Ebook Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1945-1954) - Tái bản, chỉnh lý, bổ sung: Phần 2 được biên soạn và tiếp nối phần 1 cung cấp đến các bạn về động viên mọi nguồn lực, cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi (190-1954); hoàn thành nhiệm vụ của 300 ngày trước khi bàn giao cho đối phương (1954-1955)
Trang 11 Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ III (tháng 3-1950)
Bước vào năm 1950, cục diện cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp có những chuyển biến quan trọng Liên Xôhoàn thành kế hoạch 5 năm sau chiến tranh (1946 - 1950)trước thời hạn, lại thử thành công bom nguyên tử (ngày 23-9-1949)làm cho Mỹ mất thế độc quyền vũ khí hạt nhân Ngày 01-10-1949,nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập Trước tuyênbố về ngoại giao ngày 14-01-1950 của nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa, Trung Quốc và Liên Xô cùng các nước dânchủ nhân dân Đông Bắc Á và Đông Âu lần lượt công nhận vàđặt ngoại giao với Chính phủ ta Thắng lợi ngoại giao này, đãnâng cao uy tín của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trêntrường quốc tế, phá vỡ thế bao vây của chủ nghĩa đế quốc đốivới cuộc kháng chiến của nhân dân ta
Thất bại nặng trước chiến dịch tiến công Biên giới củaQuân đội nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp ngày càng lệ
thuộc vào đế quốc Mỹ Mỹ một mặt “can thiệp thẳng vào
Đông Dương, mưu biến Đông Dương thành một căn cứ chống cộng ở Đông Nam Á”(1), mặt khác nắm lấy Bảo Đại, buộc
(1) Văn kiện Đảng toàn tập, tập 11, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2001, trang 440.
Trang 2Pháp phải ký thỏa ước “công nhận nền độc lập” và cho chínhphủ quốc gia Bảo Đại có quân đội và ngoại giao riêng(1) Đầutháng 12-1950, tướng Đờ-lát Đờ Tát-xi-nhi (Jean De Lattre deTassigny), Tư lệnh lục quân khối Tây Âu, được cử làm TổngChỉ huy quân viễn chinh kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương.Đờ-lát Đờ Tát-xi-nhi đề ra kế hoạch 4 điểm hòng nhanh chónggiành lại quyền chủ động chiến trường ở Việt Nam Đánh pháác liệt và tấn công đánh chiếm vùng tự do là một trong cáctrọng điểm của kế hoạch đầy tham vọng này.
Trước tình hình đó, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghịcán bộ toàn quốc lần thứ III (tháng 01-1950), Hội nghị nhận
định: “ta càng đánh, chính quyền nhân dân càng thêm vững
chắc, tinh thần quân và dân càng cao, các lực lượng hòa bình và dân chủ càng ủng hộ nhiệt liệt, nhưng ta còn mấy nhược điểm lớn: thiếu vũ khí hạng nặng, thiếu quân chính quy, kinh tế và văn hóa phát triển chậm” Thực dân Pháp “được Mỹ - Anh giúp đỡ nhiều, nhưng quân viễn chinh tinh thần sút kém, tiếp tế khó khăn, bổ sung có hạn, bố trí phân tán, tài chính nước Pháp khốn quẫn và nhân dân phản đối chiến tranh ngày một cao” Hội nghị chủ trương: “Nhân đà tiến bộ của bản thân
ta, dựa vào sự giúp đỡ của các lực lượng bạn, lợi dụng sự lúng túng của địch, trước mưu mô của đế quốc Mỹ, mà gấp rút hoàn thành chuẩn bị chuyển sang tổng phản công trong năm 1950” (2) Ngày 12-02-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký
(1) Ngày 08-3-1949, Auriol - Tổng thống Pháp ký với Bảo Đại thỏa ước
“công nhận nền độc lập Việt Nam”; ngày 28-5-1949 Bảo Đại lập “chính phủ quốc gia”; ngày 07-02-1950 Mỹ - Anh “công nhận chính quyền Bảo Đại”; ngày 24-12-1950, Mỹ ký hiệp ước viện trợ trực tiếp với Việt Nam quốc gia, Campuchia, Lào.
(2) Văn kiện Đảng toàn tập, tập 11, sđd, trang 197 - 199 Ngày 24-8-1950,
Thường vụ Trung ương Đảng ra Thông tư về việc sửa lại mấy chữ trong Nghị
quyết Hội nghị toàn quốc lần thứ III (tập 11, trang 473 - 474): “Trung ương không muốn đóng khung việc chuyển sang tổng phản công trong năm 1950”.
Trang 3Sắc lệnh số 20/SL quyết định tổng động viên nhân tài, vật lực theo khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng!”.
Cuối tháng 01-1950, Liên khu ủy V tổ chức Hội nghị cánbộ Đảng toàn khu lần thứ II Sau khi đánh giá tình hình mộtnăm tích cực cầm cự và chuẩn bị tổng phản công, căn cứ vàochủ trương mới của Hội nghị cán bộ toàn quốc lần thứ III, Hội
nghị xác định: “năm 1950 là năm gấp rút hoàn thành việc
chuẩn bị để chuyển sang tổng phản công” Hội nghị đề ra
nhiều chủ trương mới về quân sự, chính trị, kinh tế tài chính,văn hóa - xã hội và xây dựng Đảng để động viên mọi nguồnlực tập trung cho tổng phản công Về quân sự, vừa khẩn trươngxây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân dukích, vừa phát triển du kích chiến tranh cao độ ở vùng tạm bịchiếm, tập trung binh lực liên tục mở các chiến dịch lớn tạochuyển biến trong tương quan lực lượng giữa ta và địch, giànhchủ động hoàn toàn về chiến dịch đi đến chủ động chiến lượcbộ phận, tiến tới chủ động hoàn toàn(1)
Để thực hiện Nghị quyết Hội nghị cán bộ toàn quốc lầnthứ III và Hội nghị cán bộ Đảng toàn Liên khu V lần thứ II,khoảng trung tuần tháng 3-1950, Tỉnh ủy tổ chức Đại hội đạibiểu Đảng bộ tỉnh lần thứ III tại trại thiếu nhi Bác Hồ ở thônTân Hóa, xã Cát Hanh, huyện Phù Cát
Qua một năm thực hiện chủ trương “tích cực cầm cự và
chuẩn bị tổng phản công” của Trung ương và Nghị quyết Đại
hội đại biểu Đảng bộ Liên khu và tỉnh, tình hình quân sự vàchính trị, kinh tế, văn hóa, của tỉnh đều tiến bộ Lực lượng
(1) Văn bản Nghị quyết hội nghị này chưa tìm được Những đoạn này dựa
vào “Đề án về tình hình và nhiệm vụ” trong Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ III (tháng 3-1950) và Khu V, 30 năm chiến tranh giải phóng, sđd, trang
163, Sự kiện lực lượng vũ trang nhân dân Liên khu V, tài liệu đánh máy,
tập 1950, trang 8 - 10.
Trang 4vũ trang địa phương với hai thứ quân (dân quân, bộ đội địaphương) phát triển ở các huyện, thị đồng bằng; các vùng xungyếu ở miền núi và ven biển được tăng cường bố phòng, cácthứ quân phối hợp chiến đấu đánh bại những cuộc hành quâncướp phá và lấn chiếm của địch Chăm lo công tác thủy nông,tăng diện tích lúa ngắn ngày (tứ quý, ba triêng ), đẩy mạnhhoa màu phụ, phát triển các nghề tiểu - thủ công nghiệp sảnxuất những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu về ăn, mặc, họchành cho dân, cung ứng ngày càng nhiều cho bộ đội, cơquan và một số tỉnh bạn.
Đại hội đã chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm trong thựchiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng và Chính phủ cũngnhư của Liên khu và tỉnh Không chỉ quần chúng mà cả cánbộ và đảng viên vẫn chưa thấm nhuần đầy đủ tư tưởng chiếntranh nhân dân của Đảng, chủ trương xây dựng căn cứ địa cótừ lâu, nhưng vẫn chưa thực hiện, xây dựng dân quân và bộđội địa phương ở miền núi chậm, công tác phòng gian bảo mậtvà chống gián điệp kém Các cấp chưa có kế hoạch hướngdẫn nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất tự túc, phong tràohợp tác lao động quá yếu, bao vây kinh tế địch chưa được chútrọng, sử dụng của công còn lãng phí Huy động sức người vàsức của cho chuẩn bị tổng phản công vừa chưa cao, vừa chưachú trọng đến việc tích cực cải thiện dân sinh, chưa tập hợpđược mọi tầng lớp nhân dân địa phương (hội, đoàn viên củaMặt trận Liên Việt: 293.115/dân số của tỉnh năm 1950: 679.660người)(1), nhất là đồng bào có đạo (Công giáo, Cao đài ) vàđồng bào miền núi Xây dựng và củng cố các hội đoàn thể thìnặng Ban Chấp hành hơn là hạ tầng cơ sở
(1) Đến năm 1950, ta đã tập hợp vào các hội, đoàn thể của Mặt trận Liên Việt: 293.115 hội, đoàn viên, so với dân số của tỉnh năm 1950: 679.660 người (chiếm 43%).
Trang 5Trong công tác xây dựng Đảng, chưa kết hợp giữa pháttriển với củng cố Đảng, thi đua phát triển Đảng ồ ạt nhưngkhông chú ý chất lượng đảng viên, chưa quan tâm đúng mứcvấn đề chấn chỉnh tư tưởng, học tập và bồi dưỡng lý luận
cho cán bộ, đảng viên nên Đảng bộ “số lượng tăng nhanh
mà chất lượng kém nhiều”, cấp ủy không những chưa chỉ
đạo được công tác quân sự mà cũng coi nhẹ lãnh đạo kinhtế, lãnh đạo các phong trào chưa sâu sát, chưa thấm nhuầnquan điểm quần chúng, chậm sửa đổi phương thức lãnh đạovà lề lối làm việc
Đại hội cho rằng trong thời gian đến thực dân Pháp sẽđánh phá vùng tự do của ta rất quyết liệt, cả càn quét lấnchiếm, phá hoại và tung gián điệp, trong khi đó năm 1949công cuộc chuẩn bị tổng phản công và phát động chiến tranhnhân dân của Bình Định làm chưa được nhiều Căn cứ vàoNghị quyết của Trung ương và Liên khu, Đại hội xác địnhnhiệm vụ trước mắt của Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh là
gấp rút hoàn thành chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công với các nhiệm vụ cụ thể:
Về quân sự, ra sức xây dựng các lực lượng vũ trang nhân
dân địa phương vững mạnh và phát động du kích chiến tranh,góp phần chống phá âm mưu củng cố và chiếm đóng NamTrung Bộ của địch Trong xây dựng lực lượng vũ trang phảiphát triển mạnh mẽ hơn nữa dân quân du kích nhằm chuẩn bịnguồn bổ sung cho bộ đội địa phương và chủ lực, đồng thờicải tiến công tác chính trị Trong bố phòng chuẩn bị chiến đấucần đẩy mạnh cả xây dựng căn cứ địa và làng chiến đấu, đặcbiệt chú ý các vùng sát mặt trận, ven biển, đô thị và quốc lộ.Các cấp ủy đảng phải trực tiếp lãnh đạo quân sự
Về chính trị, tích cực mở rộng đi đôi với củng cố Mặt trận
Liên Việt và các đoàn thể quần chúng, đặc biệt chú ý vận
Trang 6động đồng bào có đạo và miền núi, kiên quyết đập tan âmmưu chia rẽ của địch Tổng động viên mạnh mẽ nhân tài, vậtlực cho tiền tuyến và giúp đỡ Tây Nguyên Đẩy mạnh côngtác tuyên truyền, giáo dục quần chúng về tình hình, nhiệm vụvà chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ cùng nhữngthắng lợi về quân sự, chính trị, kinh tế trong nước và phe xãhội chủ nghĩa, để nhân dân ta tin tưởng, hăng hái tham giakháng chiến Kiện toàn chính quyền các cấp, nhất là cấp xãvà miền núi, phối hợp có hiệu quả hoạt động của các ngànhquân - dân - chính.
