Ebook Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1945-1954) - Tái bản, chỉnh lý, bổ sung: Phần 1 gồm 2 chương với nội dung củng cố chính quyền nhân dân, chuẩn bị kháng chiến (9/1945-12/1946); cùng cả nước kháng chiến, xây dựng và bảo vệ hậu cứ liên khu V (1947-1949).
Trang 1LỊCH SỬ
ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH ĐỊNH
(1945 - 1954)
Trang 3LỊCH SỬ
ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH ĐỊNH
(1945 - 1954)
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH ĐỊNH
TÁI BẢN, CHỈNH LÝ, BỔ SUNG
Tháng 8-2017
Trang 4Chỉ đạo biên soạn, chỉnh lý, bổ sung:
BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY KHÓA XVIII, XIX
Chỉnh lý, bổ sung:
BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 24/01/1962 củaBộ Chính trị về thành lập Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trungương và Thông tri số 91-TT/TW, ngày 18/9/1962 của Ban Bíthư Trung ương Đảng về nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng
ở các khu, thành, tỉnh; Tháng 4/1977, Ban Thường vụ Tỉnh ủyBan hành Chỉ thị 20-CT/TVTU chỉ đạo “Đẩy mạnh công tácnghiên cứu Lịch sử Đảng phục vụ nhiệm vụ trước mắt” Tháng6/1992, tập Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định 1945 - 1954 (củanhóm tác giả: Tô Văn Liễu, Nguyễn Xuân Lai, Phùng KhắcTuyển biên soạn) được xuất bản và phát hành Từ đó đến nay,Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã nhận được nhiều ý kiến góp ý củacán bộ, đảng viên và độc giả về một số tư liệu, sự kiện cầnđược chỉnh lý, bổ sung
Tiếp thu các ý kiến góp ý, Hội nghị Ban Thường vụ Tỉnhủy lần thứ 2 (khóa XVIII) chủ trương biên soạn, chỉnh lý, bổsung tập Lịch sử Đảng bộ tỉnh 1945 - 1954 nhằm nâng caochất lượng và phục vụ tốt hơn công tác giáo dục truyền thốngcho cán bộ, đảng viên trong tỉnh và bạn đọc
Trên cơ sở biên soạn của nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn
Đỗ Quyên và sự tham gia góp ý của các đồng chí nguyên lãnh đạo tỉnh, các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa
XVIII, khóa XIX, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chỉnh lý, bổ sungtập Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định 1945 - 1954
Tập sách xuất bản lần này trên cơ sở những sự kiện trongtập sách đã được xuất bản và phát hành (tháng 6/1992), cóchỉnh lý một số sự kiện và bổ sung nguồn tư liệu mới đượcsưu tầm, khai thác ở trung tâm lưu trữ: Cục lưu trữ Văn phòng
Trang 6Trung ương Đảng, Trung tâm lưu trữ Quốc gia III (Hà Nội),Trung tâm lưu trữ Quốc gia II (thành phố Hồ Chí Minh), ViệnLịch sử Đảng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), cácnguồn lưu trữ ở địa phương và xác minh sự kiện qua một sốnhân chứng lịch sử Tập Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định
1930 - 1945 có 5 chương (từ chương I đến chương V), do vậytập Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định 1945 - 1954 kết cấu gồm
4 chương (từ chương VI đến chương IX)
Tập Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định 1945 - 1954 đượcxuất bản lần này nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác nghiêncứu, tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng của quêhương Bình Định, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xin trân trọng giớithiệu tập sách với cán bộ, đảng viên và bạn đọc
BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY
Trang 7Chương VI
CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN,
CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN (9/1945 - 12/1946)
I BÌNH ĐỊNH SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Khi Nhật tuyên bố đầu hàng không điều kiện Đồng minh,dù đã nhận được hay chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩacủa Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, trong vòng 2 tuần (cuốitháng 8/1945), nhân dân ta từ Bắc chí Nam đã kịp thời đứnglên khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, lập nênNhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhưng chính quyềnnhân dân non trẻ đầu tiên ở Đông Nam Á lập tức bị các thếlực xâm lược, phản động trong nước, chống phá quyết liệt vàthâm độc
Mượn danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp vũ khíquân Nhật, 6 quân đoàn với hơn 200.000 quân Trung HoaDân Quốc (Quốc dân đảng Trung Quốc), dắt theo bọn phảnđộng người Việt lưu vong, tràn vào miền Bắc nước ta Độiquân hỗn tạp này không chỉ giúp bọn tay chân chiếm giữ mộtvài thị xã, ngang ngược đòi ta cung cấp gạo, tiền, nhà cửa,thực phẩm , mà còn tìm cách tiêu diệt Đảng Cộng sản ĐôngDương, phá tan tổ chức Việt Minh, giúp bọn phản động trongnước lật đổ chính quyền nhân dân, dựng lên chính quyền taysai của chúng
Ở miền Nam, cũng với chiêu bài trên, quân Anh đã mởđường cho thực dân Pháp quay lại đánh cướp nước ta một lầnnữa Trà trộn trong đội hình Sư đoàn 20 của quân Anh tớiSài Gòn, vừa có các nhân viên của cơ quan tình báo Pháp,
Trang 8vừa có cả một số đơn vị bộ binh và thiết giáp của Đội quânviễn chinh Pháp ở Viễn Đông (Forces ExpéditionnairesFrancaise’s d’Extreme Orient, FEFEO) được thành lập cuốitháng 4/1945(1) Ngày 23/9/1945, với sự tiếp tay của tướngD.Gracey, chỉ huy Đội quân Anh ở miền Nam Đông Dương,quân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, rồi đánh chiếm NamBộ, Cực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Đầu năm 1946, với sựthông đồng của Mỹ - Anh, hiệp ước Pháp - Hoa được ký tạiTrùng Khánh (Trung Quốc) ngày 28/02/1946, đã tạo điều kiện
cho quân Pháp mượn chiếc áo “giải giáp quân Nhật”, tiến ra
Miền Bắc mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả Đông Dương.Các đảng phái phản động được nuôi dưỡng ở Trung Quốcnhư Việt Cách (Việt Nam cách mạng đồng minh hội), ViệtQuốc (Việt Nam quốc dân đảng), cùng bọn tay sai của Nhật,Pháp như Đại Việt (Đại Việt quốc gia xã hội đảng, Đại Việtquốc dân đảng), Phục Quốc, ra sức vu cáo, xuyên tạc đườnglối, chính sách của Đảng và Chính phủ ta Chúng xúi giụcbiểu tình, gây bãi thị, tổ chức bắt cóc, ám sát, tống tiền, BọnTờ-rốt-kít không ngớt đưa ra những khẩu hiệu chủ trương quá
“tả”, khiêu khích hòng gây hoang mang trong dân chúng,chia rẽ các lực lượng yêu nước Chúng cố tình gây ra trạngthái rối loạn, làm mất ổn định xã hội tạo cớ cho các thế lựcxâm lược tìm cách lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh
Trong lúc “giặc ngoài, thù trong” đe dọa nghiêm trọngchế độ mới, thì tình hình kinh tế tài chính, văn hóa - xã hộinước ta cũng hết sức nguy ngập Nạn đói năm 1945 làm chếthơn 2 triệu người ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ chưa kịp khắcphục, thì thiên tai nhất là bão lũ gây ra cảnh mất mùa ở hàng
(1) Philippe Devillers, Paris Saigon Hanoi, Nhà xuất bản Gallimard
-Julliard, Paris, 1988, dẫn trong Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập I, 1945 - 1954,
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012, trang 218.
Trang 9chục tỉnh(1) Sản xuất công nghiệp đình đốn, hàng tiêu dùngkhan hiếm, giá cả leo thang, ngoại thương bế tắc Ngân sáchquốc gia trống rỗng, đồng bạc Đông Dương bị tư bản tài chínhPháp thao túng, quân Trung Hoa Dân Quốc lại tung quan kim,quốc tệ mất giá vào thị trường nước ta để vơ vét thóc gạo, hànghóa càng gây thêm khó khăn cho nền kinh tế còi cọc củanước ta do Pháp - Nhật để lại, tình hình đó làm cho đời sốngnhân dân ta, nhất là các tầng lớp lao động vô cùng điêu đứng.Lịch sử lại thách thức sức sống mãnh liệt của dân tộc ta vàsự sáng tạo vô tận của cách mạng Việt Nam Ngày 03/9/1945,ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâmthời tại thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra 6nhiệm vụ cấp bách đối với nhân dân ta bấy giờ(2) Sau đó
trong Bức thư gửi Nông gia Việt Nam (tháng 12/1945), Người
nêu lên 2 nhiệm vụ quan trọng nhất: “cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam”(3).
Ngày 25/11/1945, trong Chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc”, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ rõ: “Kẻ thù chính
của chúng ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược” Nhiệm vụ
chủ yếu trước mắt của nhân dân ta là: “củng cố chính quyền,
chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân” Trong bốn nhiệm vụ đó, nhiệm vụ bao trùm là củng cố chính quyền.
(1) Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử 1919 - 1945, Nhà
xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2002 có đoạn: Cơn lũ lịch sử ngày 18/8/1945 đã làm hàng loạt đê các sông Hồng, sông Thái Bình, sông Thao, bị vỡ nặng nề
ở Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương,
(2) Sáu nhiệm vụ cấp bách: 1 Chống đói; 2 Xóa nạn mù chữ; 3 Tổng
tuyển cử bầu Quốc hội; 4 Giáo dục tinh thần: cần, kiệm, liêm, chính và thực hiện đời sống mới; 5 Bỏ các loại thuế vô lý và cấm hút thuốc phiện; 6 Tự
do tín ngưỡng và đoàn kết lương - giáo.
(3) Văn kiện Đảng 1945 1954, tập I, Ban Nghiên cứu Lịch sử Trung ương
-Hà Nội, xuất bản năm 1979, trang 27 - 28.
Trang 10Trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, những chủ trương
sắc bén và đúng đắn trên là cương lĩnh hành động trước mắtcho toàn Đảng, toàn dân ta vượt qua bước ngoặt ngặt nghèocủa lịch sử
Trong bối cảnh chung của cả nước, tỉnh Bình Định bướcvào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứhai, với muôn vàn khó khăn, thử thách lớn, đòi hỏi Đảng bộ,chính quyền cách mạng non trẻ của địa phương và nhân dânphải quyết tâm và nỗ lực to lớn để vượt qua
Dù không nằm trong vùng có quân Anh, quân Tưởng đếngiải giáp quân Nhật, nhưng tỉnh Bình Định là địa phương cótiềm năng về nhân tài, vật lực của miền Trung, có vị trí cơđộng, chiến lược quan trọng, vì vậy xưa nay các thế lực xâmlược đều nhòm ngó Đầu năm 1946, cả ba phía: phía Bắc làĐà Nẵng (tháng 3/1946), phía Tây là An Khê (Gia Lai - tháng6/1946), phía Nam là Vạn Giã (Bắc Khánh Hòa - tháng02/1946) đều có quân viễn chinh Pháp chiếm đóng Hơn nữa,tại Quy Nhơn còn có khoảng 50 quân Nhật canh giữ chi nhánhNgân hàng Đông Dương đang chờ quân Đồng minh đến “giảigiáp” Bờ biển tỉnh Bình Định dài, lại có nhiều cửa biển, nhấtlà cửa biển Quy Nhơn nối với Bắc Tây Nguyên bằng Quốc lộ
19 và có nhiều bãi ngang, rất thuận lợi cho hải quân Pháp đổbộ và bắn phá
Lợi dụng tình hình khó khăn của đất nước, bọn phản động
ở địa phương (trong ngụy quyền vừa bị nhân dân lật đổ, các tổchức thân Pháp và Nhật, trong một số tôn giáo, ) ngấm ngầmhoạt động, tìm cách mốc nối với các thế lực xâm lược, xuyêntạc những chủ trương, chính sách của Mặt trận Việt Minh vàchính quyền cách mạng(1) Đặc biệt một số phần tử phản động
Lịch sử Đảng bộ huyện An Nhơn (1930 - 1975), xuất bản tháng 8/1988.
