Ebook Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1975-2005): Phần 2 nối tiếp phần 1 cung cấp đến các bạn 2 chương tiếp theo đó là lãnh đạo nhân dân thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đẩy mạnh thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trang 1đại và đội ngũ cán bộ có đủ trình độ, năng lực lãnh đạo, quản lý cho các cơ sở kinh tế quốc doanh quan trọng của tỉnh Tiếp tục đổi mới và sắp xếp thành phần kinh tế tập thể theo nguyên tắc
tự nguyện, tự quản, dân chủ, bình đẳng, phát huy và kết hợp hài hòa sức mạnh của tập thể và hộ xã viên Khuyến khích phát triển kinh tế cá thể, tư nhân ở cả thành thị, nông thôn và miền núi Quản lý nhà nước về kinh tế bằng pháp luật, k ế hoạch, chính sách; đổi mới công tác tài chính, tín dụng - ngân hàng, góp phần thúc đẩy, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
+ Mở rộng thị trường trong và ngoài tỉnh với nhiều lực lượng
và thành phần kinh tế tham gia Xây dựng hệ thông chợ nông thôn, trung du và m iền núi, khôi phục các chợ chuyên, hình thành một số trung tâm thương mại, thị tứ gắn với công nghiệp, dịch vụ, văn hóa ở các đầu môi giao lưu kinh tế vSắp xếp và tăng cường phát triển hệ thông thương nghiệp qucíc doanh, làm tốt ở khâu bán buôn, kết hợp một phần bán lẻ những m ặt hàng thiết yếu như là lương thực, vật tư nông nghiệp, dược phẩm,
V V Mở rộng thị trường nước ngoài, nhất là thị trường Đông Nam Á và Trung Quốc Tăng cường công tác quản lý thị trường, chông đầu cơ buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép
- v ề văn hóa - xã hội:
+ X ác định mục tiêu giáo dục - đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Với chủ trương đa dạng các loại hình trường, lớp: bán công, dân lập, tư thục, nâng cao chất lượng các trường dân tộc nội trú Quy hoạch, sắp xếp lại
hệ thông các trường chuyên nghiệp, trung tâm đào tạo tại chức Tỉnh đề nghị Chính phủ mở rộng, nâng cấp Trường Đ ại học sư
Trang 2phạm Quy Nhơn1 thành trường đại học đào tạo đa ngành, góp phần đào tạo nhân lực có trình độ cao cho địa phương và khu vực.+ Phát triển các hoạt động văn hóa - nghệ thuật, thông tin, báo chí, xuất bản, với phương châm bảo tồn và phát huy truyền thông văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nhất là bảo tồn văn hóa nghệ thuật truyền thông như: tuồng, dân ca, võ th u ậ t, Đồng thời đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, bài trừ các tệ nạn mê tín, dị đoan.
+ Quan tâm đầu tư cho nghiên cứu khoa học - công nghệ phù hợp với điều kiện của tỉnh, khuyến khích các cơ sở kinh tế hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới
+ Cùng với thực hiện chính sách dân số và k ế hoạch hóa gia đình, tăng cường bảo vệ sức khỏe và nâng cao thể lực nhân dân Phát triển sự nghiệp y tế theo hướng kết hợp y học dự phòng với
y học hiện đại và y học cổ truyền dân tộc, với hai nguồn lực Nhà nước và nhân dân; sắp xếp lại hệ thống y tế, củng cô" y tế
cơ sở, phát triển các trạm hướng dẫn k ế hoạch hóa gia đình; thực hiện tốt vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, khắc phục về cơ bản các bệnh bướu cổ, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em Nâng cao chất lượng giáo dục thể châ"t trong các trường học, phát triển phong trào thể dục - thể thao quần chúng, quan tâm đầu tư cho một sô" môn thể thao thành tích cao là thê" mạnh của tĩnh
- v ề quô"c phòng - an ninh:
+ Củng cô" nền quô"c phòng toàn dân và xây dựng th ế trận
1 Trường Đại học sư phạm Quy Nhơn được thành lập ngày 17-12-1977.
172
Trang 3an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc V iệt Nam xã hội chủ nghĩa, kết hợp kinh tế với quốc phòng.
+ Giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Chủ động phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các th ế lực thù địch, bọn tội phạm gây rối; chống tham nhũng, truy quét các
tệ nạn xã hội
- v ề công tác xây dựng Đảng và đổi mới hệ thông chính trị: phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, vai trò của các đoàn thể nhân dân; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng, làm trong sạch và nâng cao chất lượng, tính tiền phong gương mẫu của đảng viên, làm cho Đảng thực sự gắn bó với quần chúng
Đại hội ra Lời kêu gọi Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đoàn kết, tự lực tự cường, phấn đấu xây dựng Bình Định ngày càng giàu đẹp
Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV gồm 43 đồng chí Tại phiên họp thứ nhất, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 11 đồng chí Đồng chí Nguyễn Trung Tín, ủ y viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu lại làm Bí ^hư Tỉnh ủy Đồng chí Tô Tử Thanh và đồng chí Nguyễn Duy Quý được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy
Bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đ ảng toàn quốc lần thứ VII và Nghị quyết Đ ại hội Đ ảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Đảng bộ và nhân dân Bình Định cũng trong tình trạng gặp khó khăn chung của đất nước Bọn đ ế quốc và các lực
Trang 4lượng thù địch quốc tế tăng cường câu k ết với bọn phản động trong nước ra sức tuyên truyền quan điểm đa nguyên chính trị,
đa đảng đôi lập, xuyên tạc chủ trương, đường lôi của Đảng, chia rẽ nội bộ Đ ảng và nhân dân, âm mưu lật đổ chính quyền, xóa bỏ ch ế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Tinh hình th ế giới
có những biến động phức tạp không có lợi cho phong trào cộng sản và công nhân quô"c tế: Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, hệ thông xã hội chủ nghĩa khủng hoảng, lâm vào thoái trào Đ ất nước chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Nguồn vay từ bên ngoài giảm mạnh, nợ nước ngoài phải trả hàng năm tăng lên Kinh tế của tỉnh còn nhiều khó khăn do hệ quả của cơ ch ế cũ để lại và những vấn đề mới phát sinh trong quá trình đổi mới Ngân sách thiếu hụt, đời sông nhân dân còn khó khăn Tốc độ tăng dân sô" cao, lao động chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm còn nhiều M ột sô" đảng viên dao động, thiếu niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở V iệt Nam đã bỏ sinh hoạt Đảng, thậm chí xin
ra khỏi đảng
Trước tình hình đó, Tỉnh ủy Bình Định đặc biệt chú trọng lãnh đạo và chỉ đạo công tác xây dựng Đảng trên cả ba m ặt chính trị, tư tưởng và tổ chức
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh chỉ đạo tổ chức quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nghị quyết Hội nghị Ban Châ"p hành Trung ương (khóa VII) giữa nhiệm kỳ
và Nghị quyết các Hội nghị lần thứ hai, ba, tư, năm, sáu, bảy của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) từ tỉnh đến cơ sở, nhằm giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân thâm nhuần đường lối, chủ trương của Đảng trong sự nghiệp đổi mới
174
Trang 5Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về Đổi mới và chỉnh đôn Đảng, ngày 22-9-1992, Tỉnh ủy xây dựng chương trình hành động và ban hành k ế hoạch xác định rõ mục đích yêu cầu và nội dung các bước tiến hành để các huyện ủy, thành ủy, các đảng ủy trực thuộc hướng dẫn các tổ chức cơ sở Đảng thực hiện Thực hiện
k ế hoạch của Tỉnh ủy, các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc tổ chức quán triệt cho cán bộ chủ chốt, xây dựng k ế hoạch thực hiện và chỉ đạo các cấp ủy cơ sở tổ chức quán triệt Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba đến cán
bộ, đảng viên Toàn Đảng bộ có trên 90% đảng viên được học tập, thảo luận Qua học tập, tuyệt đại cán bộ, đảng viên nhất trí cao với nhận định đánh giá của Trung ương về công tác xây dựng Đảng, về những chủ trương, biện pháp đổi mới chỉnh đốn Đảng Nhờ đó, cán bộ, đảng viên nhận thức đúng đắn về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; xây dựng đạo đức cách mạng và lối sống lành mạnh, nâng cao vai trò, trách nhiệm đảng viên trên cương vị công tác được giao
Tháng 9-1993, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tiếp tục phổ biến, quán triệt Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 12-6-1993 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ hơn âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình”, kích động bạo loạn, gây rối của các thế lực thù địch Từ đó, cán bộ, đảng viên và nhân dân có sự chuyển biến về nhận thức tư tưởng, có ý thức cảnh giác trước âm mưu của kẻ thù; đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật trong bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền
Trang 6Công tác xây dựng củng cô" tổ chức cơ sở Đảng được đặc biệt quan tâm Thực hiện chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba, Ban Thường vụ Tĩnh ủy chỉ đạo Ban Tổ chức, các ban xây dựng Đảng của Tỉnh ủy phôi hợp với các huyện ủy, thành ủy, đảng
ủy trực thuộc tiến hành khảo sát thực trạng tình hình hoạt động của các loại hình chi bộ, đảng bộ cơ sở (toàn tỉnh có 727 tổ chức
cơ sở đảng, với 1.038 chi bộ nhỏ) Trên cơ sở khảo sát, Tỉnh ủy
đã đánh giá tình hình và xây dựng chương trình hành động xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng, xây dựng tiêu chí tổ chức cơ
sở Đảng trong sạch vững mạnh; quy định tạm thời về ch ế độ khen thưởng cơ sở đảng, tổ chức đảng và đảng viên xuất sắc
Đ ể khắc phục tình trạng tỷ lệ đảng viên sinh hoạt chi bộ thấp, nội dung sinh hoạt nghèo nàn, hiệu quả hạn chế, Tỉnh ủy một
m ặt đã chỉ đạo bô" trí lại các chi bộ, tổ đảng theo địa bàn dân cư thôn, xã, khu phô" và một sô" chi bộ theo ngành, nghề, đơn vị sự nghiệp Đến tháng 12-1995 có trên 90% thôn, khu phô" thành lập chi bộ đảng Hoạt động của chi bộ thôn, khu phô" sau khi thành lập có tác dụng rõ rệt, nhất là tạo ra sự phân bô" đảng viên đều khắp, sâu sát quần chúng hơn, khắc phục thôn, bản trắng đảng viên; gắn nhiệm vụ xây dựng đảng với xây dựng chính quyền và các đoàn thể quần chúng trên địa bàn dân cư Mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước được phổ biến kịp thời đến nhân dân và tâm tư nguyện vọng chính đáng của dân được phản ảnh kịp thời cho cấp ủy đảng, chính quyền giải quyết.Sau hơn ba năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Châ"p hành Trung ương Đảng lần thứ ba, châ"t lượng hoạt động của các
tổ chức cơ sở Đảng trong tỉnh có chuyển biến rõ rệt Ưu điểm
176
Trang 7nổi bật là đã phát huy được vai trò lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới theo đường lối của Đảng, tạo sự chuyển biến đáng kể
về kinh tế - xã hội Nhiều chi bộ, đảng bộ cơ sở và đảng viên năng động, sáng tạo vận dụng cơ chế, chính sách mới có hiệu quả, phát huy được vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên
và năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng Mối quan hệ m áu thịt giữa Đảng với nhân dân không ngừng được củng cô" trong toàn Đảng bộ Phong trào xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh có tiến bộ rõ rệt
Tỉnh ủy mở hội nghị quán triệt Hướng dẫn sô" 416-HD/TCTW ngày 20-8-1994 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng về xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch vững mạnh đến các huyện ủy, thành
ủy, đảng ủy trực thuộc tỉnh Thực hiện hướng dẫn này, công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ có chuyển biến tích cực Sô" tổ chức cơ sở Đảng đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh hàng năm đều tăng Năm 1993, có 152 tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh, bằng 23,5%, tăng 13,5% so với năm 1990
và 2% so với năm 1991, trong đó có 10 cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh xuâ"t sắc được Tỉnh ủy biểu dương khen thưởng Năm 1994 Đảng bộ tỉnh có 178 cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh, bằng 27,4%, tăng 4% so với năm 1993, trong đó có 19 cơ
sở Đảng được Tỉnh ủy biểu dương khen thưởng; đề nghị Ban Bí thư Trung ương Đảng biểu dương khen thưởng Đảng bộ xã Phước Sơn (Tuy Phước), xã Vĩnh Hiệp (Vĩnh Thạnh) là hai cơ sở xuâ"t sắc 2 năm 1993 - 1994 Sô" tổ chức cơ sở Đảng yếu kém giảm đi Năm 1993 còn 16,4% cơ sở Đảng yếu kém, giảm 7% so với năm 1990; năm 1994 còn 11,4% cơ sở Đảng yếu kém, giảm 5%
so với năm 1993
Trang 8Công tác nâng cao chất lượng đảng viên và cấp ủy được chú trọng Hàng năm, các huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Đảng cho các câ"p ủy viên, bí thư chi bộ Trong 3 năm 1992-1995, toàn tỉnh đã bồi dưỡng cho 6.400 cấp ủy viên và bí thư chi bộ Việc phân tích chất lượng đảng viên hàng năm được các cấp ủy chỉ đạo thực hiện chặt chẽ và nghiêm túc theo đúng chỉ thị 14 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Năm 1993, qua phân tích chất lượng đảng viên có 62,2% đảng viên loại 1; 31,3% đảng viên loại 2; 5,6% đảng viên loại 3; 0,8% đảng viên loại 4; 0,1% đảng viên xin ra Đảng Năm 1994, đảng viên loại 1, đạt 69,41%, tăng 7,21% với năm 1993, đảng viên loại 2, có 26,94% giảm 4,36%; đảng viên loại 3 còn 2,97% giảm 2,63%; đảng viên loại 4 còn 0,63% giảm 0,17%; đảng viên xin ra đảng 0,05% giảm 0,05% so với năm
1993 Những đảng viên già yếu, ô"m đau thường xuyên tự nguyện
có đơn xin hoãn miễn sinh hoạt Đảng đảm bảo đúng nguyên tắc, Điều lệ Đảng
Nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thông chính trị, thực hiện Quyết định sô" 62-QĐ/TW ngày 15-3-1993 của Ban Bí thư về việc thành lập Đảng đoàn, Ban cán sự đảng ở các cơ quan cấp tỉnh, thành phô" trực thuộc Trung ương và câ"p huyện, quận, thị xã, thành phô" thuộc tỉnh, Tĩnh ủy ra Quyết định thành lập Đảng đoàn Hội đồng nhân dân, Ban cán sự Đảng
ủ y ban nhân dân và một sô" sở, ngành, đoàn thể tỉnh; các huyện, thành ủy quyết định thành lập đảng đoàn và Ban cán sự một sô"
cơ quan huyện, thành phô" Toàn tỉnh đã thành lập 89 Ban cán
sự Đảng và Đảng đoàn, trong đó cấp tỉnh có 18 Ban cán sự Đảng và 7 Đảng đoàn; câ"p huyện có 16 Ban cán sự Đảng và 48178
Trang 9Đảng đoàn Sau khi thành lập, các Ban cán sự Đảng, Đảng đoàn cấp tỉnh nhanh chóng xây dựng quy ch ế làm việc, hoạt động bước đầu có hiệu quả Mối quan hệ công tác giữa Đảng đoàn, Ban cán sự Đảng các cơ quan tỉnh với các huyện ủy, thành ủy phôi hợp chặt chẽ hơn, tạo sự nhất trí trong một sô" chủ trương công tác lớn và trong công tác đánh giá, sắp xếp và bô" trí cán
bộ từng ngành, đoàn thể
Đ ể đảm bảo cơ chế “Đảng lãnh đạo, cơ quan quân sự làm tham m ưu”, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, 11/11 Đảng ủy quân sự huyện, thành phô" được thành lập, đồng chí Bí thư Huyện
ủy và đồng chí Chủ tịch ủ y ban nhân dân huyện tham gia Ban Châ"p hành, đồng chí Bí thư Huyện ủy trực tiếp làm Bí thư
Nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng và công tác xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp Nhà nước, ngày 18-12-1992, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Quyết định sô" 110-QĐ/
TU về việc thành lập Đảng bộ khối doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định, gồm 87 chi bộ, đảng bộ trực thuộc Sau khi thành lập, Đảng bộ gắn nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng với nhiệm vụ lãnh đạo phát triển sản xuâ"t
- kinh doanh, củng cô" bộ máy quản lý, từng bước tổ chức lại sản xuất gắn với đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực sản xuất, châ"t lượng sản phẩm, mở rộng thị trường, chăm lo đời sống công nhân viên chức Khắc phục tình trạng xem nhẹ, buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng trong các doanh nghiệp Nhà nước
Công tác phát triển đảng viên mới được các câ"p ủy đảng xác định là nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng nhằm trẻ hóa đội ngũ đảng viên và tăng cường sức chiến đâu của Đảng Trong 5 năm 1991-1995, toàn tỉnh kết nạp 3.309 đảng
Trang 10viên mới, tăng 85% so với 5 năm 1986-1990 Trong sô" đảng viên mới có trên 60% có trình độ văn hóa câ"p 3 trở lên và gần 50% là đoàn viên Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Những đảng bộ làm tốt công tác phát triển đảng viên mới là: Tuy Phước, Phù Mỹ, Hoài Nhơn, Hoài Ân, An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh và Đảng bộ khôi doanh nghiệp.
Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Châ"p hành Trung ương Đảng (khóa VII) ngày 26-6-1992 về một sô" nhiệm
vụ đổi mới và chỉnh đôn Đảng, ngày 12-02-1993 Tỉnh ủy ra Nghị quyết sô" 05-NQ/TU về một sô" nhiệm vụ công tác cán bộ
từ nay đến năm 1995, yêu cầu: khẩn trương xây dựng đội ngũ cán bộ có cơ câu đồng bộ, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức, trí tuệ, năng động, phù hợp với đường lôi đổi mới
Đ ể thực hiện Nghị quyết sô" 05-NQ/TU của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tĩnh ủy chỉ đạo triển khai công tác quy hoạch cán
bộ chủ chô"t cấp tỉnh và cán bộ chủ chốt các sở, ban, ngành tỉnh, các huyện, thành phô" và cấp cơ sở; đồng thời ban hành chính sách trợ câ"p tạo điều kiện khuyến khích cán bộ diện quy hoạch
đi học chính trị, chuyên môn trong và ngoài tỉnh
Thực hiện Nghị quyết sô" 05-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, công tác cán bộ có sự chuyển biến quan trọng, lây hiệu quả công việc và phẩm châ"t chính trị làm thước đo, tuân thủ quy trình, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bô" trí và sử dụng, đánh giá cán bộ, tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, tạo nên sự đoàn kết thông nhất trong Đảng Từ năm 1992 đến năm 1995, sô" cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lý được đề bạt, bổ nhiệm và điều động 171 đồng chí Sô" cán bộ mới được đề bạt đều phát huy tác dụng tô"t, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị.180
Trang 11Đ ồng chí N G U Y Ễ N D UY QUÝ Quyền Bí thư Tỉnh ủy Bình Định
(5 -1 9 9 4 - 5-1996)
Trang 12Tháng 4-1994, đồng chí Nguyễn Duy Quý, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy được Bộ Chính trị ra quyết định chỉ định giữ chức Quyền Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Nguyễn Trung Tín, ủ y viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy được Trung ương điều động nhận công tác mới.
