yếu do tác động của chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng đẩy mạnh các cây có giá trị kinh tế cao và với sự tăng nhanh của ngành chăn nuôi Tuy nhiên, mức tăng của nông nghiệp thấp so với mức tăng chung của nhóm ngành trên địa bàn huyện lại là nhân tố làm giảm sự tăng trưởng chung và buộc các ngành dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp phải có mức tăng trưởng rất cao.

Trên thực tế, công nghiệp và xây dựng là nhóm ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất với mức tăng bình quân 38,72%/năm cho thời kỳ 2004 - 2010 và giảm còn 27,22% giai đoạn 2006 - 2010 Dịch vụ là nhóm ngành có mức tăng cao thứ 2 với mức tăng bình quân 21,2%/năm thời kỳ 2004 - 2010 và 22,45% giai đoạn 2006 -

2010, nhưng lại có tỷ trọng lớn, nên sự tăng trưởng của các ngành dịch vụ có ý nghĩa quyết định tới tăng trưởng chung của các ngành kinh tế trên địa bàn huyện.

- Cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trên thực tế, cơ cấu kinh tế đã chuyển theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và xây dựng, giảm tỷ trọng dịch vụ và nông, lâm nghiệp, thủy sản Năm

2005, các ngành công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 7,6% trong cơ cấu giá trị sản xuất Năm 2006, tỷ trọng các ngành này đã tăng lên đến 24,65%.

Cơ cấu giá trị sản xuất đến năm 2015 nông - lâm nghiệp - thủy sản chiếm 37,67%; công nghiệp - xây dựng 22,63%; dịch vụ 39,7%.

Bảng 2.4: Giá trị và cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn huyện

Tổng giá trị sản xuất

Cơ cấu giá trị sản xuất

Nguồn: Phòng Thống kê huyện Tam Đảo - Tài liệu phục vụ Quy hoạch [66]

Sự biến động trong cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện theo xu hướng trên do xuất phát điểm của công nghiệp và xây dựng thấp, sau khi tái lập huyện, các công trình xây dựng được tăng cường, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được triển khai Đặc biệt, các mỏ đá đã đi vào khai thác làm cho giá trị công nghiệp, trước hết là công nghiệp khai thác khoáng sản tăng lên đột biến vào năm 2006 và tăng cao các năm 2007 - 2010.

2005 2015 Hình 2.4 Cơ cấu giá trị sản xuất GDP huyện Tam Đảo năm 2005, 2015

- Đặc điểm về dân số và nguồn nhân lực

Năm 2010 dân số của toàn huyện Tam Đảo là 71528 người, mật độ dân số trung bình là 303 người/km 2 , trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 43,9% Năm 2015 dân số 78232 nghìn người, trong đó 44,5 % là đồng bào dân tộc thiểu số (chủ yếu là dân tộc Sán Dìu) Dân số trong độ tuổi lao động là 37754 người Tỷ lệ được lao động được đào tạo, bồi dưỡng nghề tăng từ dưới 30% (năm 2010), lên 48 % (năm

2015) Tổng số lao động làm việc trong các cơ sở du lịch đến nay là 7173 người So với các huyện, thành phố khác trong tỉnh Vĩnh Phúc, Tam Đảo là một trong các huyện có mật độ dân số thấp Mật độ dân số không đều giữa các xã trong huyện, tập trung cao ở các xã vùng thấp và thưa thớt tại vùng thị trấn Tam Đảo, các thôn, xóm vùng ven núi của các xã vùng đồng bằng.

Bảng 2.5 Biến động nguồn lao động huyện Tam Đảo giai đoạn 2004 - 2010

2 Tổng LĐ đang làm việc

- Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

- Công nghiệp, TTCN, xây dựng

3 Chất lượng nguồn lao động

- Lao động chưa qua đào tạo

- Cao đẳng, đại học trở lên

Nguồn: Phòng Thống kê huyện Tam Đảo - Tài liệu phục vụ Quy hoạch [66]

Tam Đảo là huyện miền núi mới được tái lập, điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu, trình độ dân trí còn thấp và chưa đồng đều, nhất là đối với đồng bào dân tộc sống ở vùng núi Tỷ lệ dân số hoạt động trong các ngành nông, lâm, thủy sản khá thấp ở địa bàn cấp huyện (52,6% năm 2010) Một bộ phận khá lớn dân cư đã chuyển sang các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng (7.400 người, chiếm 21,4%) và các ngành dịch vụ (8.990 người, chiếm 26,0%).