Về kinh tế, đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất để tiếp
tế cho tiền tuyến và cải thiện đời sống nhân dân, lãnh đạo cải
thiện dân sinh có hiệu quả là công tác trọng tâm của Đảng bộ Thực hiện tăng thu, giảm và tiết kiệm chi, bảo vệ của
công và thanh toán các quỹ còn dây dưa, mở rộng trao đổihàng hóa trong và ngoài tỉnh để bình ổn giá cả thị trường, phốihợp với các tỉnh bạn, tích cực bao vây kinh tế địch Triệt đểgiảm tô và giảm tức, triển khai công tác điều tra kinh tế nôngthôn Củng cố và phát triển phong trào hợp tác xã tiêu thụ,nông đoàn và tổ chức làm ăn tập thể nhằm thúc đẩy sản xuất.Tích cực đào tạo cán bộ cho các ngành kinh tế tài chính
Về văn hóa, lãnh đạo các ngành văn hóa thông tin tập
trung vào việc động viên nhân dân tích cực tham gia các côngtác chuẩn bị tổng phản công, đồng thời tiếp tục xây dựngphong trào đời sống mới theo hướng: cần, kiệm, liêm, chính.Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng bình dân học vụ.Với giáo dục phổ thông, tích cực phổ biến phương hướng và
phương châm của nền giáo dục mới là “bồi dưỡng thế hệ trẻ
thành người công dân, người lao động tương lai”, “lý luận gắn với thực tế”, “học đi đôi với hành” trong các trường công và
trường tư, trong giáo viên và học sinh
Trang 7Về thi đua ái quốc, các cấp ủy đảng phải chú trọng lãnh
đạo phong trào thi đua, tăng cường bộ máy thi đua các cấp vàcác ngành, phải đẩy mạnh phong trào thi đua từ các tổ chức cơsở, từng gia đình, cá nhân và tiểu tổ nhằm mục đích rất cụ thể:giết giặc lập công, tăng gia sản xuất, triệt để tiết kiệm, phònggian bảo mật, Cuộc vận động thi đua phải có kế hoạch, cótrọng tâm, thời gian cụ thể, phải kết hợp giữa các ngành, cácđơn vị với những hình thức cổ động phong phú, lôi cuốn
Về xây dựng Đảng, phải “củng cố nội bộ Đảng thật vững chắc và tiếp tục phát triển Đảng mạnh mẽ, đúng hướng” Củng
cố Đảng vững chắc không chỉ cải tiến phương pháp lãnh đạovà lề lối làm việc của các cấp ủy, mà phải thực hiện cần,kiệm, liêm, chính trong Đảng để làm nòng cốt cho việc thựchiện cần, kiệm, liêm, chính trong nhân dân; nhân dân trực tiếpgiám sát đảng viên và cán bộ Phải xây dựng cơ sở đảng sâuvà rộng trong các ngành quan trọng về kinh tế, chính trị, quânsự và các nơi xung yếu: đô thị, đường giao thông, vùng thượng
du và nơi có nhiều tín đồ Công giáo Đẩy mạnh hơn nữa phongtrào thi đua xây dựng chi bộ tự động công tác đúng tiêu chuẩncho từng loại và hạng chi bộ Tích cực đào tạo cán bộ địaphương theo kế hoạch(1)
Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa III gồm 13đồng chí, có 2 dự khuyết Đồng chí Nguyễn Văn tiếp tục được
Nguyễn Văn được điều về công tác tại Liên khu ủy V, đồng chíTrần Văn An được Khu ủy chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Khoảng
(1) Nội dung phần kiểm điểm tình hình và nhiệm vụ dựa vào các văn kiện: Đề án về tình hình và nhiệm vụ; Đề án nỗ lực cải thiện dân sinh để hoàn thành chuẩn
bị tổng phản công; Đề án quân sự.
(2) Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1945 - 1975), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, trang 18 ghi đồng chí Trần Văn An làm Bí thư Tỉnh
ủy Quảng Ngãi đến tháng 6-1951.
Trang 8tháng 10-1951, đồng chí Trần Văn An nhận công tác ở Trung ương,Liên khu ủy đưa đồng chí Trần Quang Khanh về làm Bí thư.
2 Tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực cho kháng chiến
Từ cuối 1949, tỉnh Bình Định bị địch đánh phá toàn diện.Phía tây địch tổ chức nhiều đợt càn quét vào Vĩnh Thạnh và
(xã Vĩnh Trường), khống chế xã Vĩnh Hảo, thả bom làng KonKlot (xã Vĩnh Châu), Ở ven biển, ngư dân bị bắt và ghemành bị đốt phá, địch thường xuyên đánh phá cửa biển và bãingang, lập tề ở Cù Lao Xanh; máy bay địch bắn phá dữ dộicác trục giao thông thủy - bộ, cầu - cống, thị tứ và cả vùngsâu, gây nhiều tổn thất về nhân tài, vật lực cho ta(2) Địchcòn cho máy bay rải truyền đơn nhiều nơi trong tỉnh, nhất lànhững vùng có nhiều đồng bào Công giáo với nội dung đềcao Mỹ, cổ động chính quyền Bảo Đại; xuyên tạc chính sáchngoại giao, các chủ trương tổng động viên, giảm biên chế của
ta Lợi dụng tổ chức Liên đoàn Công giáo, các phần tử chốngcộng lôi kéo giáo dân xa rời hàng ngũ kháng chiến, chia rẽlương - giáo, lập hội “Bảo vệ thánh giá” để “vũ trang hóa” sốtín đồ cuồng tín Một số chức sắc còn liên kết với số trí thứcbất mãn lập “Mặt trận quốc gia bài cộng”, chuẩn bị lực lượngnội ứng, lén lút đưa người vào vùng địch tạm chiếm, bị ta kịpthời phá rã cuối năm 1950(3)
(1) GOUM: nguyên gốc tiếng A Rập chỉ các lực lượng vũ trang ở làng, xã (2) Tổn thất về nhân tài, vật lực của Bình Định năm 1950 là 88.000.000 đồng, riêng về kho dự trữ gần 60.000.000 đồng trong tổng số thiệt hại cả vùng tự do liên khu là 169.267.000 đồng Năm 1951, tỉnh có 514 người bị địch bắt giết, 1.297 ngôi nhà bị cháy và sập, hơn 500 trâu bò bị bắn, 450 ghe thuyền và mành lưới bị đốt phá.
(3) Mật điện của Ủy ban kháng chiến hành chính Miền Nam Trung Bộ ngày
11-12-1950: Tổ chức gián điệp ở Bình Định do 2 nhóm giáo và lương liên kết lập tháng 6-1949, lấy tên là “Mặt trận quốc gia bài cộng” do một số linh mục cầm đầu, ta khám phá tháng 10-1950.
Trang 9Tình hình trên đặt cho Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnhnhững vấn đề cấp thiết cần phải giải quyết Phải huy độngmọi tiềm năng về vật chất và tinh thần của địa phương để đápứng những nhu cầu ngày càng cao của tiền tuyến, đồng thờikhẩn trương và tích cực xây dựng tỉnh nhà thành hậu phươngvững mạnh về mọi mặt của chiến trường Liên khu V.
Đầu 1950, Tỉnh ủy mở cuộc họp quân - dân - chính toàntỉnh bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủvề tổng động viên nhân tài, vật lực và tinh thần của toàn dân
theo khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng!”
Kế hoạch tổng động viên của tỉnh gồm hàng chục cuộc vậnđộng, mỗi cuộc vận động đều xác định yêu cầu cụ thể và tổchức phụ trách, cũng như các công tác kết hợp Như cuộc vậnđộng quỹ chuyển mạnh sang tổng phản công kết hợp với phongtrào thi đua yêu nước, xác định định mức cho từng địa phươngvà gia đình, tổ chức học tập thảo luận định mức trong Đảngtrước khi đưa ra nhân dân Mở đầu cuộc vận động là tuần lễtổng động viên từ ngày 01-3 đến ngày 07-3-1950(1)
Với sự hưởng ứng mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân, kểcả đồng bào miền núi, cuộc tổng động viên nhân tài, vật lực của
tỉnh thu được những kết quả to lớn Về tổng động viên nhân lực
cho phát triển các lực lượng vũ trang địa phương, đến cuối năm
1950 động viên được khoảng 323.571 người, chiếm 78% số cửtri của tỉnh (lực lượng vũ trang địa phương: 323.571/số cử tritoàn tỉnh: 426.931), tăng hơn 100.000 người so với cuối năm
1949 Trong đó bộ đội địa phương tỉnh có một tiểu đoàn gồm 4đại đội, 9/11 huyện, thị có từ 1 trung đội đến 1 đại đội, tăngcường bộ đội địa phương huyện Mỗi xã, cả đồng bằng và miềnnúi đều có từ một tiểu đội đến một trung đội du kích chủ lực
(1) Lịch phát động tổng động viên của Đảng bộ và các ngành quân - dân
- chính tỉnh Bình Định năm 1950.
Trang 10Lực lượng dân quân các loại đều tăng, riêng dân quân trong cơquan, xí nghiệp và trường trung học gần 30.000 người Năm
1950 thanh niên Bình Định đầu quân cho chủ lực, bộ đội địaphương, tham gia các cơ quan Liên khu và Tây Nguyên với9.600 người, trong đó có hơn 1.100 học sinh trung học, nếu tínhcả năm 1949 thì hơn 12.500 người Huy động dân công phục vụcác chiến trường, trong chiến dịch Đông Xuân 1949 - 1950 vàHè 1950 với 279.274 ngày công, 10 tháng đầu năm 1951 vớikhoảng 600.000 ngày công Đó là chưa kể số dân công huyđộng để sửa chữa và làm mới các tuyến đường bộ trong tỉnh đểnối với các hướng chiến trường (năm 1950 sửa chữa 513/613
Về tổng động viên vật lực, tài lực, các tầng lớp nhân dân
trong tỉnh đã tích cực đóng góp vào các quỹ: nuôi quân, rèn cánchỉnh quân, ủng hộ vùng tạm chiếm, nhất là quỹ chuyển mạnhsang tổng phản công Về quỹ nuôi quân, với định mức là80.000.000 đồng đã thu được 174.500.000 đồng, đạt 217,5%(vượt 117,5%), trong đó có 69.356.000 đồng tiền mặt, 1.003.000 kglúa và 11.000 kg gạo, 614 mẫu ruộng hiến vĩnh viễn và 1.074mẫu có thời hạn Cuộc vận động quỹ ủng hộ vùng tạm bị chiếmcũng đạt kết quả khả quan, với số tiền 8.360.000 đồng Năm
1950, tỉnh còn nhận thêm 197 cán bộ và con em cán bộ vùngtạm bị chiếm đến nghỉ, chữa bệnh và học tập văn hóa Tỉnh ủnghộ huyện Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa), tỉnh Ninh Thuận, tỉnhLâm Viên (tỉnh Lâm Đồng ngày nay) 50 tấn gạo, 7.000 kg đường,
900 bộ quần áo, 1.000 quả lựu đạn cùng một số thuốc chữabệnh, nịt da, mền và áo trấn thủ, trị giá 830.000 đồng(2)
(1) Báo cáo cuối năm 1950 của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Bình Định, Báo cáo cuối năm 1950 ngày 01-4-1950 và cuối năm 1951 ngày 09-01-1952 của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ, tlđd (2) Báo cáo thượng bán niên (tháng 01 đến tháng 5-1950) và Báo cáo cuối năm của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Bình Định, tlđd.
Trang 11Liên khu V thu quỹ chuyển mạnh sang tổng phản công ởvùng tự do trước khi nhận được Sắc lệnh số 20/SL ngày 12-02-1950về tổng động viên của Chính phủ Theo Ủy ban kháng chiếnhành chính Nam Trung Bộ, quỹ này là một biện pháp đặc biệtđể thăng bằng thu chi ngân sách và giải quyết nạn lạm phátđồng tín phiếu, không chỉ đáp ứng yêu cầu cho tiền tuyến,còn giải quyết 3 quỹ của các tỉnh (nuôi bộ đội địa phương,ngân sách xã, quỹ hoạt động đoàn thể các cấp ở vùng tự do).Ban đầu quỹ định huy động toàn khu 2.813.000.000 đồng,nhưng đến Hội nghị Liên khu ủy mở rộng (từ ngày 08 đếnngày 15-7-1950) hạ xuống còn 2.382.000.000 đồng, trong đódành 711 triệu đồng cho 3 quỹ của các tỉnh(1) Quỹ này phảithu đến cuối năm 1951 vừa tiền, lúa, vàng, bạc, ruộng đất vàđồ vật là 2.062.530.415 đồng, trong đó chỉ có tỉnh Phú Yên vàtỉnh Bình Định hoàn thành và vượt mức chỉ tiêu Riêng Bình
Định thu đạt 708.828.046 đồng, trong đó có 260.763.748 đồng
tiền mặt, 6.236.244 kg lúa, 5.103 mẫu 1 sào/18.815 mẫu 5 sàoruộng đất vĩnh viễn và có thời hạn, 78.646.869 đồng trị giácác đồ vật khác Trong những đồ vật của tỉnh có 7 nhà máy in,hơn 30 xe đạp, 1 xe camion(2)
Cùng với các quỹ động viên trên, các loại thuế trực thu vàgián thu năm 1950 so với năm 1949 đều tăng từ 50 - 300%,như thuế sát sinh từ 1.512.143 đồng (năm 1949) tăng lên2.308.359 đồng, thuế môn bài từ 1.424.741 đồng (năm 1949)lên 5.176.496 đồng Tổng số tiền thu được từ các loại thuếnày từ 70.000.000 đồng (cả tiền và lúa) lên 95.383.103 đồngvà 4.242.299 kg lúa (toàn Liên khu thu được 301.200.856đồng) Về thuế ruộng đất thu theo cách tính mới, nên tỉnh
(1) Báo cáo cuối năm 1950 của Ủy ban kháng chiến hành chính Miền Nam
Trung Bộ, tlđd.
