Trồng rau không dùng đất nênkhông sợ các loại sán, sâu bệnh khác có trong đất, không tốn nhiều diện tích có thểtrồng ở nhiều địa hình khác nhau, đơn giản chăm sóc dễ.Trường Đại Học Nông
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả kinh tế mô hình trồng rau muống thủy canh trong nhà kính của trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
3.1.2.1 Phạm vi về không gian
Khoá luận được thực hiện tại nhà kính của Trung Tâm Ươm Tạo Công Nghệ và Hỗ Trợ Khởi Nghiệp của Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
3.1.2.2 Phạm vi về thời gian
Thời gian thực hiện khóa luận: từ 13/08/2018 đến 23/12/2018.
Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại TP Thái Nguyên.
- Tìm hiểu tình hình sản xuất rau và rau thủy canh trên thành phố Thái Nguyên.
- Đánh giá thực trạng sản xuất rau nói chung và sản xuất rau an toàn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế về sản xuất rau muống thủy canh tại nhà kính trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất và tiêu thụ rau thủy canh tại nhà kính trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phổ triển mô hình sản xuất RTC tới các hộ,
DN, HTX và chuyển giao công nghệ tới các tỉnh lân cận, đồng thời tiếp tục thử nghiệm thành công các loại rau, quả khó tính nhưng mang lại giá trị cao (quả dâu tây) đáp ứng nhu cầu trong nước và tiến tới xuất khẩu.
Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Từ các nguồn số liệu điều tra thu thập được trên địa bàn nghiên cứu, tiến hành tổng hợp và phân tích.
- Xử lý định tính, định lượng dựa trên phần mềm xử lý số liệu excel. + Phương pháp so sánh
Là phương pháp được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau Dùng để so sánh các yếu tố định lượng hoặc định tính, so sánh các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế, xã hội đã được lượng hóa có cùng nội dung, tính chất tương tự để xác định mức độ biến động của các nội dung.
Sử dụng phương pháp này ta tiến hành lập bảng để xét mức độ biến động tăng giảm của các chỉ tiêu theo thời gian, dùng số tuyệt đối, tương đối, số bình quân chung để xem xét.
So sánh là những phương pháp so sánh cơ bản của phân tích thống kê Nếu không so sánh thì dù sự thực có được khẳng định, ta cũng không có thể kết luận được Sử dụng phương pháp so sánh phân tích để thấy được sự khác nhau trong sản xuất của từng hộ.
+ Phương pháp phân tích đánh giá tổng hợp
Sau khi tiến hành thu thập được các số liệu cần thiết cho các khía cạnh nghiên cứu của đề tài, tiến hành đánh giá và tổng hợp để thấy được bản chất của biến động đó.
Tham khảo ý kiến chuyên môn của các cán bộ có trình độ và chuyên môn cao Những cán bộ quản lý có kinh nghiệm…để tìm hiểu về các vấn đề: Chất lượng sản phẩm, kỹ thuật chăm sóc, tình hình dịch bệnh, năng suất, thị trường tiêu thụ và những định hướng phát triển diện tích, năng suất và chất lượng rau an toàn trong thời gian tới.
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
+ Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập số liệu từ các công trình khoa học, các báo cáo tổng kết, các văn bản, sách, báo chí, các nghị định, chỉ thị, nghị quyết, các chính sách của Nhà nước có liên quan đến phát triển mô hình trồng RTC.
- Sử dụng số liệu tại chính quyền địa phương, thống kê của UBND tỉnh Thái Nguyên để có số liệu cần thống kê.
+ Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Với những thông tin như diện tích, năng suất, sản lượng, các khoản chi phí, giá tiêu thụ và một số thông tin có liên quan để tính ra hiệu quả kinh tế của việc trồng RTC.
Trong phạm vi nghiên cứu, khóa luận sử dụng phương pháp PRA vào thu thập thông tin với các công cụ sau:
- Quan sát trực tiếp: Quan sát trực tiếp được vận hành trong kỹ thuật PRA là quan sát một cách có hệ thống các sự vật, sự kiện với các mối quan hệ trong một bối cảnh nào đó, Trong phạm vi khóa luận, tôi quan sát thực tế đặc điểm địa bàn, tình hình sản xuất RTC của nhà kính.
Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
3.4.1 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế
+ Các chỉ tiêu phản ánh mô hình sản xuất RTC của tổng thể nhà lưới thủy canh
- Diện tích gieo trồng, diện tích gieo trồng bình quân/m 2
- Mức đầu tư vốn cố định, vốn lưu động cho sản xuất và cho một ĐVDT trồng trọt.
+ Chỉ tiêu giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích
Là toàn bộ của cải vật chất và các dịch vụ được tạo ra trên một đơn vị diện tích trong một vụ. ̅̅̅̅̅= ∑
Pi: Là đơn giá sản phẩm thứ i;
Qi: Là khối lượng sản phẩm thứ i trên cùng một đơn vị diện tích;
S: Là diện tích gieo trồng.
3.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất rau thủy canh
Theo hệ thống tài khoản quốc gia SNA, chúng ta có các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất sau:
- Giá trị sản xuất GO: (Grossoutput): Là giá tính bằng tiền của toàn bộ các loại sản phẩm vật chất và dịch vụ lao động nông nghiệp được tạo ra tính trên một đơn vị diện tích trong thời gian một năm hay một chu kì sản xuất.
Cách tính: GO = i l n i:Là số lượng chủng loại sản phẩm.
- Chi phí sản xuất: là toàn bộ chi phí được sử dụng vào quá trình sản xuất sản phẩm Bao gồm chi phí trung gian và chi phí về lao động gia đình.
Trong đó, chi phí trung gian (IC): là bộ phận cấu thành giá trị sản xuất bao gồm những chi phí vật chất và dịch vụ cho sản xuất (không kể khấu hao).
Trong đó: Cj: Số lượng đầu vào thứ j được sử dụng.