Công tác đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ, đảng viên
có nhiều tiến bộ Năm 1992, Tỉnh ủy ra Quyết định hợp nhất Trường đảng tỉnh, Trường hành chính tỉnh và Trường đào tạo cán bộ đoàn thể tỉnh thành Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tỉnh Thực hiện Quyết định số 100-QĐ/TW ngày 03-6-1995 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) về việc tổ chức trung tâm bồi dưỡng chính trị ở cấp huyện, các huyện, thành ủy thành lập trung tâm bồi dưỡng chính trị, từng bước phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Chất lượng và hiệu quả đào tạo cán bộ của tỉnh được nâng lên một bước Từ năm 1992 đến 1995, tỉnh đào tạo được 810 cán bộ trình độ trung cấp lý luận chính trị, 939 cán bộ quản lý nhà nước, quản lý kinh tế Ngoài ra, Tỉnh ủy còn cử 1.121 cán bộ đi học ở các trường Trung ương về lý luận chính trị, quản lý kinh
tế, quản lý nhà nước Trình độ đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành được nâng lên, nhất là về tư duy kinh tế, dần dần thích ứng với cơ chế mới
Công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng bộ được tăng cường Tỉnh ủy chỉ đạo chặt chẽ việc thi hành Điều lệ Đảng, kiểm tra
tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm Trong nhiệm kỳ 1991-1995, các cấp ủy và ủ y ban kiểm tra các cấp tiến hành kiểm tra 10.250/25.174 đảng viên, bằng 40,7% đảng viên trong
181
Trang 13toàn Đảng bộ Trong sô" đó có 21 Tỉnh ủy viên, 186 cấp ủy viên huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc và 1.753 cấp ủy viên cơ sở Qua kiểm tra đã phát hiện 449 đảng viên vi phạm, phải xử lý
206 trường hợp ủ y ban kiểm tra các cấp giải quyết 290 đơn, thư khiếu nại, tố cáo, phát hiện 74 trường hợp vi phạm Điều lệ Đảng Trong 3 năm 1993-1995, các cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã tiến hành xem xét xử lý kỷ luật 1.323 đảng viên vi phạm Đ iều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước Trong đó, khiển trách 129 đảng viên, cảnh cáo 281 đảng viên, cách chức 67 cán
bộ, đảng viên, khai trừ 297 và xóa tên 567 đảng viên; có 80 đảng viên xin ra khỏi đảng Việc xử lý kỷ luật đảng viên đảm bảo đúng người, đúng việc, đúng nguyên tắc, có tác dụng giáo dục và ngăn ngừa sai phạm của đảng viên
Tuy vậy, công tác xây dựng và chỉnh đôn Đảng chuyển biến chậm, có m ặt chưa đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới Công tác tư tưởng chậm đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, không sát cơ sở Trình độ tư duy, nhất là tư duy kinh tế của cán bộ, đảng viên còn nhiều hạn ch ế trước yêu cầu đổi mới
Sự suy thoái về phẩm chất, đạo đức và lôi sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được khắc phục, làm giảm lòng tin của nhân dân Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của nhiều tổ chức cơ sở Đảng còn yếu Tình trạng m ất đoàn kết nội bộ xảy ra
ở một sô" tổ chức Đảng, chậm được giải quyết, xử lý như Đảng
bộ thành phô" Quy Nhơn, Đảng bộ Công an tỉnh, Đảng bộ các huyện Vân Canh, Hoài Ân, An Nhơn Phương thức lãnh đạo của các câ"p ủy Đảng, nhâ"t là cơ sở chậm đổi mới, còn lúng túng trong việc cụ thể hóa cơ chê" Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Một sô"cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới
Trang 14quản lý kinh tế - xã hội Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn hạn chế; chưa có cơ ch ế phát hiện và lựa chọn cán bộ.
Căn cứ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII và hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, từ ngày 29 đến ngày 31-3-1994, tại thành phố Quy Nhơn, Đảng bộ tỉnh Bình Định tổ chức Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa XIV Hội nghị tập trung nghiên cứu, quán triệt và tiếp thu Nghị quyết Hội nghị đại biểu Đảng toàn quốc giữa nhiệm kỳ; kiểm điểm ba năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIV Hội nghị đánh giá, trong 3 năm qua nền kinh tế của tỉnh tăng trưởng và phát triển khá; một bộ phận năng lực sản xuất được giải phóng; năng lực sản xuất mới tăng thêm; tiềm năng của các thành phần kinh tế từng bước được phát huy; cơ cấu kinh tế bước đầu chuyển dịch đúng hướng Hệ thống chính trị tiếp tục được tăng cường và củng cố, vai trò lãnh đạo của Đảng
bộ, hiệu lực quản lý của chính quyền tỉnh được nâng cao hơn, dân chủ được mở rộng, khôi đoàn kết toàn dân được tăng cường, lòng tin của nhân dân đôi với Đảng tăng thêm Quốc phòng, an ninh được củng cố, giữ vững
Hội nghị cũng chỉ ra những yếu kém, khuyết điểm cần sớm được khắc phục: Cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Tô"c độ tăng trưởng và phát triển kinh tế còn thấp và chưa vững chắc, tích lũy chưa đáng kể Kinh tế nông nghiệp chủ yếu vẫn là sản xuât nhỏ, độc canh Tỷ lệ tăng dân sô" còn cao, sô" người thiếu việc làm còn nhiều Chất lượng giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân còn nhiều hạn chế Tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng Tổ chức bộ máy, cán bộ, năng lực tư duy chưa ngang tầm
183
Trang 15với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Công tác giáo dục chính trị,
tư tưởng thiếu chủ động Các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh còn ít
Trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó khăn của tỉnh, Hội nghị đề ra mục tiêu phấn đấu trong 2 năm 1994-1995 về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh:
- Chuyển dịch một bước quan trọng cơ cấu kinh tế, giữ vững tô"c độ phát triển công nghiệp 12%/năm, phát triển mạnh công nghiệp chế biến, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp để tăng tốc độ phát triển nông - lâm nghiệp lên 8%/năm
- Căn bản xóa hộ đói, giảm hộ nghèo, tăng hộ giàu Giảm mức sinh 0,7%/năm Xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
ở các huyện đồng bằng Giải quyết việc làm cho 20.000 lao động trở lên Thực hiện tốt hơn chính sách đôi với những người
có công với nước
- Phát triển và nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở cả
đô thị, nhất là thành phô" Quy Nhơn, các huyện lỵ, nông thôn đồng bằng và miền núi, phát triển điện lưới đến các xã ở đồng bằng và trung du, bảo đảm giao thông cơ giới thông suốt đến các xã Thủy lợi tăng năng lực tưới lên hơn 3.000 ha đất canh tác
- Xóa bỏ các trường học lợp tranh, vách đất Mở rộng diện phủ sóng phát thanh, truyền hình và nâng cao chất lượng mạng lưới thông tin liên lạc, khắc phục một bước sự xuông câ"p của các cơ sở y tế nông thôn
- Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, thu hẹp diện cơ sở Đảng yếu kém; tạo một bước chuyển biến về công tác cán bộ
Trang 16Đ ể đạt được các mục tiêu trên, Hội nghị đề ra một sô" chủ trương và biện pháp chủ yếu:
- Trước m ắt tập trung nhiệm vụ đổi mới cơ câu kinh tế Trọng tâm đổi mới cơ câu kinh tế là chuyển dịch cơ câu kinh tế nông nghiệp, khắc phục một bước tình trạng độc canh và thuần nông, chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa Bô" trí lại cơ câu mùa vụ, giông, cây trồng thích hợp, cho năng suâ"t cao Phát triển mạnh cây ngô lai, mía, đậu, dâu tằm, thuốc lá, gắn với công nghiệp chê" biến và thị trường tiêu thụ Từng bước phát triển cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả Phân đâu đến năm 1995 hoàn thành cơ bản việc giao đất, khoán rừng cho nông dân Đẩy mạnh chăn nuôi, đưa giá trị chăn nuôi chiếm 34% trong giá trị nông nghiệp; tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ thịt gia súc, tiếp tục lai tạo đàn bò, đàn heo và phát triển chăn nuôi gia cầm Khuyến khích nhân dân ven biển tiếp tục đầu tư nuôi trồng, khai thác thủy sản, chê" biến hải sản Tăng sản lượng và chất lượng chê" biến thủy, hải sản đông lạnh xuâ"t khẩu Có chính sách và giải pháp huy động vô"n từ nhiều nguồn
để đầu tư, xây dựng mới m ột sô" xí nghiệp công nghiệp chê" biến với quy mô thích hợp, công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp Tiếp tục đầu tư chiều sâu để khai thác, chê" biến các m ặt hàng có giá trị xuâ"t khẩu như đá granít, quặng titan, hàng may mặc, da giày, cao su,., phát triển sản xuất các
m ặt hàng bia, nước giải khát, dược phẩm, vật liệu xây dựng, bao bì, nông cụ, phụ tùng máy nông nghiệp, phương tiện đánh bắt hải sản, phương tiện vận tải
- Tổ chức lại các doanh nghiệp thương mại nhà nước theo hướng gắn với thị trường nông thôn, đặc biệt là phải bảo đảm
185
Trang 17tiêu thụ những nông, sản phẩm mà Nhà nước khuyên khích nông dân sản xuất, góp phần thúc đẩy đổi mới cơ cấu kinh tế sắ p xếp tổ chức, tăng cường cán bộ có năng lực để các doanh nghiệp thương mại có sức mạnh cả về kinh tế và kỹ năng kinh doanh, chi phối thị trường, trước hết là những hàng hóa vật tư chủ yếu, không để xảy ra biến động xấu về giá cả trong tỉnh.
- Các ngân hàng chuyên doanh tiếp tục đổi mới cơ chế quản
lý, tạo thêm nguồn vốn, mở rộng cho vay đôi với các thành phần kinh tế, kích thích phát triển sản xuất hàng hóa Tạo chuyển biến rõ rệt trong kinh doanh du lịch, coi du lịch là ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Tiến hành trùng tu tôn tạo các di tích lịch
sử, danh lam thắng cảnh; xây dựng các khu vui chơi giải trí, khách sạn, nhà hàng để phát triển du lịch
- Thực hiện chủ trương phát triển các thành phần kinh tế Tập trung sắp xếp và chấn chỉnh các doanh nghiệp nhà nước theo yêu cầu đổi mới cơ cấu kinh tế và cơ ch ế quản lý Cùng với đầu tư công nghệ mới, tiến hành thí điểm cổ phần hóa một sô" doanh nghiệp để rút kinh nghiệm Đổi mới kinh tế hợp tác đi đôi với phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ Chuyển các hợp tác xã nông nghiệp sang kinh doanh, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất và làm các dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ phát triển Đa dạng hóa các loại hình hợp tác, xây dựng quỹ tín dụng nhân dân theo
mô hình mới Khuyến khích, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển theo đúng quy định của pháp luật, và có lợi cho quô"c k ế dân sinh Thực hiện cơ ch ế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Từng bước hình thành các loại thị trường: hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ, bất động sản, lao động, V V Đồng thời tạo điều
Trang 18kiện cho các thành phần kinh tế mở rộng kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật, chủ động ngăn ngừa những tác động tự phát, tiêu cực của cơ ch ế thị trường.
