1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn toán của giáo viên trung học cơ sở​

214 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 214
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VŨ MINH PHƯƠNG ẢNH HƯỞNG CỦA YÊU CẦU CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN ĐẾN VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN CỦA GIÁO VIÊN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ MINH PHƯƠNG

ẢNH HƯỞNG CỦA YÊU CẦU CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN ĐẾN VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ (Nghiên cứu trường hợp tại địa bàn Thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ

TRONG GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ MINH PHƯƠNG

ẢNH HƯỞNG CỦA YÊU CẦU CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN ĐẾN VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ (Nghiên cứu trường hợp tại địa bàn Thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ

TRONG GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC

Mã số: 8140115

Người hướng dẫn khoa học: TS Tạ Thị Thu Hiền

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Tạ Thị Thu Hiền – người hướngdẫn khoa học cho đề tài luận văn của tôi Những định hướng, chỉ bảo, hỗ trợ kịpthời của cô đã giúp tôi vượt qua những khó khăn và có thêm nghị lực để hoàn thànhnhiệm vụ nghiên cứu đề ra

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy/Cô tại Khoa Quản trị Chất lượng, trườngĐại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tận tình chỉ bảo cũng như giúp đỡ,chia sẻ kinh nghiệm trong suốt quá trình tôi học tập, nghiên cứu tại nhà trường

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu, quý Thầy/Cô cũng nhưcác em học sinh tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn Thành phố Hà Nội, cácbạn đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập dữ liệu cũngnhư cung cấp những tư liệu cần thiết và có những ý kiến đóng góp quý báu cho luậnvăn này

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình đã tạo điều kiện và khuyếnkhích động viên trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Hà Nội, ngày 17 tháng 12 năm 2019

Tác giả

Vũ Minh Phương

Trang 4

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chínhbản thân thôi và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào củangười khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực trong nội dungluận văn của mình

Hà Nội ngày 17 tháng 12 năm 2019

Tác giả luận văn

Vũ Minh Phương

Trang 5

: Công nghệ thông tin và truyền thông: Cơ sở giáo dục

: Cơ sở vật chất: Độ lệch chuẩn: Giáo dục và đào tạo: Giáo dục phổ thông: Giáo viên

: Học sinh: Hoạt động dạy học: Khoa học và công nghệ: Kiểm tra-đánh giá: Phương pháp dạy học: Quá trình dạy học: Điểm trung bình: Trung học cơ sở: Thành phố

: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc

(The United Nations Educational, Scientific and CulturalOrganization)

Trang 6

Danh mục bảng

Bảng 1.1 Một số kỹ năng cần được đào tạo để phát triển năng lực ứng dụng CNTT

trong tổ chức dạy học cho giáo sinh 9

Bảng 1.2 Tiêu chuẩn năng lực CNTT dành cho GV Hàn Quốc 29

Bảng 1.3 Nội dung Chuẩn NNGV theo Thông tư 20/2018/TT-BGD&ĐT 32

Bảng 1.4 Nội dung yêu cầu Chuẩn về ứng dụng CNTT trong dạy học (Chuẩn NNGV 2009 và 2018) 35

Bảng 2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 52

Bảng 2.2 Cấu trúc phiếu khảo sát GV (chính thức) 62

Bảng 2.3 Số lượng phiếu khảo sát GV và HS trong nghiên cứu 64

Bảng 2.4 Kiểm định độ tin cậy thang đo phiếu khảo sát GV 65

Bảng 2.5 Kiểm định độ tin cậy thang đo phiếu khảo sát HS 66

Bảng 2.6 Số lượng HT, TTCM, GV Toán tham gia phỏng vấn 67

Bảng 3.1 Thống kê ý kiến GV về các hoạt động nhà trường thực hiện để thúc đẩy GV ứng dụng CNTT vào dạy học 71

Bảng 3.2 Thống kê GV theo mức độ hiểu biết và triển khai thực hiện yêu cầu Chuẩn 81 Bảng 3.3 Thực trạng tìm hiểu và thực hiện yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học theo Chuẩn NNGV 82

Bảng 3.4 Các nguồn mà GV biết đến yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học 84

Bảng 3.5 Thống kê văn bằng, chứng chỉ kỹ năng CNTT đã đạt của GV 86

Bảng 3.6 Mức độ thực hiện yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung theo Chuẩn NNGV 88

Bảng 3.7 Mức độ thực hiện yêu cầu Chuẩn của GV chưa thực hiện-đã thực hiện Chuẩn (% lựa chọn mỗi mức 1-3) 90

Bảng 3.8 Kết quả kiểm định sự khác biệt mức độ thực hiện yêu cầu Chuẩn theo từng nhóm hoạt động giữa GV chưa thực hiện và đã thực hiện Chuẩn 94

Bảng 3.9.Mức độ thực hiện các kỹ năng ứng dụng CNTT trong dạy học giữa nhóm GV chưa thực hiện và đã thực hiện yêu cầu Chuẩn 96

Trang 7

Danh mục hình vẽ

Hình 1.1 Khung năng lực ICT phiên bản 3 dành cho GV của UNESCO 26

Hình 1.2 Khung châu Âu về năng lực kỹ thuật số của các nhà giáo dục 27

Hình 1.3 Khung lý thuyết của đề tài 46

Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu của đề tài 50

Hình 3.1 Thống kê % GV ghi nhận các hoạt động được nhà trường thực hiện để thúc đẩy GV ứng dụng CNTT vào dạy học (theo loại hình trường) 77

Hình 3.2 Thống kê % GV ghi nhận các hoạt động được nhà trường thực hiện để thúc đẩy GV ứng dụng CNTT vào dạy học (theo khu vực trường) 79

Hình 3.3 Thống kê tỉ lệ GV theo mức độ hiểu biết và thực hiện yêu cầu Chuẩn 82

Hình 3 4 Mức độ thực hiện các hoạt động ứng dụng CNTT vào dạy học nói chung của nhóm GV chưa thực hiện và đã thực hiện yêu cầu Chuẩn 89

Hình 3.5 Mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học giữa GV chưa thực hiện và đã thực hiện yêu cầu Chuẩn (theo từng khâu của QTDH) 94

Hình 3.6 Phân loại mẫu theo mức độ thực hiện yêu cầu Chuẩn NNGV 102

Hình 3.7 Mức độ ứng dụng CNTT trong Chuẩn bị các HĐDH của GV trước và sau khi thực hiện yêu cầu Chuẩn 103

Hình 3 8 Mức độ ứng dụng CNTT vào Tổ chức thực hiện các HĐDH của GV trước và sau khi thực hiện yêu cầu Chuẩn 105

Hình 3 9 Mức độ ứng dụng CNTT trong Quản lý người học, hồ sơ dạy học của GV trước và sau khi thực hiện yêu cầu Chuẩn 107

Hình 3 10 Sự thay đổi mức độ thực hiện các kỹ năng ứng dụng CNTT vào dạy học của GV trước và sau khi thực hiện yêu cầu Chuẩn 108

Hình 3.11 Sự thay đổi mức độ ứng dụng CNTT vào dạy học của GV trước và sau khi thực hiện yêu cầu Chuẩn (theo nhóm các kỹ năng) 110

Trang 8

Danh mục hộp ý kiến

Hộp 3.1 Ý kiến của HT về việc lập kế hoạch, ban hành quy định ứng dụng CNTTtrong nhà trường 72

Hộp 3.2 Ý kiến của HT, GV về việc ứng dụng CNTT trong dạy học Toán 100

Hộp 3.3.Ý kiến của HT, GV về sự thay đổi mức độ ứng dụng CNTT trong dạy họcToán của GV 112

Trang 9

Mục lục

Danh mục bảng iv

Danh mục hình vẽ v

Danh mục hộp ý kiến vi

Mục lục vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 4

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5

6 Phạm vi nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 6

8 Những đóng góp của luận văn 6

9 Kết cấu của luận văn 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 8

1.1.1 Các nghiên cứu về thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học 8

1.1.1.1 Trong dạy học nói chung 8

1.1.1.2 Trong dạy học môn Toán 12

1.1.2 Một số nghiên cứu về Chuẩn năng lực CNTT dành cho giáo viên 14

1.2 Một số khái niệm 17

1.2.1 Đánh giá – Tự đánh giá 17

1.2.2 Năng lực – Năng lực giáo viên 18

1.2.3 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên 20

1.2.4 Công nghệ thông tin và Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 22

1.3 Yêu cầu về năng lực ứng dụng CNTT dành cho giáo viên 25

1.3.1 Trên thế giới 25

1.3.2 Ở Việt Nam 31

1.3.2.1 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông ở Việt Nam 31

1.3.2.2 Yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học theo Chuẩn NNGV 35

1.4 Ứng dụng CNTT trong dạy học Toán ở trường phổ thông 39

1.4.1 Yêu cầu đổi mới dạy và học Toán trong nhà trường phổ thông đáp ứng Chương trình Giáo dục phổ thông mới (2018) 39

1.4.2 Vai trò của CNTT trong dạy và học Toán ở trường phổ thông 41

1.4.3 Một số thiết bị, phần mềm công nghệ cơ bản phục vụ dạy và học Toán ở trường phổ thông hiện nay 44

Trang 10

1.5 Khung lý thuyết của đề tài 45

Tiểu kết Chương 1 46

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48

2.1 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 48

2.2 Tổ chức nghiên cứu 49

2.2.1 Quy trình nghiên cứu 49

2.2.2 Chọn mẫu nghiên cứu 51

2.2.3 Xây dựng công cụ nghiên cứu 53

2.2.3.1 Công cụ nghiên cứu định tính 53

2.2.3.2 Công cụ nghiên cứu định lượng 54

2.3 Các phương pháp thu thập thông tin 63

2.3.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 63

2.3.2 Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc 66

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 67

2.3.4 Phương pháp chuyên gia 68

2.4 Phân tích và xử lý dữ liệu 68

Tiểu kết Chương 2 lxx CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 71

3.1 Thực trạng triển khai yêu cầu ứng dụng CNTT theo Chuẩn NNGV tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn Thành phố Hà Nội 71