- Về chất lượng của nguồn lao động: nhìn chung nguồn lao động của Tam Đảo có chất lượng thấp Số người lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ trọng lớn (91,3% năm 2010) Lao động qua đào tạo chiếm tỷ trọng nhỏ và tập trung vào đội ngũ công chức cấp xã, huyện và viên chức các ngành giáo dục, y tế

Với những đặc trưng về dân số và nguồn lao động như trên, Tam Đảo vừa có thuận lợi trong phát triển kinh tế, vừa có những khó khăn, đặc biệt là trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành thương mại, dịch vụ du lịch và tiểu thủ công nghiệp.

- Về yếu tố truyền thống, dân tộc và tôn giáo

Tam Đảo là huyện miền núi có nhiều dân tộc anh em và nhiều yếu tố truyền thống, văn hóa, lịch sử tạo những điều kiện tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

Trên địa bàn huyện Tam Đảo có các dân tộc: Kinh, Sán Dìu, Lào, Mường, Hoa, Mông, Dao, Khơ me, trong đó hai dân tộc Kinh và Sán Dìu chiếm phần lớn dân số của huyện, các dân tộc khác (Lào, Mường, Hoa) chiếm một phần rất nhỏ. Phân theo cơ cấu dân tộc: Dân tộc kinh chiếm 57,79%, dân tộc Sán Dìu chiếm 41,76%, các dân tộc khác chỉ chiếm 0,14% Sau nhiều đời chung sống có sự giao thoa nhất định giữa các dân tộc, nên tuy có nhiều phong tục, tập quán, bản sắc khác nhau, nhưng về phát triển kinh tế đã có được sự bắt nhịp nhất định của đồng bào dân tộc thiểu số và người Kinh Tuy nhiên, sự khác nhau về bản sắc văn hóa cần được trân trọng trong phát triển kinh tế và duy trì các hoạt động văn hóa.

Huyện Tam Đảo có 119 di tích đình, chùa, đền, miếu, trong đó có nhiều di tích có giá trị văn hoá cao, minh chứng cho một thời kỳ du nhập, phát tích và hưng thịnh của Phật giáo vào Việt Nam Bên cạnh đó Tam Đảo còn có nhiều di tích lịch sử cách mạng quan trọng của cả nước như: Nơi Bác Hồ về làm việc, sở chỉ huy chiến dịch Trần Hưng Đạo ở thị trấn Tam Đảo, nơi tổ chức các hội nghị quan trọng chỉ huy cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân - 1968, địa điểm bắn rơi may bay Mỹ bằng súng bộ binh của dân quân dân tộc Sán Dìu ở xã Đạo Trù …

Các dấu ấn lịch sử và văn hóa mà người dân nơi đây đã tạo dựng qua trường kỳ lịch sử được gìn giữ và phát huy, thể hiện ở hệ thống di sản văn hóa vật thể; hệ thống di tích thờ Thần, thờ Phật phong phú và đa dạng, phân bổ ở hầu khắp các địa phương.

Trong số 119 di tích lịch sử văn hoá có 35 đình, 29 đền, 39 chùa, 8 miếu, 5 di tích cách mạng và 01 Thiền viện (Thiền viện Trúc lâm Tây Thiên) Có 15 di tích được xếp hạng cấp Tỉnh và 01 di tích xếp hạng Quốc gia Một số di tích nổi tiếng như Đền thờ Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu, Đền Bà chúa Thượng, Đền Thạch Kiếm,Đền thờ Đức Thánh Trần, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, Đền chân Suối Trên địa bàn huyện Tam Đảo có 44 lễ hội lớn, nhỏ ở các xã, thôn được tổ chức tại các đình, đền, chùa trong huyện; một số lễ hội tiêu biểu có sức thu hút khách du lịch như Lễ hội Tây Thiên, Hội Vật Làng Hà Các lễ hội được tổ chức hàng năm gắn với các di tích lịch sử văn hóa, thu hút một lượng lớn khách du lịch hành hương về với Tam Đảo.