Pj: Đơn giá đầu vào thứ j.
Chi phí vật chất trong sản xuất rau đó là các yếu tố đầu vào như: giống cây trồng, phân bón, các loại thu…
Chi phí dịch vụ trong sản xuất rau như: công lao động thuê ngoài, dịch vụ vận chuyển, thủy lợi…
- Giá trị gia tăng (VA): là một trong những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng phản ánh kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất của các ngành thành phần kinh tế và toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong một thời kì nhất định Đó là nguồn gốc của mọi khoản thu nhập, sự giàu có và phồn vinh xã hội Nó không chỉ biểu hiện hiệu quả của sản xuất theo chiều rộng mà còn là một trong những cơ sở quan trọng để tính các chỉ tiêu kinh tế khác. Được xác định bằng các công thức sau:
- Thu nhập hỗn hợp (MI): là phần thu nhập (gồm cả công lao động và lãi) nằm trong giá trị sản xuất sau khi đã trừ đi chi phí trung gian, khấu hao tài sản cố định (TSCĐ), thuế. Được xác định bởi công thức sau:
MI = VA - khấu hao TSCĐ - thuế, phí, lệ phí phải nộp
- Khấu hao TSCĐ (chi phí cố định): là phần giá trị của tài sản cố định bị hao mòn trong quá trình sản xuất.
- Lợi nhuận (LN): là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của một quá trình sản xuất.
3.4.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất rau thủy canh
Theo hệ thống tài khoản quốc gia SNA, chúng ta có các nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất sau:
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn đầu tư:
+ GO/IC: Giá trị sản xuất trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất trong kỳ sản xuất.
+ VA/IC: Giá trị gia tăng trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng trong kỳ sản xuất.
+ MI/IC: Thu nhập hỗn hợp trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp trong kỳ sản xuất.
+ LN/IC: Lợi nhuận trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ sản xuất.
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sức lao động:
+ GO/lao động (LĐ): Giá trị sản xuất trên lao động, chỉ tiêu này phản ánh một lao động có thể tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất trong kỳ sản xuất. + VA/LĐ: Giá trị gia tăng trên lao động, chỉ tiêu này phản ánh một lao động có thể tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng trong kỳ sản xuất.
+ MI/LĐ: Thu nhập hỗn hợp trên lao động, chỉ tiêu này phản ánh một lao động có thể tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp trong kỳ sản xuất.
+ LN/LĐ: Lợi nhuận trên lao động, chỉ tiêu này phản ánh một lao động có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ sản xuất.
3.4.4 Chi phí và lợi nhuận trên một đơn vị diện tích
Chi phí trung gian trên một đơn vị diện tích: Là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất trên một đơn vị diện tích Ví dụ: Giống, dinh dưỡng, cước vận chuyển, thuê lao động ngoài…Chỉ tiêu này cho biết các chi phí biến đổi mà các hộ phải bỏ ra để sản xuất rau, giúp tính toán lợi nhuận và hiệu quả kinh tế rau trồng Mà không cần xét đến sự khác biệt trong quy mô sản xuất của mỗi hộ. ̅̅̅̅ =
Trong đó: Ci: Là chi phí thứ i;
S: Là diện tích gieo trồng;
Lợi nhuận bình quân là toàn bộ lãi thu được trên một đơn vị diện tích sau khi đã trừ triết khấu tất cả các loại chi phí. ̅̅̅̅̅ = ̅̅̅̅ - ̅̅̅
Trong đó: ̅̅̅̅ : Tổng chi (nghìn đồng): Tính tất cả các khoản chi thực tế cho việc sản suất rau như: giá thể, giống, dinh dưỡng, khấu hao hệ thống, nhà lưới, điện… ̅̅̅̅̅
: Tổng thu (nghìn đồng) = Năng suất thực thu x giá bán ̅̅̅̅ : Lợi nhuận bình quân (nghìn đồng) = Tổng thu - Tổng chi phí
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên của thành phố Thái Nguyên
4.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
Thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật, y tế, du lịch, dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên và vùng trung du miền núi phía Bắc; trung tâm vùng trung du, miền núi Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 80 km Tổng diện tích tự nhiên 222,93 km².
Phía Bắc giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương;
Phía Đông giáp thành phố Sông Công; Phía Tây giáp huyện Đại Từ;
Phía Nam giáp huyện Phú Bình.
Với vị trí địa lý trên, thành phố Thái Nguyên có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai, nhất là trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và trở thành một đô thị trung tâm của khu vực vùng trung du miền núi Bắc Bộ.
Hình 4.1 Bản đồ hành chính thành phố thái nguyên
(Nguồn: UBND tỉnh Thái Nguyên)
Thành phố Thái Nguyên mang những nét chung của khí hậu vùng Đông Bắc Việt Nam, thuộc miền nhiệt đới, gió mùa có mùa đông lạnh giá ít mưa, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Do đặc điểm địa hình của vùng đã tạo cho khí hậu của thành phố có những nét riêng biệt Tổng số giờ nắng trung bình năm khoảng 1.617 giờ Nhiệt độ cao tuyệt đối 39,5°C, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm vào tháng 7 là 28,5°C, thấp nhất là và tháng 1 là 15,5°C, lượng mưa trung bình hàng năm 2.025,3mm lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian, có chênh lệch lớn giữa mùa mưa và mùa khô,về mùa mưa cường độ lớn, lượng mưa chiếm 80% tổng lượng mưa trong năm Thành phố có độ ẩm không khí cao, độ ẩm trung bình năm là 82%. Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 gió Đông Nam chiếm ưu thế tuyệt đối, nóng ẩm mưa nhiều Mùa đông tháng 11 đến tháng 3, gió Đông Bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít thời tiết khô hanh.