3.1.1 Cấp độ nhà trường 71

3.1.1.1 Đánh giá chung 71

3.1.1.2 So sánh theo loại hình trường (công lập - tư thục) 76

3.1.1.3 So sánh theo khu vực (nội thành - ngoại thành) 78

3.1.2 Việc thực hiện của giáo viên 81

3.1.2.1 Mức độ hiểu biết và thực hiện yêu cầu Chuẩn về ứng dụng CNTT trong dạy học 81

3.1.2.2 Nguồn mà GV biết đến yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học 84

3.1.2.3 Văn bằng/chứng chỉ trình độ kỹ năng CNTT 86

3.1.2.4 Mức độ thực hiện các nội dung yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học Toán nói chung 87

3.1.2.5 Mức độ ứng dụng CNTT vào dạy học Toán của GV 92

3.2 Ảnh hưởng của yêu cầu Chuẩn NNGV đối với việc ứng dụng CNTT trong dạy học Toán của giáo viên Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội 98

3.2.1 Sự thay đổi về nhận thức của giáo viên 98

3.2.2 Sự thay đổi mức độ thực hiện các kỹ năng ứng dụng CNTT vào dạy học của giáo viên 101

3.2.2.1 Các kỹ năng ứng dụng CNTT vào Chuẩn bị các hoạt động dạy học 103

Trang 11

3.2.2.2 Các kỹ năng ứng dụng CNTT vào Tổ chức thực hiện các hoạt động

dạy học 104

3.2.2.3 Các kỹ năng ứng dụng CNTT vào quản lý người học, hồ sơ dạy học 106 3.2.2.4 Đánh giá chung 108

3.2.3 Kiểm định một số giả thuyết 112

Tiểu kết Chương 3 113

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 116

1 Kết luận 116

2 Khuyến nghị 117

3 Hạn chế của đề tài 118

4 Những hướng nghiên cứu tiếp theo 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Toàn cầu hóa cùng với tác động của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4(CMCN 4.0) đã đem đến nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia trên conđường hội nhập, trong đó lĩnh vực giáo dục và khoa học – công nghệ đã và đangđược đặt vào một vị trí hoàn toàn khác Giáo dục giờ đây trở thành động lực pháttriển xã hội “Thông qua việc cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, giáo dục –đào tạo cùng với khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,làm ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, có giá trị cao” (Nguyễn ĐứcChính, 2017, tr.2) Giờ đây, CNTT trở thành một phương tiện quan trọng hỗ trợ mọihoạt động của con người, trong lĩnh vực giáo dục thì đây lại là một công cụ có tínhkết nối cao, giúp kéo lớp học ra khỏi bốn bức tường, đưa thế giới vào với lớp học,

hỗ trợ và làm sinh động hơn các hoạt động dạy và học Giáo dục do đó cần đón đầu

xu hướng phát triển, làm thế nào để thực sự nâng cao hiệu quả học tập của ngườihọc thông qua việc ứng dụng các thành tựu mới của CNTT vào quá trình dạy và họcđang là một vấn đề thiết thực cần được xem xét

Việt Nam đang trong giai đoạn tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện giáo dụctheo hướng hiện đại hóa để có thể bắt kịp xu thế phát triển thế giới, tạo ra nguồn nhânlực chất lượng cao đủ năng lực hội nhập quốc tế Cuộc cách mạng công nghệ số -CMCN 4.0 - đã, đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống,

do đó đào tạo được nguồn nhân lực có năng lực CNTT tốt là một trong những nhiệm vụcấp thiết của ngành giáo dục trong tiến trình đổi mới Vấn đề này đã được Đảng, Nhànước ta hết sức quan tâm, đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáodục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Đổi mới căn bản và toàndiện GD&ĐT phải gắn chặt với việc nâng cao, tăng cường ứng dụng CNTT hơn lúcnào hết Ứng dụng CNTT cần gắn liền với tất cả các lĩnh vực của ngành giáo dục, từcông tác quản lý, hoạt động dạy và học cho tới nghiên

Trang 13

cứu khoa học Do đó, một trong những giải pháp hàng đầu được Nghị quyết 29 xác

định rõ đó là: “[…] Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy

và học” Trong suốt những năm qua, ứng dụng CNTT trong dạy học cũng như các hoạt

động khác trong ngành giáo dục luôn được quan tâm, chú trọng Thông tư BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành ngày 11/03/2014 quy định rõChuẩn kỹ năng sử dụng Công nghệ thông tin áp dụng đối với tất cả cơ quan, tổ chức, cánhân tham gia trực tiếp hoặc có liên quan đến hoạt động đánh giá kỹ năng sử dụngCNTT Chuẩn này mô tả rõ những kỹ năng cơ bản và nâng cao cụ thể cần đạt để mỗi cánhân tự đánh giá, điều chỉnh, cải thiện năng lực ứng dụng CNTT trong học tập, laođộng và đời sống cá nhân, là định hướng kỹ năng kỹ thuật số trong thời đại bùng nổCNTT Ngày 25/01/2017, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường ứngdụng CNTT trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học gópphần nâng cao chất lượng GD&ĐT giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”(Đề án 117) Trong ngành giáo dục, năm học 2008 – 2009, Bộ Giáo dục và đào tạo (BộGD&ĐT) đã phát động “Năm học CNTT” nhằm tạo ra bước đột phá trong đổi mới giáodục Kể từ đó, Bộ GD&ĐT đều có văn bản hướng dẫn Sở GD các địa phương thực hiệnnhiệm vụ CNTT từng năm học, triển khai phù hợp với tình hình thực tế của địa phương

03/2014/TT-mình, trong đó chú trọng hai nhiệm vụ là “ứng dụng CNTT hỗ trợ đổi mới nội dung, phương pháp dạy, học và kiểm tra đánh giá”, và “tăng cường bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục” Ngày 23/05/2017, Bộ GD&ĐT

tiếp tục ban hành Kế hoạch số 345/KH-BGDĐT thực hiện Đề án 117 đối với các đơn vịthuộc, trực thuộc Bộ Điều này cho thấy rõ, các cấp, các ngành đều rất quan tâm đếnviệc ứng dụng CNTT nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động, đặc biệt là lĩnh vựcgiáo dục – đào tạo

Yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học không hề mới đối với GV nói chung

và GV dạy Toán cấp THCS nói riêng Tuy nhiên trong thực tế, GV biết đến nhưngchưa nhận thức rõ yêu cầu này là một trong những năng lực nghề nghiệp cần thiết.Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông [31](sau đây gọi chung là Chuẩn NNGV 2009) quy định về năng lực dạy học của GV(Tiêu chuẩn 3) tại tiêu chí 12, như sau: “Sử dụng các phương tiện dạy học làm tăng

Trang 14

hiệu quả dạy học”, trong đó đánh giá cao “việc sử dụng một cách sáng tạo các phương tiện dạy học truyền thống kết hợp với sử dụng máy tính, mạng Internet và các phương tiện hiện đại khác; biết cải tiến phương tiện dạy học và sáng tạo những phương tiện dạy học mới” [33] Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ

thông [38] (sau đây gọi chung là Chuẩn NNGV 2018) mới ban hành, quy định rõ:Ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạyhọc, giáo dục là một trong những năng lực nghề nghiệp bắt buộc đối với GV, nângmức độ đòi hỏi GV từ mới tiếp cận, bước đầu áp dụng CNTT vào dạy học theoChuẩn 2009 sang ứng dụng hiệu quả để đáp ứng được quá trình dạy học Yêu cầunày vừa là một trong những căn cứ đánh giá GV trong quá trình nâng cao chấtlượng giáo dục, vừa tạo động lực thúc đẩy mỗi cá nhân liên tục học hỏi, đổi mới,ứng dụng, chuyển giao CNTT một cách phù hợp và hiệu quả trong thực tiễn côngtác của mình Trong những năm qua, GV trên khắp các tỉnh, thành cả nước, đặc biệt

là GV Toán THCS đã bước đầu ứng dụng CNTT trong dạy học và đạt được nhữngkết quả tích cực Bên cạnh đó, cũng còn nhiều hạn chế, bất cập trong khâu tiến hànhkhiến cho việc thực hiện yêu cầu này vẫn chưa phát huy được hết ưu điểm, cải thiệnchất lượng hoạt động dạy và học GV ở bất kỳ cấp học, môn học nào cũng cần nhậnthức việc nâng cao năng lực ứng dụng CNTT trong dạy học nói riêng và các hoạtđộng chuyên môn khác nói chung là một trong những nhiệm vụ quan trọng trongviệc phấn đấu đạt Chuẩn NNGV Chất lượng đội ngũ GV sẽ quyết định chất lượngsản phẩm giáo dục, chính là người học