(2) Báo cáo cuối năm 1950 ngày 01-4-1951 và Báo cáo quý III năm 1951 ngày 20-11-1951 của Ủy ban kháng chiến hành chính Miền Nam Trung Bộ, tlđd.
Trang 12Bình Định còn nộp thêm 3.204 tấn lúa, cao nhất toàn Liênkhu(1) Năm 1951 còn thu thuế nông nghiệp, một trong 7 loạithuế do Chính phủ ban hành ngày 01-5-1951 Thuế nông nghiệp
1951 thu muộn và mới mẻ nên đến 31-7-1952, toàn tỉnh mớichỉ thu được 6.055.099 kg/14.000.000 kg, nhưng là tỉnh có sốthu cao nhất toàn Liên khu: (số thu của tỉnh: 6.055.099/toàn
tiếp tế một số hàng thiết yếu cho tiền tuyến và các tỉnh: Vềgạo hơn 6.450 tấn, trong đó có 3.020 tấn cho bộ đội chủ lực,1.569 tấn cho viên chức các cơ quan và hỏa xa Liên khu, 146tấn cho Đắc Lắc và Bình Thuận, đặc biệt cứu đói cho Phú Yên1.500 tấn Hơn 63.100 mét vải, chủ yếu là vải xi-ta, gấp 3 lầnnăm 1949, riêng cho quân trang Liên khu 44.000 mét, chocông chức miền Nam 12.400 mét Muối ăn hơn 3.600 tấn, có
220 tấn cho bộ đội chủ lực, 220 tấn cho Gia Lai - Kon Tum,3.200 tấn cho Quảng Nam trong đó có muối của Sở Tài chínhLiên khu làm hàng trao đổi hàng với Thừa Thiên Huế, chưakể số muối cho kho dự trữ của Liên khu(3)
Sau ngày toàn quốc kháng chiến, cuộc tổng động viênnhân tài, vật lực này là một đợt vận động chính trị sâu rộngtrong Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh, số tiền và lúa gạo độngviên được rất đáng kể, hơn 465.000.000 đồng cho các quỹ và19.700.000 kg lúa Song trong quá trình thực hiện đã phạmphải những sai lầm, khuyết điểm lớn Việc tuyên truyền vềtổng động viên khá rầm rộ và một chiều, đã làm cho cán bộ,đảng viên và nhân dân hiểu lầm rằng năm 1950 là thời điểm
(1) Báo cáo tình hình Liên khu V đầu năm 1951 của Liên khu ủy V (2) Báo cáo cuối năm 1951 và Báo cáo cuối năm 1952 của Tỉnh ủy Bình Định:
6.055.099 kg là của tỉnh Bình Định, 18.865.000 kg là số thu được toàn vùng tự do, 44.000 tấn là chỉ tiêu thu năm 1951 của Liên khu.
(3) Báo cáo cuối năm 1950 của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Bình Định và Miền Nam Trung Bộ, tlđd.
Trang 13ta khởi đầu cuộc tổng phản công, nên nhiều địa phương vàcán bộ đua nhau hô hào nhân dân phải dốc sức người, sức của
để giành chiến thắng Định mức và cách phân bổ quỹ “chuyển
mạnh” vừa quá khả năng, lại vừa áp đặt thời gian đóng góp
gấp rút, vừa không hợp lý và công bằng giữa các tầng lớp xãhội, thậm chí cả những người nghèo khổ cũng phải góp 300đồng Biện pháp thu nhận có vẻ linh hoạt, có thể nộp tiền,lúa, vàng, bạc, ruộng đất và hiện vật có giá trị thuận tiện chothu nhận, nhưng đã gây bao hệ lụy cho người dân túng thiếu.Địa chủ và phú nông mượn cớ đóng quỹ đã tổ chức lấy ruộngphát canh Trung nông và bần nông thiếu tiền, lúa, vàng, bạc,phải vay, mượn hoặc đem ruộng đất, trâu bò để nộp Tiểuchủ và tiểu thương túng bấn phải nộp cả vốn liếng và công cụ
sản xuất, tức “động viên đến tài sản gốc, sinh kế của nhân
dân: ruộng đất, trâu bò, vốn liếng”(1) Để có thành tích thi đuađã có “một số cán bộ và địa phương thiên về mệnh lệnh, épbuộc dân chúng đóng góp”(2) Ruộng đất, trâu bò, lúa, công
cụ sản xuất của dân đóng góp lại bảo quản kém, hư hỏng vàsử dụng phung phí Hậu quả đã ảnh hưởng đến chính trị, sảnxuất và đời sống của nhân dân Sai lầm về thu quỹ “chuyểnmạnh” là một trong “ba việc lớn đã làm cho tình hình chính trịLiên khu V năm 1950 căng thẳng”(3)
3 Tiếp tục củng cố hậu phương vững mạnh
Trong các năm 1950 - 1951, để tăng cường sức mạnh đại
(1) Ngày 14-11-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Mật điện số 509 phê bình
cán bộ chính quyền và các đoàn thể Miền Nam Trung Bộ, không phải là tháng 5-1951.
(2) Báo cáo tình hình Liên khu V năm 1950, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 11,
Trang 14đoàn kết toàn dân và hiệu lực của chính quyền nhân dân trướctình hình mới, Tỉnh ủy chủ trương: phải mở rộng và củng cốMặt trận, trong đó lấy củng cố Hội Nông dân cứu quốc làmtrung tâm; đồng thời kiện toàn bộ máy chính quyền các cấptheo hướng chính quyền dân chủ nhân dân, đặc biệt chú ýchính quyền miền núi.
Về mở rộng và củng cố Mặt trận và các đoàn thể quần chúng đến cuối năm 1950 số hội đoàn viên toàn tỉnh có 427.000
người, tăng 143.000 người so với cuối năm 1949, chiếm gần 2/3dân số và 3/4 cử tri(1) Uy tín của Mặt trận Liên Việt được đề caotrong công tác tổng động viên, vận động các quỹ nuôi quân, Hội Nông dân cứu quốc không những làm nòng cốt trong phongtrào đẩy mạnh sản xuất và tiết kiệm, đi dân công mà còn điđầu trong cuộc vận động chuyển các tổ hợp tác lao động thànhcác tổ sản xuất, vòng và đổi công Hội Phụ nữ tích cực tham giacác tổ chức phò trợ dân quân, nổi bật là trong phong trào thi đua
“Phụ nữ 5 tốt” và phong trào “Phụ nữ chức nghiệp” Với thanh
niên kể cả thanh niên học sinh, ngoài việc hăng hái tham giacác lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong, còn
đi đầu trong phong trào “Xây dựng đời sống mới”
Năm 1951, do phải tập trung cho công tác thu thuế nôngnghiệp, nên Ủy ban kháng chiến hành chính Miền Nam TrungBộ cho phép tỉnh Bình Định hoãn cuộc bầu cử Hội đồng nhândân tỉnh và xã khóa III Để củng cố chính quyền, tỉnh đã đưamột số cán bộ có năng lực là bần nông và phụ nữ vào các cơquan cấp xã và huyện Về giảm biên chế, theo kế hoạch chungcủa khu thì cuối năm 1951 mới ở bước tổ chức học tập chủtrương và chính sách, nhưng ngành hành chính cấp tỉnh cũng
(1) Cuối năm 1950, theo Báo cáo của Ủy ban kháng chiến hành chính Miền
Nam Trung Bộ: Số hội viên các đoàn thể vùng tự do là 1.393.000 người chiếm 1/3 dân số, hội viên các đoàn thể ở Bình Định chiếm gần 1/3 (427.000/ 1.393.000) số hội viên toàn khu.
Trang 15giảm được 83/810 người(1), và tập trung các ngành chuyênmôn vào văn phòng Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp.
Trong 2 năm 1950 - 1951, tỉnh mở 3 đợt “rèn cán, chỉnh cơ”,
riêng đợt 1 và 2 (tháng 8 và tháng 11-1950) mở 5 lớp cho 239người từ hội viên hội đồng nhân dân và ủy viên ủy ban cấpxã, huyện đến trưởng ty, trưởng phòng cấp tỉnh tham gia Nhìnchung, công tác củng cố bộ máy chính quyền các cấp mới tậptrung quyền lực vào Ủy ban kháng chiến hành chính, việc đềcao công nông còn máy móc và hình thức, kiện toàn cấp tỉnhđược một phần, cấp huyện lúng túng, cấp xã mới bắt đầu(2)
Để chấn chỉnh công tác thượng du, Tỉnh ủy và Ủy ban
kháng chiến hành chính tỉnh đã tăng cường cho ba huyện miềnnúi 82 cán bộ chính trị và chuyên môn Tại vùng cao An Lãovà Vĩnh Thạnh đã thay các tổ chức quần chúng theo kiểumiền xuôi (Nông dân, Thanh niên, ) bằng các hội đi săn, cáctổ phát rẫy và bảo vệ rẫy, hội đánh Tây, Với sự chuyểnhướng về hình thức tổ chức này không những tập hợp đượclực lượng trẻ chịu xa làng tham gia công tác kháng chiến, màcòn tranh thủ được nhiều chủ làng và các già làng ở buôn,nóc Về chính quyền đến cuối năm 1950 đã nhập khoảng 180làng vùng thấp và vùng cao, so với năm 1949 tăng 15 làng đểlập 37 xã (huyện An Lão 14, huyện Vĩnh Thạnh 10, huyệnVân Canh 13) với hơn 8.800 cử tri và 15.130 dân cùng Hộiđồng nhân dân và Ủy ban kháng chiến hành chính xã(3) Chínhquyền đã huy động nhân tài, vật lực tại chỗ hơn 700.000 đồng
(3) Báo cáo cuối năm 1951 của Ủy ban kháng chiến hành chính Miền Nam
Trung Bộ: quý II năm 1951, bộ máy hành chính cấp tỉnh của Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Kon Tum, Đắc Lắc giảm 810 người, riêng Bình Định 83 người.
(2),(3) Báo cáo cuối năm 1950 của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Bình
Định, tlđd.
(3) Báo cáo tổng kết cuối năm 1951 của Tỉnh ủy Bình Định.
Trang 16cho quỹ chuyển mạnh, 364.000 đồng và 22 tấn lúa cho ngânsách địa phương, cùng hơn 3.400 đội viên dân quân du kíchxã, tức hơn 38% dân số Về đào tạo cán bộ, ngoài 100 cán bộcho Ủy ban kháng chiến hành chính huyện và xã do PhòngDân tộc thiểu số tỉnh đào tạo, các huyện còn đào tạo tại chỗ
77 người, trong đó có 26 cán bộ người dân tộc(1)
Nhằm ổn định tình hình chính trị trong tỉnh, đầu năm 1951Tỉnh ủy mở đợt sinh hoạt chính trị cho Đảng bộ và nhân dân
Trong Đảng học tập và kiểm điểm theo nội dung Mật điện số
509 ngày 14-11-1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cán bộchính quyền và các đoàn thể Nam Trung Bộ về những sai lầmtrong tổng động viên và thượng du vận Các đoàn thể học tập
Chính cương, Điều lệ, Tuyên ngôn của Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt (tháng 3-1951) Bên cạnh đó tỉnh
đã tiến hành điều chỉnh mức đóng góp, mức giảm tô, trả lạiruộng động viên của bần nông và trung nông, cho địa chủchuộc lại ruộng nộp vào quỹ chuyển mạnh, bỏ chủ trương
“thống nhất thu nhặt và chỉ huy phân phối”, thực hiện tự dogiao lưu hàng hóa trong vùng tự do Tỉnh ủy cũng đã triển khainhiều giải pháp để đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn: Vớivụ án “Mặt trận quốc gia bài cộng”, ta đã tổ chức cho nhândân các địa phương trong tỉnh tham gia mít-tinh ủng hộ chủtrương, chính sách về tôn giáo của Chính phủ, cực lực lên ánbọn phản động, tổ chức hội nghị đoàn kết giáo lương ở nhữngvùng đông tín đồ Công giáo để giải quyết những mắc mứugiữa hai bên(2) Ở các huyện miền núi đã kiểm điểm số cán bộKinh có những sai phạm về chính sách dân tộc, chấn chỉnh cácchi điếm Kinh - Thượng ở Tà Lăng (huyện Vĩnh Thạnh) và
(1) Báo cáo cuối năm 1950 của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Bình Định, tlđd.