- Ảnh hưởng của khí hậu tới sản xuất
Nhìn chung, điều kiện khí hậu của tỉnh Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, có giá trị đối với Nông-Lâm nghiệp Tuy vậy, vào mùa mưa với lượng mưa tập trung lớn nên thường sảy ra lũ quét ở một số triền đồi núi và lũ lụt ở số khu vực dọc theo lưu vực sông Cầu và sông Công.
Thành phố Thái Nguyên có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú.
- Tài nguyên đất: so với diện tích đất tự nhiên thì tổng diện tích đất phù sa không được bồi hàng năm với độ trung tính ít chua là 3.125,35ha, chiếm 17,65% so với tổng diện tích tự nhiên; đất phù sa không được bồi hàng năm, chua, gây yếu,có100,19ha, chiếm 0,75% tổng diện tích đất tự nhiên được phân bổ chủ yếu ở phườngPhú Xá; đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính ít chua có 379,84ha, chiếm2,35% tổng diện tích đất tự nhiên; đất (Pcb1) bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản lượng feralit trên nền cơ giới nhẹ có 271,3ha, chiếm 1,53%; đất (Pcb2) bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản lượng feralit trên nền cơ giới nặng có 545,6ha, chiếm 3,08%
- Tài nguyên rừng: Rừng ở Thái Nguyên chủ yếu là rừng nhân tạo và rừng trồng theo chương trình 327, vùng chè Tân Cương cùng với các loại cây trồng của nhân dân như cây nhãn, vải, quýt, chanh Cây lương thực chủ yếu là cây lúa nước, ngô, đậu thích hợp và phát triển ở những vùng đất bằng trên các loại đất phù sa, đất mới phát triển, đất glây trung tính ít chua.
- Tài nguyên khoáng sản: 2 tuyến sông lớn chảy qua (sông Cầu và sông
Công), do đó cung cấp cho thành phố một lượng cát, sỏi phục vụ xây dựng khá lớn, đủ đáp ứng nhu cầu xây dựng cho toàn thành phố Thành phố nằm trong vùng sinh khoáng đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Mỏ than nội địa Khánh Hoà thuộc xã Phúc Hà có trữ lượng than rất lớn.
- Nguồn nước: hai bên bờ sông của khu vực Đồng Bẩm, Túc Duyên có lượng nước ngầm phong phú
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của Thành Phố Thái Nguyên năm 2017
Tổng diện tích tự nhiên
1.1 Đất sản xuất Nông Nghiệp
1.2 Đất trồng cây hàng năm
1.4 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi
1.5 Đất trồng cây lâu năm
1.6 Đất trồng cây hàng năm khác
1.7 Đất lâm nghiệp (có rừng)
1.11 Đất nuôi trông thủy sản
2.5 Đất trụ sở cơ quan,công trình sự nghiệp
2.6 Đất quốc phòng, an ninh
2.9 Đất tôn giáo, tín ngưỡng
2.10 Đất nghĩa trang, nghĩa địa
2.11 Đất sông suối và mặt nước chuyên dung
2.12 Đất phi nông nghiệp khác
3.1 Đất bằng chưa sử dụng
3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng
3.3 Núi đá không có rừng cây
(Nguồn: Sở TN&MT tỉnh Thái Nguyên, 2017)
4.1.3 Đặc điểm về kinh tế - xã hội
Năm 2017, thành phố Thái Nguyên đạt các chỉ tiêu kinh tế như sau: Tốc độ tăng trưởng của các ngành sản xuất năm 2017 đạt 15,5%.
Trong đó: Giá trị sản xuất ngành dịch vụ đạt 15.130 tỷ đồng, tăng 18,1%; Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng đạt 38.903 tỷ đồng, tăng 15%; Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 1.202 tỷ đồng, tăng 5%; Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương (theo giá so sánh 2010) năm 2016 ước đạt 6.300 tỷ đồng, vượt 1,6% so với kế hoạch; Thu ngân sách: năm 2017 đạt 2.500 tỷ đồng 8 tháng đầu năm 2017, thành phố đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 15,1% GDP bình quân đầu người đạt 80 triệu đồng/người/năm Thu ngân sách 8 tháng đầu năm 2017 ước đạt 1.900 tỷ đồng. Tổng số vốn đầu tư đăng ký trên 30 nghìn tỷ đồng [22].
Trong 6 tháng đầu năm 2018, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) trên địa bàn ước đạt 9,85%, trong đó khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 12,17%; nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 3,4%; khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm tăng 6,6% Thu nhập bình quân đầu người năm 2017 đạt 68 triệu đồng, gấp 1,3 lần năm 2015, cao hơn mức bình quân chung của cả nước Tổng nguồn lực đầu tư tiếp tục tăng trưởng, trong hai năm 2016, 2017 đạt hơn 103 nghìn tỷ đồng (Nghị quyết Đại hội đặt ra cho cả nhiệm kỳ là 108 nghìn tỷ đồng) Thu ngân sách: năm 2015 thu đạt hơn 7.300 tỷ đồng; năm 2016 thu đạt hơn 9.600 tỷ đồng; năm 2017 thu đạt 12.643 tỷ đồng (vượt 40,3% so với kế hoạch; vượt hơn 3.600 tỷ đồng so với năm 2016; vượt hơn 5.300 tỷ đồng so với đầu nhiệm kỳ); sáu tháng đầu năm 2018 ước đạt 7.050 tỷ đồng, bằng 53,8% dự toán năm, tăng 5,5% so với cùng kỳ; phấn đấu tỉnh Thái Nguyên có thể tự cân đối thu - chi ngân sách trước năm 2020 Môi trường đầu tư của tỉnh bảo đảm công khai, minh bạch Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh có sự đảo chiều ngoạn mục.
