Dự án sau quá trình triển khai thực tế đã gặt hái được những thành quả nhấtđịnh, cụ thể như: Tạo thêm quỹ đất ở tại những nơi có điều kiện về quỹ đất để giaocho hộ tái định cư đủ quy địn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH
DOANH *** *** ***
NGUYỄN KHÁNH TỊNH
GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN VÙNG TÁI ĐỊNH
CƢ THỦY ĐIỆN TUYÊN QUANG TẠI HUYỆN NA HANG, TỈNH
TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
Hà Nội – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH
DOANH *** *** ***
NGUYỄN KHÁNH TỊNH
GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN VÙNG TÁI ĐỊNH
CƯ THỦY ĐIỆN TUYÊN QUANG TẠI HUYỆN NA HANG, TỈNH
TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống
Mã số: 8900201.05QTD
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN KIM HÀO
Hà Nội - 2020
Trang 3CAM KẾT
Tôi xin cam kết rằng nội dung luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhântôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của ngườikhác Việc sử dụng kết quả, tài liệu của người khác trong luận văn này bảo đảmtuân thủ theo đúng các quy định
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về cam kết nêu trên
Hà Nội, ngày ………tháng …… năm
……….
Tác giả luận văn
Nguyễn Khánh Tịnh
Trang 4luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Chương trình đào tạo thạc sĩquản trị an ninh phi truyền thống (MNS) tại Khoa Quản trị và Kinh doanh thuộctrường Đại học quốc gia Hà Nội, đã dạy dỗ tôi, cung cấp cho tôi những kiến thứctrong suốt quá trình học tập để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các bạn đồng nghiệp, cán bộ tại Banquản lý dự án di dân tái định cư thủy điện Tuyên Quang đã cung cấp cho tôi nhữngtài liệu, thông tin, tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu, tham khảo các tài liệu phục vụcho bản luận văn cũng như đã giúp đỡ và giành thời gian trả lời phỏng vấn, để tôi
có số liệu cho việc phân tích luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn với gia đình tôi, đã động viên, khuyếnkhích, tạo điều kiện tốt nhất về thời gian, vật chất và tinh thần để tôi có thể hoànthành tốt bài luận văn này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT I DANH MỤC BẢNG BIỂU II
CHƯƠNG MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc luận văn 7
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN 8
1.1 Một số khái niệm liên quan đến di dân, tái định cư và ổn định đời sống người dân vùng tái định cư 8
1.1.1 Một số khái niệm về di dân 8
1.1.2 Khái niệm về tái định cư và ổn định đời sống người dân vùng TĐC 9
1.2 Khái quát về chính sách hỗ trợ di dân tái định cư của Nhà nước Việt Nam 11
1.2.1 Chính sách pháp luật có liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để xây dựng các công trình thuỷ điện 12
1.2.2 Khái quát công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 22
1.3 Đánh giá chung công tác ổn định đời sống nhân dân vùng tái định cư thời gian vừa qua 24
1.4 Kinh nghiệm quốc tế về hỗ trợ di dân tái đinh cư 26
CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
2.1 Khái quát về dự án thuỷ điện Tuyên Quang và thực trạng đời sống, việc làm người dân bị thu hồi đất trước khi thực hiện dự án 34
2.1.1 Khái quát về dự án thuỷ điện Tuyên Quang 34
2.1.2 Về mục tiêu, yêu cầu di dân, tái định cư của Dự án thủy điện Tuyên Quang 34 2.1.3 Về số dân phải di chuyển và phương án tạo lập các điểm tái định cư 35
Trang 62.2 Mức độ thiệt hại của dự án 36
2.2.1 Thiệt hại về đất 36
2.2.2 Thiệt hại về tài sản gắn liền với đất 36
2.2.3 Mồ mả (mộ) phải di chuyển 37
2.2.4 Về tài sản gắn liền với đất của hộ không phải di chuyển 37
2.2.5 Về lâm sản trong vườn rừng hộ gia đình vùng lòng hồ 37
2.2.6 Về công trình kết cấu hạ tầng 38
2.2.7 Đánh về mức độ ảnh hưởng của dự án 39
2.3 Thực trạng công tác ổn định đời sống người dân vùng tái định cư Thủy điện Tuyên Quang tại huyện Na Hang 40
2.3.1 Bố trí tái định cư 40
2.3.2 Giao đất sản xuất nông nghiệp 41
2.3.3 Giao đất lâm nghiệp 41
2.3.4 Hỗ trợ phát triển sản xuất cho hộ tái định cư 42
2.3.5 Kết quả đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khu tái định cư 43
2.4 Đánh giá chung công tác ổn định đời sống cho người dân vùng tái định cư tại huyện Na Hang giai đoạn 2010 – 2020 44
2.4.1 Về dân số và việc làm tại các khu tái định cư 44
2.4.2 Đời sống, thu nhập 47
2.4.3 Đánh giá ảnh hưởng về mặt xã hội 49
2.4.4 Đánh giá ảnh hưởng đến đời sống người dân về quan hệ nội bộ gia đình 50
2.4.5 Tác động đến việc phát triển các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội 50 2.4.6 Ý kiến định hướng phát triển sinh kế của người dân 51
2.4.7 Đánh giá chung đời sống người dân vùng tái định cư tại địa bàn nghiên cứu 52 CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ 54
3.1 Giải pháp về chính sách 54
3.1.1 Chính sách tạo quỹ đất 54
3.1.2 Tiếp tục xây dựng các chính sách mới về chuyển đổi nghề nghiệp 55
3.1.2 Phát triển các chính sách nhằm hỗ trợ xuất khẩu lao động 56
Trang 73.1.3 Xây dựng chính sách hỗ trợ sản xuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số 56
3.1.4 Xây dựng chính sách tín dụng, vay vốn 56
3.2 Giải pháp về vốn 57
3.3 Giải pháp về tạo quỹ đất 579 3.4 Giải pháp hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp 60
3.5 Giải pháp về đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống cho người dân 61
3.6 Các giải pháp về lĩnh vực xã hội 62
3.7 Giải pháp về đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 65
Trang 9Bảng 2.9.
Trang 10II
Trang 11CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Trong “Báo cáo phát triển con người” năm 1994 của Liên hợp quốc đã xácđịnh rằng cần phải thay đổi khái niệm an ninh từ việc nhấn mạnh an ninh quốc gia,sang vấn đề an ninh con người; từ an ninh lãnh thổ chuyển sang vấn đề an ninhkhác như kinh tế, lương thực, môi trường, sức khỏe Như thế, an ninh ngày nay(an ninh mới-lấy con người là trung tâm của các vấn đề an ninh) không chỉ giới hạntrong phạm vi quân sự mà là một thể kết hợp hữu cơ của tất cả các lĩnh vực quân sự,chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, thậm chí cả phạm vi lựa chọn hoạchđịnh chính sách quốc gia và vấn đề chất lượng cuộc sống của người dân
Việt Nam là nước đang phát triển, nơi mà rất nhiều các dự án phát triển đã
và đang được triển khai, điều này đồng nghĩa với số lượng người phải tái định cưbắt buộc ngày càng lớn Các dự án về năng lượng, đặc biệt là việc xây dựng cáccông trình thủy điện ở nơi đầu nguồn các con sông, đã phải di chuyển một số lượnglớn dân cư, chủ yếu là đồng bào các tộc người thiểu số đã có lịch sử cư trú lâu đời,gắn chặt với hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Việc đảm bảo đời sống chođối tượng là người dân tộc thiểu số phải tái định cư bắt buộc trong điều kiện quỹđất sản xuất ở các địa phương hạn hẹp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khănđang đặt ra thách thức không chỉ với chính quyền, mà cả với các nhà nghiên cứu vàhoạch định chính sách
Xuất phát từ nhận thức về vấn đề chất lượng cuộc sống của người dân vùngtái định cư thủy điện, đề tài này mong muốn tìm hiểu và đánh giá một cách tổng thể
dự án di dân tái định cư nhằm đưa ra những giải pháp khả thi để ổn định đời sốngngười dân vùng tái định cư thủy điện Tuyên Quang tại huyện Na Hang, tỉnh TuyênQuang
Dự án xây dựng công trình thuỷ điện Na Hang (nay là thuỷ điện Tuyên Quang)được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 288/QĐ-TTg ngày 19/4/2002,triển khai đầu tư xây dựng năm 2003 và hoàn thành đưa vào khai thác năm 2007 với lợiích tổng hợp to lớn: (1) hàng năm cung cấp cho lưới điện quốc gia 1.295,83 triệu KWh;
Trang 12(2) tham gia chống lũ cho hạ du với dung tích phòng lũ 1 tỷ m3 làm giảm lũ chothành phố Tuyên Quang từ 2,5 - 2,7m và giảm lũ cho Hà Nội từ 0,4 - 0,42m; (3)cung cấp nước ngọt mùa kiệt cho hạ du từ 49 m3/s - 52 m3/s.