(2) Báo cáo tổng kết cuối năm 1951 của Tỉnh ủy Bình Định.
Trang 17Canh Thành, Canh Tiến (huyện Vân Canh), vận động nhândân phát triển hoa màu để khắc phục nạn đói giáp hạt Đốivới việc địch lập tề và ổ vũ trang ở 2 làng Kon - Plo và GiáMây, đoàn công tác vùng cao Vĩnh Thạnh của tỉnh đã bám địabàn vận động các già làng và phân hóa số thanh niên nhậnsúng để từng bước vô hiệu hóa âm mưu này của địch Cáclàng Chu, Thinh, Kon - Yơn, 2 làng Mặc gần đồn Tú Thủyvà Kan - Nak thì vận động dân cất giấu tài sản, xây dựng làngchiến đấu, chống địch dồn dân(1).
Về các lực lượng vũ trang, đầu năm 1950 các cấp ủy
viên từ tỉnh xuống xã trực tiếp làm chính trị viên Ban Quânsự và ủy viên Đảng đoàn chính quyền cùng cấp Đồng thời,
lập Liên chi trực thuộc Tỉnh ủy tại Tỉnh đội để chuyên trách
công tác Đảng và công tác chính trị trong bộ đội địa phương
Trong đợt “rèn cán chỉnh quân” lần thứ hai (1950 - 1951),
với các lớp học tập chính trị và quân sự đã góp phần khắcphục một số lệch lạc về tư tưởng, quan điểm Riêng lực lượngdân quân du kích thôn, xã, đầu năm 1950 tỉnh đã mở hơn
150 khóa cho đội viên các đội du kích chủ lực xã và 1.905cán bộ từ Trung đội đến xã đội, trong đó có 175 chính trịviên và xã đội trưởng(2) Để luyện quân trong thực tế chiếnđấu, hàng năm tỉnh đưa từ 5 - 7 đại đội đi tham gia chiến đấutại các chiến trường: Quảng Nam, Đà Nẵng, Bắc Tây Nguyên,Bắc Khánh Hòa, (năm 1950, lực lượng đi tham gia chiếnđấu là 2.014 người, gồm: 584 bộ đội địa phương, 1.350 dukích chủ lực xã và 80 trinh sát viên) Các lực lượng vũ trangtỉnh còn tích cực tham gia tăng gia sản xuất tự túc Các đạiđội bộ đội địa phương tỉnh, huyện và các đơn vị trực thuộctỉnh đội đều có 1 tiểu đội “nông binh”; du kích xã có cơ sở
(1) Báo cáo đặc biệt tình hình miền Tây tỉnh Bình Định năm 1951 của Tỉnh
ủy Bình Định.
(2) Báo cáo tình hình 6 tháng đầu năm 1950 của Tỉnh ủy Bình Định.
Trang 18tự túc, hàng năm thu hoạch được một khối lượng đáng kể vềlương thực và gia súc(1).
Để đối phó với máy bay địch bắn phá, tỉnh cho sơ tán cácthị tứ đông dân, lập các ban phòng thủ, bảo vệ kho tàng, cơxưởng và những đội phòng, chữa cháy, vận động dân làmbịch đất chứa lúa, di chuyển tài sản, chuẩn bị đồ dập lửa vàbom napan Đồng thời, huy động lực lượng sửa chữa và đàothêm giao thông hào, hầm tránh phi pháo cho người và giasúc, hầm trú ẩn công cộng và tổ chức nhóm chợ, học tập vàoban đêm Những nơi địch có thể nhảy dù thì cắm thêm cọcphòng không, củng cố hầm hào chiến đấu ở những nơi xungyếu Hệ thống phát hiện, cảnh giới và báo động địch oanhkích, đổ bộ, càn quét được tăng cường về người và phươngtiện Ghe thuyền đánh cá đều có du kích đi kèm, có lù thôngnước kịp thời làm đắm để bảo toàn người và ngư cụ
Công tác phòng gian bảo mật, chống gián điệp cũng đượctăng cường Tỉnh mở đợt học tập “Bảo vệ trật tự trị an” trongnhân dân và phát triển mạng lưới cộng tác viên an ninh ở thôn,xóm Các cơ quan, cơ xưởng, kho tàng, đơn vị bộ đội đóng ởđâu đều phối hợp chặt chẽ với chính quyền và công an ở đótrong công tác phòng gian bảo mật Trong các năm 1950 - 1951,với sự giúp đỡ của nhân dân, công an địa phương không chỉ giảiquyết kịp thời những vụ việc làm mất an ninh ở thôn, xã, màcòn phối hợp với Công an Liên khu khám phá tổ chức gián điệp
“Mặt trận quốc gia bài cộng” (tháng 10-1950), bắt gọn mộtnhóm thanh niên Công giáo dùng thuyền chạy vào vùng tạmchiếm ở xã Cát Chánh (huyện Phù Cát) (tháng 11-1951)(2)
(1) Năm 1950, các loại quân của tỉnh đã sản xuất: 268 mẫu thu 630.000 kg lúa và màu; nuôi 45 con trâu, 20 con bò, 29 con heo, 4.842 con gà vịt, 13 máy may, hàng tháng thu 1.092.000 đồng; 1 xưởng dệt với 14 khung, hàng năm sản xuất 30.000 mét khổ chiếc Du kích Quy Nhơn và xã Tam Quan mỗi nơi có một giàn mành, Huyện đội Tuy Phước có 1 xưởng giấy.
(2) Thời điểm vụ Cát Chánh, chúng tôi dựa vào Báo cáo tổng kết cuối năm
1951 của Tỉnh ủy Bình Định.
Trang 19Thực hiện chủ trương xây dựng hậu phương về kinh tế,
Bình Định phát triển mạnh cả nông nghiệp và tiểu - thủ công.
Trong nông nghiệp, để phát triển sản xuất thâm canh, tỉnh chútrọng phát động các phong trào “nước, phân, giống” Về nước,ngoài việc tu bổ hàng ngàn đập, mương, bờ bạn, tỉnh cònhuy động nhân công và tiền, lúa, làm mới các công trình tiểuthủy nông, năm 1950 các công trình mới này tưới và ngănmặn gần 9.000 mẫu Đầu năm 1951, tỉnh đưa cán bộ Nông hộivào Ban Quản trị các đập lớn phía Nam tỉnh, đặc biệt là đã giảiquyết được tình trạng tranh giành nước “truyền đời” giữa cácđập dọc sông Kôn Phong trào làm phân bón được nông dânhưởng ứng mạnh mẽ, nếu năm 1950 toàn tỉnh mới có 19.622hầm phân các loại, thì năm 1951 lên tới 35.000 hầm với 90%đều có mái che Phong trào làm phân bắc từ Hoài Nhơn,Phù Mỹ lan rộng tới Phù Cát, Bình Khê, Từ năm 1950, nôngdân nhiều nơi được hướng dẫn về kỹ thuật gieo thưa, cấy nhỏbụi, chọn giống và chăm sóc ruộng lúa giống (1)
Qua các mùa “thi đua thâm canh”, năng suất và sản lượnglúa và hoa màu tăng Năm 1950, mặc dù vụ lúa tứ quý chỉ có9.200 mẫu, nhưng lần đầu tiên sản lượng lúa toàn tỉnh đạt176.700 tấn (vùng tự do 597.000 tấn) Năm 1951, cả 3 vụ (vụtháng 8, vụ tháng 10 và vụ tháng 12) mất từ 30 - 40% sảnlượng lúa toàn tỉnh, chỉ đạt 141.120 tấn (vùng tự do 341.320tấn), nhưng nhờ tăng diện tích vụ lúa tứ quý lên 24.700 mẫuvà thu 14.700 tấn, diện tích hoa màu các loại tăng lên tới 26.965mẫu (tăng gần 100.000 mẫu so với năm 1950), nên sản lượnglương thực toàn tỉnh không giảm nhiều Ngày 15-10-1950, tỉnhđem hơn 210 mẫu ruộng đất của Pháp ở đồn điền Portier(huyện Tuy Phước) và Delignon (huyện Bình Khê), chia cho
(1) Báo cáo cuối năm 1950 của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Bình Định và Miền Nam Trung Bộ, Báo cáo cuối năm 1951 của Ủy ban kháng chiến hành chính Miền Nam Trung Bộ và Tỉnh ủy Bình Định, tlđd.
Trang 20176 hộ nông dân thiếu ruộng, trong đó có 6 gia đình liệt sĩ, 8thương binh, 18 gia đình bộ đội tại ngũ, Về giảm tô, năm
1951 toàn tỉnh có 14.930 tá điền được hưởng 870.700 kg lúatô, 2.500 tấn lúa tăng vụ và 121 tấn hoa màu Vùng cao 3huyện miền núi nhờ phát triển mạnh hoa màu phụ và đượcBan Kinh - Thượng tiếp tế gạo kịp thời, nên vượt qua nạn đóigiáp hạt năm 1951 Vùng thấp huyện Vân Canh tăng diện tíchlúa gieo, còn vùng thấp huyện An Lão thì phát triển lúa cấy 2vụ, làm 17 bờ xe nước, nên đời sống có phần ổn định hơnVĩnh Thạnh(1)
Về sản xuất tiểu - thủ công nghiệp, một số ngành tiểu thủcông nghiệp quan trọng của tỉnh đạt mức khá cao Ngành sợivà dệt, số người kéo sợi từ 20.000 người (năm 1949) lên 35.000người với sản lượng sợi đạt 264 tấn/năm, tăng 164 tấn (so vớinăm 1949); khung cửi (đôi và chiếc) tăng từ 1.074 lên 5.300khung và sản lượng vải các loại từ 100 tấn (năm 1949) lên 268tấn/năm, riêng vải xi-ta không tăng nhưng kỹ thuật đánh chỉ từ
13 x 13 sợi lên 17 x 17 sợi Ngành giấy, nhờ cải tiến kỹ thuật
và tìm được nguyên liệu mới tại chỗ, nên sản lượng giấy cácloại từ 249 tấn (năm 1950) lên 275 tấn (năm 1951), chất lượnggiấy đánh máy và in bạc tín phiếu tốt hơn Ngành xà phòngđạt 15.000 kg/16.700 kg/tháng, xà phòng Quy Nhơn khôngkém xà phòng ngoại, giá lại rẻ hơn Ngành dầu dừa (năm1951) sản xuất được 1.075 tấn, so với cả vùng tự do thì riêngtỉnh Bình Định tăng 1.000 tấn Ngành rèn và cơ khí sửa chữaphát triển khá mạnh, toàn tỉnh có 342 lò rèn, chiếm 34,44% sốlò rèn toàn vùng tự do (993 lò toàn vùng tự do) Không nhữngsản xuất và cung cấp nhiều hàng nông cụ và gia dụng cho địa
(1) Báo cáo cuối năm 1951 của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ, tlđd và Thống kê tình hình tiểu thủ công nghiệp và Tài liệu tham khảo về tình hình kinh tế tài chính Liên khu V, tlđd.
Trang 21phương và một số vùng ở Tây Nguyên, một số hàng cho bộ đội,mà còn sản xuất được các mặt hàng kỹ thuật: máy xay bột giấy,máy đánh sợi, máy xay gạo, máy bơm nước, động cơ nổ, máytiện, lò than chạy xe hơi, máy và chữ in, phụ tùng xe đạp(1).Cùng với đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp, sự nghiệp văn hóa - xã hội cũng được quan tâm Từ
năm học 1950 - 1951, thực hiện chủ trương của Liên khu, tỉnhtiến hành “công lập hóa” trường lớp tư thục tiểu học và trung
học, thay các bậc học phổ thông 12 năm bằng Chương trình 9
năm, chấn chỉnh giáo dục theo phương châm “học tập phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, phục vụ sản xuất” Về
trường lớp, bậc tiểu học (cấp I) từ 448 trường và 930 lớp(1949 - 1950) lên 494 trường và 950 lớp (1950 - 1951), trongđó lớp nhất (lớp 4) từ 69 lớp (1949 - 1950) lên 95 lớp (1950 -1951) Bậc trung học (cấp II, cấp III) từ 6 trường và 50 lớp (3lớp chuyên khoa) lên 7 trường cấp II ở 7 huyện đồng bằng và
51 lớp (có 1 lớp 8)(2) Trong kỳ nghỉ hè chuyển tiếp (tháng 7đến tháng 12/1951), tiếp theo phong trào “rèn cán, chỉnh hiệu”của năm học 1949 - 1950, trong khi hàng ngàn thầy cô ở 3 cấphọc tham dự các khóa huấn luyện của khu và tỉnh về chươngtrình và quan điểm nhân dân của nền giáo dục mới, thì hàngchục ngàn học sinh các cấp tích cực tham gia các công táckháng chiến tại chỗ: thông tin, bình dân học vụ, tăng gia sảnxuất, dân quân, thuế nông nghiệp Ở miền núi, dù khó khănvề giáo viên, nhưng 2 huyện An Lão và Vân Canh vẫn duy trìđược 2 trường cấp I với gần 60 học sinh, cả 3 huyện đã mở 42lớp học với hơn 600 học sinh sơ cấp bình dân học vụ
(1) Năm học 1950 - 1951, cả tài liệu của Liên khu và tỉnh đều không có số học sinh các cấp của từng tỉnh, chỉ có toàn Liên khu: cấp I có 104.973 em (không có học sinh vỡ lòng sẽ thí điểm năm 1952 tại tỉnh Bình Định) cấp II và III: 7.369, so với 1949 - 1950 cả 3 cấp đều tăng.