Thành phố Thái Nguyên nằm trong vùng phát triển kinh tế năng động của tỉnh Thái Nguyên (bao gồm TP Sông Công và TX Phổ Yên), là trung tâm công nghiệp lâu đời với trung tâm công nghiệp Gang Thép Ngoài ra thành phố còn có tiềm năng lớn để phát triển du lịch, với Hồ Núi Cốc, các di tích lịch sử, cách mạng.Thành phố Thái Nguyên có đội ngũ cán bộ, công nhân có kinh nghiệm, năng lực,trình độ cao và đội ngũ sinh viên tốt nghiệp hàng năm từ các trường Đại học,
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Công nghiệp và xây dựng
(Nguồn: Báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên 2016,2017)
+ Giao thông: Thành cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km Ngoài ra thành phố còn là cửa ngõ đi các tỉnh Đông Bắc như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn.
+ Đường bộ: Thành phố Thái Nguyên là một đầu mút giao thông với 4 đường Quốc lộ và 1 tuyến cao tốc, 1 tuyến tiền cao tốc đi qua gồm: Quốc lộ 3 (đi
Hà Nội về phía Nam, đi Bắc Kạn về phía Bắc), Quốc lộ 37 (đi Tuyên Quang về phía Tây, đi Bắc Giang về phía Đông), Quốc lộ 17 (đi Hà Nội, qua Bắc Giang, Bắc Ninh), Quốc lộ 1B (đi Lạng Sơn), cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên (nối vào tuyến tránh đi vòng qua thành phố, không vào trung tâm, đấu nối với các tuyến đường vào trung tâm tại 3 nút giao là Tân Lập, Đán và Tân Long), tiền cao tốc Thái Nguyên - Chợ Mới (Bắc Kạn).
Thành phố hiện đã xây dựng và đưa vào sử dụng Bến xe khách trung tâm thành phố thay cho bến xe cũ đã quá tải Đây cũng được xem như là bến xe lớn và hiện đại nhất khu vực phía Bắc, với hệ thống quản lý giám sát xe ra vào hoàn toàn tự động bằng thẻ từ Bến xe cũ nằm trong trung tâm thành phố hiện được giao cho tập đoàn Vingroup để triển khai dự án trung tâm thương mại Thành phố đang triển khai xây dựng thêm Bến xe phía Bắc đặt tại phường Tân Long, và Bến xe phía Nam tại phường Tích Lương.
+ Đường sắt: Thành phố Thái Nguyên có 2 hệ thống đường sắt chính: Hà Nội - Quan Triều và Lưu Xá - Kép, ngoài ra còn có tuyến Quan Triều - Núi Hồng chuyên dùng để chở khoáng sản Hiện nay, một ngày có 2 chuyến tàu xuất phát từ Thái Nguyên đi Hà Nội.
Đánh giá thực trạng sản xuất RTC tại tỉnh Thái Nguyên
4.2.1 Tình hình sản xuất rau và rau thủy canh trên địa bàn
Thái Nguyên là tỉnh có tiềm năng phát triển các loại rau, thêm vào đó, thị trường tiêu thụ rộng mở vì ngoài nhu cầu tiêu thụ của người dân, trên địa bàn còn có nhiều khu công nghiệp, trường đại học, cao đẳng Hiện nay, trung bình mỗi năm,toàn tỉnh trồng được trên 12.000ha rau các loại, sản lượng đạt khoảng 300 tấn, tập trung ở các địa phương: Xã Đông Cao (T.X Phổ Yên); xã Nhã Lộng (Phú Bình); thị trấn Hùng Sơn (Đại Từ); các phường Túc Duyên, Đồng Bẩm (T.P Thái Nguyên) Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ rau xanh với số lượng rất lớn trên địa bàn,tỉnh ta vẫn đang phải nhập các loại rau từ nơi khác, điều muốn nói ở đây là rau nhập phần lớn từ trung quốc, không kiểm soát được nguồn gốc, cũng như chất lượng rau.
Thành phố Thái Nguyên là Thành phố công nghiệp có tổng diện tích tự nhiên
18.970,48 ha, với dân số khoảng 33 vạn người Bên cạnh đó là các cơ quan xí nghiệp của trung ương, với các trường đại học, cao đẳng, trung cấp dạy nghề Đây là thị trường lớn để tiêu thụ nông sản đặc biệt là rau xanh Thành phố đã tiến hành quy hoạch và từng bước xây dựng các mô hình sản xuất rau thủy canh ở một số xã, phường.
Bảng 4.3: Diện tích, năng suất, sản lượng rau của tỉnh Thái Nguyên năm 2017
Diện tích canh tác Năng suất TB Sản lượng
(Nguồn: UBND tỉnh Thái Nguyên, 2017) Đối với thị trường rau Túc Duyên ở
TP Thái Nguyên qua các năm gần đây cho thấy sản lượng RAT giảm, nguyên nhân:
- Do thời tiết khí hậu không thuận lợi nên phát sinh nhiều sâu bệnh.
- Do kỹ thuật canh tác chưa đúng theo quy định vẫn sử dụng thuốc BVTV làm cho chất lượng rau không đảm bảo về chất lượng.
Sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP có chi phí lớn hơn so với sản xuất theo phương thức thông thường, năng suất lại giảm, khiến giá thành sản phẩm tăng lên Trong khi đó, sự khác biệt giữa rau sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP với rau làm theo lối truyền thống rất khó nhận biết bằng mắt thường.
“Theo thầy Nguyễn Thế Hùng Phó hiệu trưởng trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên cho biết: Sản xuất rau thủy canh có chi phí lớn hơn so với cách trồng rau an toàn ở ngoài đất, nhưng đổi lại đảm bảo an toàn về chất lượng và dinh dưỡng của rau.”
Do vậy trồng rau thủy canh là sự lựa chọn đang được đặt lên hàng đầu về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, Trồng được nhiều vụ, thời gian mỗi vụ dài hơn, có thể trồng trái vụ, không phải làm đất, không có cỏ dại, không cần tưới, không phải sử dụng thuốc trừ sâu bệnh và các hóa chất độc hại khác, năng suất cao vì có thể trồng liên tục, sản phẩm hoàn toàn sạch, đồng nhất Giàu dinh dưỡng và tươi ngon, không tích lũy chất độc, không gây ô nhiễm môi trường, không đòi hỏi lao động nặng nhọc, người già trẻ em đều có thể tham gia hiệu quả.