Thủ đô Hà Nội là nơi đi đầu về việc tiếp cận các chính sách, văn bản quy chuẩn,

có 306 100 GV THCS đang trực tiếp tham gia giảng dạy trên địa bàn (tính đến ngày30/9/2018, số liệu từ Tổng cục thống kê) Trong quá trình triển khai thực hiện ChuẩnNNGV, CBQL, GV ở các CSGD mới chỉ tham gia đánh giá việc GV có hay không ứngdụng CNTT thông qua đánh giá GV cuối năm, việc đánh giá những thay đổi của GVkhi thực hiện Chuẩn trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học để có những giải pháp,điều chỉnh phù hợp vẫn chưa được triển khai đầy đủ Đã có nhiều nghiên cứu ở nước ta

đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý việc ứng dụng CNTT trong dạyhọc, hoặc các biện pháp tăng cường kỹ năng ứng dụng

Trang 15

CNTT trong dạy học đối với GV từng bộ môn, nhưng chưa có nhiều đề tài nghiêncứu về đánh giá ảnh hưởng của yêu cầu Chuẩn NNGV đối với việc ứng dụng CNTT

trong dạy học của GV THCS, đặc biệt là dạy học Toán Đề tài “Ảnh hưởng của

yêu cầu Chuẩn nghề nghiệp giáo viên đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán của giáo viên trung học cơ sở” (nghiên cứu trường hợp tại địa bàn TP Hà Nội) sẽ làm rõ những thay đổi, chuyển biến trong việc ứng dụng

CNTT trong dạy học môn Toán của GV THCS khi thực hiện yêu cầu Chuẩn NNGV

2018, từ đó cung cấp căn cứ để triển khai các hoạt động hỗ trợ GV thực hiện hiệuquả hơn yêu cầu Chuẩn, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, chất lượnggiáo dục của toàn hệ thống

2 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá ảnh hưởng của yêu cầu Chuẩn NNGV đến việc ứng dụng CNTTtrong dạy học Toán của GV THCS, từ đó đề xuất các biện pháp triển khai thực hiệnChuẩn NNGV hiệu quả hơn, góp phần nâng cao năng lực ứng dụng CNTT trongdạy học nói riêng, năng lực nghề nghiệp của GV nói chung

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ:

- Nghiên cứu lý luận về yêu cầu Chuẩn NNGV dành cho GV phổ thông; xácđịnh mối liên hệ giữa yêu cầu của Chuẩn và việc ứng dụng CNTT trong dạy học đốivới GV dạy Toán THCS

- Nghiên cứu về thực trạng yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học theo Chuẩn NNGV tại các trường THCS và của GV dạy Toán trên địa bàn TP Hà Nội

- Xác định những ảnh hưởng của yêu cầu Chuẩn NNGV đến việc ứng dụng CNTT vào dạy học môn Toán của GV THCS trên địa bàn TP Hà Nội

- Đề xuất các giải pháp để thực hiện hiệu quả hơn các yêu cầu Chuẩn NNGV,việc ứng dụng CNTT trong dạy học Toán nói riêng, dạy học nói chung đối với GV

THCS trên địa bàn TP Hà Nội

4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Trang 16

Đề tài tập trung giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:

1 Các nhà trường và GV dạy Toán cấp THCS trên địa bàn TP Hà Nội đã triển khai thực hiện yêu cầu ứng dụng CNTT theo Chuẩn NNGV như thế nào?

2 Yêu cầu Chuẩn NNGV ảnh hưởng đến việc ứng dụng CNTT trong dạy họcToán của GV THCS trên địa bàn TP Hà Nội như thế nào?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

1 Yêu cầu ứng dụng CNTT theo Chuẩn NNGV đã được các nhà trường, GV dạy Toán cấp THCS trên địa bàn TP Hà Nội đã triển khai thực hiện đầy đủ

2 Yêu cầu Chuẩn NNGV đã có ảnh hưởng đến nhận thức cũng như hoạt động

ứng dụng CNTT trong dạy học Toán của GV THCS trên địa bàn TP Hà Nội

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của yêu cầu Chuẩn NNGV đến việc ứng

dụng CNTT trong dạy học Toán của GV THCS trên địa bàn TP Hà Nội

5.2 Khách thể nghiên cứu: GV dạy Toán tại các trường THCS trên địa bàn TP Hà

- Nghiên cứu ba khâu của quá trình dạy học Toán có ứng dụng CNTT baogồm: (1) Chuẩn bị các hoạt động dạy học; (2) Tổ chức thực hiện các hoạt động dạy học;(3) Quản lý người học, hồ sơ dạy học

Trang 17

- Tập trung lấy ý kiến phản hồi của học sinh các khối lớp 8, 9 ở trường THCS tiến hành khảo sát trong điều kiện cho phép.

6.3 Về thời gian:

- Trong điều kiện được cho phép, tiến hành nghiên cứu các văn bản Hướng dẫn,

Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2019-2020, báo cáo tự đánh giá cuối năm

học 2018-2019, văn bản liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học củaPhòng GD&ĐT, các trường THCS được khảo sát

- Thu thập dữ liệu khảo sát được thực hiện trong thời gian từ tháng 10/2019đến hết tháng 11/2019

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, các công trình trongnước và trên thế giới có liên quan đến đề tài, sau đó phân tích, phân loại, tổng hợp,khái quát hóa để rút ra các kết luận làm cơ sở lý luận cho đề tài

- Tiến hành nghiên cứu các văn bản quy định các cấp, các Hướng dẫn, Thông

tư, Kế hoạch, Báo cáo tổng kết trong năm học 2018-2019, triển khai thực hiệnnhiệm vụ năm học 2019-2020 của ngành giáo dục (cấp Bộ, Sở, Phòng) và các vănbản được ban hành nội bộ liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở cáctrường THCS trong nghiên cứu với điều kiện được sự đồng ý tham khảo, sử dụng

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp chuyên gia;

- Phương pháp điều tra khảo sát (sử dụng bảng hỏi để thu thập thông tin, dữliệu) kết hợp nghiên cứu hồ sơ, tài liệu;

- Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc;

- Phương pháp thống kê Toán học (sử dụng phần mềm Excel, SPSS để nhập liệu, xử lý và phân tích số liệu)

8 Những đóng góp của luận văn

Góp phần khẳng định ảnh hưởng của yêu cầu Chuẩn NNGV 2018 tới việc nâng cao năng lực ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán của GV THCS, từ đó đề

Trang 18

xuất giải pháp để tăng cường hiệu quả việc thực hiện Chuẩn NNGV, nâng cao năng lực nghề nghiệp cho GV phổ thông.

9 Kết cấu của luận văn

Cấu trúc của luận văn ngoài các phần Mở đầu, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, bao gồm bốn phần chính như sau:

- CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trang 19

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT)trong dạy học, giáo dục, trong đó có các thuật ngữ mang cùng ý nghĩa được sử dụngthay thế có thể kể đến như công nghệ (Technology), công nghệ thông tin và truyềnthông - CNTT&TT (Information - Communication and Technology, ICT) … Sauđây, luận văn xin trình bày tổng quan một số vấn đề liên quan đến đề tài

1.1.1 Các nghiên cứu về thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học

1.1.1.1 Trong dạy học nói chung

Nguyễn Văn Hiền (2018) trong nghiên cứu của mình đã nhận định: thực chất

“kỹ năng sử dụng CNTT của giáo viên trong dạy học là tổ hợp của kỹ năng công nghệ

và phương pháp dạy học tương ứng” [77; tr.5] Tác giả đã chỉ ra các kỹ năng giáo

Trang 20

sinh cần được đào tạo trong trường sư phạm, tương ứng với ba hướng ứng dụng

CNTT trong tổ chức dạy - học Cụ thể:

Bảng 1.1 Một số kỹ năng cần được đào tạo để phát triển năng lực ứng dụng CNTT trong tổ chức dạy học cho giáo sinh

- Biết thao tác cơ bản vận hành - Có kỹ năng lựa chọn bài dạy, đơnmáy vi tính, sử dụng hệ điều hành vị kiến thức phù hợp;

(Windows); - Có kỹ năng lựa chọn tài nguyên

- Biết sử dụng phần mềm soạn phù hợp;

1 thảo, phần mềm trình diễn; - Có kỹ năng lựa chọn/xây dựng

- Biết khai thác mạng, xử lý hình hình thức thể hiện bài dạy với sự hỗảnh đa phương tiện; trợ của CNTT một cách khoa học;

- Nhận biết các vấn đề liên quan - Có kỹ năng thiết kế hoạt động họcđến đạo đức và pháp luật khi sử tập theo hướng hoạt động hóa người

2 khi HS sử dụng; dựa trên giải quyết vấn đề;

- Biết quản lý, chia sẻ dữ liệu qua - Biết tổ chức kiểm tra đánh giá dựa

- Biết xây dựng một website đơn

giản

Ngoài các kỹ năng của hướng 1 và - Biết vận dụng tiếp cận thiết kế dạy

2 thì cần thêm: học để thiết kế và tổ chức khóa học

- Khả năng xây dựng các theo hướng đáp ứng từng cá nhânCourseware đạt chuẩn SCORM; người học;

3 - Biết tổ chức và quản lý lớp học - Biết thiết kế và tổ chức kiểm tra

Trang 21

9

Trang 22

quan là GV cũng chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng trong dạy học theohướng (2) và (3) Trong khi hướng (1) GV có thể tận dụng cơ sở hạ tầng hiện có.

Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn (2012) cũng chỉ ra có năm mức độ ứng

dụng CNTT trong các cơ sở giáo dục nói chung, đó là: mức (i): sử dụng các thiết bị

CNTT để trợ giúp GV trong một số thao tác nghề nghiệp như soạn giáo án bằng hệsoạn thảo văn bản, in ấn tài liệu, sưu tầm tài liệu, … nhưng chưa sử dụng CNTT

trong tổ chức dạy học các tiết học cụ thể của môn học Mức (ii): ứng dụng CNTT để

hỗ trợ một khâu, một công việc cụ thể nào đó trong QTDH, chẳng hạn sử dụng

PowerPoint/ Violet trình chiếu bài giảng Mức (iii): sử dụng phần mềm dạy học để

tổ chức dạy học một chương, một số tiết, một vài chủ đề của môn học Mức (iv):

tích hợp CNTT vào QTDH Các yếu tố của CNTT được tính đến trong tất cả cáchoạt động của quá trình tổ chức và quản lý dạy học trong nhà trường phổ thông: dạyhọc trong giờ lên lớp; tổ chức học tập ngoài giờ lên lớp; kiểm tra – đánh giá; giámsát kiểm tra hoạt động học tập của học sinh ở nhà; hỗ trợ các hoạt động chuyên môncủa GV, các hoạt động quản lý chuyên môn như hồ sơ học tập của người học, hồ sơ

GV, lập thời khóa biểu, giao tiếp với các đối tượng liên quan thông qua website…

Mức (v): triển khai trường học thông minh và E-learning Hiện nay ở các nhà trường

phổ thông nước ta, việc ứng dụng CNTT trong dạy học mới chỉ được thực hiện ở

mức 1 đến mức 4, nhưng chưa thường xuyên và thực sự hiệu quả, mức (v) chưa thể

thực hiện đồng bộ sâu rộng do những hạn chế về cơ sở hạ tầng CNTT cũng nhưnăng lực CNTT của đội ngũ GV (tr.66)

dạy học đó là: (i) phần mềm được ứng dụng vào dạy học cho hầu hết các môn học như

phần mềm Microsoft Word (soạn thảo văn bản), Microsoft PowerPoint (trình chiếuđiện tử), Macromedia Flash (tạo thí nghiệm ảo, mô phỏng thí nghiệm); phần mềm thiết

kế video, bài giảng điện tử, phần mềm vẽ sơ đồ tư duy…; (ii) các

Trang 23

phần mềm sử dụng cho từng môn học riêng biệt như phần mềm Cabri, Geogebra,Maple, Geometer’s Sketchpad,… sử dụng trong dạy học môn Toán;…[49; tr.32].Việc sử dụng phần mềm nào, hiệu quả ra sao tùy thuộc vào mục đích triển khai dạy

và học cũng như năng lực của GV

- Về điểm tồn tại, các yếu tố tác động:

Nghiên cứu của Jef Peeraer và Peter Van Petegem (2010) đã khảo sát các yếu

tố ảnh hưởng tới việc ứng dụng CNTT trong ngành sư phạm Việt Nam, một nướcđang ở giai đoạn đầu của ứng dụng CNTT vào những năm 2010 Nghiên cứu khẳngđịnh việc sử dụng các chương trình ứng dụng CNTT còn hạn chế, chủ yếu để thaycho PPDH cũ Các yếu tố tác động đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học thựchành gồm: cơ hội tiếp cận với máy tính, cường độ sử dụng máy tính, kỹ năngCNTT, sự tự tin về CNTT, và đặc điểm cá nhân (gồm thái độ với CNTT và quanniệm về việc học tập ở HS) Nghiên cứu cũng đưa ra một số gợi ý về cách ứng dụnghiệu quả CNTT vào ngành sư phạm Việt Nam [54; tr.2]

Nghiên cứu của Trần Đình Châu và Đặng Thị Thu Thủy (2011) cho thấy việcứng dụng CNTT ở các trường phổ thông hiện nay phát triển khá mạnh mẽ, đa dạng,phong phú, góp phần hỗ trợ đổi mới PPDH, hỗ trợ công việc của GV, bước đầunâng cao chất lượng dạy học Tuy nhiên, ứng dụng CNTT trong dạy học hiện naythường chú trọng đến kỹ thuật CNTT mà chưa chú trọng nhiều đến hiệu quả dạyhọc Phần lớn bài giảng điện tử mang tính trình diễn, đôi lúc còn lạm dụng CNTTđưa nhiều tranh ảnh, hiệu ứng chữ, màu sắc lòe loẹt dẫn đến chi phối sự tập trungchú ý ở HS, biến bài học, giờ học trở thành “giờ xem”, HS bị động, ít được tham giavào hoạt động học [46; tr.3]

Đồng quan điểm với những nghiên cứu trên, nhiều nghiên cứu nước ngoài cũngchỉ ra các yếu tố tác động đến mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học của GV, điểnhình có thể kể đến luận án tiến sĩ của Mohammed I Isleem (2003) Trong nghiên cứucủa mình, Isleem đã chỉ ra năm yếu tố cơ bản tác động đến mức độ ứng dụng CNTTcủa GV trong hoạt động dạy học, đó là sự thành thạo (expertise), cơ hội tiếp cận(access), thái độ (attitude), sự hỗ trợ (support), và đặc điểm cá nhân của GV (teachercharacteristics) (tr.59) Một nghiên cứu khác của Snoeyink và Ertmer (2004)

Trang 24

cũng chỉ ra 2 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc ứng dụng CNTT trong giáo dục

là yếu tố “bên ngoài” như nguồn lực và sự hỗ trợ kỹ thuật; yếu tố “bên trong” nhưthái độ của GV với việc ứng dụng CNTT vào dạy học… (tr.12)

Jo Shan Fu (2013) trong nghiên cứu tổng quan các đề tài về ứng dụng CNTTtrong giáo dục đã tổng kết những lợi ích của CNTT trong dạy học, chủ yếu là: hỗ trợ

HS truy cập thông tin điện tử hiệu quả; hỗ trợ việc học tập lấy HS làm trung tâm vàhọc tập tự định hướng; tạo ra môi trường học tập sáng tạo; thúc đẩy học tập hợp táctrong môi trường học tập từ xa; cung cấp nhiều cơ hội hơn để phát triển các kỹ năng

tư duy quan trọng (bậc cao); cải thiện chất lượng dạy và học; hỗ trợ giảng dạy bằngcách tạo điều kiện truy cập vào nội dung khóa học (tr.15) Bên cạnh đó, tác giả cũngchỉ ra những rào cản với việc ứng dụng CNTT theo ghi nhận quan điểm của GVnhư: thiếu sự hợp tác của GV và sự hỗ trợ về mặt sư phạm, cũng như thiếu kinhnghiệm giữa các GV hợp tác cùng nhau; không đủ thời gian để thành thạo phầnmềm mới hoặc tích hợp CNTT trong một tiết học; … Quan điểm của nhà quản lý và

cơ sở hạ tầng CNTT cũng là những rào cản được tác giả đề cập Một số rào cản cóthể kể đến là thiếu phần cứng, phần mềm và vật liệu phù hợp; nhiệm vụ quản lý đểcải thiện kết quả kiểm tra, giúp chuyển sự tập trung khỏi việc sử dụng CNTT để thuhút HS vào các hoạt động tư duy bậc cao… Tác giả cũng nhận định việc tích hợpCNTT là trung gian và đòi hỏi một quá trình để phát triển, không phải là một sảnphẩm cuối cùng Để đạt được sự tích hợp thành công của công nghệ đòi hỏi nỗ lực

từ ba phía: GV, học sinh và nhà quản lý [12]

1.1.1.2 Trong dạy học môn Toán

- Về các thiết bị, phần mềm ứng dụng:

Nghiên cứu của Ramey (2012) cho thấy trong những năm qua, các nguồncông nghệ có thể ứng dụng trong dạy học nói chung, dạy học Toán nói riêng đã tănglên rất nhiều Tài nguyên công nghệ mới liên tục được giới thiệu trong các lớp học.Những công nghệ này bao gồm: bảng trắng tương tác (Promethean, SMART vàBảng hoạt động), máy tính bảng điện tử, máy đọc sách điện tử, iPod, Geogebra,Maple, Geometer Sketch Pad, thiết bị bình chọn điện tử, v.v., (tr.13) và các thiết bịnày còn tiếp tục mở rộng

Trang 25

- Về cách thức ứng dụng, những tồn tại:

Tác giả Lê Thái Bảo Thiên Trung (2011) đề xuất phân loại các mức độ ứngdụng CNTT trong dạy học Toán thành ba mức: GV ứng dụng CNTT chỉ để trìnhchiếu và minh họa; GV ứng dụng CNTT để minh họa các hoạt động; HS thao táctrực tiếp trên phần mềm trong một tình huống gợi vấn đề Tác giả cũng xác địnhđược một số các khó khăn khi ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán ở trườngphổ thông phần lớn nhằm phục vụ cho mục đích trình chiếu, minh họa như: Kiếnthức quá nhiều, thời gian hạn chế; Ðiều kiện cơ sở vật chất, phương tiện dạy họckhông đảm bảo; Trình độ HS thấp, HS chú ý nhiều đến kỹ thuật mà xao lãng nộidung bài; Khả năng của GV còn hạn chế, GV không có thời gian, công sức đầu tư;Không phải bài nào cũng ứng dụng CNTT được [71; tr.6]