Trang 11trong đạo Cao Đài ở các huyện ráo riết chuẩn bị lương thực, vũkhí và tập hợp lực lượng chờ cơ hội gây bạo loạn(1) Một sốngười Hoa ở Quy Nhơn, An Nhơn, Phù Mỹ, Hoài Nhơn, khinghe quân Trung Hoa Dân Quốc kéo vào Đà Nẵng, để giảigiáp vũ khí quân Nhật, đã vội công khai treo cờ, tổ chức đổibạc “Quan Kim”, cử đại biểu đi Đà Nẵng chào mừng(2).
Mặc dù Bình Định là một tỉnh lớn ven biển, có cánh đồng
lớn thứ ba của miền Trung, từng được xem là “Tiểu Nông nại”
(tức Đồng Nai nhỏ), nhưng là địa phương độc canh cây lúa,thường bị bão lũ tàn phá, hạn hán gay gắt Trước kia hàngnăm phải nhập hàng ngàn tấn lúa của Nam Bộ, hàng ngàn tấncá muối, cá khô và nước mắm của Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận)và Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang) Hàng công nghệ phẩm nhấtlà hàng tiêu dùng thiết yếu (thuốc tây và thuốc bắc, giấy, vảimặc, dầu thắp, văn phòng phẩm, ) phụ thuộc vào hàng nhậpkhẩu của Pháp, Hồng Kông và các thành phố lớn trong nướcnhư Sài Gòn, Hà Nội, sau đó bị tắc nghẽn
Trong lúc đó, hàng ngàn tấn muối ăn, dầu dừa, dây dừa,cau khô, bò heo, đồ nan, nón Gò Găng, lâm thổ sản, ứ đọngkhông tiêu thụ được Nhà máy dệt lụa Delignon và các xưởngdệt thủ công của người Hoa, hãng SITA (Société industrielle
de tissage d’Annam), hãng bột trứng vịt FIARD phải đóng cửa
vì thiếu nguyên liệu Không chỉ nông dân lâm vào cảnh cơ cựcmà các tầng lớp khác như công nhân, thợ thủ công, dân nghèođô thị cũng khốn đốn Khoảng 95% dân số bị mù chữ(3) Những
(1) Lịch sử Đảng bộ huyện Phù Cát (1930 - 1975), 3/1996; Lịch sử Đảng bộ
huyện Phù Mỹ (1930 - 1975), 9/2001.
(2) Lịch sử Đảng bộ huyện An Nhơn (1930 - 1975), sđd; Lịch sử Đảng bộ
huyện Hoài Nhơn (1928 - 1954), xuất bản năm 1986; Lịch sử Đảng bộ thành
phố Quy Nhơn (1930 - 1975), xuất bản tháng 10/1998.
(3) Báo cáo thành tích Bình dân học vụ của tỉnh Bình Định trong 9 năm kháng chiến chống Pháp của Ty Giáo dục Bình Định.
Trang 12tệ nạn và các thói hư tật xấu của xã hội thực dân phong kiếnrất nặng nề, không thể xóa bỏ và cải tạo trong ngày một ngàyhai Trong cuộc sống tối tăm và khốn cùng đó, đời sống củađồng bào các dân tộc ít người ở miền núi càng cơ cực và cayđắng hơn.
Cùng với cả nước, tỉnh Bình Định bước vào cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp lần này khác hẳn với những năm
tháng kháng chiến chống Pháp cuối thế kỷ XIX Với sự lãnhđạo đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Đông Dương(Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay) và Chủ tịch Hồ Chí Minh,bằng cuộc đổi đời lịch sử trong Cách mạng tháng Tám năm
1945, đã mang lại cho nhân dân Bình Định một nguồn sứcmạnh vô cùng to lớn Đó là khí thế, quyết tâm, ý chí, tinh thầnvà niềm tin của người dân bắt đầu làm chủ đất nước và vậnmệnh của mình Chính quyền cách mạng các cấp tuy vừa mới
được thành lập còn chập chững, non nớt, nhưng đó là chính
quyền của nhân dân, được các lực lượng yêu nước ở địa phươngtập hợp trong Mặt trận Việt Minh làm hậu thuẫn Đội ngũ cánbộ chính quyền, mặt trận và các đoàn thể quần chúng, cũngnhư lực lượng vũ trang cách mạng dù mới được hình thành,còn bao khó khăn và thiếu thốn về nhiều mặt, nhất là thiếuhiểu biết về quản lý Nhà nước, quản lý xã hội và xây dựngnền kinh tế, văn hóa mới, song giàu nhiệt tình cách mạng, tậntụy, năng nổ và ham học hỏi
Có thể nói, tình hình tỉnh Bình Định lúc bấy giờ có rấtnhiều khó khăn và hạn chế Mặt trận Việt Minh trong giaiđoạn giao thời đó, vừa là Mặt trận dân tộc thống nhất ở địaphương, vừa là lực lượng có vai trò quan trọng trong việc huyđộng, tổ chức mọi tầng lớp quần chúng thực hiện các chủtrương, chính sách của Đảng và Chính phủ Song Mặt trậnViệt Minh chưa tập hợp được rộng rãi mọi tầng lớp nhân dânđịa phương, cũng chưa hình thành được hệ thống từ tỉnh xuống
Trang 13cơ sở Chính quyền nhân dân cũng mới thiết lập ở cấp tỉnh vàcác huyện, còn tại cấp cơ sở thì nhiều nơi vẫn còn dựa vào tổchức hương lý chế độ cũ(1) Các lực lượng vũ trang cách mạng
mới thành lập ở một số nơi, lực lượng còn ít, lại chưa thống
nhất cả về tổ chức lẫn tên gọi (tự vệ cứu quốc, tự vệ sắt, )chưa được học tập chính trị và kỹ năng chiến thuật tác chiến.Đảng bộ tỉnh Bình Định, hạt nhân lãnh đạo các phong tràocách mạng địa phương, tuy ra đời khá sớm (năm 1930), cơ sởđảng được xây dựng ở một số huyện, từng có cấp ủy tỉnh(Tỉnh ủy lâm thời những năm 1937 - 1939, Tỉnh ủy lâm thờicuối tháng 7/1945), nhưng chưa đi tới thống nhất về lực lượngvà tổ chức toàn tỉnh
Tình hình trên đặt ra cho Đảng bộ, Mặt trận Việt Minh,chính quyền cách mạng và nhân dân Bình Định những vấn đềbức xúc đòi hỏi phải giải quyết tức thời mà căn bản và vữngchắc, vừa đáp ứng những yêu cầu cấp bách của địa phương,vừa cùng cả nước khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiếnlâu dài, gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược
II CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN, GIẢI QUYẾT MỘT SỐ VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI CẤP BÁCH
Khoảng đầu tháng 9/1945(2), Tỉnh ủy lâm thời, Ủy banViệt Minh, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Bình Định
(1) Lịch sử Đảng bộ huyện Tây Sơn (1930 - 1975), xuất bản tháng 01/1999,
trang 56 có đoạn: “Đến cuối năm 1945, thành lập xong Ủy ban Việt Minh 4 tổng: Vĩnh Thạnh, Phú Phong, Trường Định, Thuận Truyền và Ủy ban nhân
dân cách mạng lâm thời các làng” Báo cáo về chính quyền miền Nam Trung
Bộ trong Đại hội Đại biểu Đảng bộ Liên khu V lần thứ nhất (tháng 4/1949),
có đoạn: “Riêng tỉnh Bình Định, có nơi Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện phải làm việc với tổ chức lý hương cũ đến 2 tháng mới thành lập được Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời làng”.
(1) Chưa tìm được tài liệu xác định thời điểm và nội dung cuộc hội nghị
quan trọng này Về thời điểm, có tỉnh như Thừa Thiên Huế, trong Lịch sử
Đảng bộ Thừa Thiên Huế, tập I (1930 - 1954) ghi: tháng 10/1945.
Trang 14(lúc đó gọi là tỉnh Tăng Bạt Hổ) họp tại Quy Nhơn, để thảoluận những biện pháp thực hiện các chủ trương, chính sáchmới của Đảng và Chính phủ Căn cứ vào 6 nhiệm vụ cấpbách mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra và được thông qua trongphiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 03/9/1945,hội nghị đã xác định các nhiệm vụ trước mắt của địa phương:
Tập trung sức củng cố chính quyền cách mạng và giải quyết một số vấn đề kinh tế - xã hội bức bách nhằm ổn định tình hình và cải thiện đời sống nhân dân; tích cực xây dựng, phát triển các đoàn thể quần chúng của Mặt trận Việt Minh và lực lượng vũ trang, khẩn trương chuẩn bị kháng chiến Đồng thời, xây dựng hệ thống tổ chức các Đảng bộ từ tỉnh xuống cơ sở để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng.
Trong đó việc xây dựng và củng cố chính quyền cáchmạng còn non trẻ, cũng như giải quyết tức thời một số vấn đềkinh tế - xã hội cấp bách có tầm quan trọng hàng đầu để huyđộng sức mạnh toàn dân vào việc giữ chính quyền nhân dânvà xây dựng chế độ mới
1 Củng cố chính quyền nhân dân non trẻ
Nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân và củng cốNhà nước về mặt pháp lý, thực hiện nhiệm vụ cấp bách thứ
ba “sớm tổ chức cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu
phiếu”, ngày 08/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số
14/SL quy định việc mở cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hộitrong thời hạn 2 tháng (kể từ ngày ký Sắc lệnh) Do có sự cảntrở của các tướng Trung Hoa Dân Quốc: Lư Hán, Tiêu Vănvà bọn tay sai trong Việt Quốc và Việt Cách, ngày bầu cử phảidời đến 23/12/1945 (theo Sắc lệnh số 51/SL ngày 16/10/1945),sau đó lại phải hoãn đến ngày 06/01/1946 (theo Sắc lệnh số76/SL ngày 18/12/1945)
Cuối tháng 11/1945, tỉnh Bình Định tiến hành các côngtác chuẩn bị Tổng tuyển cử Mặt trận Việt Minh cùng chính
Trang 15quyền cách mạng các cấp tổ chức các đội công tác về tậnthôn, xóm cả vùng biển, đồng bằng và miền núi, để tuyêntruyền phổ biến mục đích ý nghĩa cuộc Tổng tuyển cử, nghĩavụ và quyền lợi của công dân Đồng thời, lập danh sách ứngcử viên và cử tri công bố rộng rãi trong nhân dân, vận độngnhân dân lựa chọn những đại biểu xứng đáng vào khóa Quốchội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Dù có Sắc lệnh hoãn cuộc bầu cử Quốc hội khóa I đếnngày 06/01/1946, “nhưng do Bình Định đã sắp đặt xong nêntổ chức Tổng tuyển cử vào ngày 23/12/1945 Số người ứngcử trên 50 người, số người được bầu làm đại biểu Quốc hội
12 người”(1) Đó là các ông: Trần Lê, Trần Quang Khanh,Huỳnh Triếp, Trần Tín, Trần Huy, Phạm Sanh, Phan Chấn,Nguyễn Hữu Mai, Nguyễn Xuân Như, Nguyễn Hoàng, MangThoang, Nguyễn Bá Tín Tiếp theo, thi hành Sắc lệnh số63/SL ngày 22/11/1945, tỉnh Bình Định tổ chức các cuộc bầucử Hội đồng nhân dân tỉnh và xã(2), bầu Ủy ban hành chínhcác cấp thay cho Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời lập ratrong Cách mạng tháng Tám năm 1945
Trong 3 cuộc bầu cử trên, lần đầu tiên mọi tầng lớp nhândân tỉnh Bình Định không phân biệt chính kiến, chính hayngụ cư, nam - nữ, già - trẻ, lương - giáo, dân tộc, giàu, nghèo, đều được cầm lá phiếu trực tiếp bầu những người đại diện
(1) Theo bản phô tô Báo cáo tổng tuyển cử Quốc hội Bình Định, 1 trang,
Hồ sơ 47, Phông phủ Thủ tướng, Trung tâm lưu trữ Quốc gia III, không ghi cơ quan soạn thảo Các tỉnh từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Khánh Hòa đều bầu
cử ngày 06/01/1946.