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH HUYỆN TAM ĐẢO

Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên để phát triển du lịch

Mục tiêu của đánh giá điều kiện tự nhiên nhằm xác định theo các mức độ “rất thuận lợi”, “khá thuận lợi”, “thuận lợi” và “kém thuận lợi” của tài nguyên cho mục đích phát triển du lịch tại lãnh thổ nghiên cứu.

Huyện Tam Đảo có các ĐKTN/TNDL rất thuận lợi để phát triển du lịch Cần có sự đánh giá khách quan các ĐKTN để đặt cơ sở khoa học cho việc khai thác và sử dụng một cách hợp lý nhất, có hiệu quả nhất cho mục đích phát triển du lịch theo hướng phát triển bền vững.

Theo quan điểm địa lý tự nhiên tổng hợp, luận văn tiến hành đánh giá tổng hợp các ĐKTN để phục vụ mục đích phát triển du lịch huyện Tam Đảo với 4 nội dung cơ bản theo trình tự: Lựa chọn đối tượng đánh giá, xây dựng thang đánh giá, tiến hành đánh giá và đánh giá kết quả [18].

3.1.1 Lựa chọn đối tượng đánh giá

Tam Đảo là huyện miền núi, nằm trên phần chính, phía Tây Bắc của dãy núi Tam Đảo, nơi bắt nguồn của sông Cà Lồ (sông này nối với sông Hồng và sông Cầu) Hướng chủ yếu của địa hình là hướng Tây Bắc - Đông Nam và thể hiện khá rõ sự phân hóa theo độ cao Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa mang đặc điểm của khí hậu vùng trung du miền núi phía Bắc Thảm thực vật đa dạng, phân bố trên nhiều sinh cảnh khác nhau của rừng nhiệt đới gió mùa Các nhân tố tự nhiên về địa hình, địa mạo, khí hậu, thảm thực vật là những tiêu chí quan trọng trong phân vùng địa lý tự nhiên của từng lãnh thổ.

Luận văn áp dụng hệ thống các chỉ tiêu phân vùng về địa hình, địa mạo củaNguyễn Đình Kỳ, Lại Vĩnh Cẩm (2011) [29], các chỉ tiêu về phân vùng khí hậu củaTrần Việt Liễn, Ngô Tiền Giang (2011) [35], các chỉ tiêu về phân vùng thảm thực vật của Vũ Tấn Phương (2013) [47] trong việc phân vùng địa lý tự nhiên tại lãnh thổ nghiên cứu.

Bảng 3.1 Các cấp phân vị và hệ thống chỉ tiêu phân vùng

Tiêu chí Địa hình, địa mạo

Hệ thống phân vị phân vùng được chia thành hai cấp: vùng và tiểu vùng Dựa trên các tiêu chí và các chỉ tiêu phân vùng đã được xác định, toàn bộ lãnh thổ của huyện Tam Đảo là 1 vùng và phân thành 2 tiểu vùng địa lý tự nhiên: tiểu vùng núi trung bình Tam Đảo và tiểu vùng đồi cao Tam Đảo.

Các tiểu vùng sẽ được đánh giá tổng hợp và phân hạng theo mức độ thuận lợi của tài nguyên tự nhiên để làm cơ sở cho việc tổ phát triển du lịch của huyện Tam Đảo theo hướng phát triển bền vững Hai tiểu vùng đánh giá có các giá trị nổi bật sau:

- Tiểu vùng núi trung bình Tam Đảo:

Hình thành liên quan đến hoạt động của núi lửa thời kỳ Triat Được cấu tạo bởi đá macma axit, riolit và ganit nên có đỉnh nhọn, sườn dốc và ngắn, bề ngang hẹp, đô ,̣cao tuyệt đối 700 m - 1.592 m, đô ,̣dốc trung bình 20 o - 25 o C, nhiều nơi trên 35 o C.