Hợp phần di dân, tái định cư thuỷ điện Tuyên Quang được Thủ tướng Chínhphủ tách riêng thành dự án độc lập và giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang làmchủ đầu tư trên địa bàn của tỉnh với mục tiêu: Phải tạo được điều kiện để đồng bào táiđịnh cư (TĐC) có đời sống tốt hơn nơi ở cũ, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế, pháttriển sản xuất, nâng cao thu nhập, cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn Thủtướng Chính phủ đã có Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg ngày
12/01/2007 và Quyết định số 1766/QĐ-TTg ngày 10/10/2011 về việc phê duyệtQuy hoạch tổng thể di dân, tái định cư thủy điện Tuyên Quang; phê duyệt điềuchỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư dự án thuỷ điện Tuyên Quangtrên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Dự án đã tổ chức di chuyển và bố trí sắp xếp tái định cư cho 4.116 hộ,20.382 khẩu, được bố trí ở 125 điểm thuộc 42 dự án tái định cư trên địa bàn cáchuyện: Na Hang, Lâm Bình, Chiêm Hóa, Hàm Yên, Yên Sơn và thành phố TuyênQuang Người dân sinh sống trong vùng bị ảnh hưởng của dự án thuỷ điện chủ yếu
là đồng bào dân tộc (chiếm 89,8%), bao gồm: Tày chiếm 54,8%, Dao chiếm 29,2%,H’Mông chiếm 5,8% và Kinh chiếm 10,2%; trong đó cơ bản làm nghề sản xuấtnông nghiệp (chiếm 92%)
Dự án sau quá trình triển khai thực tế đã gặt hái được những thành quả nhấtđịnh, cụ thể như: Tạo thêm quỹ đất ở tại những nơi có điều kiện về quỹ đất để giaocho hộ tái định cư đủ quy định; Đầu tư ổn định đời sống, phát triển sản xuất, đàotạo nghề gắn với tạo việc làm, khuyến khích chuyển đổi nghề từ sản xuất nôngnghiệp sang phi nông nghiệp, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững cho ngườidân tái định cư; Đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng tại điểm tái định cư đạt chuẩn theo
Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới,…
Tuy nhiên, dự án di dân tái định cư khi được thực hiện vẫn còn nhiều hạnchế, tồn tại cụ thể như: Cơ cấu lao động trong cộng đồng nhân dân tái định cư chủyếu vẫn là hộ nông nghiệp sống bằng nghề trồng lúa, hoặc một số hộ tái định cư cóđiều kiện đã canh tác vụ 3 với cây trồng phổ biến là cây ngô, cây mầu, chăn nuôi
Trang 13lợn, gà, trâu, bò nhưng quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, sản xuất của hộ tái định cư phổbiến là độc canh cây lúa; Số lượng lao động được hỗ trợ chuyển đổi ngành nghềsang phi nông nghiệp còn ít, khó khăn trong tìm kiếm việc làm, tỷ lệ hộ nghèo vàcận nghèo vẫn cao hơn so với mức trung bình toàn tỉnh, cần được đầu tư hỗ trợ đểphát triển kinh tế; Công tác đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng ở một số nơicòn thiếu đồng bộ, ý thức trách nhiệm của nhân dân trong quản lý, vận hành, sửdụng công trình hạ tầng kỹ thuật có nơi còn hạn chế nếu không có giải pháp xử lýcăn cơ sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của người dân (an ninh conngười bị tác động).
Xuất phát từ những lý do nêu trên tôi lựa chọn đề tài “Giải pháp ổn định đời sống nhân dân vùng tái định cư Thủy điện Tuyên Quang tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang” cho luận văn của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng dự án di dân, tái định cư và công tác đảm bảo đời sốngnhân dân tái định cư thủy điện Tuyên Quang thuộc huyện Na Hang, tỉnh TuyênQuang từ khi triển khai dự án đến nay Qua đó nhận định được các mối đe dọa tácđộng tiêu cực đến các yếu tố an ninh phi truyền thống, an ninh con người ở cácvùng TĐC để đề xuất giải pháp giúp người dân tại vùng tái định cư ổn định cuộcsống bền vững
2.2 Mục tiêu cụ thể
Với mục tiêu nghiên cứu như trên, nhiệm vụ cụ thể được đặt ra là:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến dự án di dân, tái định
cư và ổn định đời sống người dân vùng tái định cư khu vực xây dựng thủy điện Đềxuất mô hình đánh giá dự án di dân tái định cư và ổn định người dân vùng tái địnhcư
- Ứng dụng các chỉ số nghiên cứu trong mô hình nghiên cứu đề xuất vào đánhgiá thực trạng dự án di dân tái định cư và công tác ổn định đời sống người dân vùng táiđịnh cư Thủy điện Tuyên Quang tại huyện Na Hang giai đoạn vừa qua
Trang 14- Quan đó đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định đời sống bền vững ngườidân vùng tái định cư Thủy điện Tuyên Quang tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên
Quang
3 Đối tượng nghiên cứu
Dự án di dân tái định cư và công tác ổn định đời sống người dân vùng táiđịnh cư Thủy điện Tuyên Quang tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
Phạm vị nghiên cứu: Luân văn chỉ thực hiện nghiên cứu dự án di dân tái định
cư và công tác ổn định đời sống người dân khu vực tái định cư thuộc huyện NaHang, tỉnh Tuyên Quang Không thực hiện nghiên cứu đối với dự án được bố trí tạicác huyện khác như: Lâm Bình, Chiêm Hóa, Hàm Yên, Yên Sơn, thành phố TuyênQuang
Thời gian nghiên cứu: Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn từ khibắt đầu triển khai dự án cho đến nay, số liệu sơ cấp thông qua điều tra bảng hỏiđược thực hiện trong năm 2018
4 Phạm vi nghiên cứu
Đánh giá khái quát về dự án thuỷ điện Tuyên Quang và thực trạng kinh tế
-xã hội vùng lòng hồ thuỷ điện trước khi thực hiện dự án; mức độ thiệt hại khi triểnkhai dự án tại khu vực xây dựng công trình thuỷ điện Tuyên Quang (diện tích đất bịthu hồi; tài sản gắn liền đất phải di dời; mò mả phải di chuyển; tài sản gắn liền vớiđất của hộ không phải di dời; các công trình kết cấu hạ tầng ); Kết quả di chuyểndân của dự án; kết quả xây dựng hạ tầng kỹ thuật các khu tái định cư trên địa bàntỉnh; kết quả thực hiện hỗ trợ phát triển sản xuất, giao đất tái định cư; khả năng sửdụng vốn và tình hình sản xuất của các hộ tái định cư trên địa bàn tỉnh TuyênQuang
- Đánh giá kết quả thực hiện Dự án di dân tái định cư Thủy điện Tuyên
Quang tại huyện Na Hang; việc xây dựng điểm tái định cư và di chuyển bố tr í dân;thực hiện việc giao đất ở và đất sản xuất cho hộ tái định cư; hỗ trợ phát triển sảnxuất cho dân tái định cư; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng tái định cư
, trong đó tập trung vào các vấn đề: thực trạng sản xuất và thu nhập; các vấn đề liênquan đến sinh kế; nguyện vọng của hộ tái định cư Qua đó nhận định được các mối
đe dọa tác động tiêu cực đến các yếu tố an ninh phi truyền thống, an ninh con người
Trang 15ở các vùng tái định cư để đề xuất giải pháp giúp người dân tại vùng tái định cư ổn định cuộc sống bền vững.