(2) Về thời điểm, bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh thì: Quảng Ngãi, Quảng
Nam - Đà Nẵng, Hà Tĩnh, Nghệ An đều ghi: ngày 17/02/1946; còn Phú Yên, Thừa Thiên Huế lại ghi tháng 3/1946 Về Hội đồng nhân dân xã: Hà Tĩnh
ngày 17/02/1946, Phú Yên 9/1946, Quảng Ngãi 14/4/1946, Nghệ An 24/2/1946 Các huyện trong tỉnh: 4/1946, 5/1946.
Trang 16cho mình vào các cơ quan quyền lực Nhà nước từ cơ sở đếnTrung ương Tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu khá cao, rất nhiều xã đạttrên 90%, có xã đạt 100% Danh sách ứng cử viên do Mặttrận Việt Minh giới thiệu đều trúng cử với số phiếu cao Trong
12 vị đại biểu Quốc hội khóa I của tỉnh Bình Định có 6 cựu
“chính trị phạm”, 5 Việt Minh bí mật, 1 linh mục, 1 dân tộcthiểu số, 1 bác sĩ Trong 30 vị đại biểu Hội đồng nhân dântỉnh khóa I, ngoài cán bộ Việt Minh còn có một số viên chức
yêu nước và thân sĩ, đặc biệt “có 1 linh mục, 1 cựu tổng đốc”(1).Tuy nhiên, lần đầu tiên tỉnh Bình Định tổ chức bầu cử Quốchội và Hội đồng nhân dân các cấp, nên trong lãnh đạo khôngtránh khỏi một số thiếu sót
Khoảng tháng 3/1946, thi hành Sắc lệnh số 63/SL ngày22/11/1945 của Chính phủ lâm thời về tổ chức Ủy ban hànhchính các cấp(2) Tỉnh Bình Định tiến hành giải thể cấp tổng,địa danh tỉnh và huyện lấy lại tên cũ, tách và nhập cùng lậpthêm thôn mới, tổ chức liên hiệp xã lần thứ nhất Toàn tỉnh từ
679 thôn cũ (còn gọi là làng) ở đồng bằng nhập lại còn 212xã mới (phần lớn các xã mới gồm từ 2 đến 7 thôn, một số xãmới vốn là một thôn cũ) Huyện An Nhơn: có 31 xã, huyệnBình Khê (nay là huyện Tây Sơn): có 21 xã, huyện Hoài Ân:có 22 xã, huyện Hoài Nhơn: có 27 xã, huyện Phù Cát: có 32xã, huyện Phù Mỹ: có 37 xã, huyện Tuy Phước: có 42 xã(các sách hoặc buôn, nóc, bếp ở miền núi chưa sát nhập).Sau bầu cử, Hội đồng nhân dân tỉnh và các xã tổ chức hộinghị để bầu Ủy ban hành chính tỉnh và các xã thay cho Ủy
(1) Báo cáo và quyết nghị án về chính sách miền Nam Trung Bộ trong Đại
hội đại biểu Đảng bộ Liên khu V lần thứ nhất (tháng 4/1949).
(2) Nguyễn Quang Ân, Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới các
đơn vị hành chính 1945 - 1997, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội,
1997, trang 70: Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 quy định về phương diện hành chính ở tỉnh có các cấp: tỉnh, huyện, xã.
Trang 17ban nhân dân cách mạng lâm thời các cấp được lập ra khi giànhchính quyền (khoảng tháng 10/1945 có lệnh Ủy ban nhân dâncách mạng lâm thời đổi thành Ủy ban nhân dân) và bàn chươngtrình công tác Ủy ban hành chính các huyện được tăng cườngmột số nhân sự mới, Chủ tịch thường là các vị từng đảm nhậnnhiệm vụ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện.Chủ tịch đầu tiên của Ủy ban hành chính tỉnh Bình Định làđồng chí Trần Quang Khanh, nguyên là Chủ tịch Ủy ban nhândân cách mạng lâm thời tỉnh Tăng Bạt Hổ.
Thực hiện chính sách đại đoàn kết của Mặt trận Việt Minhvà chủ trương của Chính phủ Liên hiệp kháng chiến thànhlập ngày 02/3/1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, trongỦy ban hành chính các cấp, ngoài các thành viên là cán bộcách mạng trước năm 1945 và trong Cách mạng tháng Támlàm nòng cốt, còn có một số thành viên mới nhằm huy độngmọi đóng góp cho hoạt động bộ máy chính quyền mới Ủyban hành chính cấp tỉnh và huyện ở Bình Định có đại biểucủa dân tộc ít người, cùng một số nhân sĩ, trí thức và viênchức cũ tiến bộ(1) Ở cấp xã có một số là thanh niên có họcthức và hương lý cũ sớm tham gia hoặc ủng hộ phong tràoViệt Minh tại địa phương
Đi đôi với việc kiện toàn các cơ quan dân cử, theo nhucầu công tác của mỗi cấp, bên cạnh việc củng cố các ngànhchuyên môn đã có, như: giáo dục, thuế quan, tài chính, y tế,thanh niên, công chính, địa chính và nông lâm hải, Ủy banhành chính các cấp đã hình thành các ngành mới như: quân sự,công an, kinh tế, thông tin, bình dân học vụ, cứu tế xã hội, Cùng với việc xây dựng và củng cố bộ máy hành chính, Ủy
(1) Báo cáo tình hình chính quyền miền Nam Trung Bộ, Hồ sơ 180, Phông
phủ Thủ tướng, Cục Lưu trữ Quốc gia I, Hà Nội: Ủy ban hành chính các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi đều là cựu chính trị phạm Ủy ban hành chính tỉnh
Bình Định có 8 Việt Minh và 4 vừa là thân sĩ vừa là chuyên môn.
Trang 18ban Việt Minh và Ủy ban hành chính tỉnh mở một lớp huấnluyện ngắn ngày giúp cho cán bộ huyện, xã bước đầu hiểuđược tình hình, nhiệm vụ, cách làm việc, nhất là cách tổ chứcthực hiện các chủ trương công tác trong nhân dân(1).
Đối với miền núi, khoảng cuối tháng 9/1945, Ủy ban ViệtMinh và Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh điều độngmột số cán bộ người Kinh của các huyện lân cận lên cácnguồn làm công tác “thượng du vận” Buổi đầu dựa vào mộtsố nhân viên có nhận thức tiến bộ trong bộ máy chính quyền
cũ ở miền núi (tri sở, tri thuộc, ) để tập hợp nhân dân tuyên
truyền đường lối chủ trương của Chính phủ, tổ chức những
buổi lễ “đoàn kết Kinh - Thượng” (dựa vào tục lệ “ăn thề” ở
miền núi) giữa đồng bào miền núi và miền xuôi cùng nhauhợp sức chống giặc Pháp xâm lược Khoảng tháng 8/1946,thực hiện chủ trương của Ủy ban hành chính Trung Bộ, tỉnh
Bình Định lập “Phòng quốc dân thiểu số tỉnh”, chọn một số
già làng có uy tín cùng các vị cầm đầu phong trào chốngPháp ở các nguồn An Lão, Kim Sơn, Cầu Bông và Hà Thanh,
mỗi nơi lập một “Phân phòng vận động” cùng cán bộ người
Kinh vận động nhân dân vào các tổ chức quần chúng, chuẩn
bị điều kiện cho việc lập chính quyền cách mạng ở các huyệnmiền núi sau này(2)
Cũng vào thời gian này, một số phái đoàn của Trung ươngvà Chính phủ vào công tác Khu V đều đến tỉnh Bình Định:
(1) Theo Lịch sử Đảng bộ huyện Phù Mỹ và huyện Hoài Ân (1930 - 1975).
(2) Về thời điểm lập các tổ chức này ở Liên khu V còn có ý kiến khác
nhau Nam Trung Bộ kháng chiến 1945 - 1975, Viện Lịch sử Đảng và Hội
đồng biên soạn lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến, Hà Nội, 1992, trang 72
ghi: Tháng 3/1946 Ủy ban Hành chính Trung Bộ lập Ban vận động quốc dân thiểu số Nam Trung Bộ và các phòng quốc dân thiểu số các tỉnh Còn Báo
cáo tình hình chính quyền Nam Trung Bộ năm 1949, Hồ sơ 180, tlđd: Tháng 8/1946 khi lập “Phân ban Quốc dân thiểu số Miền Nam Trung Bộ” mới bắt
đầu công tác vận động thượng du.
Trang 19tháng 12/1945, có phái đoàn đồng chí Lê Văn Hiến - Bộ trưởngBộ Lao động, tháng 01/1946 phái đoàn đồng chí Võ Nguyên Giáp,Bộ trưởng Bộ Nội vụ Chính phủ liên hiệp lâm thời (lập ngày01/01/1946), Đặc biệt, phái đoàn cụ Huỳnh Thúc Kháng -Bộ trưởng Bộ Nội vụ và đồng chí Phạm Văn Đồng thay mặtTrung ương Đảng và Chính phủ đi công tác tại các tỉnh miềnTrung đã đến tỉnh Bình Định để truyền đạt đường lối khángchiến cứu nước của Đảng và Chính phủ, cùng Lời dặn dò củaChủ tịch Hồ Chí Minh cho Đảng bộ, quân và dân địa phươngtrước khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Phápxâm lược Trong thời gian ở tỉnh Bình Định, phái đoàn đã gặpmột số vị thân sĩ và đại biểu các tôn giáo để thăm hỏi và độngviên họ tham gia cùng nhân dân trong cuộc kháng chiến vàxây dựng chế độ mới(1) Trung ương Đảng và Chính phủ cử
đồng chí Phạm Văn Đồng làm đại diện tại Nam Trung Bộ để
“ động viên, tổ chức và lãnh đạo quần chúng, tăng cường đoàn kết nhân dân, kiên trì chiến đấu và quyết tâm thắng kẻ địch ngay trên các mặt trận Nam Trung Bộ” (2)
Qua các đợt thăm và làm việc của các phái đoàn Trungương Đảng và Chính phủ đã góp phần động viên cổ vũ, củngcố niềm tin của Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trangtỉnh Bình Định vào sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Chủtịch Hồ Chí Minh
2 Giải quyết một số vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách
Trên mặt trận sản xuất, thực hiện chủ trương “Tăng gia
sản xuất và cứu đói” của Chính phủ (ngày 03/9/1945) và
(1) Cụ Huỳnh Thúc Kháng gặp cụ Phó bảng Đào Phan Duân nguyên Tuần
vũ tỉnh Khánh Thuận; đồng chí Phạm Văn Đồng đến thăm cử nhân Đào Nhữ Tuyên nguyên Án sát, con cụ Thượng thư Đào Tấn.