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, Gulay Bozkurt (2016) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tốảnh hưởng đến việc sử dụng CNTT của GV để dạy học Toán Nghiên cứu cho thấy:nhóm GV - người học tham gia nghiên cứu đã cam kết sử dụng CNTT trong giảngdạy, họ tự tin và chủ yếu tin vào giá trị của CNTT trong việc dạy học Toán Tuynhiên, các kết quả cũng cho thấy các rào cản đối với GV - HS khi sử dụng CNTTtrong dạy học liên quan đến việc thiếu hụt cơ sở vật chất, sự hạn chế các khuyếnkhích từ các cố vấn và các GV khác trong khoa Toán và việc sử dụng CNTT khôngthường xuyên của GV hiện tại trong dạy học, thiếu liên kết trong kế hoạch làm việc

và ràng buộc thời gian (tr.6)

- Về ảnh hưởng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học đến việc học môn Toán củahọc sinh:

Hội đồng Quốc gia các GV Toán của Mỹ (The National Council of Teachers

of Mathematics, NCTM) và Hiệp hội các nhà giáo dục Toán học (the Association ofMathematics Teacher Educators, AMTE) đều chứng thực rằng công nghệ, khi được

sử dụng một cách thích hợp, có thể làm tăng hiệu suất của HS trong lớp học Toán(AMTE, 2006; NCTM, 2008)

Một nghiên cứu của Hiệp hội các nhà giáo dục Toán học (2008) đã chỉ ra: côngnghệ là công cụ thiết yếu đối với việc học Toán thế kỷ 21, và các trường học phải

đảm bảo tất cả HS có thể truy cập, sử dụng các thiết bị công nghệ GV dạy học hiệu

Trang 26

quả sẽ tối đa hóa tiềm năng công nghệ để phát triển sự hiểu biết của người học, kíchthích sự quan tâm của họ, và tăng sự thành thạo Toán học của họ “Khi công nghệđược sử dụng có chiến lược, mọi HS đều có thể học Toán” [8; tr.12].

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi GV tích hợp công nghệ một cách phùhợp vào quá trình học tập, mức độ động lực và thành tích của HS được tăng lên(Engel & Green, 2011; MacBride & Luehmann, 2008; Shirley & cộng sự, 2011).Công nghệ được sử dụng một cách thích hợp khi nó là một phần tích cực, không thểthiếu trong quá trình dạy học Toán (Cononiah Latrece Watson, 2015, tr.2)

House and Telese (2011) phát hiện ra rằng những HS thường xuyên sử dụngmáy tính điện tử cho các hoạt động liên quan đến trường học, rất thích nghiên cứuToán học HS trở thành người học có động lực khi họ quan tâm đến chủ đề nào đó.Đây là lý do tại sao việc sử dụng công nghệ là một công cụ tuyệt vời để tăng mức

độ động lực của HS (tr.11)

Trịnh Thanh Hải [50], Nguyễn Chí Thành [69] nhận định CNTT có nhữngtác động nhất định đến việc dạy – học Toán, trong đó công nghệ tác động trực tiếpđến hoạt động của HS, tạo điều kiện để HS hiểu sâu, mở rộng kiến thức Sử dụngCNTT trong dạy và học Toán cũng góp phần rèn luyện kỹ năng, củng cố và ôn tậpkiến thức của HS, giúp người học phát triển tư duy Toán học Sự hỗ trợ của CNTTtrong dạy-học Toán cũng tạo cơ hội cho HS tiếp cận với các phương tiện công nghệhiện đại, hình thành và phát triển các kỹ năng sử dụng máy tính điện tử và các kỹnăng làm việc trong môi trường công nghệ

1.1.2 Một số nghiên cứu về Chuẩn năng lực CNTT dành cho giáo

viên - Chuẩn năng lực CNTT dành cho giáo viên:

Năm 2016, một nghiên cứu đánh giá về khung Chuẩn năng lực ICT cho GV doUNESCO ban hành (UNESCO ICT Competency Framework for Teachers, ICT-CFT)được tiến hành để xem xét Chuẩn này được sử dụng trên toàn cầu như thế nào Nghiêncứu cho thấy các tiêu chí đánh giá của Chuẩn các phiên bản trước chưa có các hướngdẫn thực hiện cụ thể, và từ năm 2008 đến 2016, Khung ICT-CFT đã ảnh hưởng đến:phát triển CNTT quốc gia trong chính sách giáo dục; tạo ra các tiêu chuẩn GV quốc gialiên quan đến việc tích hợp CNTT trong giáo dục; xây dựng các tiêu chí

Trang 27

đánh giá trình độ quốc gia về năng lực CNTT của GV và phân tích các sáng kiếnđào tạo; định hình về CNTT trong chương trình giáo dục; và phát triển các khóa họcphát triển chuyên môn của GV [21;22; tr.15].

Jef Peeraer cùng Trần Nữ Mai Thy (2011) trong nghiên cứu phân tích chínhsách về tầm nhìn và nhiệm vụ quốc gia về ứng dụng CNTT của giáo dục Việt Nam

đã chỉ ra: các hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT các địa phương đều khuyếnkhích GV áp dụng CNTT vào dạy học Trong giai đoạn đó, kết quả cuối cùng màứng dụng CNTT trong giáo dục hướng tới là việc học tập điện tử (e-learning) và xâydựng, sử dụng bài giảng điện tử, nhưng lại không có định nghĩa rõ ràng nào về e-learning được đưa ra Trong các văn bản hướng dẫn của Bộ GD&ĐT đều nhấnmạnh tới vai trò quan trọng của việc ứng dụng CNTT hiệu quả trong giáo dục,nhưng lại không có câu trả lời rõ ràng về cách thức chính xác để ứng dụng CNTTcho dạy và học, dẫn tới một khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn giáo dục[54,55; tr.2] Các nhà giáo dục cần biết chính xác CNTT sẽ được sử dụng như mộtcông cụ dạy học như thế nào (UNESCO, 2004, tr.2) Do vậy, các tác giả cũng đềxuất những hành động cụ thể như xây dựng cơ sở vật chất, phát triển chuyên mônđội ngũ, thay đổi về phương pháp sư phạm và chương trình học, xây dựng thư việnđiện tử/hệ thống bài giảng điện tử và tăng cường hỗ trợ kỹ thuật để việc ứng dụngCNTT trong giáo dục đạt hiệu quả rõ rệt

- Ảnh hưởng của việc bồi dưỡng năng lực CNTT đối với sự phát triển nghề nghiệp giáo viên:

Nhiều GV ở trường THCS hiểu rằng việc sử dụng công nghệ hiệu quả trong lớphọc khiến cho mức độ tham gia và thành tích của HS cao hơn (Cononiah Latrece

Watson, 2015, tr.7) GV cũng phải đối mặt với nhiều trở ngại khi cố gắng sử dụngcông nghệ vào lớp học của họ Điều đó phát sinh từ tính khả thi, chi phí, tính hữudụng và kiến thức về mặt kỹ thuật Một số GV có công nghệ có sẵn trong lớp họccủa họ, nhưng chưa được đào tạo về cách sử dụng hiệu quả GV nói rằng họ sẽ sửdụng công nghệ nhiều hơn và ở cấp độ nhận thức sâu hơn, nếu họ có được cung cấpkiến thức này qua một số hình thức phát triển nghề nghiệp - hướng dẫn trực tuyến,các cuộc họp hoặc hỗ trợ trực tiếp [12; tr.15]

Trang 28

Theo đánh giá của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ về Chương trình Tăng cường đàotạo thông qua công nghệ, 86% GV cho biết họ đã tham gia vào một số hình thức củamột hội thảo phát triển nghề nghiệp tập trung vào việc sử dụng công nghệ trong lớphọc Những cách phát triển nghề nghiệp này chú trọng vào các công nghệ hỗ trợđánh giá chấm điểm, giúp HS trong quá trình học Toán, phát triển chương trìnhgiảng dạy cho GV và giúp dạy các khái niệm khác nhau theo nhiều cách khác nhau.Mặc dù vậy, 52% GV cho biết họ cần được đào tạo nhiều hơn về tích hợp côngnghệ trong hướng dẫn GV cũng quan tâm đến các cơ hội phát triển nghề nghiệp đểgiúp HS học Toán ở cấp độ cao hơn (Cononiah Latrece Watson, 2015, tr.29).