- Về địa bàn nghiên cứu: Dự án xây dựng thủy điện Tuyên Quang trên dịa bàn huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
- Về thời gian nghiên cứu: Số liệu thứ cấp năm 2017 và năm 2018 Số liệuđiều tra năm 2019
5 Phương pháp nghiên cứu
Bước 2: Xác định vấn đề trọng tâm cần nghiên cứu
Bước 3: Tập hợp, hệ thống hóa các vấn đề lý luân để hình thành khung lýthuyết/mô hình nghiên cứu
Bước 4: Xác định phương pháp nghiên cứu
Bước 5: Sử dụng các phương pháp nghiên cứu để tiến hành thu thập dữ liệuthứ cấp và sơ cấp, đồng thời sử dụng các công cụ thích hợp để xử lý và phân tích sốliệu qua đó đánh giá thực trạng công tác di dân tái định cư và ổn định đời sốngngười dân vùng tái định cư thủy điện Tuyên Quang thuộc huyện Na Hang
Bước 6: Căn cứ vào kết quả phân tích, đánh giá thực trạng, tác giả đề xuấtmột số giải pháp giúp ổn định đời sống bền vững cho người dân vùng tái định cưthủy điện Tuyên Quang thuộc huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
5.2 Nguồn dữ liệu cung cấp cho nghiên cứu
- Dữ liệu thứ cấp (số liệu, tài liệu có sẵn): Thu thập từ các thông tin được công
bố chính thức từ các cơ quan nhà nước, các nghiên cứu của các cá nhân, tổ chức trong
và ngoài nước về dự án di dân tái định cư và ổn định đời sống người dân vùng tái định
cư xây dựng thủy điện Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn khác nhau như:Báo cáo của tỉnh Tuyên Quang, Ban quản lý dự án di dân tái định
Trang 16cư thủy điện Tuyên Quang tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường,…
- Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu được tác giả thu thập trong quá trình thực
hiện luận văn thông qua quan sát và phỏng vấn 79 hộ dân tại 8 điểm tái định cư trênđịa bàn huyện Na Hang, tham khảo ý kiến chuyên gia
5.3 Phương pháp khai thác dự liệu, xử lý dữ liệu
Hoạt động điều tra khảo sát thông qua bảng hỏi đối với người dân vùng táiđịnh cư thủy điện Tuyên Quang tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Điều tra đốivới 79 hộ dân tại khu vực này, câu hỏi khảo sát xoay quanh việc thực hiện các chủtrường chính sách và dự án di dân tái định cư Đánh giá các hoạt động nhằm ổnđịnh đời sống người dân vùng tái định cư
Hoạt động phỏng vấn sâu đối với cán bộ Ban quản lý dự án di dân tái định cưthủy điện Tuyên Quang tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang và cán bộ làm côngtác quản lý nhà nước liên quan đến lĩnh vực này
Trên cơ sở các dữ liệu khai thác được, thực hiện sàng lọc, hệ thống hóa đểphân tích, xác định các chỉ tiêu nghiên cứu Sử dụng phương pháp phân tổ thống kê
để hệ thống hóa, tổng hợp tài liệu, phân chia theo các nội dung, chỉ tiêu cho phùhợp với việc nghiên cứu về di dân tái định cư và ổn định đời sống người dân vùngtái định cư Các tài liệu thứ cấp sau khi được thu thập sẽ được sắp xếp cho từng nộidung nghiên cứu và phân thành 3 nhóm: i) những tài liệu về lý luận; ii) những tàiliệu về tổng quan và thực tiễn nói chung liên quan đến di dân tái định cư và ổn địnhđời sống người dân vùng tái định cư; iii) những tài liệu của các cơ quan quản lýnhà nước, cơ quan nghiên cứu, sở tài nguyên môi trường tỉnh Tuyên Quang và banquản lý dự án di dân, tái định cư thủy điện Tuyên Quang tại huyện Na Hang, tỉnhTuyên Quang Trước khi đưa vào phân tích, đánh giá và trình bày kết quả nghiêncứu của luận văn
5.4 Phương pháp phân tích
- Phương pháp thống kê: để phục vụ cho việc phân tích số liệu kết hợp vớiphương pháp so sánh để xác định cụ thể mức độ biến động của các chỉ tiêu nghiêncứu so với các chỉ tiêu liên quan khác Cụ thể, qua các chỉ tiêu liên quan đến côngtác di dân tái định cư và ổn định đời sống người dân vùng tái định cư thủy điện
Trang 17Tuyên Quang thuộc huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, tác giả đưa ra những kếtluận về những thành quả đạt được, những tồn tại, khó khăn trong công tác hoạchđịnh và triển khai dự án, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp phù hợp, có căn cứkhoa học.
- Phương pháp thống kê mô tả: Trong quá trình phân tích và xử lý số liệu nghiêncứu, phương pháp thống kê mô tả đã được tác giả sử dụng Luận văn sử dụng các thống kê
mô tả thông qua các dữ liệu thu thập được từ các báo cáo, nguồn số liệu có được
thông qua ý kiến các chuyên gia, trao đổi, lấy ý kiến Kết quả phương pháp thống
kê mô tả sẽ giúp tác giả đánh giá được thực trạng công tác từ hoạch định, thực hiệntriển khai dự án, công tác theo dõi, giám sát và các giải pháp nhằm nhanh chóng ổnđịnh cuộc sống người dân vùng tái định cư thuộc dự án
- Phương pháp so sánh: là so sánh các số liệu, dữ liệu thu thập được của dự
án với các dự án thuộc các thủy điện tương tự Qua đó nhìn nhận được thực trạng,
đề xuất các giải pháp phù hợp với thực trạng và tiềm năng của dự án
- Phương pháp tổng hợp: là khái quát, sàng lọc, lựa chọn các yếu tố, vấn đềnghiên cứu để hình thành một kết luận đầy đủ, toàn diện Kết quả nghiên cứu saukhi được tổng hợp sẽ giúp có cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về toàn bộ dự án didân tái định cư và ổn định đời sống người dân vùng tái định cư thủy điện TuyênQuang thuộc huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Qua đó đánh giá được nhữngthành quả mà dự án đã đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm: Chương mở đầu; Chương 1: Cơ sở lý luận; Chương 2: Thựctrạng và kết quả nghiên cứu; Chương 3: Đề xuất giải pháp; Kết luận và kiến nghị
Trang 18CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.1 Một số khái niệm liên quan đến di dân, tái định cư và ổn định đời sống người dân vùng tái định cư
1.1.1 Một số khái niệm về di dân
Theo Liên hợp quốc: Di dân là một sự di chuyển bất kỳ của dân cư từ một đơn vị địa lý hành chính này đến một đơn vị hành chính khác (hay từ một lãnh thổ
này đến một lãnh thổ khác) trong một khoảng thời gian xác định
Khái niệm di dân của Liên hợp quốc không xem xét đối với những trườnghợp người dân sống không cố định chỗ ở, di cư theo mùa hoặc theo kiểu đi về trongngày Tóm lại, ở nhiều quốc gia trên thế giới, cộng đồng dân dư di chuyển ra khỏiđịa giới hành chính đang sinh sống sang địa giới hành chính khác (của tỉnh, huyện,thành phố) trong một khoảng thời gian xác định được xem là di dân
Tùy thuộc vào mục đích, phạm vi di cư mà hình thức di dân có thể theo phạm
vi lãnh thổ hoặc chương trình tổ chức di cư… Trên thực tế, các hình thức di dânđều có mối quan hệ, tác động chặt chẽ với nhau, chỉ khác nhau trong một vài yếu tố,điều kiện nhất định Do vậy, việc phân loại các hình thức di dân chỉ mang tínhtương đối
Theo wikipedia: Di dân (Sự di cư của con người) là sự thay đổi vị trí nơi ở
của một hay nhiều nhóm người đến vị trí nơi ở khác có điều kiện tốt hơn, phù hợphơn nơi ở cũ để định cư
Những cá nhân tham gia vào việc di chuyển chỗ ở là dân di cư Trong chiếntranh hay khi có thiên tai, việc thay đổi chỗ ở đến nơi an toàn hơn còn gọi là tản cư
và người dân di chuyển kiểu này còn được gọi là dân tản cư; việc thay đổi chỗ ởnày là tạm thời, khi hết chiến tranh hoặc thiên tai đã qua thì thường họ lại trở vềchỗ ở cũ Người di cư trong trường hợp phải chạy trốn ra một xứ khác để thoátcảnh hiểm nguy, ngược đãi, hoặc bắt bớ bởi một quyền lực ở chốn cư ngụ cònđược gọi là người tỵ nạn
Việc chuyển chỗ ở hàng loạt một cách cấp thời dù tự nguyện hay do cưỡngbách để tránh các tai họa đột ngột do thiên tai như lũ lụt, động đất, sụt đất, bão; do
Trang 19sập nhà từ nơi này sang nơi khác hay sang nước khác thì gọi là di tản, chạy nạn,chạy giặc; những người dân ra đi thì gọi là dân di tản.
Người di cư khi đã vượt biên giới sang nước khác thì gọi là người tỵ nạn,
họ được Tổ chức Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tỵ nạn bảo vệ và giúp đỡ Việc
vi phạm Luật Nhân đạo được xem là nguyên nhân hàng đầu khiến người dân phải
di tản
1.1.2 Khái niệm về tái định cư và ổn định đời sống người dân vùng TĐC
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có văn bản nào nêu về khái niệm táiđịnh cư Tuy nhiên, có thể được khái quát như sau: tái định cư là việc bố trí, sắpxếp nơi ở mới cho những người bị mất đất, mất tài sản do việc đầu tư xây dựng dự
án gây ra mà những người đó không còn chỗ ở nào khác và phải di chuyển chỗ ởhoặc cho những người thuộc chương trình, dự án khôi phục cuộc sống của họ Táiđịnh cư có thể được bố trí bằng hình thức: kinh phí, nhà ở hoặc đất ở
Theo chính sách về Tái định cư bắt buộc của Ngân hàng Thế giới (OP 4.12):Tái định cư bao hàm tất cả những thiệt hại trực tiếp về kinh tế và xã hội gây
ra bởi việc thu hồi đất và hạn chế sự tiếp cận, cùng với những biện pháp đền bù vàsửa chữa Tái định cư không hạn chế ở sự di dời về mặt vật chất Tái định cư cóthể, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, bao gồm (a) Thu hồi đất và các côngtrình trên đất, bao gồm cả việc kinh doanh, buôn bán; (b) sự di dời về mặt vật chất;
và (c) sự khôi phục kinh tế của những người bị ảnh hưởng nhằm cải thiện (hoặc ítnhất là phục hồi) thu nhập và mức sống1
Tái định cư không chỉ là một hoạt động dịch chuyển đơn thuần, mà là mộtbài toán phức tạp với nhiều chiều, nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống, nhằm
đảm bảo sự đồng thuận và phát triển xã hội bền vững.