(2) Đây là Lời căn dặn của Hồ Chủ tịch mà đồng chí Phạm Văn Đồng ghi trong
Dự thảo lần thứ nhất “Khu V, 30 năm chiến tranh giải phóng”, tập I Kháng chiến
chống thực dân Pháp, Bộ Tư lệnh Quân khu V, xuất bản năm 1986.
Trang 20hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tăng gia
sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững chính quyền tự
do, độc lập” (1) Ủy ban Việt Minh và Ủy ban nhân dân cách
mạng lâm thời tỉnh Bình Định phát động toàn dân hăng háitham gia chiến dịch tăng gia sản xuất, cứu đói Với khẩu hiệu:
“Không một tấc đất bỏ hoang, tấc đất tấc vàng”, phong trào
khai hoang phục hóa, tận dụng đất gò đồi và đất ven đường, để tăng diện tích cấy lúa và trồng hoa màu, nhất là khoai mì,khoai lang được đẩy mạnh khắp nơi, từ ven biển và đồng bằngđến vùng gò đồi, cả các thị tứ, cơ quan và đơn vị vũ trang.Với sự tham gia tích cực của nhân dân, phong trào tănggia sản xuất thu được những kết quả khả quan Toàn tỉnh đãkhai hoang và phục hóa hơn 2.000 mẫu ruộng đất Trước kiamùa lúa tứ quý chỉ làm số ít ở huyện Phù Cát và huyện Phù Mỹ,từ năm 1946 lan dần ra nhiều huyện, kể cả các huyện chỉlàm 2 vụ (tháng 3 và tháng 10) như huyện Tuy Phước, huyện
An Nhơn, sản lượng vụ tứ quý năm đầu tiên dưới chế độmới đủ cho nhân dân toàn tỉnh dùng trong 3 tháng(2) Về thủylợi, ngoài việc tu bổ các hệ thống mương, đập và bờ xe nước,nhiều nơi có sáng kiến mới: Tám xã Bắc Phù Mỹ như Trà Ổ,Nguyễn Thung, Xuân Thạnh, An Bình, Liêm Chánh, (naythuộc các xã Mỹ Đức, Mỹ Thắng, Mỹ Phong, Mỹ Thọ, ) đãhùn sức 6.000 công đào một con mương dài 215 mét, rộng 8mét, sâu 2 mét để tháo nước úng cho 520 mẫu, mỗi năm sinhlợi được 52 tấn lúa; xã Hương Sơn (nay thuộc xã Hoài Hương,
(1)Hồ Chí Minh, Thư gửi các nhà nông, tuyển tập, tập I, Nhà xuất bản Sự Thật,
Hà Nội, xuất bản năm 1980, trang 365.
(2) Báo cáo của Ủy ban Việt Minh tỉnh Bình Định trong Đại hội kiểm thảo
Việt Minh toàn tỉnh tại Bồng Sơn ngày 19/8/1947 Lịch sử Đảng bộ huyện Phù
Mỹ (1930 - 1975), sđd, trang 75 - 76 cũng ghi: “Trong vụ sản xuất Đông Xuân
1945 - 1946, chỉ vùng ven đầm Trà Ổ, các bàu Thanh Thủy, Chánh Trạch, đã tăng hàng chục mẫu”.
Trang 21huyện Hoài Nhơn), nhân dân lập Liên đoàn xa thủy, mỗi nămthu 68 tấn lúa và 50.000 đồng bạc tín phiếu(1) Có nơi như VạnHòa, Vạn Long, Vạn Khánh, Vạn Xuân, (nay thuộc xã AnHòa, huyện An Lão và xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân) đồng bàocòn chặt các vườn cau sai quả để lấy đất trồng hoa màu, (2).Sau hơn 1 năm đẩy mạnh sản xuất, sản lượng lương thựctoàn tỉnh tăng đáng kể, vừa trang trải các nhu cầu cho nhân dânđịa phương, vừa đáp ứng một phần cho công tác chuẩn bị kháng
chiến Báo cáo của Ủy ban Việt Minh tỉnh Bình Định ghi nhận:
“Trước năm 1945, hàng năm phải nhập hơn 2.000 tấn gạo củaNam Bộ, nay không nhập mà còn bán cho các tỉnh” Ngoài sảnxuất nông nghiệp, một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệpnhư: trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, trồng bông dệt vải ở cáchuyện: Bình Khê, An Nhơn, Hoài Ân, Hoài Nhơn, rèn đúcnông cụ và sản xuất hàng gia dụng ở Đập Đá (huyện An Nhơn),Bồng Sơn (huyện Hoài Nhơn), chế biến các sản phẩm từ cây
mì, cây dừa, ở các huyện: Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, cũng được tỉnh khuyến khích phục hồi để cải thiện dân sinh
Đi đôi với đẩy mạnh tăng gia sản xuất, nhân dân Bình Địnhcòn tích cực hưởng ứng mạnh mẽ chủ trương phòng và chống
đói của Chính phủ Làm theo Lời kêu gọi đồng bào toàn quốc
cứu đói (ngày 23/9/1945) của Hồ Chủ tịch, nhà nhà đều có
“hũ gạo cứu đói” để mỗi bữa nấu cơm bớt một nắm gạo bỏ
vào hũ, mười ngày “đồng tâm” nhịn một bữa ăn Với truyền thống “đồng cam cộng khổ”, “hoạn nạn có nhau”, số lương
thực cứu đói đã lên đến hàng trăm tấn, không những trợ giúpcho các gia đình nghèo túng tại chỗ mà còn gửi cứu trợ đồngbào miền Bắc đang bị đói nghiêm trọng Ngoài ra, để tiếtkiệm lương thực, đồng bào nhiều nơi trong tỉnh thực hiện ăn
(2) Lịch sử Đảng bộ huyện Hoài Ân (1930 - 1945), xuất bản tháng 12/1996,
trang 86.
Trang 22cơm ghé khoai mì, khoai lang, và tự nguyện không dùnggạo nấu rượu, làm bún, bánh tráng,
Để bồi dưỡng sức dân, tỉnh Bình Định tiến hành nhữngcải cách dân chủ Thi hành Sắc lệnh 11-SL, ngày 07/9/1945và Nghị định ngày 26/10/1945 của Chính phủ, chính quyềncách mạng tỉnh Bình Định đã bãi bỏ một số loại thuế bất côngvà nô dịch, như thuế thân, thuế chợ, thuế đò, thuế rượu, thuếmuối, giảm thuế ruộng đất 20%, xóa các khoản phù thu lạmbổ, xóa và hoãn nợ, giảm tô 25% cho nông dân Trong đợtquân cấp công điền đầu tiên dưới chế độ dân chủ cộng hòađầu năm 1946, toàn bộ ruộng đất công kể cả ruộng tự đình, tựmiếu và ruộng đất bị bọn hào lý xâm chiếm với hơn 60.000mẫu Trung Bộ đều được đem chia cho nam, nữ công dân từ
18 tuổi trở lên, không phân biệt chính cư hay ngụ cư Đây làlần đầu tiên trong lịch sử của dân tộc ta, phụ nữ được chiaphần ruộng đất công và hưởng những quyền lợi và nghĩa vụcủa người công dân như nam giới Một số ruộng đất bị thựcdân Pháp chiếm như đồn điền Portier (huyện Vân Canh), AnTrường (xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn), đồn điền Delignonvà Mathey ở huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn), đều
bị tịch thu và sung vào công quỹ(1)
Các cuộc vận động dân chủ dân sinh nói trên tuy mới chỉlà bước đầu, nhưng làm cho nhân dân nhận thức được chínhquyền cách mạng thật sự là chính quyền của dân và vì nhândân Qua đó củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạocủa Đảng và Chính phủ, sẵn sàng đóng góp nhân tài, vật lực
vào công cuộc “kháng chiến, kiến quốc”.
(1) Một số sách đã xuất bản trong tỉnh cho rằng: chính quyền cách mạng đã tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian đem chia cho nông dân từ đầu
năm 1946 Nhưng Chỉ thị Những vấn đề cấp bách hiện tại của Thường vụ Việt Minh Trung Bộ khoảng đầu tháng 10/1945, ở mục b của điểm 6, Kinh tế
ghi rõ: Đồn điền Nhật do Chính phủ quản lý, còn của Tây thì tuyên bố mượn cho quốc phòng, làm giấy tờ hẳn hoi.
Trang 23Nhân dân Bình Định đã nhiệt liệt hưởng ứng Sắc lệnh gây
dựng “Quỹ độc lập” ngày 04/9/1945, cùng các “Tuần lễ vàng”,
“Tuần lễ đồng”, góp phần cùng đồng bào cả nước hỗ trợ
Chính phủ khắc phục một phần khó khăn về tài chính Trong
“Tuần lễ vàng” từ ngày 17 đến ngày 24/9/1945, nhân dân
toàn tỉnh đã đóng góp được 25 kg vàng Nhiều người tự nguyện
quyên góp từ 1 chỉ đến 1,2 lượng vàng Một số cặp vợ chồng
đem cả hoa tai, nhẫn, xuyến, dây chuyền và kiềng vàng, làcác kỷ vật của tuổi lứa đôi để ủng hộ(1) Trong “Tuần lễ đồng”,
nhân dân toàn tỉnh hiến góp không chỉ là những vật gia dụngnhư chậu đồng, mâm thau, nồi đồng, mà còn có cả đồ thờcúng tổ tiên như: lư hương, đỉnh, thố đồng, tam sơn ngũ sựbằng đồng, với số lượng toàn tỉnh đóng góp lên tới hàng
chục tấn đồng cho sự nghiệp “Kháng chiến, kiến quốc”.
Đầu năm 1946, cùng với đồng bào Nam Trung Bộ, nhândân Bình Định lại phấn khởi hưởng ứng đợt thí điểm lưu hànhtờ bạc Việt Nam do Bộ Tài chính được Chính phủ cho phépấn hành để thay thế tờ bạc ngân hàng Đông Dương của Pháp(2).Tiếp theo, khoảng tháng 7/1947, cùng với nhân dân Nam TrungBộ, đồng bào Bình Định phấn khởi tiếp nhận tờ tín phiếu doỦy ban kháng chiến miền Nam Trung Bộ được phép Chínhphủ cho in ấn và lưu hành tại địa phương Bấy giờ hai tờ bạctrên của ta (bạc Việt Nam của Bộ Tài chính và bạc tín phiếu)tuy không có vàng bảo đảm, hình thức còn thô thiển nhưng
được nhân dân tín nhiệm và trìu mến gọi là “Bạc Cụ Hồ”.
(1) Lịch sử phong trào Phụ nữ Bình Định, tập I, (1930 - 1954), 1990, trang 69:
ghi rất nhiều phụ nữ ở các xã: Hoài Sơn (huyện Hoài Nhơn), Mỹ Quang (huyện Phù Mỹ), Phước Thắng, Phuớc Thuận (huyện Tuy Phước), là điển
hình về hiến vàng Lịch sử Đảng bộ thành phố Quy Nhơn (1930 - 1975), sđd,
trang 107: Quy Nhơn thu khoảng 8 kg vàng,
(2) Ngày 31/01/1946, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 186/SL cho phép Bộ Tài
chính phát hành tờ bạc Việt Nam thay thế tờ bạc Đông Dương; ngày 23/11/1946, Quốc hội quyết định lưu hành trong cả nước.