Tiểu vùng có địa phận kéo dài từ xã Đạo Trù (Tam Đảo) đến xã Trung Mỹ (Bình Xuyên) gồm nhiều đỉnh núi được nối với nhau bởi những đường dông sắc nhọn. Trong đó đỉnh cao nhất là Tam Đảo (1.592 m), và có ba đỉnh Thạch Bàn (1.388 m), Thiên Thị (1.376 m), Phù Nghĩa (1.300 m) nối liền với nhau như ba hòn đảo.

Tài nguyên du lịch tự nhiên tiêu biểu là các cảnh quan thiên nhiên của vùng rừng núi, khí hậu ôn hòa, đa dạng sinh học tại VQG Tam Đảo, các dạng địa hình hồ trên núi (hồ Xạ Hương, hồ Bản Long trên núi Tam Đảo), … Cùng với đó là các các giá trị lịch sử văn hóa, lễ hội tâm linh gắn liền với khu di tích danh thắng Tây Thiên như đền thờ Quốc Mẫu Lăng Thị Tiêu, đền Bà chúa Thượng Ngàn, đền Thạch Kiếm, đền thờ Đức Thánh Trần, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, cùng nhiều các di tích lịch sử cách mạng trên dãy núi Tam Đảo… Theo sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng đời Minh (thế kỷ XV) và Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Đôn

(1723 - 1783) thì "Trên núi Tam Đảo có am Vân Tiêu, am Song Tuyền, am Lưỡng Phong, thang Bộ Vân và cầu Đái Tuyết, phong cảnh đều kỳ tuyệt Về phía Đông có núi Ngọc Bội, núi Thanh Lanh, có khe Nhân Túc và Yểm Nhĩ tạo thành nguồn chảy từng đoạn, từng đoạn gồm 99 khúc; thác đẹp có thác Bạc, thác Vàng, thác Ba Ao, suối Giải Oan ”.

Tại vùng núi Tam Đảo hiện đang khai thác rất hiệu quả khu du lịch nghỉ dưỡng Tam Đảo và khu di tích danh thắng Tây Thiên Hàng năm tại hai khu du lịch này đã thu hút được một lượng lớn du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng, tận hưởng cảnh quan thiên nhiên và cảm nhận những giá trị văn hóa lịch sử tâm linh của vùng đất và con người.

- Tiểu vùng đồi cao Tam Đảo

Là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi với vùng đồng bằng, toàn bộ vùng nằm trên nền đá biến chất cao, tạo thành dải kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Đồi có dạng đỉnh tròn, sườn thoải, kích thước không lớn, phần lớn địa hình cao 50 m - 60 m, xen kẽ một số đồi cao 200 m - 300 m Vùng có khí hâụ nhiệt đới gió mùa, nhiệt đô ,̣trung binh̀ năm 21 o C - 23 o C, lượng mưa trung bình năm khoảng 1.166,6 am và đô ,̣ẩm trung bình 78% - 80% Mạng lưới thủy văn dày đặc với nhiều sông, suối, hồ, đầm Do phát triển trên đá gơnai giàu plagioclas, biotit, silimanit nên loại

Vùng đồi là nơi có nhiều danh lam thắng cảnh gắn liền với các di tích có giá trị về lịch sử văn hóa và tâm linh Tiêu biểu là Đình Bồ Lý, đình Cửu Yên, đền Cả, đền Chân Suối

3.1.2 Xây dựng thang đánh giá

Thang đánh giá là việc cụ thể hoá cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đánh giá, là thước đo để đánh giá một cách khách quan các đối tượng đánh giá theo các chuẩn mực chung.

Thang đánh giá gồm 4 nội dung quan trọng:

- Chọn các tiêu chí đánh giá

- Xác định các cấp của từng tiêu chí

- Xác định chỉ tiêu và điểm của các cấp

- Xác định hệ số của các tiêu chí

Ngày đăng: 08/06/2021, 12:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w