Để đạt được điều đó, cùng với việc xây nhà ở tái định cư, còn là việc giảiquyết những vấn đề về kinh tế - xã hội, để đời sống của dân tái định cư phát triển
Trang 20nghiệp hoặc phi nông nghiệp Song cũng có những dự án phải xây dựng trên khuvức dân cư đã và đang sinh sống lâu đời Việc di dời họ đến nơi ở mới, nhường lạiđất để thực hiện các công trình, dự án chính là quá trình tái định cư Như vậy, táiđịnh cư là một dạng của cơ động xã hội về nơi ở, nhà ở, dưới hình thức bắt buộc.
Và do vậy nó thường đòi hỏi những chủ thể quản lý phải có chính sách, những quytắc và cách ứng xử khác biệt so với các loại hình cơ động xã hội khác
Theo các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Việt Nam thì táiđịnh cư dùng để chỉ những ảnh hưởng tác động đến đời sống của người dân do bịmất tài sản và nguồn thu nhập trong quá trình phát triển dự án gây ra, bất kể có phải
di chuyển hay không và các chương trình nhằm khôi phục cuộc sống của họ Táiđịnh cư bao hàm cả việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất.Tái định cư theo nghĩa hẹp là quá trình di chuyển người dân đến nơi ở mới
Hiện nay, Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khi đất đai đượcxác định là nguồn vốn quý giá, nguồn nội lực quan trọng, quyền sử dụng đất trởthành hàng hoá thì kinh tế từ đất đai luôn được các chủ thể sử dụng đất quan tâm
Để đảm bảo quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng của người
sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều vănbản, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để chophù hợp với thực tế qua từng thời kỳ, theo đó, người bị ảnh hưởng được Nhà nướcbồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi họ bị thu hồi đất với phương châm vì lợi íchcủa con người là căn bản Các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam quy địnhviệc tái định cư như sau:
- Khu tái định cư phải được quy hoạch chung và sử dụng cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ
- Việc lập dự án và xây dựng khu tái định cư thực hiện theo quy định hiệnhành về quản lý đầu tư và xây dựng
- Cơ quan (tổ chức) được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giao trách nhiệm bố trítái định cư phải thông báo cho từng hộ gia đình bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở
về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai phương án này tạitrụ sở của đơn vị, tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi và tại nơi
Trang 21tái định cư trong thời gian 20 ngày trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phêduyệt phương án bố trí tái định cư.
Cùng với việc xây dựng khu tái định cư, còn quy định các biện pháp hỗ trợsản xuất và đời sống tại khu tái định cư như: hỗ trợ giống cho vụ sản xuất nôngnghiệp đầu tiên, các dịch vụ khuyến nông, dịch vụ bảo vệ thực vật, kỹ thuật trồngtrọt chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất kinh doanh dịch vụ côngthương nghiệp, hỗ trợ để tạo lập một số nghề tại khu tái định cư phù hợp cho nhữngngười lao động, đặc biệt là lao động nữ Bên cạnh đó, còn quy định cụ thể quyền vànghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở
1.2 Khái quát về chính sách hỗ trợ di dân tái định cư của Nhà nước Việt Nam
Trong những năm qua, nhiều công trình thủy điện, thủy lợi Quốc gia đã vàđang được xây dựng góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu năng lượng và nguồnnước phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội; sản xuất Nông nghiệp, sinh hoạt củanhân dân, nhằm mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Công tác di dân,tái định cư gắn với việc xây dựng công trình đã và đang là nổi lên là một vấn đềbức xúc trong thời gian qua vì đặc thù của các dự án thuỷ lợi, thủy điện là đượctriển khai xây dựng chủ yếu tại các tỉnh miền núi có tỷ lệ nghèo cao, nơi có đôngđồng bào dân tộc sinh sống theo cộng đồng với tập quán truyền thống lâu đời Việc
di dời, tái định cư trong các công trình thủy điện, thủy lợi ở khu vực miền núi cónhiều khác biệt với các dự án giải phóng mặt bằng ở miền xuôi vì nó đồng thời tạonên nhiều biến động đến đời sống của cộng đồng các nhóm dân tộc thiểu số phải dichuyển lẫn nhóm cư dân bản địa tiếp nhận di dân từ nơi khác đến
Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về công tác di dân tái định cư lànhất quán và rõ ràng trong chỉ đạo thực hiện, “bảo đảm cho người dân có cuộcsống, nơi ở mới tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ” Tuy nhiên, thực trạng công tác tái định
cư của một số công trình thuỷ lợi và thuỷ điện trong thời gian qua còn một số tồntại, bức xúc trong cộng đồng các nhóm dân tộc thiểu số
Trang 221.2.1 Chính sách pháp luật có liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư để xây dựng các công trình thuỷ điện
- Đối với hoa màu thì được bồi thường đúng mức
- Đối với nhà cửa, vật kiến trúc và các công trình phục vụ sinh hoạt đượcgiúp đỡ xây dựng cái khác
- Ngoài ra, mồ mả thì căn cứ vào tình hình cụ thể về phong tục tập quán của địa phương mà giúp cho họ một số tiền làm phí tổn di chuyển
Những nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường thiệt hại tại Nghị định này đápứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960 cho đến khi Hiến pháp 1980
sử dụng vào việc khai hoang, phục hóa, trồng rừng, cải tạo đất nông nghiệp, ổn địnhcuộc sống, định canh, định cư cho vùng bị lấy đất
Quan niệm việc đền bù, tái định cư cho người dân khi Nhà nước thu hồi đấtxây dựng các công trình thủy điện cũng như các công trình phục vụ lợi ích quốc
Trang 23gia khác chủ yếu dựa trên quan niệm đất đai là tài sản quốc gia, nên trong trườnghợp cần thiết Nhà nước thu hồi đất không nhất thiết đền bù cho dân mà chỉ hỗ trợmột phần Nếu có chỉ đền bù cho chính quyền địa phương hay tập thể đang sử dụngđất về các tài sản bị thiệt hại theo sự thỏa thuận Khi xây dựng các công trình thủyđiện Thác Bà, Hòa Bình thì hàng chục vạn đồng bào các dân tộc đã hy sinh quyềnlợi của mình đóng góp cho sự phát triển quốc gia Trong thời gian này có ba vănbản chính liên quan đến việc hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước tiến hànhthu hồi đất, đó là:
- Nghị định số 151/CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 4năm 1959 về “Thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất” là văn bản pháp quy liênquan đến việc trưng dụng ruộng đất của nhân dân cho việc xây dựng những côngtrình do Nhà nước quản lý
- Thông tư số 1792-TTg ban hành ngày 11 tháng 01 năm 1970 quy định một
số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai cây cối lưu niên, các hoa màu chonhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố
- Quyết định số 186/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 31 tháng
5 năm 1990 về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sửdụng vào mục đích khác đã đưa ra căn cứ để tính mức đền bù thiệt hại về đất nôngnghiệp và đất có rừng theo diện tích, chất lượng và vị trí của đất Hơn nữa mức đền
bù còn được phân biệt theo thời hạn sử dụng đất lâu dài hay tạm thời
Có thể thấy thời kỳ này đất đai chưa được thừa nhận là có giá nên chính sáchbồi thường, giải phóng mặt bằng còn nhiều hạn chế, thể hiện trong cách tính giá trịbồi thường, phương thức thực hiện Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan vàcông bằng thì những chính sách này cũng đã đóng góp một vai trò tích cực tronggiải phóng mặt bằng để có quỹ đất cho nhu cầu xây dựng và phát triển các côngtrình quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng của đất nước
1.2.1.2 Từ năm 1993 cho đến nay
Giai đoạn này số lượng dân phải di chuyên để xây dựng các công trình thuỷđiện là rất lớn Ngoài thủy điện Sơn La cần phải tái định cư cho khoảng hơn100.000 người, các công trình khác ước tính có tới 300.000 người phải di dời và bịảnh hưởng, tổng cộng khoảng hơn 400.000 người, cao gấp 3 lần con số trước đây
Trang 24Nghiên cứu cho thấy phần lớn số người di dân tái định cư là đồng bào dân tộc thiểu
số, bình quân chiếm khoảng 85% số lượng người dân phải di chuyển tái định cư
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật Đất đai năm 1993 đã được Quốc hội thông
qua và có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 Với quy định “đất có giá” và
người sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ, đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quantrọng đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của Luật Đất đai năm 1993.Những quy định về bồi thường, giải phóng mặt bằng của Luật Đất đai 1993 đã thuđược những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, những càng về sau
do sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình kinh tế xã hội, nó đã dần mất đi vaitrò làm động lực thúc đẩy phát triển Để tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ giải phóngmặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, đồng thời đảm bảo quyền lợi hợppháp của người sử dụng đất, Luật Đất đai năm 1993 đã hai lần được sửa đổi, bổsung vào năm 1998 và năm 2001
Để cụ thể hóa các quy định của Luật Đất đai, Chính phủ đã ban hành nhiềuvăn bản có liên quan trực tiếp đến hoạt động thu hồi đất hoặc là cơ sở cho việc tínhtoán để thực hiện việc đền bù cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị thiệt hại khiNhà nước thu hồi đất:
- Nghị định số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 quy định việc giao đất nôngnghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuấtnông nghiệp Đây là tài liệu cơ bản nhất về chính sách nông nghiệp hiện hành quyđịnh việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân trong khi hạn chế tối đaviệc phân bổ lại đất bằng cách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hầu hếtnhững người đang sử dụng đất
- Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1993 quy định khung giá các loại đất và phânloại đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp Việc tính thuế đất dựa trên việc phân chia theo
vị trí đồng bằng, trung du và miền núi Dựa vào khung giá đất này, Ủy
ban nhân dân các tỉnh quy định giá đất cho việc đền bù khi Nhà nước thu hồi đất vàgiá này có thể được Ủy ban nhân dân các tỉnh điều chỉnh cho phù hợp với thực tếbiến động của giá cả thị trường đất
- Thông tư số 05-BXD/TT ngày 09/02/1993, là phân cấp nhà ở với mục đích
Trang 25đánh giá mức thuế, đền bù và bán công trình, Chính phủ Việt Nam đã xác lập một
hệ thống về phân cấp nhà cửa Đây là cơ sở để các tỉnh tính toán xây dựng đơn giáđền bù cho vật kiến trúc bị ảnh hưởng
- Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994 Đây là Nghị định đầu tiên của Chínhphủ về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Trong giai đoạn này, cùng vớiviệc phát triển các cơ sở hạ tầng, việc thu hồi đất của người dân có tác động lớn đếnkinh tế - xã hội, những Nghị định này mới chỉ chú trọng đến việc đền bù thiệt hạikhi thu hồi đất mà chưa đề cập đầy đủ đến việc tái định cư
- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 về đền bù thiệt hại khi nhànước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợiích công cộng thay thế Nghị định 90/CP, trong đó quy định các dự án có thu hồi đất
ở và đất sản xuất phải lập khu tái định cư để đảm bảo những người bị ảnh hưởng
có thể ổn định đời sống và khôi phục thu nhập
Nội dung chính của Nghị định số 22/1998/NĐ-CP liên quan đến công tác bồithường, hỗ trợ, tái định cư gồm: Quy định đền bù thiệt hại về đất, điều kiện đượcđền bù đất, khung giá đất; Quy định đền bù thiệt hại về tài sản gắn liền với đất: câytrồng, vật kiến trúc, nhà ở, di chuyển mồ mả, công trình văn hóa, di tích lịch sử…;quy định về khu tái định cư: Quỹ đất xây dựng khu tái định cư, quy hoạch xâydựng điểm dân cư, hệ thống kết cấu hạ tầng,…; quy định về hỗ trợ tái định cư: hỗtrợ di chuyển, hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ lương thực, y tế, giáo dục, hỗ trợ gia đìnhchính sách, thưởng di chuyển đúng tiến độ; tổ chức tái định cư: vai trò của chủ đầu
tư, chính quyền địa phương, hộ dân phải di chuyển Nghị định số 22/1998/NĐ-CPcung cấp chi tiết hơn về kiểm đếm tài sản, phương pháp và mức đền bù, cách thứcnhận đền bù và tổ chức thực hiện, quy định giá đất đền bù được tính theo giá của
địa phương ban hành nhân với hệ số K Hệ số “K” là hệ số quan hệ tỷ lệ giữa giá
đất tính theo khả năng sinh lợi hoặc giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tếvới giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định Nghị định số 22/1998/NĐ-CP làcăn cứ pháp lý chính thức để xây dựng các bản Quy định tạm thời và chính thức choviệc triển khai công tác tái định cư của các dự án thủy điện
Nghị định số 22/1998/NĐ-CP đã có nhiều cải thiện như các quy định ở trên.Tuy nhiên qua quá trình thực hiện đã cho thấy một số hạn chế: Đơn giá do Ủy ban
Trang 26nhân dân các tỉnh xây dựng để thực hiện đền bù đối với đất, các loại tài sản bị thiệthại của người dân như nhà cửa, đất đai, nhất là đất thổ cư thường thấp hơn giá thịtrường; Các chính sách hỗ trợ chủ yếu chỉ tập trung vào ổn định cuộc sống tronggiai đoạn đầu tái định cư mà chưa chú ý tới hỗ trợ sản xuất và phục hồi thu nhập.Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01tháng 7 năm 2004, riêng về đền bù, hỗ trợ và tái định cư có ba điểm mới so vớiLuật Đất đai trước đó về bồi thường là: Khung đơn giá, chính sách về tái định cư
và hạn chế quy mô giải phóng mặt bằng Trong Luật Đất đai 2003 từ Điều 38 đếnĐiều 45 quy định về thu hồi đất, đền bù và tái định cư Nội dung của Điều 42 quyđịnh về việc bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi Khi Nhà nước thu
hồi đất, ngư i s ng đất c giấy chứng nh n quy n s ng đất ho c đ đi u iện đ được cấp giấy chứng nh n quy n s ng đất theo quy đ nh th được i thư ng Người bị thu hồi đất sẽ được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử
dụng hoặc bằng giá trị quyền sử dụng đất Nếu phải di chuyển chỗ ở sẽ được bố trívào các khu tái định cư có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ Trườnghợp thu hồi đất của các hộ dân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thườngcho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đấtcòn được hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việclàm mới
Thực hiện Luật Đất đai 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 thay cho Nghị định 22/1998/NĐ-CP quy định vềbồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Điểm mới trong Nghị định
197 là yêu cầu việc thu hồi đất phải lập dự án tái định cư để đảm bảo người bị ảnhhưởng được hỗ trợ về sản xuất và ổn định đời sống lâu dài Việc tổ chức tái định
cư được giao cho Ủy ban nhân dân sở tại thực hiện Tại Điều 38 Nghị định 197cũng quy định: đối với dự án do Chính phủ, Quốc hội quyết định phải di chuyển cảcộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống kinh tế, xã hội, truyềnthống văn hóa của cộng đồng thì tùy trường hợp cụ thể Thủ tướng Chính phủ quyếtđịnh hoặc trình Chính phủ xem xét quyết định chính sách tái định cư đặc biệt vớimức hỗ trợ cao nhất được áp dụng là hỗ trợ toàn bộ chi phí lập khu tái định cư mới,xây dựng nhà ở, cải tạo đồng ruộng, xây dựng hạ tầng kinh tế, xã hội,
Trang 27hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất và hỗ trợ khác.
Chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất được quy định cụ thể tại Điều 27, 28, 29,
30, 31 ,32 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ;Điều 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009của Chính phủ, cụ thể:
hỗ trợ kinh phí để tháo dỡ, di chuyển và lắp đặt
3. Người bị thu hồi đất ở mà không còn chỗ ở khác thì trong thời gian chờtạo lập chỗ ở mới (bố trí vào khu tái định cư) được bố trí vào nhà ở tạm hoặc hỗ trợtiền thuê nhà ở
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức hỗ trợ cụ thể
* Hỗ trợ tái đ nh cư (Đi u 19, Ngh đ nh 69/2009/NĐ-CP)
1. Nhà ở, đất ở tái định cư được thực hiện theo nhiều cấp nhà, nhiều mứcdiện tích khác nhau phù hợp với mức bồi thường và khả năng chi trả của ngườiđược tái định cư
Đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở mà không có chỗ ởnào khác thì được giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư
Hộ gia đình, cá nhân nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồithường, hỗ trợ nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu thì được hỗ trợ khoảnchênh lệch đó; trường hợp không nhận đất ở, nhà ở tại khu tái định cư thì đượcnhận tiền tương đương với khoản chênh lệch đó
2. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở mà
tự lo chỗ ở thì được hỗ trợ một khoản tiền bằng suất đầu tư hạ tầng tính cho một hộgia đình tại khu tái định cư tập trung
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể tại địa phương quyđịnh về suất tái định cư tối thiểu và mức hỗ trợ theo quy định
* Hỗ trợ ổn đ nh đ i sống và ổn đ nh sản xuất (Đi u 19, Ngh đ nh
Trang 28a) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được
hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở vàtrong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đếncác địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng;
b) Thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ
ổn định đời sống trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trongthời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địabàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặcbiệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng;
c) Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu quy định tại các điểm a và b khoản nàyđược tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bìnhtại thời điểm hỗ trợ của địa phương
2. Khi Nhà nước thu hồi đất của tổ chức kinh tế, hộ sản xuất, kinh doanh cóđăng ký kinh doanh, mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh, thì được hỗ trợ cao nhấtbằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của ba nămliền kề trước đó được cơ quan thuế xác nhận
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụngvào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đấtrừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nướcthu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốcdoanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc đượchưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhậnkhoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuấtnông nghiệp thì được hỗ trợ bằng tiền Mức hỗ trợ cao nhất bằng giá đất bồithường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất
Trang 29nông nghiệp tại địa phương.
4. Hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất nông nghiệp thì được hỗtrợ ổn định sản xuất, bao gồm: hỗ trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuấtnông nghiệp, các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y,
kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất, kinh doanhdịch vụ công thương nghiệp
5. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ, định kỳchi trả hỗ trợ quy định tại Điều này cho phù hợp với thực tế tại địa phương
* Hỗ trợ chuy n đổi ngh và tạo việc làm đối với trư ng hợp thu h i đất
nông nghiệp
1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồiđất nông nghiệp không thuộc trường hợp quy định tại Điều 21 Nghị định này màkhông có đất để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền quy định tạikhoản 1 Điều 16 Nghị định này còn được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạoviệc làm theo một trong các hình thức bằng tiền hoặc bằng đất ở hoặc nhà ở hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp như sau:
a) Hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 đến 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diệntích đất nông nghiệp bị thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giaođất nông nghiệp tại địa phương
b) Hỗ trợ một lần bằng một suất đất ở hoặc một căn hộ chung cư hoặc mộtsuất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp Việc áp dụng theo hình thức nàyđược thực hiện đối với các địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, quỹ nhà ở vàngười được hỗ trợ có nhu cầu về đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất,kinh doanh phi nông nghiệp mà giá trị được hỗ trợ theo quy định tại điểm a khoảnnày lớn hơn hoặc bằng giá trị đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinhdoanh phi nông nghiệp; phần giá trị chênh lệch được hỗ trợ bằng tiền
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cụ thể hình thức hỗ trợ và mức hỗ trợquy định tại khoản 1 Điều này cho phù hợp với thực tế của địa phương
3. Trường hợp người được hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều này có nhucầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được
Trang 30miễn học phí đào tạo cho một khóa học đối với các đối tượng trong độ tuổi laođộng.
Kinh phí hỗ trợ chuyển đổi nghề cho các đối tượng chuyển đổi nghề nằmtrong phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và được tính trong tổng kinh phí của dự
án đầu tư hoặc phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư được duyệt
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo lập và tổ chức thực hiện phương án đào tạonghề, tạo việc làm cho các đối tượng bị thu hồi đất nông nghiệp
Phương án đào tạo, chuyển đổi nghề được lập và phê duyệt đồng thời vớiphương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Trong quá trình lập phương án đàotạo, chuyển đổi nghề phải lấy ý kiến của người bị thu hồi đất thuộc đối tượngchuyển đổi nghề
* Hỗ trợ khi thu h i đất nông nghiệp trong khu dân cư; đất vư n, ao không được công nh n là đất ở (Đi u 21, Ngh đ nh 69/2009/NĐ-CP)
1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất cónhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trongcùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà
ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì ngoài việc được bồi thườngtheo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm còn được hỗ trợ bằng 30% - 70% giáđất ở của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ không quá 05 lần hạn mức
giao đất ở tại địa phương
2. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hànhchính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; thửa đấtnông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ bằng 20% - 50% giá đất
ở trung bình của khu vực có đất thu hồi theo quy định trong Bảng giá đất của địaphương; diện tích được hỗ trợ không quá 05 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể tỷ lệ hỗ trợ, diện tích đất được
hỗ trợ và giá đất ở trung bình để tính hỗ trợ cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địaphương
Qua những phân tích, đánh giá trên cho thấy chính sách liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng có những điểm phù hợp và đáp ứng
Trang 31tốt hơn nhu cầu phát triển, ổn định đời sống nhân dân, những khoản về đền bù, khôiphục cuộc sống của người dân tái định cư đã được tính đến Tiếp cận dần các yêucầu quy định của quốc tế về chính sách đền bù, tái định cư Từ Nghị định 90/CPđến Nghị định số 22/1998/NĐ-CP, Nghị định 197/2004/NĐ-CP đến Nghị định số69/2009/ND-CP, Chính Phủ đã rất chú trọng đến công tác bồi thường, hỗ trợ, táiđịnh cư, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có đất bị thu hồi thực sự giúp họ giảiquyết cuộc sống ngày càng tốt hơn.
Tuy nhiên, những chính sách trên còn có nhiều hạn chế đặc biệt là với đốitượng tái định cư ở các công trình thủy điện Về phạm vi áp dụng: việc thu hồi đất
để xây dựng các công trình thủy điện chiếm một diện tích lớn đất đai, gồm cả đất ở
và đất canh tác, số lượng dân cư di dời lớn, tập trung có tính chất đặc thù nên ápdụng các chính sách trên là chưa phù hợp; Về đối tượng đền bù thiệt hại và điềukiện để được đền bù về đất: Quy định tính hợp pháp của đất đai của chủ sở hữu.Điều này sẽ gây khó khăn cho đồng bào miền núi, dân tộc vì đất đai của họ mớitrong quá trình được hợp pháp hóa, chưa đủ các thủ tục Hơn nữa việc sở hữu đấttruyền thống, tập quán du canh cũng làm khó khăn hơn việc xác định tính pháp lýcủa đất đai để thực hiện đền bù
Trên thực tế, nảy sinh nhiều vướng mắc trong công tác thống kê, kiểm kê vàđền bù không đầy đủ, dẫn đến khiếu kiện; các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội theođặc thù từng vùng, nhóm dân tộc chưa được tính toán đầy đủ, cân nhắc trước khiđưa ra các chính sách cụ thể và phương án tái định cư, tạo lập môi trường sốngmới để bảo đảm yếu tố phù hợp đối với các cộng đồng dân cư; lập khu tái định cư;các Nghị định của Chính phủ chưa hướng dẫn cụ thể về mặt tiêu chí quy mô cũngnhư các tiêu chuẩn đối với việc quy hoạch thiết kế xây dựng khu tái định cư, dẫnđến không thống nhất giữa các dự án; quy định về xây dựng các khu tái định cư ởmiền núi theo tiêu chuẩn nông thôn (400m2 đất ở/hộ) là chưa phù hợp với đặcđiểm, tập quán sinh sống của người dân; giá đất để tính đền bù thiệt hại chỉ quyđịnh mục đích sử dụng đất và số lượng chứ không quy định về tính ngang bằngchất lượng đất đền bù cho dân Hầu hết người dân phải tiếp nhận diện tích đất íthơn nhiều so với diện tích đất họ đã có trước đó; chính sách hỗ trợ còn thấp vàchưa đủ để người dân ổn định được cuộc sống
Trang 32Những công trình thủy điện được thực hiện trong thời gian gần đây đều đượcChính phủ ban hành chính sách riêng để thực hiện Chính sách di dân, tái định cưcủa thủy điện Sơn La được thực hiện theo Quyết định số 459/2004/QĐ-TTg; Chínhsách di dân, tái định cư của thủy điện Tuyên Quang thực hiện theo Quyết định số08/2007/QĐ-TTg ngày 12 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ Một sốcác công trình thủy điện khác được các cấp có thẩm quyền phê duyệt và ban hànhcác chính sách riêng như: Quyết định 914/QĐ-EVN-QLXD-KTDT của Tổng Giámđốc, tổng Công ty Điện lực Việt Nam phê duyệt thiết kế KT-TC và dự toán các khutái định cư, định canh thủy điện Buôn Kuốp; Văn bản số 1629NL/XDCB ngày 11tháng 8 năm 1994 của Bộ Năng lượng về tái định cư thủy điện Yaly.
Đối với thủy điện Sơn La do quy mô về tái định cư rất lớn đã có một loạt cácchính sách áp dụng riêng và một ban chỉ đạo trực thuộc Chính phủ để chỉ đạo côngtác tái định cư Các thủy điện khác như thủy điện Tuyên Quang, Yaly, Sông Ba Hạ,Đại Ninh… Được các cấp có thẩm quyền phê duyệt khung chính sách
Qua điều tra, nghiên cứu tình hình thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường giảiphóng mặt bằng tái định cư ở một số công trình thủy điện trong cả nước cho thấy,các công trình thủy điện xây dựng chủ yếu ở khu vực miền núi, nơi có nhiều đồngbào dân tộc thiểu số đang sinh sống theo cộng đồng và có phong tục tập quán canhtác, văn hoá truyền thống đa dạng, vì vậy việc thực hiện công tác thu hồi đất, bồithường, giải phóng mặt bằng, tái định cư tuy bước đầu đã đạt được một vài kết quảkhả quan nhưng vẫn còn nhiều khó khăn và bất cập trong quá trình thực hiện
1.2.2 Khái quát công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng giữ vai trò quan trọng trong việcthúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động Đểthống nhất công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn, Uỷ ban nhân dântỉnh đã ban hành Quyết định số 12/2008/QĐ-UBND ngày 21/10/2009 của UBNDtỉnh Tuyên Quang về việc Ban hành Quy định về trình tự, thủ tục thực hiện bồithường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đíchquốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tếtrên địa bàn tỉnh Tuyên Quang; Quyết định số 13/2008/QĐ-UBND ngày
Trang 3326/7/2008 về việc ban hành Quy định chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mụcđích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Thực hiện Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ bổsung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư, Uỷ bannhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Quyết định số 16/2009/QĐ-UBND ngày21/10/2009 về việc ban hành Quy định về trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗtrợ và tái dịnh cư khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, anninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàntỉnh Tuyên Quang (thay thế cho Quyết định số 12/2008/QĐ-UBND của Uỷ bannhân dân tỉnh); Quyết định số 19/2009/QĐ-UBND ngày 29/10/2009 ban hành quyđịnh về Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốcphòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trênđịa bàn tỉnh Tuyên Quang (thay thế cho Quyết định số 13/2008/QĐ-UBND của Uỷban nhân dân tỉnh)
Từ năm 2003 đến nay, do nguồn vốn đầu tư cho phát triển của tỉnh còn hạnchế, tốc độ đô thị hoá chưa cao nên công tác bồi thường giải phóng mặt bằng củatỉnh chưa nhiều Để tạo điều kiện giúp người dân có đất bị thu hồi phát triển sảnxuất, ổn định cuộc sống, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo áp dụng chính sách bồithường đúng quy định, giá bồi thường ở mức cao trong khung giá quy định chínhphủ, đáng chú ý là tỉnh đã chỉ đạo triển khai chủ trương bố trí đất ở và dịch vụ chocác hộ dân có đất thu hồi trước khi thực hiện các dự án nên đã tạo sự đồng thuậncủa người có đất thu hồi Ngoài ra, tỉnh còn hỗ trợ các địa phương có đất nôngnghiệp bị thu hồi xây dựng các công trình đường giao thông, bê tông hoá kênhmương trong khu vực có đất thu hồi Đối với các dự án có đất thu hồi lớn, tập trungnhư: Nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang có chính sách bồi thường riêng
Tuy nhiên, hiện nay theo quy định của Luật đất đai đối với những dự án nhànước không thu hồi đất, các chủ đầu tư nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn bằngquyền sử dụng đất của các hộ dân, do vậy để có đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanhmột số chủ đầu tư đã bị một số người dân ép nâng giá đất; trong cùng một dự án giá
Trang 34chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các hộ khác nhau, cá biệt có một số hộkhông nhất trí chuyển nhượng cho nhà đầu tư đã dẫn đến tình trạng dự án dở dang,chậm thực hiện do không đủ mặt bằng để xây dựng, điều này đã gây không ít khókhăn cho các dự án đầu tư khi nhà nước thu hồi đất.