Trang 24Đi đôi với những thắng lợi ban đầu trên mặt trận kinh tế tài chính, cùng với đồng bào cả nước, nhân dân Bình Địnhcũng có những cố gắng vượt bậc trên lĩnh vực văn hóa - xã hội.Cuối tháng 9/1945, Chính phủ lâm thời ban hành ba Sắclệnh số 17, 19 và 20/SL thành lập ngành Bình dân học vụ đểđẩy mạnh công cuộc xóa nạn mù chữ cho nhân dân ta Ngày
-04/10/1945, trong Lời kêu gọi chống nạn thất học, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nghĩa vụ học tập cho toàn dân: “Muốn
giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc nước nhà, trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” Ngày 08/10/1945, trong buổi lễ khai giảng lớp
huấn luyện cán bộ bình dân học vụ, Người nhấn mạnh: “Chống
nạn thất học cũng như chống nạn ngoại xâm”.
Khoảng tháng 10/1945, thực hiện các chủ trương trên củaHồ Chủ tịch và Chính phủ, bộ máy ngành Bình dân học vụtỉnh Bình Định được hình thành từ tỉnh xuống tận thôn, xómvà bắt tay ngay vào việc vận động nhân dân tham gia phongtrào học tập chữ quốc ngữ Buổi đầu, những đình, chùa, miếuvà nhà ở của dân được mượn để mở lớp học Giáo viên bìnhdân học vụ ban đầu là những người biết chữ quốc ngữ tại địa
phương, như Lời kêu gọi chống nạn thất học của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người biết chữ hãy dạy những người chưa biết
chữ Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, Phụ nữ lại càng phải học ”.
Tài liệu giảng dạy là cuốn Vấn quốc ngữ của Hội truyền bá
quốc ngữ cùng một số sách giáo khoa cũ: Quốc văn giáo khoa thư, Luân lý giáo khoa thư, Thiếu bảng học thì lấy gỗ
làm bảng, thiếu giấy thì lấy giấy đã viết được tẩy mực hoặc lá
chuối phơi khô, Thiếu mực và phấn viết thì thay bằng mì látkhô, đất sét, than củi,
Trang 25Cứ trưa đến hay đêm xuống, sau những giờ làm việc nặngnhọc ở đồng áng, hãng xưởng và chợ, quán, đồng bào nônức rủ nhau đến lớp chăm chỉ học tập Phong trào ngày càngcuốn hút nhiều tầng lớp tham gia, từ những em bé 8 - 9 tuổiđến các cụ già trên dưới 60 tuổi, từ những nông dân và thợ,bạn, đến các chị em phụ nữ, diêm dân, ngư dân, cho tới sốngười sống dư dả ở thôn quê và thị tứ Từ cuối năm 1945 đếncuối năm 1946, với sự hưởng ứng tích cực của nhân dân cùngvới sự động viên, cổ vũ của các đoàn thể quần chúng vàchính quyền các cấp, toàn tỉnh đã có hơn 85.000 người bắtđầu đọc thông viết thạo(1), gấp hơn 2 lần số người biết chữ
của tỉnh trước tháng Tám năm 1945 Riêng năm 1946, toàn
tỉnh mở được 3.881 lớp học với 4.519 giáo viên, 75.669 họcviên và 65.384 người mãn khóa(2)
Thi hành chủ trương về văn hóa của Mặt trận Việt Minh:
“Hủy bỏ giáo dục nô lệ và thuộc địa, gây dựng nền quốc dângiáo dục”(3), chính quyền cách mạng vừa chấn chỉnh bộ máyngành giáo dục cũ, vừa cố gắng mở rộng trường lớp các bậcphổ thông Nhân ngày khai trường năm học 1945 - 1946, nămhọc đầu tiên dưới chế độ Dân chủ Cộng hòa, các cấp Việt Minhvà chính quyền trong tỉnh đã tổ chức trọng thể lễ khai giảngvà trang trọng công bố Thư gửi cho học sinh của Chủ tịchHồ Chí Minh: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang haykhông, dân tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường
(1) Báo cáo thành tích giáo dục Liên khu V qua 9 năm kháng chiến của Sở Giáo
dục miền Nam Trung Bộ, còn Báo cáo thành tích bình dân học vụ Bình Định
trong kháng chiến chống Pháp, Ty Giáo dục Bình Định có con số khác nhưng chênh lệch không nhiều.
(2) Báo cáo thành tích giáo dục Liên khu V tlđd: Năm 1946, 4 tỉnh (Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) về bình dân học vụ: số lớp 17.063, giáo viên: 22.115, học viên 376.611, mãn khóa 374.376.
(3) Việt Nam độc lập Đồng minh, Tuyên ngôn, Chương trình, Điều lệ, Văn
kiện Đảng toàn tập, tập 7, Hà Nội, 1999.
Trang 26quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công lao học tập của các cháu”(1).
Nếu năm học 1945 - 1946, tỉnh chủ yếu duy trì các trườnglớp bậc tiểu học cả công lập và tư thục, thì năm học 1946 - 1947đã mở thêm mấy chục trường lớp công lập mới, chủ yếu làcác trường sơ đẳng (đủ 3 lớp, từ lớp năm đến lớp ba) vàhương trường (1 - 2 lớp) cùng một số trường tiểu học mới (cólớp nhì đệ nhất và nhì đệ nhị) ở một số huyện Nhờ thế đã thunhận hàng ngàn học sinh mới, trong đó có không ít con emcác tầng lớp lao động lần đầu tiên được cắp sách đến trường,số học sinh bậc tiểu học năm học 1946 - 1947 toàn tỉnh cótrên dưới mười mấy ngàn em(2), gấp 2 lần số học sinh bậc tiểuhọc trong năm học có số học sinh cao nhất của tỉnh Bình Định(1944 - 1945) thời Pháp thuộc(3)
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, Thư gửi cho học sinh (tháng 9/1945), tập 4, Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.
(2) Con số 780 lớp và 24.642 học sinh trong Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định,
tập II, (từ tháng 8/1945 đến tháng 5/1955), 1992, trang 30 là số học sinh của
niên khóa 1947 - 1948, theo Báo cáo tình hình dân vận đầu năm 1949 Con số mười mấy ngàn là dựa vào Báo cáo tình hình miền Nam Trung Bộ từ kháng
chiến toàn quốc đến năm 1949, Hồ sơ 174, Phông Phủ Thủ tuớng ghi: học sinh
4 tỉnh tự do niên khóa 1946 - 1947: 69.208 chiếm 3,03% dân số.
(3) Một tỉnh gần 700.000 dân, mà niên khóa 1944 - 1945, năm học được xem là thời điểm phát triển mạnh nhất ngành giáo dục bậc tiểu học dưới thời Pháp thuộc, toàn tỉnh Bình Định không hơn 60 cơ sở, gồm các loại trường (tiểu học huyện, sơ đẳng tổng, hương trường làng) với hơn 5.000 học sinh công lập Ngoài ra, tỉnh Bình Định còn có 2 trường bậc Cao đẳng tiểu học (Cycle Primaire Supérieur, tương đương trung học cơ sở hiện nay) công lập và tư thục: Collège Quy Nhơn (lập năm 1921) và Institution Nam Anh đều ở Quy Nhơn Collège Quy Nhơn (đầu năm 1944 đổi là Collège Võ Tánh) là trường công duy nhất ở Nam Trung Bộ, hàng năm chỉ tuyển mới 50 học sinh trong mấy trăm học sinh tốt nghiệp tiểu học của 10 tỉnh từ Quảng Nam đến Bình Thuận và Bắc Tây Nguyên Số học sinh bậc tiểu học niên khóa 1944 - 1945 của tỉnh Bình Định có
2 số liệu: 4.530 học sinh (tài liệu ghi chép của Huỳnh Triếp), 5.500 em học sinh công lập (Giáo dục phổ thông Liên khu V, Sơ thảo 30 năm giáo dục Miền
Nam (1945 - 1975) của Lê Đức Kế, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội, 1995).
Trang 27Về bậc học phổ thông công lập, do các lớp học và khunội trú của trường dành cho bộ đội đóng quân, nên trườngCollège Võ Tánh (đầu năm học 1947 - 1948 đổi tên là Trườngtrung học Nguyễn Huệ) đến đầu tháng 10/1945 mới khai giảngvà học nhờ tại trường tư thục Nam Anh, với khoảng 120 học sinhvà mở đủ cả 4 lớp từ đệ nhất đến đệ tứ Cuối tháng 11/1945,trường được lệnh sơ tán về thôn An Lương (xã Lương Hiệp,nay là xã Mỹ Chánh, huyện Phù Mỹ), học nhờ buổi chiều tạiTrường tiểu học An Lương Tháng 6/1946, tại đây trường tổchức kỳ thi tốt nghiệp bậc cao đẳng tiểu học đầu tiên dướichế độ Dân chủ cộng hòa Trong kỳ thi này, ngoài học sinhđang học lớp đệ tứ của trường, còn có học sinh đệ tứ củatrường tư thục Nam Anh và thí sinh tự do(1).
Cùng với công tác xóa nạn mù chữ cho nhân dân và pháttriển ngành giáo dục phổ thông, Mặt trận và chính quyềncách mạng tỉnh Bình Định còn huy động nhân dân hưởng ứng
phong trào “đời sống mới” Cuộc vận động này nhằm giáo
dục cho nhân dân tinh thần yêu nước và căm thù giặc xâm
lược, yêu lao động và chính nghĩa, gây dựng đạo đức “cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, xây dựng nếp sống văn
minh, vui, khỏe, ấm áp tình làng nghĩa xóm Những hủ tụctrong ma chay, cưới hỏi cùng các thói hư tật xấu như: trộmcướp, cờ bạc, rượu chè, hút xách, đàng điếm, mê tín dị đoan, đều được cải tạo và xóa bỏ Các tầng lớp nhân dân, nhất lànam nữ thanh niên tích cực tham gia tập luyện thể dục thểthao, đi đầu trong các phong trào vệ sinh, thu dọc rác, làmsạch thôn xóm, phố phường và thực hiện vệ sinh phòng bệnh.Ngành y tế cách mạng tỉnh Bình Định được hình thành trên cơsở tiếp nhận số nhân viên y tế chế độ cũ tự nguyện tham gia
(1)Trung học Nguyễn Huệ, một thời để nhớ, Hội học sinh cũ trường Quốc Học
Quy Nhơn xuất bản, Quy Nhơn, 9/2001.
Trang 28Buổi đầu, n vừa tiến hành các công tác khám chữa bệnh vàphòng dịch, vừa mở các lớp tập huấn ngắn ngày đào tạo cấptốc các nhân viên: cứu thương, đội viên Hồng thập tự cungcấp cho lực lượng vũ trang và các huyện(1).
III XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN THỰC LỰC CÁCH MẠNG, KHẨN TRƯƠNG CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN
1 Xây dựng và phát triển thực lực cách mạng
Đi đôi với củng cố chính quyền cách mạng các cấp và ổnđịnh đời sống nhân dân, các địa phương trong tỉnh đã tậptrung mọi nỗ lực để xây dựng và phát triển thực lực cáchmạng cả về chính trị và vũ trang vững mạnh Đây là mộtnhiệm vụ rất cấp bách, vì chỉ có củng cố và tăng cường khốiđoàn kết toàn dân, mới có thể đẩy mạnh công cuộc khángchiến, kiến quốc tại địa phương
Cuối năm 1945, thực hiện Chỉ thị Những vấn đề cấp bách
hiện tại của Ban Thường vụ Việt Minh Trung Bộ, Ủy ban
Việt Minh tỉnh Bình Định được kiện toàn(2) do đồng chí Trần Lêlàm Chủ nhiệm Nhằm xúc tiến công tác củng cố và pháttriển các đoàn thể quần chúng và Mặt trận Việt Minh từ tỉnhđến cơ sở, Việt Minh tỉnh vừa tăng cường cán bộ cho ViệtMinh các huyện, vừa phái các đội tuyên truyền xung phong
xuống các địa phương, nhất là các xóm, thôn hẻo lánh ở vùng
sâu vùng xa, tổ chức những cuộc mít-tinh có lồng ghép cácchương trình văn nghệ để tuyên truyền đường lối, chính sách
(1) Y tế Bình Định 30 năm kháng chiến 1945 - 1975, Sở Y tế Bình Định xuất
bản năm 1999.
(2) Khoảng từ tháng 10/1945 đến tháng 12/1945, Xứ ủy lâm thời và Việt Minh Trung Bộ nhiều lần tăng cường cán bộ cho tỉnh Bình Định, như: Võ Dân, Trần Tề, Phạm Ngọc Yên, Minh Sơn, Trần Tâm (Thủy), Nguyễn Xuân Ký, Phạm Tiến, Lê Thái Hòa, Lê Khoan Hồng, Bùi Tấn Linh, Nguyễn Thị Xâm, Phạm Thị Hồng, Trần Thị Tư,
Trang 29của Đảng và Chính phủ, vận động quần chúng hăng hái thamgia các đoàn thể cứu quốc.
Với những nỗ lực trên, từ tháng 10/1945 đến tháng 8/1946,lực lượng của Mặt trận Việt Minh các huyện được tăng cườngmột bước đáng kể, các đoàn thể cứu quốc trong tỉnh đều tiếnhành đại hội, hình thành hệ thống tổ chức từ cơ sở đến tỉnh
Hội phụ nữ cứu quốc tỉnh là tổ chức sớm có Ban vận động
(tháng 10/1945), đến đầu năm 1946 Đại hội Phụ nữ toàn tỉnhbầu Ban Chấp hành chính thức do đồng chí Đinh Thị Chính
Tâm làm Bí thư Đoàn Thanh niên cứu quốc tỉnh tổ chức đại hội (tháng 3/1946), bầu đồng chí Võ Cang làm Bí thư Hội
Nông dân cứu quốc tỉnh tổ chức Đại hội bầu Ban Chấp hành
chính thức (tháng 5/1946), do đồng chí Huỳnh Triếp làm Bí
thư Hội Công nhân cứu quốc tỉnh bầu Ban Chấp hành lâm
thời (tháng 01/1946) theo chủ trương chung, đến tháng 8/1946
đổi thành Liên hiệp công đoàn tỉnh Bình Định, do đồng chí
Trần Tín làm Thư ký(1)
Thực hiện chủ trương của Đảng về việc mở rộng mặt trậndân tộc thống nhất, tháng 9/1946(2) Ủy ban Việt Minh tỉnhBình Định đưa cán bộ cùng một số nhân sĩ yêu nước đứng ra
vận động thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (viết tắt
là Liên Việt) tỉnh Bình Định, do cụ Phạm Phú Tiết làm Hộitrưởng và các cụ Hội phó: Lê Đức Trinh, Huỳnh Văn Trân, (3)
(1) Lịch sử phong trào Phụ nữ Bình Định, tập I (1930 - 1954), năm 1990; Lịch sử Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên tỉnh Bình Định (1930 - 1975), tháng 3/2001; Lịch sử Hội Nông dân và phong trào nông dân Việt Nam tỉnh Bình Định (1930 - 2000), tháng 5/2003; Lịch sử Công đoàn và phong trào công nhân lao động tỉnh Bình Định (1930 - 1975), năm 1992.
(2) Thời điểm này theo Báo cáo của Ủy ban Việt Minh tỉnh Bình Định tại Đại hội Kiểm thảo, tlđd.
(3) Đến cuối năm 1948, khi cụ Phạm Phú Tiết tham gia Ủy ban kháng
chiến hành chính Miền Nam Trung Bộ, thì cụ cử nhân Lê Đức Trinh làm Hội trưởng Hội Liên Việt tỉnh Bình Định.
Trang 30Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam tỉnh cũng như các tổ chức
thành viên khác được thành lập nhằm thu hút rộng rãi hơnnữa tất cả tổ chức, các đảng phái và cá nhân yêu nước chưatham gia Mặt trận Việt Minh, không phân biệt giai cấp, tôngiáo, xu hướng chính trị, chủng tộc đồng lòng chung sức xâydựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường(1).Cùng với việc tích cực phát triển các đoàn thể quần chúng,tỉnh Bình Định rất chú trọng công tác giáo dục chính trị tưtưởng cho nhân dân và đào tạo cán bộ Đối với cán bộ, tỉnhchọn cử người đi tham gia các lớp huấn luyện, bồi dưỡngđường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ để về mở lớpcho đoàn thể, ngành và địa phương mình Đối với nhân dân,công tác thông tin tuyên truyền được đẩy mạnh nhằm làmcho quần chúng quán triệt đường lối kháng chiến, kiến quốcđúng đắn của Đảng và Chính phủ, cũng như nhận rõ âm mưuxâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp
Với sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân, đếnngày toàn quốc kháng chiến (ngày 19/12/1946), từ mấy vạnhội viên cứu quốc trong Cách mạng tháng Tám năm 1945,Mặt trận Việt Minh tỉnh Bình Định đã tập hợp được mười mấyvạn người(2), trong đó hội viên Nông dân cứu quốc là 19.520người, đoàn viên công đoàn khoảng 8.000 người, hội viênPhụ nữ cứu quốc gần 50.000 người(3)
(1) Văn kiện Đảng 1945 - 1954, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương
xuất bản, tập I, Hà Nội, 1978.
(2) Chưa tìm được tư liệu ghi nhận số hội viên của Mặt trận Việt Minh toàn tỉnh
cuối năm 1946 Con số “mười mấy vạn” là dựa vào con số hội viên Liên Việt toàn Miền Nam Trung Bộ cuối năm 1948 (Nam Trung Bộ kháng chiến 1945 - 1975, trang 140) Số hội viên nông dân cứu quốc theo Báo cáo tình hình ruộng đất tỉnh
Bình Định của Nông hội tỉnh ngày 09/7/1953.
(3) Số hội viên Phụ nữ cứu quốc cuối năm 1946 dựa vào Tình hình và
nhiệm vụ của Đảng bộ Liên khu V trong Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ
nhất (tháng 4/1949).
Trang 31Ngay trong hội nghị toàn quốc của Đảng được tổ chức
trước khi Cách mạng tháng Tám thành công (từ ngày 13 đếnngày 15/8/1945), Đảng ta nhận định rằng cuộc kháng chiếncủa nhân dân ta chống chiến tranh xâm lược của thực dânPháp là không thể tránh khỏi(1) Vì vậy, chuẩn bị cuộc khángchiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược trở thành nhiệmvụ trọng tâm trước mắt của toàn dân và toàn Đảng Từ cuốinăm 1945 đến đầu năm 1946, Đảng và Chính phủ đã đề ranhiều chủ trương quan trọng để xây dựng đội quân thườngtrực vững mạnh với một lực lượng hậu bị to lớn
Khoảng giữa tháng 9/1945(2), thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Chính phủ lâm thời về “mở rộng giải phóng quân và đổi
thành vệ quốc đoàn” và Chỉ thị Những vấn đề cấp bách hiện tại của Thường vụ Việt Minh Trung Bộ, Việt Minh và chính
quyền cách mạng tỉnh Bình Định thành lập Chi đội giải phóng
quân (đúng ra là vệ quốc đoàn) Phan Đình Phùng tại Quy Nhơn.
Đây là đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh, nhưngthuộc hệ thống tổ chức quân đội thường trực toàn quốc củaĐảng Lực lượng ban đầu được tuyển chọn từ đội ngũ tự vệsắt, tự vệ cứu quốc được hình thành trong khởi nghĩa giànhchính quyền ở các huyện và một số anh em binh sĩ của chếđộ cũ tự nguyện tham gia Về sau thu nhận thanh niên nhập
(1) Văn kiện Đảng 1945 - 1954, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương,
tập I, sđd.
(2) Một số tỉnh ở Nam Trung Bộ có đề cập nhưng không nói rõ thi hành theo chủ trương nào? Thời điểm này dựa vào Chỉ thị giữa tháng 9/1945 của
Chủ tịch Chính phủ lâm thời về “mở rộng giải phóng quân và đổi tên thành
vệ quốc quân”, Lê Đình Sĩ, Việt Nam thế kỷ XX, Những sự kiện quân sự,
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, trang 171 - 174, cùng Nghị
quyết của Ban Thường vụ Việt Minh Trung Bộ ngày 27/9/1945, mục III về
Công tác, điểm d, về Quân sự: “Tiếp tục củng cố phát triển giải phóng quân
theo nguyên tắc đã định” Đã xem Lý lịch quân nhân và gặp mặt một số
đồng chí: Thiếu tướng Mai Tân, Đại tá Kim Anh, để xác minh.
Trang 32ngũ và bổ sung một số đơn vị Nam tiến của các tỉnh Bắc Bộvà Bắc Trung Bộ Chi đội có 3 đại đội: Nguyễn Huệ, MaiXuân Thưởng, Tăng Bạt Hổ và một phân đội nữ(1), do đồngchí Nguyễn Văn Giáo làm Chi đội trưởng, Nguyễn Bá Phátlàm Chi đội phó, Nguyễn Chính Cầu làm Chính trị viên.Cùng với việc xây dựng Chi đội vệ quốc đoàn Phan ĐìnhPhùng, tỉnh Bình Định rất chú trọng xây dựng và phát triểncác lực lượng dân quân và tự vệ ở các huyện, thị và xã, thôn,khu phố Ở huyện, thị lấy các đội tự vệ sắt và tự vệ cứu quốc
để lập các Trung đội và đại đội dân quân tập trung Như
Hoài Nhơn lập đại đội dân quân tập trung Võ Liệt, Phù Cátcó đại đội tập trung huyện, Riêng Quy Nhơn, cuối tháng8/1945 ngoài việc lập Trung đội Đỗ Trữ và thủy đội NgôQuyền(2) (có tài liệu ghi đội “hải thuyền” Bạch Đằng), còn
lập một “Trung đội phòng thủ” gồm 2 phân đội nam và 1
phân đội nữ(3) Ở thôn, xã và khu phố có từ một phân đội đếnTrung đội dân quân tập trung Ngoài ra, ở xã, thôn còn có lựclượng dân quân rộng rãi (năm 1950 gọi là lực lượng phù trợ)như: dân quân nữ, dân quân phụ lão (bạch đầu quân) Về lựclượng dân quân rộng rãi này, có xã ở huyện Bình Khê (nay là
huyện Tây Sơn) có hẳn một Trung đội (tương đương đại đội)
dân quân nữ(4) Đến ngày toàn quốc kháng chiến, ngoài 2 trung
(1) Cuối năm 1945, biên chế quân đội có mấy cấp: tiểu đội, phân đội, Trung đội, đại đội, chi đội Chi đội tương đương trung đoàn năm 1946.