(2) Báo cáo cuối năm 1950 và năm 1951 của Ủy ban kháng chiến hành
chính Bình Định và Miền Nam Trung Bộ, tlđd.
Trang 22Các ngành văn hóa - xã hội khác cũng được chấn chỉnh.Đến năm 1951, ngành y tế đã hình thành hệ thống khám chữabệnh từ tỉnh xuống xã Tuyến tỉnh có 2 bệnh viện cùng 2 nhàhộ sinh ở An Thường (huyện Hoài Ân) và Song Thanh (huyện
An Nhơn, nay là thị xã An Nhơn) và bệnh viện phong QuyHòa Tuyến huyện có 8 bệnh xá ở các huyện đồng bằng vàhuyện Vân Canh, 6 nhà hộ sinh (Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát,
An Nhơn, Tuy Phước, Bình Khê) Tuyến xã có trạm y tế và hộsinh ở 49 xã, chiếm hơn ½ số xã đồng bằng Các công tác: vệsinh phòng bệnh, mở lớp đào tạo cứu thương cho dân công docác bệnh xá đảm nhiệm(1) Cũng từ năm 1951, trong khi hệthống các trại cứu tế xã hội và thương binh thu hẹp từ 5 trạicòn 3 trại: Trại Dục Anh (ở xã Cát Hanh, huyện Phù Cát); trạiđào tạo nghề cho phụ nữ (ở xã Nhơn An) và trại thương binhtại (xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn nay là thị xã An Nhơn),thì các hội cứu tế xã hội xã lại tăng từ 50 (năm 1949) lên 60hội (năm 1951) Hệ thống hội cứu tế này đảm đương cả côngtác cứu tế xã hội, giúp đỡ các gia đình liệt sĩ, thương binh, vàcùng các đoàn thể chuẩn bị đón thương binh về xã
Về xây dựng Đảng, thực hiện chủ trương “Củng cố nội bộ Đảng vững chắc và tiếp tục phát triển Đảng mạnh mẽ, đúng hướng” của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III, đến cuối tháng
6-1950 số đảng viên toàn tỉnh là 39.896 đồng chí (chưa tính
đảng viên chính thức và 29.241 dự bị, thành phần dân tộc:39.778 Kinh, 81 dân tộc thiểu số, 17 Hoa kiều Về hướng pháttriển đã chú trọng vùng sát địch (huyện Vĩnh Thạnh và vùngTam Bình), từ 408 (cuối năm 1949) lên 703 đồng chí,Quy Nhơn từ 127 lên 254 đồng chí và chia thành 2 chi bộ,
(1) Báo cáo cuối năm 1950 và năm 1951 của Ủy ban kháng chiến hành
chính Bình Định và Miền Nam Trung Bộ, tlđd.
(2) Thời điểm, số liệu, nội dung dựa vào Báo cáo tình hình tổng động viên, thi đua ái quốc và xây dựng Đảng quý II năm 1950 của Tỉnh ủy Bình Định Tập II (1945 - 1955) nói cuối năm 1950 là không chính xác.
Trang 23nhưng ở vùng thượng du lại phát triển chưa đáp ứng yêu cầu(cả Kinh và dân tộc thiểu số, khoảng 150 đảng viên), pháttriển đảng viên trong tôn giáo và Hoa kiều còn quá yếu Nhìnchung, dù đã được chấn chỉnh nhưng tốc độ phát triển đảngviên vẫn “ồ ạt” Trung bình 1 tháng quý IV năm 1949 kết nạptới 3.945 đảng viên, thì 1 tháng của nửa đầu năm 1950 là3.047 đồng chí Nhưng giữa các huyện lại không đều: huyệnPhù Mỹ trong 5 tháng đã tăng 3.638 đồng chí, riêng xã MỹLợi (huyện Phù Mỹ) trong 5 tháng đã kết nạp 800 đảng viên,trong khi huyện Hoài Nhơn chỉ kết nạp 520 đảng viên Tráchnhiệm của người giới thiệu được chú ý, nhưng công tác củngcố lại không theo kịp đà tăng trưởng(1) Về thực hiện chủ trươngtạm đình chỉ kết nạp đảng viên mới trong toàn quốc của Trungương ngày 14-9-1950, phải sau tháng 02-1951, tỉnh mới ngưngphát triển để củng cố Đảng(2).
II CHẤN CHỈNH ĐỘI NGŨ, BỒI DƯỠNG SỨC DÂN, KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN, ĐẨY MẠNH KHÁNG CHIẾN (1952 - 1953)
1 Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IV (tháng 4-1952), xúc tiến một số công tác cấp thiết
Bước vào năm 1952, sau 5 năm kháng chiến cam go và ácliệt, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi có ý nghĩachiến lược Tháng 02-1951, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IIquyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên Đảng Laođộng Việt Nam nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng vàthống nhất Việt Minh, Liên Việt thành Mặt trận Liên Việt.Đại hội thông qua Chính cương, Tuyên ngôn và Điều lệ mớicủa Đảng Về đường lối kháng chiến, Đại hội khẳng định:
(1) Báo cáo cuối năm 1950 và năm 1951 của Ủy ban kháng chiến hành
chính Bình Định và Miền Nam Trung Bộ, tlđd.
(2) Về thời điểm thi hành Chỉ thị ngày 14-9-1950 của Trung ương, dựa vào: Về mấy nhiệm vụ công tác nội bộ, báo cáo tại Hội nghị Trung ương khóa II (tháng 10-1951), Văn kiện Đảng, tập 1951 - 1952, sđd, trang 119 và Báo cáo quá trình phát triển và đặc điểm của các chi bộ ở Liên khu V, tháng 10-1951
của Ban Tổ chức Liên khu ủy V.
Trang 24Cuộc kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh nhân dân,đặc điểm của nó là toàn dân, toàn diện, trường kỳ và nhấtđịnh thắng lợi Đại hội lần II của Đảng có ý nghĩa vô cùngquan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của Đảng, đề rađường lối lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân ta chốngthực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.
Sau chiến dịch Hòa Bình (tháng 12-1951 đến tháng 02-1952),vùng giải phóng mở rộng từ Việt Bắc nối thông với Liên khu IIIvào Liên khu IV, tạo thành vùng tự do liên hoàn rộng lớn.Vùng tự do và căn cứ kháng chiến ở Nam Trung Bộ, Nam Bộcũng được củng cố Lực lượng vũ trang nhân dân gồm 3 thứquân ở các chiến trường không ngừng lớn mạnh, giành và giữvững thế chủ động ở chiến trường chính Bắc Bộ
Tại Nam Trung Bộ, với chiến thắng Kon Plong (tháng8-1951) không những đánh dấu bước tiến bộ đáng kể về chiếnthuật và kỹ thuật của bộ đội chủ lực Liên khu, mà còn “gâyđược không khí hăng hái trong nhân dân vì ở Liên khu V từtrước đến nay chưa có trận nào như thế”(1) Tuy nhiên, cả vùngtạm bị chiếm và vùng tự do của ta đều bị địch đánh phá toàndiện và ác liệt Hơn nữa, hai năm 1951 - 1952 vùng tự do liêntiếp bị mất mùa, có vụ mất tới 40 - 60% sản lượng Trận bão lũlịch sử năm Nhâm Thìn (tháng 10-1952)(2) làm cho hơn 260.000đồng bào các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam và vùng ven biểnBình Định, Phú Yên bị đói kém, hơn 10.000 người đói nặng
Ở tỉnh, trong 2 năm 1952 - 1953 địch mở 23 cuộc càn quétvào huyện Vĩnh Thạnh và huyện Bình Khê, cho biệt kích xâmnhập Hà Mô hòng gây ổ vũ trang vùng Tây An Lão Chúngcòn tổ chức hơn 35 cuộc đổ bộ ven biển để cướp bóc, đốt phá
(1) Điện của Nguyễn Chánh, Chính ủy Liên khu V gửi Trung ương ngày
07/8/1951, Nam Trung Bộ kháng chiến 1945 - 1975, sđd, trang 175.
(2) Báo cáo của Ủy ban kháng chiến hành chính Miền Nam Trung Bộ tháng
11-1952: cơn bão đã gây thiệt hại cho 4 tỉnh: 7.383 nhà sập, 2.250 trâu, bò, heo trôi và chết, 1.500 ghe bị hư hỏng, 246 người chết.
Trang 25ghe mành, trong đó có 2 trận càn lớn với 5 tiểu đoàn, có máybay và pháo hạm yểm trợ vào Quy Nhơn (cuối tháng 01-1953),hơn 1 tiểu đoàn lên vùng Tam Quan - Chương Hòa (cuối tháng5-1953) Bên cạnh đó, không quân địch liên tục đánh phácác tuyến đường giao thông, bắn trâu bò, thả sâu bọ (tháng10-1952) Chỉ riêng năm 1953, địch đã 86 lần oanh kích cầucống, đầu máy xe lửa và toa xe, cắt đoạn đường sắt từVân Sơn ra Phù Ly, 91 lần bắn phá những nơi nghi có cơ quan,công xưởng, kho tàng Chúng còn tìm cách cài cắm ngườivào các cơ quan của ta để nắm tình hình, lấy tài liệu, gây chotỉnh nhiều tổn thất(1).
Để thực hiện chủ trương tiến hành cuộc vận động chấnchỉnh Đảng của Trung ương, đồng thời rà soát lại tình hìnhthực tế địa phương, khoảng giữa tháng 4-1952, Đại hội đạibiểu Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ IV được tổ chức tại thônĐức Long (xã Ân Đức, huyện Hoài Ân)
Thay mặt Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa III, đồng chí
Trần Quang Khanh trình bày trước Đại hội bản báo cáo “Rèn
luyện tư tưởng, xây dựng cơ sở đảm bảo nhiệm vụ sắp tới”.
Về tình hình địa phương 2 năm 1950 - 1951, Đại hội đánhgiá: vượt qua khó khăn và ác liệt do thiên tai và địch họa gây ra,Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh đã dành được một số thành tíchvề chính trị, quân sự, kinh tế , nổi bật là tăng gia sản xuất vàđộng viên nhân tài, vật lực to lớn cho kháng chiến Đại hội đãchỉ ra những sai lầm, khuyết điểm về các mặt công tác, đángchú ý sai lầm trong động viên quỹ chuyển mạnh, thực hiện thuế
nông nghiệp, Đảng bộ đưa ra kết luận quan trọng “Đảng bộ ta
(1) Tổn thất 2 năm 1952 - 1953 của tỉnh: 492 người chết, 537 người bị thương, 1.245 người bị bắt, hơn 100 phụ nữ bị hãm hiếp, 2.913 nhà bị cháy, 1.914 ghe thuyền bị cháy và hỏng, 1.642 trâu, bò, heo bị giết, 2.770 giàn lưới
bị đốt, 121 tấn lúa gạo bị cháy, 26 trường học bị bắn phá, 24 cầu cống bị sập,
2 đầu máy và hàng chục toa xe bị hỏng, 31 tấn muối bị đốt, 1.131 cây dừa bị chặt và các tài sản khác trị giá 848.250.000 đồng, riêng năm 1953 là 698.250.000 đồng.
Trang 26lớn mà chưa mạnh, đông mà xa rời quần chúng” Nguyên nhân
căn bản: “Tư tưởng của đảng viên, nhất là cán bộ còn nặng di
sản phong kiến và thực dân, lập trường giai cấp, quan điểm quần chúng và nhận thức tư tưởng trường kỳ kháng chiến gian khổ, tự lực cánh sinh còn non kém, cá nhân chủ nghĩa rất nặng, tác phong lãnh đạo còn quan liêu, cấp cơ sở còn yếu ”.