- Chăm lo tốt hơn các vấn đề văn hóa, xã hội, trong đó chú trọng giải quyết những vấn đề cấp bách về việc làm, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, nâng cao dân trí, giảm tỷ lệ tăng dân sô", xóa đói, giảm nghèo, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chông văn hóa phản động, đồi trụy
- Giữ vững và tăng cường quốc phòng - an ninh trong tỉnh, trong vùng Kiên quyết giữ vững an ninh quốc gia, chủ động đập tan những âm mưu và hoạt động diễn biến hòa bình của các
- Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, tăng cường môi quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân
Hội nghị bầu bổ sung 5 đồng chí vào Ban Châ"p hành Đảng
bộ tỉnh khóa XIV1 Sau Hội nghị đại biểu Đảng bộ giữa nhiệm
kỳ, Tỉnh ủy đặc biệt quan tâm tới việc lãnh đạo, củng cô" chính quyền các câ"p Tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cuộc
' Các đồng chí: Đặng Ngọc Biển, Nguyễn Minh Lân, Tông Nhuệ, Phạm Văn Thanh, Nguyễn Hữu Thiên.
187
Trang 19bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và ủ y ban nhân dân các cấp.
Quán triệt chỉ thị của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu
cử Quốc hội khóa IX, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định đã chỉ đạo công tác bầu cử từ tỉnh đến các huyện, thành phố Ngày 19-7-1992, cử tri toàn tỉnh nô nức tham gia bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa IX, với 99,71 % cử tri đi bầu và đã bầu 8 đại biểu Quô"c hội1
Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước về tổ chức bầu
cử Hội đồng nhân dân các cấp, ngày 19-8-1994, Ban Thường
vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị số 11-CT/TU về lãnh đạo cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 1994-1999 Trong giai đoạn chuẩn bị, Ban Thường vụ Tỉnh ủy có ý kiến về định hướng cơ cấu, sô" lượng đại biểu, chuẩn bị nhân sự, đảm bảo cho cuộc bầu
cử dân chủ, có sự lãnh đạo thông nhất cao Ngày 20-11-1994, nhân dân Bình Định tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ba câ"p Tỷ lệ cử tri đi bầu cử đạt 99,69% Kết quả bầu được
55 đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, 337 Hội đồng nhân dân huyện, thành phố, 3.045 đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trân Sau bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân, ủ y ban nhân dân các cấp trong tỉnh nhanh chóng được kiện toàn, củng cô" và đi vào hoạt động theo quy định của pháp luật
Ngày 16-12-1994, tại kỳ họp thứ nhâ"t, Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Định khóa VIII, nhiệm kỳ 1994-1999, đã bầu đồng
1 Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Định gồm các đồng chí: Lê Văn An, Hoàng Quang Đạo, Đặng Hữu, Võ Văn Lược, Trần Văn Nhẫn, Trần Thị Lệ Thu, Đoàn Van Téo, Tô Tử Thanh.
Trang 20chí Nguyễn Duy Quý, Quyền Bí thư Tỉnh ủy giữ chức Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; đồng chí Tô Tử Thanh, Phó Bí thư Tỉnh
ủy giữ chức Chủ tịch ú y ban nhân dân tỉnh
Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân các cấp đã đổi mới nội dung và phương pháp hoạt động, từng bước phát huy vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương; chức năng kiểm tra, giám sát được tăng cường hơn ủ y ban nhân dân các cấp có nhiều đổi mới trong công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, điều hành kinh tế - xã hội bằng các chương trình, k ế hoạch, cụ thể hóa các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm Công tác điều tra, khảo sát, quy hoạch, xây dựng các dự án kinh tế, các chương trình xã hội được thực hiện có hiệu quả Việc bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng cán bộ công chức, viên chức nhà nước và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo có những chuyển biến tích cực Môi quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với ủ y ban nhân dân và M ặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân được giữ vững và tăng cường
Tuy vậy, bộ máy chính quyền các cấp còn cồng kềnh và thiếu năng động Năng lực của một sô" cán bộ chưa ngang tầm với nhiệm vụ được giao Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu, nhiều địa phương vẫn duy trì những thủ tục phiền hà, một bộ phận cán bộ có biểu hiện quan liêu, hách dịch
Công tác vận động quần chúng có nhiều đổi mới, đáp ứng từng bước yêu cầu sự nghiệp đổi mới và nguyện vọng của nhân dân Thực hiện Nghị quyết sô" 8B-NQ/TW ngày 27-3-1990 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI về đổi mới công tác
189