Một nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của Chương trình ICTE – chương trìnhquốc gia với mục đích chuẩn bị cho các GV Jordan sử dụng CNTT trong giáo dục –được thực hiện tại trường Đại học Jordan, Ả Rập (2016) đã chỉ ra những thay đổitrong niềm tin và thực tiễn hoạt động của GV đối với việc tích hợp CNTT trong dạyhọc Kết quả cho thấy: Có sự gia tăng ngay lập tức cường độ áp dụng CNTT trongcông việc hàng ngày của GV, bao gồm tăng hiệu quả trong việc lập kế hoạch vàchuẩn bị công việc do sự hợp tác nhiều hơn giữa các giáo viên GV có thái độ tíchcực đối với CNTT và tăng đáng kể niềm tin của họ trong việc sử dụng CNTT Quan

hệ với HS đã được cải thiện đáng kể Sau khi họ tích hợp những gì đã học đượctrong chương trình ICTE, nhiều GV đã báo cáo rằng HS có thể xử lý các bài tậpphức tạp hơn và thực hiện nhiều các kỹ năng bậc cao hơn bởi các hỗ trợ được cungcấp bởi công nghệ [1; tr.8,9]

Khảo cứu những nghiên cứu kể trên giúp tác giả khái quát được bức tranhtoàn cảnh về thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học Toán cũng như sự cần thiếtcủa yêu cầu về năng lực CNTT trong Chuẩn NNGV Các nghiên cứu cho thấy cónhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cũng như mức độ ứng dụng CNTT trong dạyhọc của GV nói chung, GV Toán nói riêng, là nguồn tham khảo hữu ích cho tác giảtrong việc xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu này Cũng qua khảo cứu nàytác giả phát hiện việc nghiên cứu ảnh hưởng của yêu cầu Chuẩn NNGV đến việcứng dụng CNTT trong dạy học Toán của GV THCS chưa được thực hiện

Trang 29

1.2 Một số khái niệm

1.2.1 Đánh giá – Tự đánh giá

1.2.1.1 Đánh giá

Có nhiều quan niệm khác nhau về định nghĩa đánh giá

Từ điển tiếng Việt định nghĩa “đánh giá là nhận định giá trị” (Hoàng Phê

chủ biên, 1998, tr.56)

Nguyễn Đức Chính cùng cộng sự (2011) cho rằng “đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt được ở mức độ nào” (tr.2).

Hay “đánh giá là quá trình thu thập và xử lí thông tin một cách hệ thống để đưa ra các quyết định” [47; tr.3].

Trong lĩnh vực giáo dục, đánh giá có nhiều cấp độ và loại hình tùy thuộc vàomục đích sử dụng thông tin thu nhận được Ví dụ, đánh giá người học là quá trìnhthu thập thông tin để đưa ra những quyết định giáo dục liên quan tới người học, đểphản hồi cho người học về sự tiến bộ, những điểm mạnh và điểm tồn tại trong họctập của họ, để đưa ra phán quyết về hiệu quả của công tác giảng dạy và sự phù hợpcủa chương trình đào tạo, và cuối cùng là để cung cấp thông tin xây dựng chínhsách (AFT, NCME, NEA1, 1990)

Như vậy, có thể hiểu rằng: đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và

xử lí thông tin một cách có hệ thống nhằm đưa ra những nhận định về mức độ đạtđược các mục tiêu đã đề ra, từ đó làm cơ sở đề xuất những quyết định thích hợp đểcải thiện thực trạng, điều chỉnh để nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc Đánhgiá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính Đánh giá luônđược thực hiện theo một tiêu chuẩn, mục tiêu hoặc tiêu chí

1.2.1.2 Tự đánh giá

cấp độ cá nhân, tự đánh giá được định nghĩa là “sự tham gia của người học trong việc đưa ra đánh giá về thành tích và kết quả học tập của họ” (Boud &

1 American Federation of Teachers (AFT), National Council for Educational Measurement (NCME),

National Association of Educational (NEA)

Trang 30

Falchikov, 1989, tr.56), là một cách tiếp cận có giá trị để hỗ trợ việc học của ngườihọc, đặc biệt là khi được sử dụng mang tính hình thành.

Andrade và Du (2007) đưa ra một định nghĩa hữu ích về tự đánh giá, tập trung

vào việc học tập có thể thúc đẩy: Tự đánh giá là “một quá trình đánh giá quá trình trong đó người học phản ánh và đánh giá chất lượng công việc và việc học của họ, đánh giá mức độ mà họ phản ánh các mục tiêu hoặc tiêu chí đã nêu rõ ràng, xác định điểm mạnh và điểm yếu trong công việc của họ và sửa đổi cho phù hợp” (tr.112).

Tự đánh giá không chỉ dành cho người học, mà bản thân người dạy cũng cầnthường xuyên tự đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn nhất định Tự đánh giá hỗ trợ việchọc của mỗi cá nhân và là một trong những kỹ năng quan trọng nhất mà mỗi ngườicần có để phát triển nghề nghiệp trong tương lai và học tập suốt đời, vì nó phát triểnnăng lực của họ để trở thành người đánh giá việc học

1.2.2 Năng lực – Năng lực giáo viên

1.2.2.1 Năng lực

Năng lực (competency) là một thuật ngữ được đề cập thường xuyên ở nước

ta hiện nay, nhất là trong lĩnh vực giáo dục Cho đến nay, có nhiều cách hiểu vềnăng lực, do quan điểm tiếp cận khác nhau, ví dụ như: năng lực được xem như mụctiêu dạy học, giáo dục; hay năng lực được xem xét dưới góc nhìn các thành tố cấutrúc nên nó; xem xét liên hệ giữa năng lực và nội dung dạy học; năng lực được đềcập tới bình diện thực hành, ứng dụng, gắn với thực tiễn, liên môn…

Định nghĩa phổ biến nhất được sử dụng là của Weinert (2001): “năng lực là những khả năng nhận thức và kĩ năng vốn có hoặc học được của cá thể nhằm giải quyết các vấn đề xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, ý chí, ý thức xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề trong những tình huống thay đổi một cách thành công và có trách nhiệm” (tr.45).

“Năng lực được mô tả tốt nhất là sự kết hợp phức tạp giữa kiến thức, kỹ năng,

sự hiểu biết, giá trị, thái độ và mong muốn dẫn đến hành động hiệu quả, thể hiện của con người trên thế giới, trong một lĩnh vực cụ thể” (Deakin Crick, 2008, tr.62) Do đó, năng lực được phân biệt với kỹ năng (skill) - được định nghĩa là khả năng thực hiện các

hành vi phức tạp một cách dễ dàng, chính xác và khả năng thích ứng

Trang 31

Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể (2018) do Bộ GD&ĐT nước ta

ban hành đã nêu: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ

tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [39; tr.37]

“Bản chất của năng lực là khả năng chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có

tổ chức hợp lí các kiến thức, kĩ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định” (Đinh Quang Báo & cộng sự,

2017, tr.110)

Tóm lại, năng lực có thể hiểu là sự kết hợp của các kiến thức, kĩ năng, phẩmchất, thái độ và hành vi của một cá nhân để thực hiện một công việc có hiệu quả.Năng lực không chỉ bao hàm kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, mà còn cả giá trị, động cơ,đạo đức và hành vi xã hội Năng lực có tính phức hợp hơn kĩ năng, và mức độ thànhthạo của một kĩ năng cũng có thể xem như thể hiện một phần mức độ cao hay thấpcủa năng lực tương ứng

1.2.2.2 Năng lực giáo viên

Trong lĩnh vực giáo dục, ở nước ta định nghĩa: “năng lực giáo viên nói chung là khả năng thực hiện công việc, nhiệm vụ của giáo viên” (Điều 3, khoản 2, Thông tư T20/2018/TT-BGD, tr.2).

Cần phân biệt giữa “năng lực giảng dạy” và “năng lực giáo viên” (OECD,2009) Năng lực giảng dạy tập trung vào vai trò của giáo viên trong lớp học, liên kếttrực tiếp với 'nghề' giảng dạy - với kiến thức và kỹ năng chuyên môn được huy động

để hành động Năng lực giáo viên ngụ ý một cái nhìn rộng hơn, có hệ thống về tínhchất nghề nghiệp của giáo viên, trên nhiều cấp độ - cá nhân, nhà trường, cộng đồngđịa phương, mạng lưới nghề nghiệp [6; tr.10]

Trong các chương trình dạy học hiện nay của các nước thuộc khối OECD,người ta cho rằng năng lực được chia thành năng lực chung, cốt lõi và năng lựcchuyên môn, trong đó năng lực chung, cốt lõi là cần thiết, làm nền tảng để phát triển

Trang 32

năng lực chuyên môn, còn năng lực chuyên môn đặc trưng ở những lĩnh vực nhấtđịnh Theo cách hiểu này năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên môn khôngtách rời mà có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Năng lực cốt lõi đề cập đến những năng lực được coi là nền tảng, nhờ chúng

người ta có thể thực hiện được yêu cầu công việc đặt ra, hay hoàn thành nhiệm vụhọc tập, trong các bối cảnh và tình huống khác nhau; ví dụ như sử dụng các phươngtiện thông tin, giao tiếp, khả năng hành động tự chủ…

Năng lực chuyên môn liên quan đến từng môn học riêng biệt, ví dụ mô hình

năng lực trong môn Toán (theo Chuẩn của Đức, 2012) bao gồm: năng lực toán họcchung: lập luận toán, giải quyết các vấn đề toán, mô hình hóa toán học, sử dụng cáccách trình bày biểu đồ, bảng biểu, sử dụng ký hiệu, công thức, các giao tiếp toánhọc; các tư tưởng toán học chủ đạo: thuật toán và số học, đo lường, không gian vàhình học, quan hệ hàm số, dữ liệu và ngẫu nhiên…

Dù theo cách tiếp cận nào thì các nhà giáo dục trên thế giới đều thống nhất ởchỗ: nhắc đến năng lực là nói đến khả năng có thể thực hiện, hoàn thành nhiệm vụcủa từng người, do đó không nên so sánh năng lực của người này với năng lực củangười kia; năng lực thường được biểu hiện ra bên ngoài và ta có thể quan sát được,đánh giá được thông qua từng mảng hoạt động, nhiệm vụ, do vậy ta có thể mô tảđược năng lực đề cập theo những tiêu chuẩn, tiêu chí chất lượng và có thể tìm đượcminh chứng cho mức độ thể hiện này