Trong thực tế trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là đơn vị tiên phong triển khai mô hình trồng 16 giàn ban đầu là rau muống thủy canh trong nhà kính, và hiện nay đã thử nghiệm thành công thêm nhiều loại rau khác nhau ngoài rau muống ra như rau cải các loại, rau húng, tía tô, rau, xà lách, mùi, cần tây, hành, hẹ…
“Theo Th.s Hà Việt Long cán bộ phụ trách kỹ thuật rau thủy canh (giảng viên phụ trách giảng dạy môn học Công nghệ cao) cho biết: Trồng rau thủy canh vừa tiết kiệm không gian, thời gian và thích hợp với nhà phố, chung cư Cách ly với nguồn sâu bệnh, nước ô nhiễm, tránh độc tố, thuốc trừ sâu.
Mô hình thủy canh thiết kế có thể trồng được nhiều loại rau ăn lá, ăn quả cùng một lúc trên một giàn và đặc biệt không bị ảnh hưởng nhiều bởi khí hậu. Đảm bảo nguồn Rau sạch – Dinh dưỡng – Tươi ngon cho từng bữa ăn của gia đình bạn.
Nhất là gia đình có con nhỏ, Đảm bảo Tuyệt đối Không Thuốc trừ sâu – Không hóa chất.
Hoàn toàn tự động không phải tốn công chăm sóc.
Bảo vệ con người và môi trường vì không sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc kích thích Thiết kế nơi trồng rau linh hoạt, phù hợp với diện tích, không gian chật hẹp của chung cư, nhà phố ở các thành phố lớn.”
Và hiện nay mô hình đã được trung tâm chuyển giao tới rất nhiều hộ gia đình, HTX, trang trại và các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, phần lớn trong số họ đang có nhu cầu nhân rộng, mở rộng mô hình và kinh doanh theo nhu cầu của người tiêu dùng mong muốn có cuộc sống chất lượng hơn nên họ chấp nhận trả giá cao hơn để có sản phẩm sạch phục vụ gia đình Đây là dấu hiệu ban đầu thấy được nhu cầu của người dân về rau sạch ngày một cao và trách nhiệm của các chuyên gia nông nghiệp trường Đại học Nông lâm trong phát triển nông nghiệp CNC.
Dưới đây là kết quả lấy ý kiến khảo sát của nhóm sinh viên thực tập và cán bộ chuyển giao kỹ thuật về lý do trồng RTC của 20 hộ trồng rau theo mô hình RTC trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên:
Bảng 4.4: Lý do trồng RTC của các hộ điều tra năm 2018
Nhu cầu trồng RTC tại nhà
Thử nghiệm phương pháp trồng rau CNC mới
Sở thích trồng cây, tạo khuôn viên đẹp và thư giãn
Theo bạn bè, hàng xóm
Sản xuất theo đơn đặt hàng của DN (Fujji fruit)
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2018) Nhìn chung, các hộ trồng RTC chủ yếu là xuất phát từ nhu cầu thật sự cần thiết về rau sạch được trồng tại nhà do thực trạng rau hiện nay đang sử dụng rất nhiều chất kích thích, gây nên tình trạng ngộ độc thực phẩm Ngoài ra, các hộ được phổ biến kiến thức về trồng RTC an toàn, thấy được các ưu điểm của phương pháp này nên đã trồng rau để thử nghiệm và khi nghe bạn bè giới thiệu thì một số hộ cũng đã trồng theo Bên cạnh đó cũng có một số hộ có sở thích trồng cây, muốn tạo cho khuôn viên quanh nhà đẹp đẽ và có thể thư giãn sau mỗi ngày làm việc mệt mỏi nên cũng trồng RTC Còn một số lý do khác: Nhu cầu kinh doanh, sản xuất theo đơn đặt hàng của Doanh nghiệp,… họ cũng trồng RTC nhưng tỷ lệ không nhiều. Theo TS Nguyễn Văn Tảo - hiệu trưởng trường Đại học Công nghệ thông tin & truyền thông Thái Nguyên cho biết: “Thái Nguyên có truyền thống trồng rau từ lâu đời, song phụ thuộc nhiều vào thời tiết, mùa vụ Tìm hiểu, được biết nhiều nước trên thế giới và cả Việt Nam đã thành công nhờ trồng rau thủy canh trong nhà lưới, nhà kính theo công nghệ Israel, mỗi năm có thể trồng 12 -15 lứa, năng suất cao, chất lượng đảm bảo Canh tác theo phương thức này mặc dù đòi hỏi chi phí lớn hơn, nhưng tôi muốn ở đây là yếu tố chất lượng, bảo vệ môi trường sinh thái, tiếp cận công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp và quan trọng hơn là đảm bảo nhu cầu rau sạch hàng ngày vì gia đình tôi có người già và trẻ em ….Chúng tôi đã áp dụng công nghệ này được gần 1 năm nay, do diện tích đất nhà tôi hẹp nên chúng tôi đã được tư vấn áp dụng trồng trên sân thượng và đến nay tôi thực sự rất hài lòng về phương pháp trồng RTC và rất cảm ơn các chuyên gia nông nghiệp trường ĐHNL Thái Nguyên đã chuyển giao, tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật rất nhanh, nhiệt tình, chu đáo và hiệu quả trong thời gian qua.”
Diện tích RTC của các hộ điều tra năm 2018 được thể hiện dưới bảng 4.5 như sau:
Bảng 4.5: Diện tích RTC của các hộ điều tra (n ) Loại rau
Rau, quả khác: Diếp cá, Răm, lá lốt, dưa lưới, dâu tây, ớt….