Căn cứ Chỉ thị về cuộc vận động chấn chỉnh Đảng ngày 29-12-1951 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Nghị quyết Hội
nghị Liên khu ủy khóa II lần thứ II (từ ngày 15 đến ngày
24-02-1952), cùng tình hình thực tế địa phương, Đại hội đã đề
ra nhiệm vụ chung của Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh, “Rèn
luyện tư tưởng, xây dựng cơ sở, cải tiến phương pháp lãnh đạo, giáo dục chính trị cho toàn dân và toàn quân, kiện toàn Đảng bộ mạnh mẽ để đẩy mạnh công cuộc hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” Đại hội đề
ra 4 nhiệm vụ lớn:
1 Thực hiện đúng chính sách thuế nông nghiệp, đẩy mạnhsản xuất và tiết kiệm, đảm bảo cung cấp cho kháng chiến vàcải thiện dân sinh
2 Chấn chỉnh công tác bố phòng, tiến hành xây dựng căncứ địa
3 Tăng cường đoàn kết toàn dân, giáo dục nhân dân, đềcao tinh thần cảnh giác cách mạng
4 Ra sức rèn luyện tư tưởng, xây dựng lập trường cho cánbộ và đảng viên, tiến hành xây dựng cơ sở mạnh mẽ
Trong 4 nhiệm vụ trên, trọng tâm là củng cố Đảng, trước
mắt bao trùm là thu thuế nông nghiệp để đẩy mạnh các công tác khác (1)
(1) Văn kiện Đại hội này hiện chỉ có bản sao Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định số 63/VPTU, chưa tìm được bản gốc Báo cáo “Rèn luyện tư tưởng, xây dựng cơ sở đảm bảo đầy đủ nhiệm vụ sắp tới”.
Trang 27Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa IV gồm
19 đồng chí (có 2 ủy viên dự khuyết), đồng chí Trần QuangKhanh được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Tỉnh ủy đã phân công 3Tỉnh ủy viên trực tiếp làm Bí thư các huyện: Bình Khê,Tuy Phước, Hoài Ân Cuối năm 1952(1), Liên khu ủy điều đồngchí Ngô Đức Đệ, Ủy viên Ban Thường vụ Liên khu ủy về làm
Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, đồngchí Trần Quang Khanh làm Phó Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Võ Tộlàm Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh
Nhằm khắc phục những khó khăn và khuyết điểm, cũngnhư đối phó với các thủ đoạn đánh phá mới của địch, Tỉnh ủyxúc tiến một số công tác cấp thiết để giữ vững an ninh chínhtrị và trật tự xã hội, đồng thời đẩy mạnh phong trào tăng giasản xuất, triệt để tiết kiệm và chú trọng an sinh xã hội
Đầu tháng 5-1952, tỉnh tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân
tỉnh khóa III (1952 - 1954)(2) Lần này không đề cử các ứng cửviên như trước, mà vận động các tầng lớp nhân dân giới thiệuvà ứng cử 328 vị, trong đó có 264 người là công nhân và nôngdân, 25 người là phụ nữ Số cử tri đi bỏ phiếu đạt tỷ lệ 82,7%,tăng 1,5% so với khóa II Trong 28 vị trúng cử có 1 phụ nữ, 12người là công nhân và bần nông, 6 công chức và 1 tiểu thương, Cùng tháng, Hội đồng nhân dân tỉnh họp bầu Ủy ban khángchiến hành chính gồm 6 vị do đồng chí Võ Tộ làm Chủ tịch.Khoảng đầu năm 1953, tiến hành bầu Hội đồng nhân dân vàỦy ban kháng chiến hành chính ở 116 xã thuộc 9 huyện đồng
(1) Về thời điểm dựa vào 2 văn bản: Báo cáo tình hình quý III năm 1952 số 702/VP
ngày 21-10-1952 của Ủy ban kháng chiến hành chính Miền Nam Trung Bộ ghi:
1 Thường vụ Liên khu ủy tăng cường Bình Định, Báo cáo cuối năm 1952 số 1543/VPTU, ngày 11-12-1952 của Tỉnh ủy Bình Định do đồng chí Hiệp - Phó Bí thư ký (Hiệp là bí danh của đồng chí Trần Quang Khanh).
(2) Báo cáo tình hình 3 tháng đầu năm 1952, Báo cáo 6 tháng đầu năm 1952 của Ủy ban kháng chiến hành chính Miền Nam Trung Bộ.
Trang 28bằng và miền núi (không có huyện Vĩnh Thạnh) Hội đồngnhân dân xã khóa III có 1.678 vị trúng cử, lần đầu tiên có
12 hội viên Hội đồng nhân dân xã là nữ(1)
Năm 1952, để nhằm kiện toàn bộ máy chính quyền cáccấp, Bình Định vừa củng cố những ngành hành chính quantrọng còn yếu: Công an, Tòa án, Mậu dịch, Thuế vụ , vừa sátnhập một số cơ quan có nhiệm vụ giống nhau (bình dân họcvụ với Giáo dục phổ thông ) Đồng thời, giảm biên chế đợt 2được 1.601 người, nếu tính cả đợt I (cuối năm 1951) thì đãgiảm 3.341 người, trong đó ngành chính quyền là 1.183 người.Biên chế hành chính tỉnh từ 2.089 (cuối năm 1950) giảm còn1.106 (tháng 3-1952) và cuối năm 1953 là 550 người; ở cấpxã, trước kia số người thoát ly sản xuất hơn 100 người, nay chỉcòn 15 người(2) Năm 1953, các ngành của tỉnh và huyện chothôi việc 386 người, kỷ luật 37 người trong khi tuyển vào chỉcó 308 người; cấp xã cho thôi việc 582 ủy viên Ủy ban khángchiến hành chính và Hội đồng nhân dân, kỷ luật 325, chỉ thaythế 249 người(3) Về quản lý hành chính, tháng 3/1953 Ủy bankháng chiến hành chính Nam Trung Bộ lấy các xã Ân Hòa, ÂnĐức và Ân Tín làm thí điểm chỉ đạo xây dựng xã, thu thuế nôngnghiệp, tăng gia sản xuất Đầu năm 1953, theo chủ trương củaLiên khu, tỉnh Bình Định giao huyện Vĩnh Thạnh cho tỉnh Gia -Kon quản lý đến tháng 6-1954
Cùng với chính quyền, ngành Dân vận cũng được kiện
toàn Tỉnh cho cấp ủy các cấp học tập báo cáo “Mặt trận dân tộc thống nhất và vấn đề đại đoàn kết” của đồng chí Trường
(1) Thống kê Hội đồng nhân dân, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, huyện, xã tháng 12-1953 của Đảng đoàn chính quyền tỉnh Bình Định.
(2) Báo cáo 6 tháng đầu năm 1952 của Ủy ban kháng chiến hành chính Miền
Nam Trung Bộ, tlđd.
(3) Báo cáo chung niên năm 1953, ngày 30-12-1953 của Tỉnh ủy Bình Định.
Trang 29Chinh tại Hội nghị Trung ương lần thứ II (tháng 4-1952) Ủyban Liên Việt tỉnh và các huyện tổ chức hội nghị đại biểu, học
tập Lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi lễ khai mạc Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt, bàn
các biện pháp kiện toàn tổ chức và lề lối làm việc Về tổchức, không những chú trọng củng cố các đoàn thể quần chúngnòng cốt (Công đoàn, Nông hội, Đoàn Thanh niên cứu quốc ),mà còn chú ý đến công tác vận động đồng bào tôn giáo, miềnnúi Với đồng bào có đạo, tỉnh mở hội nghị để phổ biến kếtquả Hội nghị tôn giáo toàn quốc, tổ chức giáo dân thảo luận thưcủa Linh mục Phạm Bá Trực và Hòa thượng Phạm Thế Long.Với đồng bào miền núi, chú trọng củng cố các hội quần chúng,vận động định canh và tiết kiệm
Từ ngày 09 đến ngày 10-9-1953, tiến hành tổ chức Hộinghị đại biểu Liên Việt toàn tỉnh tại xã Ân Đức (huyện HoàiÂn) Hơn 80 đại biểu tham dự, trong đó có đoàn đại biểuĐảng bộ Đảng Lao động Việt Nam tỉnh, Hòa thượng ThíchHuệ Chiếu và Linh mục Đặng Quyền Huy Hội nghị kiểmđiểm công tác mặt trận các năm qua của tỉnh, thảo luận cácNghị quyết của Hội nghị Ủy ban Liên Việt Liên khu và cáccông tác trọng tâm của tỉnh năm 1953 Hội nghị đã hiệp thươngbầu 31 vị thuộc đủ các thành phần xã hội, đảng phái, tôn giáo,dân tộc ở địa phương vào Ủy ban mặt trận Liên Việt tỉnh, dođồng chí Trần Quang Khanh làm Chủ tịch và 3 Phó Chủ tịch:đồng chí Nguyễn Thanh Hối, Hòa thượng Thích Huệ Chiếu,
Nhằm củng cố vùng tự do, đầu năm 1952, Tỉnh ủy có
Nghị quyết chấn chỉnh công tác bố phòng và củng cố lực
(1) Báo Tin tức số ra ngày 15-9-1953, bản chính lưu Bảo tàng tổng hợp tỉnh Lần
đầu tiên trong các cuộc hội nghị quan trọng của mặt trận có các chức sắc cao của Phật giáo và Công giáo tham dự.
Trang 30lượng vũ trang Về bố phòng, tập trung xây dựng phong trào
du kích chiến tranh ở hai tuyến chiến đấu miền núi và venbiển, đồng thời tăng cường các biện pháp phòng chống địchoanh tạc và càn quét Những nơi đông dân, khẩn trương củngcố các ban phòng thủ, các đội phòng chữa cháy và thườngxuyên kiểm tra, đôn đốc công tác báo động, tổ chức lánh cư,nhất là bảo vệ chu đáo tài sản quốc gia Về củng cố lực lượng,thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tăng thành phần chiếnđấu mà không tăng quân số, xây dựng lực lượng phù hợp vớithực tế chiến trường, khả năng trang bị và cấp dưỡng của tỉnh.Trong giảm biên chế đợt 2, không chỉ giải tán bộ đội địaphương các huyện, mà bộ đội địa phương tỉnh cũng được tổchức lại từ 4 đại đội và 6 trung đội còn lại 4 đại đội Các đơn vịnày phân tán về ven biển và miền núi xây dựng phong tràonhân dân du kích chiến tranh Du kích chiến đấu xã toàn tỉnhcòn 943 người, lực lượng dân quân và phụ trợ được kiện toàn
Cơ quan tỉnh đội còn 96 người (cả hai đợt giảm 352 người),các cơ quan huyện đội còn 15 người, xã đội còn 4 người Năm
1952, tỉnh mở một lớp cận chiến và kỹ thuật tác chiến cho 80cán bộ từ huyện đội, đại đội đến xã đội và 2 khóa huấn luyệncho 117 du kích chủ lực ven biển và miền núi Năm 1953, lựclượng vũ trang toàn tỉnh tham gia 2 đợt chỉnh huấn về chính trịvà quân sự
Với các biện pháp kiện toàn trên, chất lượng các lực lượngvũ trang tỉnh có bước tiến bộ đáng kể, nhất là quán triệt nhiệmvụ cơ bản của lực lượng vũ trang tỉnh là nòng cốt cho phongtrào chiến tranh nhân dân địa phương Bước đầu khắc phục tưtưởng tập trung đánh lớn, coi chiến trường ven biển là “tử địa”và thiếu tin vào vũ khí thô sơ Trong hai năm 1952 - 1953, cáclực lượng vũ trang tỉnh không chỉ đánh thắng các trận càn nhỏcủa địch ở cả miền núi (xã Bình Quang ngày 12-4-1952 và xã
Trang 31Bình Giang ngày 13 đến ngày 14-5-1952) và ven biển (TrườngXuân - Vĩnh Tuy ngày 02-6-1952 và Đề Gi - Vĩnh Lợi ngày13-6-1952), mà còn phối hợp với bộ đội chủ lực đánh thắngcác trận càn lớn từ 1 - 6 tiểu đoàn địch (Bình Giang từ ngày
18 - 19-7-1952, Quy Nhơn từ ngày 19/01 đến ngày 05-02-1953,Tam Quan từ ngày 25-01 đến ngày 01-6-1953); riêng trậnQuy Nhơn ta đã loại 138 tên địch(1)
Về an ninh chính trị và trật tự xã hội, ngành an ninh tỉnhphối hợp với các đoàn thể quần chúng tổ chức đợt học tập tàiliệu “Bảo vệ trị an, đẩy mạnh kháng chiến” Với tai mắt củadân, phối hợp với an ninh Liên khu, lực lượng an ninh tỉnh đãkịp thời khám phá và truy tố một số nhóm lưu manh và cán bộthoái hóa xâm phạm tài sản Nhà nước và công dân, phát hiệncác vụ gián điệp của tổ chức phản động “Việt Nam Quốc dânđảng” ở Hoài Ân, Phù Mỹ và bắt tên Nguyễn Nên tại Cát Sơn(Phù Cát) làm cho tổ chức phản động của chúng bị tan rã.Từ năm 1950, cũng như các tỉnh trong vùng tự do, miềnbiển tỉnh Bình Định bị địch phong tỏa gắt gao, ngư dân khôngthể ra biển đánh cá, một số nơi bị đói kém Năm 1952, hạnhán và bão lũ dồn dập, riêng nắng hạn làm cho hơn 50.000
bùng phát từ Vĩnh Lợi (xã Mỹ Thành, huyện Phù Mỹ), Hưng Xương (xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước), Tam Quan (huyệnHoài Nhơn) lan nhanh ra các xã ven biển, số người bị đói từhơn 5.000 người, sau trận bão lũ (tháng 10-1952) tăng lên hơn24.600 người (tháng 11-1952) và 17.245 người (tháng 02-1953),
-(1) Tổng kết kiểm thảo thi hành Nghị quyết Liên khu ủy lần thứ II, tháng 9-1952, Báo cáo cuối năm 1952 và Báo cáo chung niên năm 1953 của Tỉnh ủy Bình Định.