1.2.3 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên

1.2.3.1 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên

Ở hầu hết các quốc gia hiện nay đều có Chuẩn nghề nghiệp giáo viên (ChuẩnNNGV) hay còn gọi là Khung năng lực nghề nghiệp dành cho GV

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông mới ban hành ở nước

ta được định nghĩa là “hệ thống phẩm chất, năng lực mà giáo viên cần đạt được để thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục HS trong các cơ sở giáo dục phổ thông”

(Điều 3, khoản 3, Thông tư 20/2018/TT-BGD&ĐT, tr.2)

1.2.3.2 Một số định nghĩa liên quan đến Chuẩn NNGV

Trang 33

Tiêu chuẩn nghề nghiệp GV là “yêu cầu về phẩm chất, năng lực ở từng lĩnh vực

của chuẩn nghề nghiệp GV” (Điều 3, khoản 4, Thông tư 20/2018/TT-BGD, tr.2)

Tiêu chí là “yêu cầu về phẩm chất, năng lực thành phần của tiêu chuẩn” (Điều 3, khoản 5, Thông tư 20/2018/TT-BGD, tr.2).

Đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên là “việc xác định mức độ đạt được về phẩm chất, năng lực của giáo viên theo quy định của chuẩn nghề nghiệp

giáo viên” (Điều 3, khoản 8, Thông tư 20/2018/TT-BGD, tr.3)

Có sự khác biệt giữa định nghĩa “năng lực của giáo viên” và “tiêu chuẩnnghề nghiệp” Tiêu chuẩn nghề nghiệp nỗ lực để mô tả những gì GV tin, biết, hiểu

và có thể làm như những người hành nghề chuyên môn trong lĩnh vực của họ(Ingvarson, 1998, tr.114) Cụ thể, các tiêu chuẩn nghề nghiệp dành cho GV tậptrung vào những gì GV dự kiến sẽ biết và có thể làm được Chúng thường quan tâmđến trách nhiệm giải trình và cơ chế chất lượng, và được liên kết chặt chẽ với hànhđộng của các cơ quan thể chế và nghề nghiệp Chúng có thể được định nghĩa là:

Các mô tả được chia sẻ về tầm nhìn thực tiễn, có nghĩa là để mô tả mô hình

thống kê về những gì có giá trị nhất trong việc dạy kiến thức và thực hành;

Các công cụ đo lường để đánh giá nghề nghiệp, tức là các công cụ để đưa ra

phán đoán và quyết định trong bối cảnh ý nghĩa và giá trị chung (Sykes và Plastrik, 1993)hoặc các công cụ để cung cấp thông số kỹ thuật về mức độ hiệu

suất (Kleinhenz & Ingvarson, 2007)

Mục đích của các tiêu chuẩn nghề nghiệp có thể khác nhau, phổ biến tập trung vào một hoặc nhiều khía cạnh sau:

Thông tin: chúng có thể được sử dụng làm tín hiệu truyền thông tin về hành

động và hành vi của GV đến các nhóm xã hội khác nhau;

Hướng dẫn: như các nguyên tắc chỉ đạo hành động của các bên liên quan thể

chế và nghề nghiệp;

Mô hình hóa: như các ví dụ mẫu đại diện cho lý tưởng về chất lượng chuyên

môn và thực hành cho GV, dọc theo các giai đoạn nghề nghiệp khác nhau;

Quản lý: như các biện pháp thống nhất cho các mối quan hệ trong giảng dạy,

đào tạo GV và phát triển chuyên môn;

Trang 34

Giám sát: như các quy tắc được kiểm tra về sự tuân thủ, bởi các cơ quan thể

chế và nghề nghiệp

Luật Giáo dục (2005) nước ta nêu rõ: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong

việc bảo đảm chất lượng giáo dục” GV có tác động lớn nhất đến việc học tập của HS,vượt xa tác động của bất kỳ chương trình hay chính sách giáo dục nào khác Bởi giảngdạy, giáo dục là công việc mà đối tượng tác động chính là con người, nên đòi hỏi người

GV cần có sự nỗ lực cao trên nhiều khía cạnh, cần liên tục tự bồi dưỡng, tự đánh giá,cải tiến để đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra, từ đó đào tạo, cung ứng nguồn nhân lựcchất lượng đáp ứng được yêu cầu xã hội, phát triển đất nước Các tiêu chuẩn dành cho

GV về phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn nghề nghiệp sẽ cho biết sự phát triểncác mục tiêu cần phấn đấu, cung cấp một khung tổng thể để GV có thể đánh giá sựthành công của việc học tập, bồi dưỡng và hỗ trợ tự kiểm tra, tự đánh giá GV có thể sửdụng các tiêu chuẩn để xác định khả năng hiện tại và xu hướng phát triển của họ,nguyện vọng và thành tích chuyên môn

1.2.4 Công nghệ thông tin và Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

1.2.4.1 Công nghệ thông tin

UNESCO (2018) định nghĩa Công nghệ thông tin và truyền thông có nghĩa là

“máy tính, điện thoại di động, máy ảnh kỹ thuật số, hệ thống định vị vệ tinh, thiết bị điện tử và máy ghi dữ liệu, radio, truyền hình, mạng máy tính, hệ thống vệ tinh hoặc hầu hết mọi thứ xử lý và truyền thông tin điện tử Công nghệ thông tin và truyền thông bao gồm cả phần cứng (thiết bị) và phần mềm (chương trình máy tính trong thiết bị)” (tr.2).

Luật Công nghệ thông tin định nghĩa thuật ngữ Công nghệ thông tin là “tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lí, lưu trữ và trao đổi thông tin số” (Luật số 67/2006/ QH11, ban hành ngày 29/06/2006, Điều 4.1, tr.1).

Trong lĩnh vực giáo dục, Công nghệ thông tin và truyền thông được coi là mộttrong những phương tiện dạy học thông dụng, gồm có máy vi tính, đĩa mềm, đĩa CD-ROM, hệ đa phương tiện,… [56, tr.431] Cũng có nhiều hệ thống giáo dục gọi các côngnghệ kỹ thuật số (digital technologies) là công nghệ thông tin và truyền thông

Trang 35

Tức là người nói muốn đề cập rằng CNTT&TT bao gồm đầy đủ các công cụ kỹ thuật

số có sẵn, cả phần cứng và phần mềm Về phần cứng, CNTT&TT có nghĩa là máy tính

và các thiết bị điện tử có liên quan như máy tính bảng và máy tính xách tay, đầu đọcđiện tử, điện thoại thông minh, trợ lý kỹ thuật số cá nhân, máy quay phim, máy tính vẽ

đồ thị và bảng trắng điện tử Liên quan đến phần mềm, CNTT&TT bao gồm mọi thứ,

từ trình duyệt Internet và các công cụ phát triển đa phương tiện đến các ứng dụng kỹthuật, phương tiện truyền thông xã hội và các nền tảng chỉnh sửa hợp tác

Nghiên cứu này tiếp cận thuật ngữ CNTT theo Luật Công nghệ thông tinViệt Nam, bao gồm cả các phương pháp, phần cứng, phần mềm kỹ thuật giúp xử líthông tin số, và sẽ sử dụng cách gọi “Công nghệ thông tin” thay cho thuật ngữ

“Công nghệ thông tin và truyền thông”

1.2.4.2 Ứng dụng CNTT trong dạy học

Ứng dụng CNTT là “việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” (Luật

số 67/2006/QH11, ban hành ngày 29/06/2006, Điều 4.5, tr.2).

Ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học là việc sử dụng các phương phápkhoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để khai thác, sản xuất và trao đổithông tin số, phục vụ hiệu quả cho trong hoạt động dạy – học GV và HS Cụ thể

hơn, “ứng dụng CNTT trong dạy học là việc sử dụng máy tính, phần mềm máy tính

và các thiết bị CNTT khác trong việc soạn bài, dạy học, kiểm tra đánh giá, hỗ trợ học sinh học tập và cả việc nghiên cứu nhằm phát triển chuyên môn” (Nguyễn Văn Nghiêm, 2013, tr.26).