Qua bảng 4.5, ta thấy chủng loại RTC được trồng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên khá đa dạng, nhưng phần lớn là các loại rau cải, rau muống với tỷ lệ lên đến 100% Trung bình mỗi loại RTC có khoảng 11,2 hộ trồng với diện tích BQ/hộ là 6,9 m 2 Ngoài các loại rau trên, dâu tây, dưa lưới, ớt đã được các hộ thử nghiệm trồng theo phương pháp thủy canh, kết quả cho thấy cũng khá phù hợp tuy nhiên năng suất chưa cao như phương pháp trồng ngoài đồng ruộng, do vậy các chuyên gia nông nghiệp Đại học Nông lâm vẫn đang tiếp tục nghiên cứu để sản xuất ra dinh dưỡng phù hợp với các loại cây này, hy vọng sẽ được đưa vào sản xuất trong năm
2019 Đây là các loại cây mà đang được giá hơn cả, hơn nữa nếu trồng ngoài thì phải sử dụng rất nhiều công chăm sóc và hoá chất để cây phát triển tối đa.
4.2.2 Thị trường tiêu thụ RTC khi trồng rau của các hộ
Tiêu thụ sản phẩm là một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất Sản phẩm có tiêu thụ được thì sản xuất mới phát triển và ngược lại, sản phẩm không tiêu thụ được thì sẽ làm ngưng trệ quá trình sản xuất Tuy nhiên đối với riêng RTC tại thị trường Thái Nguyên thì do còn rất mới mẻ (RTC mới được cung cấp tại thị trường Thái Nguyên từ khi Vinmart mở cửa - sản phẩm rau của họ phần lớn là RTC), cho nên phần lớn các hộ, DN, HTX hiện đang sản xuất chỉ đủ để phục vụ tại gia và 1 phần rất nhỏ bán ra thị trường Mặc dù 1 số hộ lúc đầu sản xuất theo nhu cầu của họ về rau sạch xong khi sản xuất thì họ thấy năng suất cao, chất lượng tốt nên khách hàng tự tìm đến họ, lúc đầu chỉ là cho, tặng, biếu sau đó khách hàng đặt hàng tiêu thụ với số lượng không nhiều mỗi tuần Tuy nhiên các hộ trong tỉnh đã kết nối với nhau thông qua giới thiệu của các chuyên gia chuyển giao công nghệ trường Đại học Nông lâm để cùng nhau cung ứng RTC theo nhu cầu của khách hàng lẻ, và 1 số siêu thị sản phẩm sạch.
Đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất rau muống thủy canh tại nhà kính do
do trung tâm Ươm Tạo trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên
4.3.1 Hiệu quả kinh tế của rau thủy canh
Hiệu quả kinh tế là kết quả quan tâm lớn nhất của người dân đối với bất cứ mô hình nào, đây là 1 mô hình sản xuất rau sạch CNC đã được các nước phát triển trên thế giới áp dụng hàng chục năm nay, và phần lớn sản phẩm rau sạch tại các siêu thị lớn ở các thị trường khó tính này đều là RTC Ở Việt nam thì RTC đã có mặt trong hệ thống các siêu thị của Vincom, BigC Như vậy, chứng tỏ rằng chất lượngRTC đã được đảm bảo và mang lại hiệu quả kinh tế nhất định đối với mỗi quy mô khác nhau Tuy nhiên những ngày đầu khi mới bắt tay vào triển khai mô hình này,nhóm nghiên cứu gặp không ít những khó khăn từ việc xây dựng nhà kính, chất lượng rau không đạt theo ý muốn, bài toán về sản lượng, chuỗi cung ứng đến trở ngại thu hoach và vận chuyển rau tới siêu thị Khắc phục được tình trạng này sau gần 6 tháng thử nghiệm đến nay mô hình đã đi vào ổn định, là mô hình điểm với quy mô sản xuất rau hiện đại, an toàn nằm trong khuôn viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
4.3.1.1 Chi phí cho việc sản xuất
Bảng 4.8: Chi phí trồng 1 vụ của 16 giàn rau muống thủy canh Khoản mục
Giá thể xơ dừa Điện
Công chuyển cây giống lên giàn
Công chăm sóc (kiểm tra cây, nhặt sâu bệnh, quét dọn, lau giàn, bổ sung dinh dưỡng, nhập số liệu )
Chi phí khác (sửa hệ thống
(Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra, 2018) (Ghi chú: Giàn thuỷ canh được lắp đặt bằng chất liệu nhựa PVC (hay còn được gọi là máng thủy canh), bể chứa nước Sơn Hà nhựa PE-nhựa nguyên sinh 100%, thời gian sử dụng tối thiểu 10 năm, do nhà sản xuất đưa ra;bút đo TDS, PH thời gian sử dụng 5 năm)
Ngoài những trang thiết bị và dụng cụ trên thì trung tâm còn sử dụng thêm thiết bị Farm box, camera giám sát, thiết bị tự động hóa điều chỉnh dinh dưỡng, tự động đo PH, TDS Giúp chúng ta có thể điều khiển từ xa mọi hoạt động trong nhà kính (Internet kết nối vạn vật) Khi đó cây rau sẽ được tự động kiểm soát độ ẩm, lượng nước, ánh sáng, phân bón….Tất cả các thông tin của cây được truyền về hệ thống máy chủ và từ đây các chuyên gia có thể đưa ra những giải pháp cần thiết, kịp thời để rau quả có chất lượng tốt nhất khi đến tay người tiêu dùng Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đang theo đuổi giấc mơ về một nền nông nghiệp sạch, an toàn cho Người Việt.
Do thiết bị này được nhà cung cấp tặng dùng thử nghiệm nên tạm chưa đưa vào chi phí.