(2) Có tài liệu nói đồng chí Nguyễn Bá Phát từng là đội phó của thủy đội
Ngô Quyền Còn từ “hải thuyền” là từ gọi loại quân thủy canh gác bờ biển
cấp tỉnh thời Mỹ - ngụy.
(3) Lịch sử Đảng bộ huyện Hoài Nhơn (1928 - 1954), Lịch sử Đảng bộ huyện Phù Cát (1930 - 1975), Lịch sử Đảng bộ thành phố Quy Nhơn (1930 - 1975), sđd (4) Báo cáo của Việt Minh tỉnh Bình Định trong Đại hội Kiểm thảo Việt
Minh tỉnh tại thị trấn Bồng Sơn ngày 19/8/1947, báo Tranh đấu, số đặc biệt ra
ngày Độc lập 2/9.
Trang 33đoàn 94 và 95, tỉnh Bình Định có hơn 20.000 dân quân tự vệ(1).Cùng thời gian, để có lực lượng chuyên làm nhiệm vụbảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ tínhmạng và tài sản của nhân dân, giữ gìn trật tự trị an và trấn ápbọn phản cách mạng, tỉnh Bình Định thành lập lực lượng Công
an nhân dân Ban đầu Cơ quan Công an nhân dân được gọi là
Ty trinh sát gồm 2 ban: điều tra và trật tự, sau lập thêm các
ban tư pháp và căn cước do đồng chí Trần Hoài Ân - Ủy viênỦy ban nhân dân cách mạng lâm thời làm Trưởng ty(2) Hệthống lực lượng trinh sát lúc đầu được xây dựng đến các huyện,thị Tỉnh còn xây dựng một đơn vị cảnh vệ làm nhiệm vụ bảovệ các mục tiêu, địa bàn trọng điểm, quản lý trại giam vàtham gia chiến đấu, bảo vệ khi có địch càn quét, đánh phávùng tự do của ta Khoảng cuối tháng 4/1946, thi hành Nghị
định của Bộ Nội vụ về tổ chức của “Việt Nam công an vụ”,
Ty trinh sát tỉnh Bình Định đổi thành Ty Công an, do đồng chíCao Kế làm Trưởng ty(3)
Đầu năm 1946, với Sắc lệnh 71/SL ngày 22/5/1946 của
Chủ tịch Chính phủ liên hiệp kháng chiến, vệ quốc quân đổi
thành Quân đội quốc gia Việt Nam Về tổ chức, Sắc lệnh quy
(1) Con số này theo Báo cáo của Việt Minh Bình Định trong Đại hội Kiểm thảo
Việt Minh ngày 19/8/1947, tlđd Cuối năm 1946, toàn Miền Nam Trung Bộ
(theo Khu V, 30 năm chiến tranh giải phóng, tập I, trang 73) có gần 110.000 dân quân tự vệ, cả nuớc cũng gần 1.000.000 dân quân tự vệ (theo Lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam, tập I, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1981, trang 500).
(2) Bình Định, lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945 - 1975), Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Định xuất bản 1992, trang 76 Còn Công an nhân dân
Bình Định, Lịch sử biên niên (1945 - 1955), 12/1997, ghi: đồng chí Nguyễn
Phát Nguyên Đồng chí Nguyên thay đồng chí Ân khi rút về Quân khu (3) Ngày 21/02/1946, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 23/SL nhập các Sở Cảnh
sát, Liêm phóng cả nước thành một cơ quan tên là “Việt Nam Công an vụ”.
Nghị định Bộ Nội vụ quy định Việt Nam Công an vụ có 3 cấp: Trung ương là Nha, miền là Sở, tỉnh là Ty.
Trang 34định hệ thống chính trị viên và cơ quan công tác chính trị từtrên xuống bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.Chi đội vệ quốc quân Hoàng Hoa Thám và Phan Đình Phùngđổi thành trung đoàn 94, 95 thuộc Đại đoàn 23 đóng quân ởtỉnh Bình Định, phụ trách chiến trường Bắc Tây Nguyên vàtỉnh Bình Định Trung đoàn 94 do đồng chí Trương Cao Dũnglàm Trung đoàn trưởng và Trần Lương làm Chính trị viên,Trung đoàn 95 do đồng chí Vi Dân làm Trung đoàn trưởng vàNguyễn Văn Minh làm Chính trị viên (sau gọi là Chính ủy).Hệ thống chỉ huy lực lượng quân sự của địa phương cũng đượckiện toàn Ban Dân quân từ tỉnh xuống xã, thôn được thành lậpđể chuyên trách công tác dân quân tự vệ và bố phòng(1) Trưởngban Dân quân tỉnh là đồng chí Trịnh Văn Duy, nguyên Chi độiphó Chi đội vệ quốc quân Phan Đình Phùng.
Ngay từ đầu, không chỉ bộ đội mà cả lực lượng dân quântự vệ cũng được học tập chính trị và quân sự, nhằm nâng caogiác ngộ chính trị và rèn luyện chiến thuật - kỹ thuật tácchiến Việt Minh và chính quyền cách mạng tỉnh đưa cán bộtham dự Trường Trung học lục quân Quảng Ngãi do Ủy bankháng chiến miền Nam Việt Nam mở (tháng 6/1946) để đàotạo lực lượng nòng cốt cho ban dân quân tỉnh và các huyện.Phối hợp với Chi đội vệ quốc quân Phan Đình Phùng, mở cáclớp huấn luyện ngắn hạn tại Phú Phong (huyện Bình Khê),Tam Quan (huyện Hoài Nhơn) cho cán bộ dân quân xã, thôn.Cũng từ đầu, việc nuôi dưỡng bộ đội hoàn toàn dựa vào dân
(1) Thời điểm thành lập Ban dân quân có 2 tư liệu khác nhau: Đầu năm
1947, theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định, tập II (1945 - 1955), trang 22; Tháng 01/1946, hai tập của Tỉnh đội: Bình Định, lịch sử chiến tranh nhân dân , trang 88 và Chiến tranh du kích trên chiến trường Bình Định, trang 44.
Tập Những sự kiện lực lượng vũ trang Nam Trung Bộ, năm 1946, trang 3:
Tháng 01/1946, đồng chí Võ Nguyên Giáp truyền đạt chủ trương chuẩn bị
kháng chiến miền Nam Trung Bộ có 3 điểm, điểm thứ 3: cấp tỉnh, tách dân
quân ra khỏi các Chi đội vệ quốc quân, tổ chức thành lực lượng riêng.
Trang 35Bộ đội đóng quân ở đâu, chính quyền và các đoàn thể quầnchúng ở đó đảm đương việc cung cấp lương thực và thựcphẩm(1) Hội Phụ nữ cứu quốc lo việc ăn uống cho bộ đội Haixưởng quân giới Hoàng Hoa Thám và Quang Trung được thànhlập(2) để sửa chữa súng đạn, sản xuất mìn, lựu đạn, cho bộđội và dân quân tự vệ Tỉnh còn phát động nhân dân thu nhặtđồng, chì, sắt, thép, xăng, ma dút, cờ rếp, băng ca, đónggóp cho các xưởng quân giới.
Hưởng ứng Huấn lệnh ngày 24/9/1945 của Chính phủ lâm thời và Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 26/9/1945,
tỉnh Bình Định dấy lên phong trào chi viện sức người, sức củacho Nam Bộ kháng chiến Trong khi các huyện, thị sôi sụcnhững cuộc mít-tinh, biểu tình để cực lực phản đối thực dânPháp xâm lược, thì các đoàn thể cứu quốc tổ chức quyên gópthuốc chữa bệnh, tiền bạc, ủng hộ quân và dân Nam Bộ vàđộng viên thanh niên gia nhập các đoàn quân Nam tiến Ngày25/9/1945, Trung đội tự vệ cứu quốc Đỗ Trữ và thủy độiNgô Quyền của Quy Nhơn được lệnh sát nhập với các đơn vị
du kích Ba Tơ để lập một đại đội giải phóng quân lên đườngvào chiến đấu tại mặt trận cầu Bến Phân (nay là cầu Bình Lợi)(3)
(1) Ở Lộc Giang, Ân Tường Đông (huyện Hoài Ân) có ông Cửu Đực (Trần Thiệu) đã nuôi cả một đại đội vệ quốc quân (tương đương tiểu đoàn) hàng tháng trời.
(2) Các xưởng quân giới ở tỉnh Bình Định thành lập cuối năm 1946, theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định, tập II (1945 - 1955), trang 22 nói 4 xưởng: Hai
tập của Khu (Nam Trung Bộ kháng chiến 1945 - 1975 và Khu V, 30 chiến tranh
giải phóng, tập I) đều nói toàn khu có 10 xưởng, Bình Định chỉ có 2 xưởng.
Xuởng Hoàng Hoa Thám trước lập ở huyện An Khê (tỉnh Gia Lai), sau tháng
6/1946 chuyển xuống huyện Bình Khê; còn xưởng Quang Trung theo đồng chí Trần Hưng Tửu - người có mặt từ đầu cho biết là tháng 11/1945.
(3) Khu V, 30 năm Chiến tranh giải phóng, tập I, 1986, trang 45; Bình Định,
lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm, sđd, trang 79 và Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, tập I (1945 - 1954) tái bản lần thứ nhất, Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia Sự Thật, Hà Nội, 2012, trang 245.
Trang 36Để động viên các đoàn quân Nam tiến, tại các ga lớn của tỉnh(ga Tam Quan và ga Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn; ga An Lạc,huyện Phù Mỹ; ga An Hành, huyện Phù Cát; ga Bình Định,huyện An Nhơn, nay là thị xã An Nhơn; ga Diêu Trì, huyệnTuy Phước), các huyện lập những trạm “ủy lạo”, ngày đêmđều có người túc trực(1) Chỉ 4 tháng cuối năm 1945 đầu 1946,tại ga An Hành (thị trấn Ngô Mây), nhân dân Phù Cát đã tiếpđón 34 đoàn quân và tiễn đưa con em lên đường vào Nam, ủnghộ một số thuốc chữa bệnh, thực phẩm, quần áo(2) Tháng6/1946, dân ghe bầu các thôn Tân Thành (xã Mỹ Thọ); Vĩnh Lợi,Hưng Lạc (xã Mỹ Thành); An Xuyên (xã Mỹ Chánh); Đề Gi(xã Cát Khánh), hăng hái tham gia các đội thuyền buồm doỦy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam thành lập để tiếp tếvũ khí, thuốc chữa bệnh cho Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ(3).
2 Khẩn trương chuẩn bị kháng chiến
Vừa đẩy mạnh công tác chi viện sức người, sức của choNam Bộ và Cực Nam Trung Bộ, nhân dân Bình Định vừa tíchcực chuẩn bị kháng chiến, nhất là đối phó với âm mưu mởrộng chiến tranh của thực dân Pháp Cuối tháng 10/1945, núpdưới bóng quân Anh và lợi dụng đội quân Nhật chờ ngày vềnước, thực dân Pháp đánh chiếm Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa).Giữa tháng 11/1945, được tăng cường lực lượng từ chính quốc,quân Pháp mở các cuộc hành quân hòng đánh chiếm các tỉnhNam Trung Bộ và Tây Nguyên Ngày 10/12/1945, với sự hỗtrợ của quân Anh, một tàu chiến chở 150 lính Nhật tiến vào
(1) Lịch sử Đảng bộ các huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, sđd
(2) Tổng kết chiến tranh nhân dân của Quân khu V năm 1979, dẫn trong Lịch
sử Đảng bộ huyện Phù Cát, trang 66 số hàng ủng hộ gồm: 9.921 kg gạo nếp
và đậu xanh, 650 kg và 1.200 ống lương khô, 5.600 kg đường tán đen, 7.000 gói cao đơn hoàn tán, 4.200 cuộn băng, 910 bộ quần áo, 4.500 bát ăn cơm (3) Nam Trung Bộ kháng chiến 1945 - 1975, sđd, trang 90 và Lịch sử Đảng bộ huyện Phù Mỹ, Phù Cát.