(2) Theo Diện tích lúa sản xuất các tỉnh năm 1952 của Khu canh nông: các vụ
tháng 3, tháng 8 và tháng 10 của Bình Định do nắng hạn nên giảm 26.090 ha so với năm 1951.
Trang 32kéo dài đến năm 1954(1) Đói kém kéo theo đau ốm và bệnhtật, phổ biến là sốt rét, sâu quảng(2), ghẻ lở hơn 46.000 người,trong đó có 29.467 người bị sốt rét.
Xác định phòng, chống đói là một công tác khẩn cấp và
lâu dài của Đảng bộ, Tỉnh ủy chủ trương: lấy đẩy mạnh sảnxuất để phòng và chống đói là chính, đồng thời phát độngphong trào cứu tế và tương trợ trong cán bộ, quân và dân toàntỉnh Tỉnh lập các đoàn cứu đói, cứu đau xuống các vùng đóinặng, phối hợp với cấp ủy và chính quyền, đoàn thể địa phươngtổ chức phong trào sản xuất và cứu trợ tại chỗ, vận động nhândân chuyển nghề, thực hiện “chân biển, chân đồng”, pháttriển mạnh các nghề phụ Đối với miền núi thì vận động nhândân đẩy mạnh trồng khoai mì vụ tháng 7 và tháng 12, trồngkhoai lang tháng 3, chỉ đạo ngành mậu dịch kịp thời cung cấpcác hàng thiết yếu, nhất là tiêu thụ lâm thổ sản của dân.Với tinh thần “cứu đói như chữa cháy” và truyền thống
“lá lành đùm lá rách”, quân và dân toàn tỉnh hưởng ứng mạnhmẽ chủ trương khẩn cấp cứu đói, cứu đau của Tỉnh ủy Tỉnhđã xuất từ ngân sách địa phương 270 triệu đồng để cứu trợđồng bào các vùng bị đói nặng Nhân dân, cán bộ và lựclượng vũ trang quyên góp được 156 tấn lúa, 44 tấn hoa màuvà 71 triệu đồng, cùng 17.300 bộ quần áo, 690 mét vải, 2.195chiếc chiếu ủng hộ đồng bào và hỗ trợ tranh, tre và ngàycông để sửa chữa hơn 200 ngôi nhà bị hư, sập Các đội cứuđau của y tế vận động nhân dân làm vệ sinh môi trường và
(1) Báo cáo tình hình 3 tháng quý III/1952 số 702/UB ngày 21-10-1952 của Ủy ban kháng chiến hành chính Miền Nam Trung Bộ: đói nặng nhất là vùng biển, toàn Liên khu có 250.000 người đói , Báo cáo tình hình tháng 02-1953 số 31/UB ngày
15-3-1953: toàn khu số người đói còn 120.000 người: Quảng Nam 30.000, Quảng Ngãi 56.670, Bình Định còn 17.245, Phú Yên riêng Tuy Hòa là hơn 12.000 người (2) “Sâu Quảng” là một thể vết loét tụ tổn thương sâu rộng, kéo dài dai dẳng, thường gặp ở người có cơ thể suy sụp, ở những vùng sốt rét, khí hậu ẩm thấp, vệ sinh, dinh dưỡng kém.
Trang 33khám, chữa bệnh cho hơn 15.000 người Cuộc vận động nhândân vùng biển chuyển và học nghề, hợp tác lao động thunhiều kết quả Các xã: Cát Khánh (huyện Phù Cát), Mỹ Thành,Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ), Tam Quan (huyện Hoài Nhơn) cógần 900 hộ thực hiện “chân biển, chân đồng”, như Vĩnh Lợi(xã Mỹ Thành, huyện Phù Mỹ), An Quang và Chánh Lợi (xãCát Khánh, huyện Phù Cát) trồng hơn 300 mẫu khoai langvùng cát Năm 1953, số người kéo sợi toàn tỉnh tăng 10.000người, trong đó có khoảng 2.000 người ở Mỹ Thọ, Mỹ Đức,Mỹ Thắng (huyện Phù Mỹ), Cát Khánh, Cát Chánh (huyệnPhù Cát), Phước Hòa (huyện Tuy Phước), Quy Nhơn Cùngnăm, nghề dệt bao bì bằng sợi vừng, dứa, lát, thu nhận nhiềuthành viên mới ở các xã: Hoài Hương, Hoài Châu (huyện HoàiNhơn), Mỹ Thắng (huyện Phù Mỹ), Cát Chánh (huyện Phù Cát), (xã Hoài Hương có 162 người) Về hợp tác lao động, thôn VĩnhLợi (xã Mỹ Thành, huyện Phù Mỹ) lập tập đoàn lưới chì, xã AnQuang (huyện An Lão) có các nhóm làm nhiều nghề, Quy Nhơnvà Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ) lập hợp tác xã đánh cá(1)
Về thu thuế nông nghiệp, được tỉnh xác định là công tác
trọng tâm để bảo đảm nguồn thu chính cho ngân sách quốcgia và địa phương Tỉnh ủy và chính quyền các cấp tổ chứccho cán bộ, đảng viên và nhân dân học tập, quán triệt chủtrương và chính sách thuế nông nghiệp Tỉnh ủy còn chỉ đạochặt chẽ các cấp, các ngành tiến hành các bước công tác:điều tra phân khoảnh, bình nghị xếp hạng, định mức sản lượng,lập bộ và thu thuế đúng chính sách; đồng thời động viên cánbộ, đảng viên tiên phong gương mẫu trong kê khai diện tích,nhân khẩu và nộp thuế đủ mức, đúng hạn, lúa tốt
Dù gặp nhiều địch họa và thiên tai nặng nề, nhưng nhândân Bình Định vẫn tích cực làm nghĩa vụ thuế nông nghiệp,
(1) Báo cáo cuối năm 1952 và Báo cáo chung niên năm 1953 của Tỉnh ủy
Bình Định, tlđd.
Trang 34năm sau cao hơn năm trước Năm 1952, mức thuế chính tăngtrong bộ thuế là 26.362.698 kg(1), được miễn giảm mất mùacòn lại là 18.184.564 kg, đến đợt thanh thu (ngày 31-3-1953),toàn tỉnh đã nộp cả lúa và tiền là 17.548.465 kg(2) Dù mứcthuế tăng hơn 2,8 lần so với năm 1951 (17.548.465/6.055.099đồng), nhưng nhân dân nhiều nơi thi đua nộp nhanh và gọn:trong đợt tiên thu, xã Mỹ Hòa (huyện Phù Mỹ) nộp 167 tấnlúa trong 10 ngày, xã Cát Hiệp (huyện Phù Cát) cũng nộp 100tấn chỉ trong 15 ngày Năm 1953, tuy số người chịu thuế íthơn, nhưng khởi điểm tính thuế theo nhân khẩu cao hơn, cùngdiện tích chịu thuế và sản lượng lúa tăng, nên thuế chính tảngcủa năm 1953 là 36.067.407 kg, tăng 9.554.752 kg so với năm
1952(3) Qua các đợt tiên thu (được 17.655 tấn), tạm thu (được8.811.698 kg) và thanh thu (được 6.744.553 kg), cả lúa và tiền
nông nghiệp năm 1953 có nhiều địa phương nổi bật Đợt tiênthu, huyện Phù Mỹ được giao 2.300 tấn, trong 25 ngày đã thu2.595.700 kg, trong đó có 237 tấn cho ngân sách xã; huyện
An Nhơn trong 17 ngày thu được 2.074 tấn Đợt thanh thu, xãBình Hòa (huyện Bình Khê nay là huyện Tây Sơn) trong 2
(1) Năm 1952, đầu tiên Liên khu phân cho tỉnh là 44.000/120.000 tấn, sau còn 35.000 tấn Con số 26.362.695 kg là số lúa nộp cho ngân sách quốc gia (chính tảng), chưa kể số lúa phụ thu cho ngân sách xã.
(2) Tổng kết công tác thuế nông nghiệp năm 1952 của Tỉnh ủy, năm 1952
toàn Liên khu thu được hơn 40.000 tấn.
(3) Tổng kết thuế nông nghiệp năm 1952 của Tỉnh ủy và Bảng thống kê thuế nông nghiệp năm 1953 ngày 10-10-1954: nhân khẩu nông nghiệp chịu thuế năm 1952 và năm 1953 (590.716/549.708), diện tích chịu thuế (175.966/
180.009 mẫu), khởi điểm tích thuế một nhân khẩu: từ 75 lên 81 kg Năm
1953 Liên khu giao Bình Định thu 45.000 tấn lúa thuế nông nghiệp.
(4) Báo cáo chung niên năm 1953 ngày 30-12-1953, tlđd và Báo cáo tình hình thượng bán niên năm 1954 ngày 18-6-1954 của Tỉnh ủy Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định, tập II thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (8-1945 - 5-1955), 1992, trang 145 ghi 35.800 tấn, chưa tìm được tài liệu để
xác định con số này.
(5) Báo Tin tức số ra ngày 13-6-1953 và ngày 29-12-1953, bản chính tại
Bảo tàng tổng hợp tỉnh.
Trang 35Năm 1952, tỉnh Bình Định triển khai công tác thu thuế côngthương nghiệp Đến ngày 24-11-1952, thu các loại thuế (côngthương, xuất nhập khẩu, sát sinh ) được 396 triệu đồng, tăng400% (396 triệu đồng/95 triệu đồng) so với năm 1951 Năm
1953, dù thu các loại thuế đạt 1.356 triệu đồng (tăng 342% sovới năm 1952), riêng thuế công thương được 653,423 triệu đồng,nhưng cũng chỉ đạt 1/3 mức thuế của Liên khu giao cho tỉnh.Trong hai năm 1952 - 1953, Bình Định có nhiều cố gắngtrong công tác thuế, nhưng phạm phải những sai lầm cả về
“chính sách và quan điểm quần chúng”(1)
2 Đẩy mạnh phong trào sản xuất và tiết kiệm, chú trọng bồi dưỡng sức dân
Khi cuộc kháng chiến của nhân dân ta chuyển lên thời kỳmới đã đặt ra cho hậu phương những yêu cầu rất cao so vớicác thời kỳ trước Những khó khăn về kinh tế tài chính trongcác năm 1950 - 1951 đòi hỏi phải có những chính sách vàbiện pháp kinh tế toàn diện và hiệu quả hơn Vừa bồi dưỡngsức dân và tích trữ lực lượng dồi dào để kháng chiến lâu dài,vừa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện hậu cần để chuyển sangtổng phản công giành thắng lợi to lớn hơn
Ngày 02-02-1952, trong Hiệu triệu của Đảng Lao động
Việt Nam nhân một năm ngày ra mắt quốc dân (ngày 03/3/1951),
đã kêu gọi đồng bào, chiến sĩ và đảng viên cả nước quyết tâmthực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương
Đảng về “thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm” Ngày 17-3-1952, trong Lời kêu gọi nhân dịp phát động phong
trào sản xuất và tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
“Ở vùng tự do, thực hiện kế hoạch sản xuất và tiết kiệm là
(1) Báo cáo cuối năm 1952 và Báo cáo chung niên năm 1953 của Tỉnh ủy,
tlđd.