Nhìn chung chi phí cho 16 giàn rau muống thủy canh không quá cao Cụ thể như sau:
Về chi phí: Là khoản đầu tư cho hạt giống, dinh dưỡng, giá thể xơ dừa,…Chi phí cho 16 giàn rau muống của nhà kính năm 2018 là 8.116.000đ Trong đó đầu tư cho dinh dưỡng là cao nhất,với số tiền là 5.200.000đ , chiếm 64,07% trong tổng chi phí vật chất bỏ ra Tiếp đó là đầu tư cho giá thể xơ dừa là 2.394.000 (chiếm 29,5%), đầu tư cho nước là 224.000đ (chiếm 2,8%), đầu tư cho điện là 198.000đ (chiếm 2,44%), còn lại là khoản chi phí cho hạt giống là 100.000đ (chiếm 1,22%).
Sử dụng 100% công lao động là thuê sinh viên trong trường để tạo thêm thu nhập cho sinh viên, tạo điều kiện cho các bạn có môi trường thực hành về chuyên môn ứng dụng trong thực tế sản xuất.
Về công lao động: Chi phí công lao động cho 16 giàn rau cũng không quá cao, 16 giàn rau cần số công lao động bao gồm: Công ươm giống với chi phí cho 4,5 công lao động là 100.000đ/công thì chi phí đó là 450.000đ Công chăm sóc với số chi phí cho công (1,5 giờ/ngày x70 ngày) 13 công lao động là 100.000đ thì chi phí đó là 1.300.000đ, công thu hoạch với chi phí là 1 công/9 lần thu hoạch được 9 công lao động là 100.000đ thì số chi phí đó là 900.000đ,công đóng gói75kg/giờ/công là 1 công x 9 lần thì số công lao động là 100.000đ thì chi phí đó là900.000đ, công giao hàng với chi phí cho 2 ngày lao động là 100.000đ/công thì chi phí đó là 200.000đ Chi phí khác với chi phí cho 5 công lao động là 100.000đ/công thì chi phí đó là 500.000đ Tuy nhiên trong quá trình sản xuất thì nhà đầu tư chủ yếu sử dụng là thuê công lao động.
4.3.1.2 Doanh thu sản xuất 16 giàn rau muống thủy canh tại nhà kính trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2018
Tại nhà kính của Trường Đại Học Nông Lâm Thái nguyên với tổng diện tích là 160 m 2 , có 16 giàn rau muống thủy canh Tại thời điểm mô hình thu hoạc rau thủy canh tại nhà kính được 6 lần/ 70 ngày thi đạt 478.1kg với giá bán là 35.000đ tại cửa hàng Fuji.
Thì doanh thu đạt được là 16.735.053đ.
Trong đó, mô hình thu hoạch được 9 lứa/70 ngày với sản lượng là 580.5 kg với giá bán là 35.000đ/kg (giá bán tại cửa hàng Fuji).
=> Vậy doanh thu đạt được là 20.317.500đ Mặt khác, phụ phẩm từ trồng rau như thân, lá úa,…còn dùng làm thức ăn cho gia súc.
“Theo cô Lý Thị Thùy Dương các bộ trung tâm ươm tạo cho biết: chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được người tiêu dùng quan tâm Do đó, để người dân có thể an tâm trong quá trình sử dụng rau thủy canh là vô cùng quan trọng. Thị trường đầu ra cho rau thủy canh đang được phát triển quảng bá và phát triển ở 1 số chuỗi của hàng rau hoa quả sạch Fuji, siêu thị lan chi mart và 1 số các siêu thị khác để cung ứng nguồn rau an toàn cho người tiêu dùng trong tỉnh.”
Trong 1 vụ rau muống thủy canh có thể sử dụng kéo dài thời gian rau khoảng 5-6 tháng lãi suất sẽ tăng gấp 2-3 lần Do đang trong quá trình thử nghiệm nên chỉ để 70 ngày.
Trồng rau bằng phương pháp trồng đất với phương pháp trồng rau thủy canh thì thời gian trồng bằng phương pháp thủy canh 1 vụ kéo dài gấp 2 lần so với phương pháp trồng đất, năng suất tăng gấp nhiều lần so với trồng đất.
4.3.1.3 Hiệu quả về mặt kinh tế của rau muống thủy canh
Qua bảng 4.8 và doanh thu sản xuất 16 giàn rau muống thủy canh cho thấy việc trồng rau thủy canh không tốn nhiều chi phí mà mang lại hiệu quả khá cao. Để thấy rõ hiệu quả sản xuất của rau thủy canh ta có thể thông qua các chỉ tiêu sau:
Bảng 4.9: Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế của rau muống thủy canh trên 16 giàn của nhà kính trường đại học nông lâm Thái Nguyên tại thời điểm hòa vốn
Giá trị sản xuất (GO)
Chi phí trung gian (IC)
Giá trị tăng thêm (VA)
Thu nhập hỗn hợp (MI)
Qua bảng 4.9 ta thấy: Tổng giá trị sản xuất (GO) là 16.735.035đ chi phí trung gian (IC) là 8.116.000đ Gía trị tăng thêm (VA) là 8.619.053đ Thu nhập hỗn hợp (MI) là 4.400.000đ Tổng chi phí (TC) là 16.735.053đ.
Lợi nhuận thu được là 0đ Tại thời điểm hiện tại đang hòa vốn.
Bảng 4.10: Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế của rau muống thủy canh trên 16 giàn của nhà kính trường đại học nông lâm Thái Nguyên
Giá trị sản xuất (GO)
Chi phí trung gian (IC)
Giá trị tăng thêm (VA)
Thu nhập hỗn hợp (MI)
Giá trị gia tăng theo chi phí trung gian (VA/IC)
Giá trị sản xuất trên chi phí trung gian (GO/IC)
Thu nhập hỗn hợp trên chi phí trung gian (MI/IC)
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, 2018)
Qua bảng 4.9 ta thấy: Tổng giá trị sản xuất (GO): Tổng bán rau thủy canh là16.735.035đ chi phí trung gian (IC) gồm các khoản chi phí về giống, sơ dừa, dinh dưỡng, thì giá chi phí khá cao là 8.116.000đ.Giá trị tăng thêm (VA) là 8.619.053đ.