1.3 Đánh giá chung công tác ổn định đời sống nhân dân vùng tái định
cư thời gian vừa qua
Kết quả kiểm tra thi hành Luật đất đai năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môitrường cho thấy việc thực hiện chính sách bồi thường GPMB tại các địa phương cónhững mặt được và thiếu sót, yếu kém, bất cập như sau:
a) Những m t đạt được
- Với mục tiêu giúp người dân tái định cư ổn định đời sống và phát triển sảnxuất ngày càng tốt hơn nơi ở cũ, trong nhiều năm qua, Chính phủ và các Bộ, ngànhTrung ương đã ban hành hệ thống các chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
và sau tái định cư các dự án thủy điện khá đầy đủ Các địa phương đã tích cực tổchức thực hiện tốt các chính sách, nhiều công trình cơ sở hạ tầng đã được quyhoạch và đầu tư xây dựng tương đối đồng bộ, đời sống của người dân ngày càngđược nâng cao cả về vật chất và tinh thần, góp phần ổn định tình hình an ninh trật
tự và phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương2
- Đối với trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích lợi ích quốc gia, lợiích công cộng, quốc phòng, an ninh; việc triển khai bồi thường, hỗ trợ, tái định cưkhá thuận lợi và ít gặp trở ngại từ phía người có đất bị thu hồi
- Các quy định về thu hồi đất, bồi thường, tái định cư ngày càng phù hợp hơnvới quy luật kinh tế, quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của người có đất bị thu hồi;trình tự, thủ tục thu hồi đất ngày càng rõ ràng hơn
- Nhiều địa phương đã vận dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cưthỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến hành bình thường hầu như không có hoặc có rất
ít khiếu nại
- Việc bổ sung quy định về tự thỏa thuận giữa nhà đầu tư cần đất với người
sử dụng đất đã giảm sức ép từ các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất
Trang 35) Những m t thiếu s t, yếu ém và vướng mắc
- Vấn đề khôi phục sinh kế hậu tái định cư giúp người dân ổn định đời sốngmột cách bền vững đang còn những bất cập chưa được giải quyết triệt để, như: tạimột số nơi, điều kiện sản xuất khó khăn, thiếu đất sản xuất; thiếu việc làm, cơ sở hạtầng nông thôn xuống cấp, thiếu vốn, giáo dục và trình độ lao động
thấp, phong tục tập quán còn lạc hậu, tỷ lệ hộ nghèo cao, thu nhập bình quân đầungười thấp hơn mức thu nhập bình quân chung của địa phương, điều kiện tiếp cậncác dịch vụ xã hội cơ bản của người dân tái định cư còn hạn chế Bên cạnh đó, hệthống chính sách về di dân, tái định cư và sau tái định cư tuy đã được ban hành kháđầy đủ; song qua thời gian thực hiện đã phát sinh một số bất cập, hạn chế, chưa phùhợp với điều kiện thực tế nên việc triển khai thực hiện còn gặp nhiều khó khăn,vướng mắc3
- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách làđại diện sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất được pháp luậtcông nhận Đặc biệt là trong việc định giá đất bồi thường, xử lý mối tương quangiữa giá đất thu hồi với giá đất TĐC (thu hồi giá quá thấp, chưa sát với thị trường)
- Chưa giải quyết tốt việc làm cho người có đất bị thu hồi, nhất là đối vớinông dân không còn hoặc còn ít đất sản xuất hoặc những người không còn việc làmnhư nơi ở cũ
- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa nhà đầu tư cần sử dụng đấtvới người có đất bị thu hồi Việc quy định giá đất quá thấp so với giá chuyểnnhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tuy có tác động tích cực tới việcviệc khuyến khích nhà đầu tư nhưng lại gây ra những phản ánh gay gắt của nhữngngười có đất bị thu hồi
- Tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để chuyển sang làmngành nghề khác Những trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường trongnhiều trường hợp không đủ để nhận chuyển nhượng lại đất ở tương đương hoặcnhà ở mới tại khu tái định cư
Trang 36- Tại nhiều dự án, các cơ quan có trách nhiệm thực hiện bồi thường, hỗ trợ,tái định cư để giải phóng mặt bằng chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục từ khicông khai quy hoạch, thông báo kế hoạch, quyết định thu hồi, v.v…cho tới khâucưỡng chế.
- Nhiều dự án chưa có khu TĐC đã thực hiện thu hồi đất ở Nhìn chung cácđịa phương chưa coi trọng việc lập khu TĐC chung cho các dự án tại địa bàn, một
số khu TĐC đã lập nhưng không bảo đảm điều kiện tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, cótrường hợp người có đất bị thu hồi phải đi thuê nhà ở 5 năm nay mà vẫn chưađược bố trí vào khu TĐC
- Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, GPMB gồm các thành viên đượctrưng tập từ các ngành khác nhau, thiếu kinh nghiệm, chưa am hiểu sâu chính sách,pháp luật về đất đai, lúng túng trong việc giải thích chính sách pháp luật cho nhândân, thậm chí làm trái quy định của pháp luật, dẫn tới khiếu nại và phải tạm dừngviệc GPMB
- Trong nhiều trường hợp, việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, táiđịnh cư đã được giải quyết đúng pháp luật, thoả đáng nhưng người sử dụng đấthoặc do không hiểu pháp luật, cố ý trì hoãn để được bồi thường hỗ trợ thêm nênkhông chấp hành quyết định thu hồi đất, thậm chí liên kết khiếu nại đông người,gây áp lực với cơ quan nhà nước Trong khi đó, cơ chế về giải quyết đơn thư khiếunại còn nhiều bất cập đã làm cho việc giải quyết khiếu nại kéo dài, gây ách tắc việcgiải phóng mặt bằng
Nguyên nhân sâu xa của những biểu hiện nêu trên là chưa quán triệt và chấphành nghiêm chỉnh quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về đất đai Nghịquyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về tiếp tụcđổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đấtnước đã nêu rõ phải giải quyết hài hoà mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước, nhàđầu tư và người sử dụng đất đã chưa thể hiện đúng và đầy đủ quan điểm đó
1.4 Kinh nghiệm quốc tế về hỗ trợ di dân tái đinh cư
1.4.1 Ngân hàng thế giới (WB)
Hầu hết các dự án được tài trợ bởi vốn vay của ngân hàng Thế giới (WB) đều
có chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do các dự án này đưa ra
Trang 37Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của tổ chức này có nhiều khác biệt sovới luật, quy định, chính sách của nhà nước Việt Nam nên có những khó khăn nhấtđịnh, nhưng bên cạnh cũng có những ảnh hưởng tích cực tới việc hoàn thiện chínhsách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất của Việt Nam.Tất cả mọi vấn đề kinh tế, xã hội phát sinh từ việc thu hồi đất gây ra chongười bị thu hồi đất đều được chính sách của WB quan tâm Trong công tác bồithường, hỗ trợ và tái định cư thì vấn đề tái định cư được WB quan tâm nhiều hơn,
hỗ trợ những người bị ảnh hưởng trong suốt quá trình tái định cư, từ việc tìm nơi ởmới thích hợp cho một khối lượng lớn chủ sử dụng đất phải di chuyển, tổ chức cáckhu tái định cư, trợ giúp chi phí vận chuyển, xây dựng nhà ở mới, đào tạo nghềnghiệp, cho vay vốn phát triển sản xuất, cung cấp các dịch vụ tại khu tái định cư
1.4.2 Ngân hàng phát triển Châu á (ADB)
Khung chính sách của Ngân hàng phát triển Châu á được xây dựng với mụctiêu tránh việc tái định cư bắt buộc bất cứ khi nào có thể được hoặc giảm thiểu táiđịnh cư nếu không thể tránh khỏi di dân; đảm bảo những người phải di chuyểnđược giúp đỡ để ít nhất họ cũng đạt mức sống sung túc như lẽ họ sẽ có được nếukhông có dự án hoặc tốt hơn
Với các nguyên tắc cơ ản là:
- Cần tránh hoặc giảm thiểu tái định cư bắt buộc và thiệt hại về đất đai, công trình, các tài sản và thu nhập bằng cách khai thác mọi phương án khả thi
- Tất cả các hộ đều được quyền đền bù theo giá thay thế cho tài sản, thunhập và các công việc sản xuất, kinh doanh bị ảnh hưởng, được khôi phục đủ đểcải thiện hay ít nhất cũng hồi phục được mức sống, mức thu nhập và năng lực sảnxuất của họ như trước khi có dự án
- Trong trường hợp di chuyển cả một khu vực dân cư phải cố gắng tối đa đểduy trì các thể chế văn hoá và xã hội của những người phải di chuyển và của cộng đồng dân cư nơi chuyển đến
- Việc chuẩn bị các kế hoạch giải phóng mặt bằng (được coi như một phầntrong công tác chuẩn bị tiểu dự án) và thực hiện các kế hoạch này sẽ được tiến hànhvới sự tham gia và tư vấn của những người bị ảnh hưởng
- Phải hoàn tất việc chi trả đền bù các loại tài sản bị ảnh hưởng và kết thúc di
Trang 38dân tới nơi ở mới trước khi thi công tuyến tiểu dự án.