Ở nước ta từ những năm 2000, thuật ngữ CNTT được dùng ngày càng nhiều,điều đó thể hiện vị trí và tầm quan trọng của CNTT trong đời sống loài người mà nétnổi bật là vai trò ngày càng tăng của máy tính điện tử và Internet Không nằm ngoài xuthế đó, CNTT cũng được sử dụng ngày càng rộng rãi trong nhà trường nhờ những ưuđiểm về mặt kỹ thuật và tiềm năng về mặt sư phạm của công nghệ này Hiện nay vàthậm chí trong tương lai, CNTT có chức năng như một phương tiện dạy học, có thể làmmột số phần việc của người thầy, cũng có thể đóng vai trò HS và thực hiện

Trang 36

những chức năng khác trong QTDH [56, tr.433] Ứng dụng CNTT trong dạy học cũng

có thể hỗ trợ cho nhiều hình thức dạy học khác nhau như dạy học trực tiếp (face toface), dạy học từ xa (distance learning), phòng đào tạo trực tuyến (online training lab),học tập điện tử (e-learning) … đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng cao của cácthành phần khác nhau trong xã hội, khuyến khích sự làm việc độc lập của HS, cá biệthóa quá trình học tập, và giảm bớt sự vất vả thủ công của người thầy để họ dành nhiềuthời gian hơn cho những HS cần hỗ trợ Với sự đa dạng và phong phú của các phầnmềm dạy học hiện nay, CNTT hoàn toàn có thể trợ giúp cho QTDH để hiện thực hóacác mục tiêu giáo dục trong xã hội hiện đại, đó là “Học mọi nơi – Học mọi lúc – Họcsuốt đời – Dạy cho mọi người và mọi trình độ tiếp thu khác nhau”

Theo Nguyễn Văn Long (2016) thì quá trình ứng dụng CNTT vào giáo dụcnói chung trên thế giới được chia làm ba giai đoạn, cụ thể: giai đoạn giới thiệu côngnghệ vào lớp học (Introduction); giai đoạn tích hợp công nghệ vào lớp học(Integration); và giai đoạn vô hình hóa công nghệ trong lớp học (Invisibilisation),tức là CNTT trở thành một phần thường xuyên của lớp học (tr.16)

Khi xem xét các khả năng ứng dụng CNTT trong giáo dục, thường có hai

dạng: thứ nhất CNTT là một nội dung giáo dục và đào tạo, thứ hai CNTT như một môi trường, một công cụ, phương tiện dạy học mạnh và hiệu quả CNTT trong giáo

dục tạo ra những cải tiến rõ rệt, nổi bật nhất là trong việc xây dựng chương trình, kếhoạch giảng dạy, học tập, việc tổ chức quá trình học tập, thi cử, kiểm tra và đánh giá(Hà Thị Mai, 2013, tr.4) CNTT là một công cụ mạnh mẽ để thúc đẩy và hỗ trợ hìnhthành, phát triển một loạt các kỹ năng thế kỷ 21 cần thiết để người học thích ứng vớicuộc sống Điều mà các nhà giáo dục cần suy nghĩ cẩn thận khi thiết kế trải nghiệmhọc tập là cách họ cũng như HS sử dụng CNTT và liệu nó có được sử dụng theocách hiệu quả để giải quyết những vấn đề phức tạp, kiến tạo tri thức hay để thiết kếcác sản phẩm dựa trên kiến thức Chúng ta cũng cần nghĩ làm thế nào CNTT có thểgiúp người học hợp tác theo những cách mà trước đây không thể hoặc giao tiếp quacác phương tiện biểu đạt mới

Trang 37

1.3 Yêu cầu về năng lực ứng dụng CNTT dành cho giáo viên

2011, UNESCO phối hợp với Microsoft công bố khung Chuẩn năng lực ICT cho

GV phiên bản 2.0 (ICT-CFT) với một số điều chỉnh so với phiên bản năm 2008.Phiên bản ICT-CFT phiên bản 3 (2018) chỉ ra những yêu cầu cần thiết về năng lựcCNTT của GV để giúp HS không chỉ nắm vững những kiến thức học được từchương trình mà còn có thể biết cách kiến tạo ra những kiến thức mới

Với ba cấp độ Tiếp thu kiến thức, Đào sâu kiến thức và Sáng tạo kiến thức trên sáu khía cạnh công việc của GV - Hiểu biết về CNTT trong giáo dục; Chươngtrình giảng dạy và đánh giá; Phương pháp sư phạm; Các kỹ năng ứng dụng kỹ thuậtsố; Tổ chức và Quản lý; và Giáo viên học tập chuyên môn - ICT-CFT phiên bản 3bao gồm 18 năng lực

Trang 38

-Hình 1.1 Khung năng lực ICT phiên bản 3 dành cho GV của UNESCO 2

Đối với mỗi năng lực, UNESCO đưa ra một hướng dẫn chi tiết để GV căn cứtrên đó triển khai cụ thể, các nhà chính sách dựa vào đó xây dựng chính sách vềCNTT trong giáo dục phù hợp với điều kiện, bối cảnh ở địa phương, quốc gia mình.Các năng lực được cụ thể hóa bằng các mục tiêu thành phần và các ví dụ hướng dẫntương ứng để GV đối chiếu, tự đánh giá mức độ thực hiện của bản thân (tham khảo

ví dụ tại Phụ lục)

Ủy ban Châu Âu (European Commission)

2 UNESCO (2018) Guidelines on Developing and Strengthening Qualifications Frameworks in Asia and the Pacific

Trang 39

Trong khối châu Âu, Ủy ban châu Âu đã đưa ra Khung châu Âu về năng lực kỹthuật số của các nhà giáo dục (DigCompEdu, 2017) Khung đáp ứng nhận thức ngàycàng tăng của nhiều quốc gia thành viên châu Âu rằng các nhà giáo dục cần một tậphợp các năng lực kỹ thuật số chuyên môn để có thể nắm bắt tiềm năng của các côngnghệ kỹ thuật số nhằm tăng cường và đổi mới giáo dục Khung này đưa ra thuật ngữ

“công nghệ kỹ thuật số” (digital technologies) bao gồm các thiết bị kỹ thuật số (như

máy tính, laptop, máy tính bảng, điện thoại di động, bảng trắng tương tác, TV, máy

chiếu, máy ảnh), các tài nguyên kỹ thuật số và dữ liệu (như Thông tin trực tuyến, trang

web, nền tảng; Nội dung đa phương tiện (hình ảnh, âm thanh, video); Tài liệu học tập;(Trực tuyến) trò chơi, câu đố; Phần mềm, ứng dụng, chương trình giáo dục; Môi trườnghọc tập ảo; Mạng xã hội) Khung DigCompEdu phân biệt sáu lĩnh vực khác nhau trong

đó năng lực kỹ thuật số các nhà giáo dục được thể hiện với tổng số

22 năng lực (Hình 1.2) Sáu lĩnh vực này tập trung vào những khía cạnh khác nhau của các hoạt động chuyên môn của nhà giáo dục

Hình 1.2 Khung châu Âu về năng lực kỹ thuật số của các nhà giáo dục

(Nguồn: Christine Redecker, 2017)

Trang 40

Mô hình tiến trình phát triển năng lực được đề xuất nhằm giúp các nhà giáodục hiểu được điểm mạnh và điểm yếu cá nhân của họ, bằng cách mô tả các giaiđoạn hoặc mức độ phát triển năng lực kỹ thuật số Để dễ tham khảo, các giai đoạnnăng lực này được liên kết với sáu mức độ thành thạo được sử dụng bởi Khungtham chiếu ngôn ngữ chung châu Âu (CEFR), từ A1 đến C2 với các cấp từ thấp đếncao: Người mới (A1), Nhà khám phá (A2), Người tích hợp (B1), Chuyên gia (B2),Lãnh đạo (C1) và Người tiên phong (C2) (tham khảo ví dụ tại Phụ lục)

Australia

Chuẩn NNGV Australia bao gồm 07 tiêu chuẩn liên quan đến ba khía cạnhcủa giảng dạy: Kiến thức chuyên môn, thực hành chuyên môn và cam kết chuyênmôn Từng tiêu chí trong mỗi tiêu chuẩn được mô tả cụ thể ở bốn giai đoạn nghềnghiệp chuyên môn từ Tốt nghiệp, Thành thạo, Hoàn thành tốt đến Dẫn đầu sẽ hỗtrợ GV xác định khả năng hiện tại và đang phát triển của họ, các nguyện vọng vàthành tích chuyên môn để có sự cải tiến phù hợp Yêu cầu ứng dụng CNTT trongdạy và học được đề cập trong tiêu chuẩn 2 và 4 Tiêu chuẩn 2 – “Biết nội dung vàcách dạy” thuộc nội dung kiến thức chuyên môn, đã mô tả cách ứng dụng CNTT đểgiảng dạy, từ giai đoạn GV mới tốt nghiệp (Thực hiện các chiến lược giảng dạy sửdụng CNTT để mở rộng cơ hội học tập cho người học) đến Dẫn đầu (Dẫn dắt và hỗtrợ các đồng nghiệp trong trường lựa chọn và sử dụng CNTT với các chiến lượcgiảng dạy hiệu quả để mở rộng cơ hội học tập và nội dung kiến thức cho tất cả HS).Tiêu chuẩn 4 - nội dung thực hành chuyên môn quy định cách sử dụng ICT an toàn,trách nhiệm và có đạo đức để xây dựng và duy trì môi trường học tập an toàn, hỗ trợngười học Ở mức độ cao nhất, GV cần xem xét hoặc thực hiện được các chính sách

và chiến lược mới để đảm bảo việc sử dụng CNTT trong học tập và giảng dạy saocho an toàn, trách nhiệm và có đạo đức (tham khảo tại Phụ lục)

Yêu cầu về ứng dụng CNTT là tiêu chuẩn bắt buộc đối với năng lực GV tạiAustralia và GV muốn thăng chức phải đạt được những tiêu chuẩn này Tại đây, họcũng có hệ thống đánh giá quốc gia về năng lực GV, thông qua minh chứng, sự giớithiệu từ trường học/nơi làm việc, lượt truy cập trang web, quan sát, thảo luận chuyênmôn (dành cho GV chính có thành tích cao) Bằng chứng phải đến từ nhiều nguồn và

Ngày đăng: 08/06/2021, 11:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w