Thu nhập hỗn hợp (MI) là 4.400.000đ Tổng chi phí (TC) là 16.735.053đ Do chi phí ban đầu khá cao nên lợi nhuận sẽ được ít.
Về Lợi nhuận thu được từ sản xuất rau thủy canh là 3.582.447đ giá trị sản xuất trừ đi tổng chi phí.
Chỉ tiêu giá trị tăng thêm trên chi phí trung gian cho biết khi đầu tư thêm một đồng chi phí thì giá trị tăng thêm khi trồng rau thủy canh là 1,5 nghìn đồng Tổng giá trị sản xuất trên chi phí trung gian cho biết nếu bỏ ra một đồng chi phí đầu tư cho rau thủy canh thu về được 2,5 nghìn đồng Thu nhập hỗn hợp trên chi phí trung gian là 0,98 nghìn đồng.
Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ ảnh hưởng tới sự phát triển rau thủy canh tại tỉnh Thái Nguyên
4.4.1 Đối với mô hình nhà kính Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
- Có đội ngũ giảng viên chuyên gia về công nghệ cao, được đào tạo từ các nước phát triển.
- Có nguồn lao động sẵn có là sinh viên thực tập.
- Hệ thống phù hợp với nhiều loại rau, quả khác nhau.
- Mô hình đặt tại vị trí thuận lợi cho việc đón tiếp các đoàn tham quan, học hỏi kinh nghiệm, phân phối rau cho các siêu thị, cửa hàng và cá nhân người tiêu dùng.
- Nhà nước hỗ trợ các đề tài, dự án liên quan đến sản xuất nông nghiệp CNC.
- Chưa có đội ngũ chuyên lắp đặt hệ thống nhà kính.
- Chưa có đội ngũ lắp đặt giàn thuỷ canh (đang thuê ngoài).
- Nhà kính hiện tại đã qua sử dụng lâu năm và thiết kế chưa phù hợp tiêu chuẩn.
Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh phát triển sản xuất rau thủy canh, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người trồng rau
- Tiếp tục phát triển và chuyển giao khoa học công nghệ tới các hộ gia đình, trang trại, HTX và các doanh nghiệp.
- Việc mở rộng sản xuất cần có quy hoạch hợp lý để đảm bảo cân đối giữa cơ cấu cây trồng với thiết kế nhà kính.
- Củng cố mạng lưới bán RTC qua siêu thị, cửa hàng hoặc quầy hàng chuyên doanh rau quả Đây là mạng lưới bán RTC an toàn bấy lâu nay được tin cậy hơn cả, cần tiếp tục duy trì và mở rộng.
- Giải pháp then chốt để mở rộng sản xuất và tiêu thụ RTC là xúc tiến nhanh việc thiết lập và đăng kí thương hiệu RTC an toàn.
* Tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật
- Nhà trường cần tăng cường mở tập huấn các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất RTC cho các cán bộ xã, chủ các HTX, Trang trại, hộ gia đình quan tâm, chuyển giao, ứng dụng các giống rau mới có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.
- Xây dựng bộ tài liệu về sản xuất nông nghiệp CNC và nhân rộng mô hình sản xuất RTC hướng dẫn nông dân thực hiện.
- Tổ chức tập huấn quy trình sản xuất RTC, hướng dẫn ứng dụng các phần mềm hỗ trợ, giám sát nhằm tiết kiệm thời gian tối đa cho đơn vị sản xuất.
- Hướng dẫn đơn vị sản xuất cách phòng trừ sâu bệnh bằng sử dụng dung dịch hữu cơ tự chế từ thiên nhiên: tỏi, ớt, gừng, rượu, và nguyên tắc sử dụng dinh dưỡng, cách ghi chép sổ sách.
Nhà trường cần phối hợp các đề tài, dự án để hỗ trợ đặc biệt cho các HTX,Trang Trại trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, đảm bảo đầu ra cho họ để họ yên tâm tham gia sản xuất.
Nhà nước cần quan tâm nhiều hơn trong sản xuất nông nghiệp sạch thông qua các chính sách hỗ trợ cho nông dân trong việc tham gia, nhân rộng và chăm sóc rau, như là: Chính sách cho vay ngắn hạn với chính sách ưu đãi.
* Sản xuất và tiêu thụ
- Đẩy mạnh việc liên kết, gắn kết chặt chẽ 4 nhà để xây dựng kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trên cơ sở đó khuyến cáo và hướng dẫn hộ nông dân triển khai gieo trồng ngay tại nhà, đa dạng hóa sản phẩm phù hợp với thị trường tiêu thụ và ổn định thu nhập cho hộ nông dân.
- Thực hiện tốt công tác vệ sinh các giàn, hoạt động tưới tiêu, vệ sinh nơi gieo trồng đảm bảo phục vụ sản xuất.
- Quản lý chặt chẽ, thường xuyên việc thực hiện sản xuất rau theo mô hình thủy canh, ghi chép sổ sách, sử dụng bao bì, nhãn biệu sản phẩm để phát triển thương hiệu, tạo sự yên tâm cho người tiêu dùng sử dụng sản phẩm rau an toàn Thái Nguyên.
- Lấy mẫu và phân tích sản phẩm làm cơ sở quản lý chất lượng sản phẩm rau thủy canh an toàn.
- Tranh thủ các đợt xúc tiến thương mại theo chương trình của tỉnh để quảng bá sản phẩm rau thủy canh an toàn.
- Xây dựng các cơ chế chính sách hỗ trợ khu vực vùng mở sản xuất rau thủy canh an toàn, đáp ứng cho sản xuất và ứng dụng tiến bộ trên các giàn rau thủy canh.