- Việc đền bù cho người dân tộc thiểu số, hộ gia đình do phụ nữ làm chủ, giađình có người tàn tật và các hộ dễ bị ảnh hưởng khác sẽ được thực hiện với sự tôntrọng các giá trị văn hoá cũng như sự bảo vệ các nhu cầu riêng biệt của họ
Khi triển khai thực hiện công tác giải phóng mặt bằng ADB quan tâm đến hầuhết các vấn đề liên quan đến chủ hộ như nghề nghiệp, thu nhập hàng tháng, nguồnthu nhập của gia đình, số người trong độ tuổi lao động, có trong diện chính sáchhay không và cả trình độ học vấn… cùng tính pháp lý của đất đai, tài sản trên đất
Về vấn đề tái định cư, mục tiêu chính sách tái định cư của ADB là giảmthiểu tối đa tái định cư và phải bảo đảm cho các hộ bị di chuyển được bồi thường
và hỗ trợ sao cho tương lai kinh tế và xã hội của họ được thuận lợi tương tự trongtrường hợp không có dự án
1.4.3 Chính sách về Tái định cư bắt buộc của Ngân hàng Thế giới (OP 4.12)
Kinh nghiệm của Ngân hàng Thế giới cho thấy việc tái định cư bắt buộc docác dự án phát triển gây nên, trong trường hợp không thể giảm thiểu được, thườngdẫn đến những vấn đề nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường: Các hệ thốngsản xuất bị phá vỡ; con người phải đối mặt với sự bần cùng hóa khi những tài sản,công cụ sản xuất hay nguồn thu nhập của họ bị mất đi; người dân phải di dời tớinhững môi trường mới mà ở đó các kỹ năng của họ trở nên ít phù hợp hơn và mức
độ cạnh tranh về tài nguyên trở nên căng thẳng hơn; các thiết chế cộng đồng vàmạng lưới dân sinh xã hội bị suy giảm; các quan hệ huyết thống trở nên phân tán;những đặc tính văn hóa, uy lực của truyền thống và tiềm năng trợ giúp lẫn nhau bịsuy giảm hoặc mất đi [9] Vì vậy, Chính sách của Ngân hàng được quy định trongHướng dẫn OP 4.12 bao gồm các biện pháp an toàn để xử lý và khắc phục nguy cơbần cùng hóa này
Nguyên tắc hướng dẫn cơ bản của Chính sách hoạt động OP 4.12 của Ngânhàng thế giới là:
Tái định cư bắt buộc cần được tránh ở mọi nơi có thể tránh được, hoặc giảmđến mức độ tối thiểu, bằng cách đưa ra mọi phương án có thể lựa chọn trong quátrình thiết kế kỹ thuật
Trang 39Ở những nơi mà tái định cư bắt buộc là không tránh khỏi, hoạt động tái định
cư cần được nhận thức và thực thi như những chương trình phát triển bền vững,cần cung cấp đủ nguồn đầu tư để giúp những người bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dự
án được chia sẻ lợi ích của dự án Những người bị ảnh hưởng trực tiếp hay giántiếp cần được tham khảo ý kiến đầy đủ và cần được tham gia vào quá trình lập kếhoạch và thực hiện chơng trình tái định cư
Những người bị ảnh hưởng cần được trợ giúp cho những nỗ lực của họnhằm cải thiện điều kiện sống và thu nhập của mình, hoặc ít nhất là khôi phục điềukiện sống cũ, như trước khi có dự án
Chuẩn bị các báo cáo kế hoạch tái định cư: Mục tiêu của OP 4.12 là giảmthiểu tối đa tái định cư bắt buộc Giảm thiểu tái định cư bắt buộc bằng cánh nghiêncứu và thiết kế phương án thay thế, hoặc trong trường hợp là tái định cư là khôngthể tránh khỏi thì cần xây dựng các chính sách nhằm nâng cao hay ít nhất là phụchồi đời sống của người bị ảnh hưởng so với trước khi thực hiện dự án, nâng cáomức sống của người nghèo và các nhóm bị tổn thương, hoặc phải di dời Trongtrường hợp có đất đai, tài sản bị ảnh hưởng, Kế hoạch tái định cư của từng tiểu dự
án cần được chuẩn bị, được cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh phê duyệt trước thờiđiểm ký kết hiệp định của Dự án Sau khi các thiết kế kỹ thuật chi tiết được hoànthành, số người bị ảnh hưởng sẽ được rà soát lại, các đơn giá đền bù đối với mọiloại hình ảnh hưởng và các khoản, mức trợ cấp cũng sẽ được cập nhật dựa trên kếtquả khảo sát giá thay thế trong quá trình thực hiện và tất cả được trình bày chi tiếttrong Kế hoạch tái định cư cập nhật
Trong trường hợp những hợp phần của Dự án gây ra những tác động tiêu cựcđến sinh kế của người phải di dời, sẽ áp dụng những biện pháp hỗ trợ trong thờigian chuẩn bị kế hoạch tái định cư để họ có thể nâng cao (hay ít nhất là phục hồi)đời sống trước khi thực hiện dự án Trong quá trình thực hiện Dự án, sẽ giám sát đểkiểm tra xem quá trình phục hồi sinh kế được thực hiện như thế nào, nếu chưa thểphục hồi, sẽ áp dụng chính sách hỗ trợ đặc biệt để họ sớm có thể phục hồi đời sống.Như vậy, một nguyên tắc chung mà mỗi Quốc gia đặt ra cho chính sách bồithường là: Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người bị thu hồi đất để đảm bảo cuộc
Trang 40sống hiện tại và tương lai tốt hơn hoặc ít nhất là bằng nơi ở cũ Đó là một quanđiểm đúng đắn vì suy cho cùng sự phát triển của Đất nước luôn phải gắn liền với sựphát triển của các thành viên trong cộng đồng, đó mới là sự phát triển bền vững.
1.4.4 Kinh nghiệm Trung Quốc
Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu, gồm sở hữu toàn dân và sởhữu tập thể Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng thuộc sở hữu nhà nước.Đất ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể, nông dân laođộng Theo quy định của Luật đất đai Trung Quốc năm 1998, đất đai thuộc sở hữunhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng theo các hình thức giao đấtkhông thu tiền sử dụng đất (cấp đất), giao đất có thu tiền sử dụng đất và cho thuêđất
Đất thuộc diện được cấp bao gồm đất sử dụng cho cơ quan nhà nước, phục
vụ mục đích công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng và phục vụ cho mục đích quốcphòng, an ninh Đất sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh thì được Nhà nướcgiao đất theo hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc là cho thuê đất
Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để sử dụngvào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia thì Nhà nước có chính sách bồi thường
và tổ chức TĐC cho người bị thu hồi đất
Vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai TrungQuốc quy định như sau:
V thẩm quy n thu h i đất: Chỉ có Chính phủ (Quốc vụ viện) và chính quyền
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có quyền thu hồi đất Quốc vụ viện cóthẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha trở lên đối với các loạiđất khác [18] Dưới hạn mức này thì do chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương ra quyết định thu hồi đất Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ chuyển từđất thuộc sở hữu tập thể thành đất thuộc sở hữu nhà nước
V trách nhiệm i thư ng: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định, người nào sử
dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường Phần lớn tiền bồi thường dongười sử dụng đất trả Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ phí sử dụng đấtphải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi Ngoài ra,pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp đời sống cho