Trang 37Cù Lao Xanh (nay là xã đảo Nhơn Châu) mượn cớ giải giápbọn Nhật giữ Chi nhánh Ngân hàng Đông Dương tại Quy Nhơn,hòng bất ngờ đánh úp chiếm Quy Nhơn, lập đầu cầu phíađông cho quân Pháp đánh chiếm tỉnh Bình Định.
Để đối phó với tình thế phức tạp này, Việt Minh và Ủyban nhân dân tỉnh Bình Định lập tức ra lệnh cho nhân dânQuy Nhơn tản cư triệt để, kịp thời huy động bộ đội phối hợpvới lực lượng tự vệ tại chỗ bố trí trận địa vừa sẵn sàng đánh
quân địch đổ bộ, vừa tiến công dứt điểm bọn địch trên bờ.
Đêm 12/12/1945, một đại đội của Chi đội vệ quốc quân PhanĐình Phùng do 2 đồng chí Lê Hương và Nguyễn Chính Cầuchỉ huy, nổ súng tiến công quyết liệt vào cứ điểm địch Vớikhẩu pháo 75 ly của Pháp bị mất kim hỏa chiếm được trongkhởi nghĩa giành chính quyền tại Quy Nhơn, quân ta sángkiến dùng búa và đinh chữ T đóng thẳng vào hạt nổ, đã bắnphá vỡ tường nhà băng, tạo cửa mở cho bộ đội xung phong.Số quân Nhật cố thủ tại đây chỉ còn cách đầu hàng, ta diệt vàbắt 5 tên Nhật, thu toàn bộ vũ khí và 7.000.000 đồng bạcĐông Dương Bọn địch ngoài biển đành phải rút lui Kế hoạchbất ngờ đánh chiếm Quy Nhơn của địch bị đập tan
Dù đã ký Hiệp định sơ bộ (ngày 06/3/1946), nhưng ngày
21/6/1946 thực dân Pháp huy động 5.000 quân, có máy bay,
xe tăng, phi pháo và cơ giới yểm trợ, đồng loạt tấn công ồ ạtvào các phòng tuyến của ta trên Quốc lộ 14 và 19 kéo dài.Quân và dân Bắc Tây Nguyên chống trả quyết liệt, gây tổnthất cho địch ở Buôn Hồ, PleimoKđen, Dakbla, Mang Yang, Ngày 25/6/1946, địch chiếm thị xã Pleiku và Kon Tum, ngày27/6/1946 là thị trấn An Khê(1) Đến ngày 02/7/1946, địch đếnđỉnh đèo An Khê, lập đầu cầu uy hiếp phía Tây tỉnh Bình Định
(1) Những thời điểm từ 21/6 đến 27/6/1946, chúng tôi dựa vào Lịch sử
Đảng bộ tỉnh Gia Lai, tập I (1945 - 1975), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự Thật, Hà Nội, 1996, trang 118 - 119.
Trang 38Phối hợp với quân và dân Bắc Tây Nguyên, quân vàdân Bình Định vừa tổ chức hậu cần phục vụ Trung đoàn 95đánh địch ở mặt trận Mang Yang - An Khê (tỉnh Gia Lai) vàtiếp đón cán bộ, đồng bào tỉnh Gia Lai tản cư, vừa khẩntrương lập trận địa chặn địch ở chân đèo An Khê Trên Quốclộ 19, đặc biệt từ đoạn Vườn Xoài xuống Phú Phong, cáccầu cống đều bị phá hủy, lập những chướng ngại vật và xâydựng 2 tuyến chiến đấu tại vùng Tam Bình (Bình Quang -Bình Giang - Bình Tường) Tuyến 1, từ Vườn Xoài quaTruông Ổi, Tiên Thuận, Định Quang đến đèo Bồ Bồ, vớicác vị trí tiền tiêu ở Hang Dơi và Định Nhì Tuyến 2, từ dốcĐất Đỏ (cuối xã Bình Giang) xuống Núi Ngang, Núi Một(xã Bình Tường) đến Cây Muồng (đầu xã Bình Thành, naylà thị trấn Phú Phong) Trong tuyến 1 còn có các trận địachông, thò, bẫy đá của đồng bào Banar ở Định Nhì, SuốiSem, Tà-Mum, Dốc Ván, Kon-Roi (thuộc huyện Vĩnh Thạnh).
Ty Công an lập đồn tiền tiêu tại khu Tam Bình để xây dựngtuyến an ninh nhân dân và giữ gìn trật tự trị an Dọc bờ biểntừ Quy Nhơn ra Tam Quan được tăng cường tuần tra, canh gác.Tỉnh còn sơ tán các vùng đông dân (Quy Nhơn, Đồng Phó,Phú Phong), di chuyển các cơ quan tỉnh đến các huyện An Nhơn,Phù Cát(1)
Sự lớn mạnh của phong trào quần chúng, cũng như yêu
cầu cấp bách của công cuộc “kháng chiến, kiến quốc”, đòi
hỏi phải thành lập hệ thống tổ chức đảng để đảm bảo sự lãnhđạo tập trung, thống nhất của Đảng đối với phong trào cách
(1) Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định, tập II (1945 - 1955); Lịch sử Đảng bộ huyện Tây Sơn (1930 - 1975), sđd và Chiến tranh du kích trên chiến trường Bình Định (1945 - 1975), Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Định, xuất
bản 1991.
Trang 39mạng địa phương(1) Đầu năm 1946, Xứ ủy lâm thời Trung Kỳtriệu tập cuộc họp cán bộ toàn xứ bàn về công tác xây dựngĐảng Cuối tháng 3/1946, đồng chí Trần Quý Hai chủ trì cuộchọp tại cơ quan Việt Minh tỉnh (thị tứ Bình Định, huyện An Nhơn),để truyền đạt chủ trương công tác xây dựng Đảng và kiệntoàn Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Bình Định gồm 5 đồng chí, do đồngchí Trần Lê làm Bí thư(2) Cuộc họp xác định hướng phát triểnđảng viên trước mắt: tích cực chọn lựa, bồi dưỡng để kết nạpvào Đảng những cốt cán quần chúng xuất sắc trong khởi nghĩagiành chính quyền và các phong trào vừa qua Đồng thời,
xem xét, xác minh nếu đủ điều kiện thì “kết nạp lại”(3) hoặc
giao công tác thử thách đối với những đồng chí vì lý do nào
đó mà hiện chưa đứng vào hàng ngũ của Đảng
Sau hội nghị, Tỉnh ủy phân công một số Tỉnh ủy viên và
cán bộ về huyện để “tiếp tục gây cơ sở Đảng ở các huyện”(4).Đến tháng 6/1946 tất cả các huyện đều có chi bộ gồm 32
đảng viên, “những chi bộ ở các huyện đều là những Ban vận
(1) Thực ra trong những ngày khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa, Tỉnh ủy lâm thời Bình Định cũng được thành lập sau hội nghị Trường An lần thứ hai (cuối tháng 7/1945), do đồng chí Trần Lương làm Bí thư Nhưng do bận rộn với công
tác chính quyền và Việt Minh, nên “công việc Đảng cũng không hoạt động gì” Khi Đảng ta tuyên bố “tự giải tán” thực chất là rút vào bí mật, ở Bình Định về bí mật có “Hội cứu quốc”, về công khai lập “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác” để
tuyên truyền trong quần chúng chủ nghĩa cộng sản và đường lối, chính sách của Đảng, tập hợp những người cảm tình với Đảng hoặc muốn tìm hiểu về chủ nghĩa Mác Tuy về lãnh đạo Đảng thông qua Mặt trận Việt Minh để triển khai các chủ trương chính sách của Đảng, nhưng công tác Đảng nhất là việc phát triển đảng viên và tổ chức các chi bộ để hình thành hệ thống tổ chức đảng từ tỉnh xuống cơ
sở vẫn “chưa đặt thành vấn đề” Theo Bản kiểm thảo mặt trận Dân chủ và Tổng
khởi nghĩa ở tỉnh Bình Định và Tổng kết kiểm thảo xây dựng Đảng bộ Bình Định,
Hồ sơ 243, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông phủ Thủ tướng.
(2) Tỉnh ủy lâm thời gồm các đồng chí: Trần Lê, Võ Dân, Trần Quang Khanh, Trần Tề, Phạm Ngọc Yên.
(3), (4) Tổng kết kiểm thảo xây dựng Đảng của Đảng bộ Bình Định, tlđd.
Trang 40động lâm thời huyện” Các Ban vận động huyện lại phân
công từng người xuống các xã, tuyên truyền và chọn lựa, bồidưỡng số cán bộ, quân - dân - chính ở xã, thôn năng nổ trongnhững phong trào ở địa phương để kết nạp vào Đảng
Với cách làm tích cực và sát hợp trên, đến cuối tháng12/1946, toàn tỉnh từ 16 đảng viên đã tăng lên 1.041 đảngviên, với 122 chi bộ(1) Tại xã, thôn có 104 chi bộ trong tổng
số 212 xã, gồm 62 chi bộ chính thức và 42 chi bộ dự bị, với
891 đảng viên Ngoài ra, còn lập 2 chi bộ xí nghiệp ở đồnđiền An Trường và hãng dệt Delignon (sau đó giao đồn điềncho quân sự, hãng dệt Delignon phân tán cuối năm 1946) Ởtỉnh và các huyện có 18 chi bộ cơ quan, gồm 13 chi bộ thamchính và Việt Minh, 5 chi bộ trực thuộc tỉnh Các chi bộ trựcthuộc tỉnh gồm chi bộ tham chính, chi bộ công an, chi bộ hỏa
xa, chi bộ Việt Minh và chi bộ Quy Nhơn(2)
Trên cơ sở hệ thống chi bộ xã (hoặc liên xã) và các chibộ huyện được thành lập, từ tháng 8 đến tháng 10/1946 các
huyện mở hội nghị để thành lập Huyện ủy lâm thời Mỗi huyện
ủy gồm từ 5 đến 7 huyện ủy viên, hầu hết các huyện ủy viênlà những người vào Đảng trước, đều giữ chức vụ trong cáccấp lãnh đạo Việt Minh và Ủy ban hành chính Bí thư lâm thờicác huyện có 2/7 là người tại chỗ Để chuẩn bị Đại hội đạibiểu Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất và hoàn chỉnh các cấp ủyhuyện, từ tháng 12/1946 đến đầu tháng 01/1947 các huyện tổ
(1) Nam Trung Bộ kháng chiến, 1945 - 1975, trang 75: Cuối năm 1946,
Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng từ 192 tăng lên 1.094 đảng viên; tỉnh
Phú Yên từ 26 tăng lên 327 đảng viên Theo Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,
tập I, 1920 - 1954, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1981, trang 467: cả nuớc cuối năm 1946 có 20.000 đảng viên Con số 16 (tỉnh Bình Định), 192 (tỉnh
Quảng Nam - Đà Nẵng), 26 (tỉnh Phú Yên) là theo Biên bản hội nghị cán bộ
toàn quốc ngày 31/7/1946.
(2) Tổng kết kiểm thảo xây dựng Đảng của Đảng bộ Bình Định, tlđd.