Trang 36công tác trung tâm của nhân dân, của Chính phủ và của đoàn
thể Phải đặt phong trào sản xuất và tiết kiệm là trung tâm
của phong trào thi đua ái quốc”(1)
Thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung
ương Đảng, trong Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm của Liên khu
V năm 1952 đã xác định yêu cầu chính về kinh tế của Liên
khu là giải quyết vấn đề tự túc lương thực, chủ yếu là lúa, gạo
để cung cấp cho chiến trường, cải thiện dân sinh và tạo dự trữđể chuyển sang tổng phản công Liên khu chủ trương: Ở vùng
tự do, mỗi tỉnh phải hoàn toàn tự túc về lương thực, trong
lương thực ngoài lúa phải chú trọng các loại hoa màu có chấtbột, nhất là các vùng miền núi, ven biển, đất xấu hay ít ruộng.Lại một lần nữa nhân dân và Đảng bộ tỉnh Bình Định đượcLiên khu giao nhiệm vụ: Riêng tỉnh Bình Định còn phải tạo dựtrữ để tiếp tế cho các tỉnh Cực Nam Trung Bộ(2) (Khánh Hòa,
Đắc Lắc và Gia - Kon), đồng thời điều hòa cho các tỉnh
Quảng Nam, Quảng Ngãi khi cần thiết(3)
Tăng năng suất và sản lượng các cây lương thực, chủ yếu là cây lúa:
Để thực hiện chủ trương của Chính phủ và Liên khu, trongcác năm 1952 - 1953, Đảng bộ và nhân dân Bình Định đẩymạnh phong trào thi đua sản xuất nông nghiệp, chủ yếu lànâng cao năng suất và sản lượng cây lúa, phát triển các nghề
(1) Hiệu triệu của Đảng Lao động Việt Nam ngày 02-02-1952 và Lời kêu gọi ngày 17-3-1952 của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp phát động phong trào sản xuất và tiết kiệm, Văn kiện Đảng 1945 - 1954, tập 1951 - 1952, sđd,
Quảng Ngãi có nhiệm vụ tiếp tế cho các tỉnh chưa thể tự túc.
Trang 37thủ công gia đình để bảo đảm cung cấp cho chiến trường, cảithiện đời sống nhân dân và dự trữ đề phòng thiên tai và địchhọa Nhằm giành thắng lợi trong sản xuất nông nghiệp năm
1952, từ cuối tháng 11-1951, tỉnh đã huy động nhân dân thamgia phong trào thủy lợi và thâm canh cây lúa
Về thủy lợi, tỉnh đã xuất hơn 100 triệu đồng (tiền và lúa)hỗ trợ nông dân đắp các đoạn đê ngăn mặn bị vỡ ở Tuy Phước,
tu bổ và đào mới hơn 950 đập bổi, gần 3.500 ao và hàng nghìnmét kênh mương dẫn nước Riêng các công trình tiểu thủynông mới làm trong năm 1952 đã bảo đảm nước tưới cho 5.266mẫu, vượt chỉ tiêu Liên khu giao (2.226 mẫu) Trong công tácphân thủy ở hệ thống đập sông Kôn, tỉnh đã 2 lần cho xả nước
đập Bảy Yểng chảy xuống vùng hạ bạn ở nam Phù Cát,
An Nhơn và Tuy Phước để tưới 1.750 mẫu lúa “tứ quý” và lúa
“ba triêng” Ở hệ thống sông Lại, vận động chủ máy bơmgiúp bờ xe nước các xã Hoài Xuân, Hoài Tân, Hoài Hươngchủ động bơm nước, tưới, cứu 1.110 mẫu lúa bị hạn nặng.Phong trào làm phân bón, nhất là phân chuồng được nhân dântoàn tỉnh hưởng ứng, kể cả vùng thấp An Lão Tỉnh còn chỉđạo ngân hàng cho nông dân vay tiền mua 25 tấn giống tứ quývà 20 tấn bánh dầu để làm phân bón
Năm 1952, vùng tự do Nam Trung Bộ bị hạn hán và bão lũdồn dập So với năm 1951, dù diện tích lúa tứ quý và diện tíchhoa màu có chất bột tăng 7.111 ha (15.658/15.660 ha lúa và10.750/13.457 ha màu), nhưng diện tích các vụ chính (vụ tháng
3, vụ tháng 8 và vụ tháng 10) bị thiếu nước nên giảm tới 20.440
ha (các vụ chính đã sản xuất 132.250 ha/diện tích hoa màu năm
1952 của toàn tỉnh 152.690 ha) Nhờ đẩy mạnh sản xuất, thâmcanh trên số diện tích còn lại nên sản lượng và năng suất lúađều tăng đáng kể Sản lượng lúa các vụ năm 1952 đạt 155.310tấn, chiếm 37,51% sản lượng lúa vùng tự do (sản lượng lúa củatỉnh năm 1952: 155.310/sản lượng lúa vùng tự do 414.040 tấn);
Trang 38so với năm 1951 tăng 14.190 tấn Năng suất các vụ lúa (trừ vụtháng 3) đều tăng: vụ tháng 8 tăng 394 kg/ha (1.320/926 kg/ha),vụ tháng 12 tăng 372 kg/ha (1.522/1.150 kg/ha), vụ tháng 10còn tăng cao hơn: 908 kg/ha (998/290 kg/ha)(1).
Mặc dù đã triển khai nhiều giải pháp để khắc phục khókhăn, phát triển sản xuất nhưng sản xuất nông nghiệp của tỉnhtrong năm 1953 còn nhiều khó khăn, thời tiết không thuận lợi,hạn hán kéo dài Trong khi đó ở các huyện đồng bằng, nhất làvùng trọng điểm lúa của tỉnh (An Nhơn, Tuy Phước) bị địchnhiều lần thả sâu phá hoại Trước tình hình đó, tỉnh chủ trương:lấy phòng, chống hạn làm công tác trọng tâm, chú trọng thâmcanh, đẩy mạnh phong trào diệt chuột, trừ sâu Các xã Mỹ Hòa(huyện Phù Mỹ), xã Nhơn Hưng (nay là phường Bình Định,thị xã An Nhơn) được chọn làm thí điểm chống hạn và thâmcanh cho đồng gieo, đồng cấy của tỉnh
Năm 1953, Bình Định đổ nhiều công, của cho sản xuấtcây lúa Tỉnh đã huy động 368.500 ngày công và 882.300.000đồng để tu bổ và làm mới: 45 km đê ngăn mặn, 976 đập bổivà bờ bạn, 226 kênh mương, 7.979 ao, giếng, 231 bánh xenước, 73 máy bơm, 42 xe chân và 13 xe lùa, tưới cho hơn91.082 mẫu, chiếm 46,15% diện tích tưới vùng tự do (diện tíchtưới của tỉnh 91.082/diện tích tưới vùng tự do 197.342 mẫu).Các công trình thủy nông mới được xây dựng, tu bổ trong năm
1953 của tỉnh tưới 10.822 mẫu, chiếm 41,85% diện tích tưới
mới của vùng tự do (diện tích tưới của tỉnh 10.822/diện tích
tưới vùng tự do 25.854 mẫu) Về phân thủy, trong đợt xả nướclần thứ ba, hệ thống đập sông Kôn đã cứu hạn cho 12.740mẫu lúa vùng hạ bạn Phong trào diệt chuột, trừ sâu thu nhiềukết quả: đã diệt 14 triệu con chuột và thu 5 giạ đuôi chuột,
(1) Báo cáo cuối năm 1952 của Tỉnh ủy và Kế hoạch sản xuất và tiết kiệm năm 1952 của Liên khu V, tlđd.
Trang 399.000 kg và 24.500.000 con sâu phá hoại lúa Kỹ thuật gieothưa, cấy nhỏ bụi, cày ải, ủ phân, tiết kiệm nước được nôngdân nhiều nơi áp dụng; các huyện Phù Mỹ, Hoài Nhơn, AnNhơn tiết kiệm được 77.600 kg lúa giống.
Qua áp dụng các biện pháp phát triển sản xuất nói trên,nên dù diện tích lúa năm 1953 không bằng năm 1951 (hơnnăm 1952 không nhiều) nhưng cả sản lượng và năng suất đều
tăng khá Sản lượng lúa năm 1953 đạt 183.150 tấn, tăng hơn
năm 1951: 42.030 tấn (sản lượng năm 1953: 183.150/sản lượngnăm 1951: 141.120 tấn) và tăng hơn năm 1952: 27.840 tấn(sản lượng năm 1953: 183.150/sản lượng năm 1952: 155.300tấn), chiếm 37,8% sản lượng toàn vùng tự do Liên khu (183.150/484.540 tấn) Năng suất lúa các vụ chính đều đạt cao: vụ tháng
ba đạt 1.492 kg/ha, tăng hơn năm 1951: 185 kg (năng suất vụtháng 3-1953: 1.492 kg/ha; năng suất năm 1951: 1.307 kg/ha)và tăng hơn năm 1952: 293 kg (năng suất vụ tháng 3-1953:1.492 kg/ha; năng suất năm 1952: 1.199 kg/ha); vụ tháng tám:2.000 kg/ha, tăng hơn 1951: 1.074 kg (vụ tháng 8-1953: 2.000kg/ha; vụ tháng 8-1951: 926 kg/ha), tăng hơn năm 1952: 680 kg(vụ tháng 8-1953: 2.000 kg/ha; vụ tháng 8-1952: 1.320 kg/ha);vụ tháng mười: 1.000 kg/ha, tăng hơn năm 1951: 710 kg (vụtháng 10-1953: 1.000 kg/ha; vụ tháng 10-1951: 290 kg/ha).Sản lượng hoa màu (bắp, khoai, mì) quy ra lúa đạt 35.000 tấn,diện tích chỉ chiếm 21,86% (diện tích hoa màu năm 1953:23.750 ha/diện tích sản xuất cả năm 107.620 ha), nhưng sảnlượng chiếm 32,09% sản lượng hoa màu vùng tự do (sản lượnghoa màu tỉnh Bình Định: 35.000 tấn/sản lượng hoa màu vùng tựdo: 159.660 tấn) Nếu tính cả lúa và hoa màu quy ra lúa thì năm
1953 tỉnh Bình Định đạt 218.150 tấn Trong phong trào thi đua
“sản xuất và tiết kiệm” 1952 - 1953 ở Nam Trung Bộ, tỉnh BìnhĐịnh có 2 chiến sĩ thi đua nông nghiệp: ông Nguyễn Đông (xãCát Khánh huyện Phù Cát), chiến sĩ tăng năng suất lúa; ông
Trang 40Nguyễn Hoài (xã Bình Thuận, huyện Bình Khê, nay thuộc huyệnTây Sơn) được công nhận là chiến sĩ đào ao chống hạn Ngoài
ra, các đập sông Kôn và bờ xe - máy bơm nước sông Lại là 2/7hệ thống thủy lợi được tuyên dương về tăng năng suất nước tướitừ 30 - 50% do chỉnh đốn quản trị và tương trợ, đoàn kết(1)
Bồi dưỡng lực lượng nhân dân, lực lượng kháng chiến
Tháng 01-1953, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 4(khóa IV) đã đề ra 6 công tác chính cho năm 1953 Trong đó,
công tác chính thứ nhất là “phóng tay phát động quần chúng
nông dân triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, chia lại công
điền, chia hẳn ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian cho
nông dân, chủ yếu là triệt để giảm tô ” Trong Báo cáo trước
hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nền tảng của
vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân, vì nông dân là tối đại đasố trong dân tộc Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng làvấn đề nông dân, vì nông dân là lực lượng cách mạng đôngnhất chống phong kiến, chống đế quốc Muốn kháng chiếnhoàn toàn thắng lợi, dân chủ nhân dân thật sự thực hiện, thì
phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của
nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân” (2)
Đầu năm 1953, Liên khu V mới nhận được một số văn
kiện của Trung ương: Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm 6 năm
ngày toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thông báo của Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Báo cáo về việc thực hiện chính sách ruộng đất trong năm 1953 của đồng chí Trường Chinh tại Hội nghị liên tịch
(1) Báo cáo chung niên năm 1953 ngày 30-12-1953, tlđd và Báo cáo 6 tháng đầu năm 1953 số 51-CN/K5 ngày 15-6-1953 của Khu canh nông Liên khu V, Thống kê nông nghiệp của Khu canh nông Liên khu V, bản phôtô
đang lưu tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Định.
(2) Văn kiện Đảng 1945 - 1954, tập 1953 - 1954, Ban Nghiên cứu Lịch sử
Đảng xuất bản, Hà Nội, 1980, trang 17, 29.