Trang 21quần chúng của Đảng, tăng cường môi quan hệ giữa Đảng và nhân d ân 1, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị số 06-CT/TU về việc tập trung chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thật sự đi vào cuộc sông, yêu cầu các cấp ủy Đảng, chính quyền dành nhiều thời gian để bàn về công tác dân vận, gắn việc chỉ đạo thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội với công tác vận động quần chúng Các cấp ủy phân công cấp ủy viên và lựa chọn, đào tạo cán bộ làm công tác quần chúng, kiện toàn, nâng cao chất lượng bộ máy M ặt trận Tổ quô"c và các đoàn thể nhân dân Thực hiện Chỉ thị của Tỉnh ủy, đã có 11/11 huyện, thành ủy thành lập Ban Dân vận, do một đồng chí ủy viên Ban Thường vụ cấp ủy phụ trách
và có cán bộ chuyên trách Có 5 huyện xây dựng khôi dân vận cấp xã; các chi bộ ở địa bàn dân cư phân công đảng viên phụ trách công tác vận động quần chúng Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ ” được nhận thức đầy đủ hơn trong cán bộ, đảng viên và nhân dân Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được nhân dân thực hiện có hiệu quả Nhiều cấp ủy đảng tổ chức các cuộc tiếp dân để lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tiếp thu các
ý kiến của nhân dân về các chủ trương của Đảng trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là lĩnh vực xây dựng Đảng; kịp thời phê bình, kiểm điểm, chấn chỉnh các biểu hiện sai phạm nhằm nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên
Thực hiện Chỉ thị số 06 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể các cấp thường xuyên được củng cố,
1 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám (khóa VI) họp từ ngày 12 đến 27-3-1990 đã ra Nghị quyết sô" 8B-NQ/HNTW.
Trang 22kiện toàn về tổ chức và đổi mới nội dung, phương thức hoạt động Các hình thức tập hợp quần chúng từng bước được đa dạng, phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phần Các hội quần chúng, hội nghề nghiệp phát triển đa dạng với nhiều hình thức hoạt động, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của quần chúng nhân dân.
Q uán triệt chương trình hành động sô" 25-CTr/TU của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 17-11-1993 của Bộ Chính trị về đại đoàn k ết dân tộc và tăng cường M ặt trận D ân tộc thông nhất, M ặt trận Tổ quốc V iệt Nam tỉnh Bình Định tăng cường củng cô" và mở rộng khôi đoàn k ết toàn dân vì m ục tiêu giữ vững độc lập, thông nhâ"t, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ Phát động phong trào hành động cách m ạng thực hiện các m ục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh Hệ thông M ặt trận không ngừng được củng cô"; tham gia có hiệu quả với chính quyền trong quản lý xã hội, thực thi dân chủ và đổi mới xã hội; tham gia xây dựng, giám sát và bảo vệ chính quyền, góp phần tăng cường m ôi liên hệ m ật th iế t giữa nhân dân vơi Đ ảng và Nhà nước m ột cách th iế t thực
Bước vào thời kỳ mới, công tác M ặt trận còn bộc lộ những khuyết điểm, yếu kém: Chưa coi trọng bồi dưỡng sức dân và giải quyết những vướng mắc, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của các tầng lớp nhân dân Đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác M ặt trận còn yếu về trình độ và năng lực thực tiễn, chưa sát
cơ sở, sát dân M ột sô" câ"p ủy Đảng chưa quan tâm đúng mức đến công tác M ặt trận, bô" trí cán bộ chưa phù hợp nhiệm vụ Môi quan hệ công tác giữa Mặt trận và chính quyền chưa có quy chế rõ ràng, đầy đủ
191
Trang 23Lực lượng thanh niên trong tỉnh chiếm gần 30% dân sô" và trên 50% lực lượng lao động Đa sô" thanh niên có sức khỏe, kiến thức, đạo đức và lôi sông lành mạnh, có ý chí vươn lên, không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, sẵn sàng đi đầu trên mọi lĩnh vực Đó là nguồn nhân lực quan trọng để Bình Định tiếp tục thực hiện sự nghiệp đổi mới Nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí của thanh niên, ngày 14-5-1993, Hội nghị lần thứ 6 Ban Châ"p hành Đảng bộ tỉnh Bình Định (khóa XIV) ra Nghị quyết sô" 06-NQ/TU về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Châ"p hành Trung ương Đảng (khóa VII) và về công tác thanh niên trong thời kỳ mới Quán triệt Nghị quyết sô" 06 của Tỉnh ủy, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp thanh niên các câ"p tổ chức nhiều phong trào hành động cách mạng, đặc biệt là phong trào “Thanh niên lập nghiệp” và “Tuổi trẻ giữ nước” Từ các phong trào của thanh niên xuất hiện nhiều tâm gương điển hình tiên tiến trong lao động sản xuất, trong phòng chông tội phạm, trong việc phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật Đ ể tập hợp, thu hút đông đảo đoàn viên, hội viên, Đoàn thanh niên cộng sản, Hội Liên hiệp thanh niên tỉnh và tổ chức Đoàn thanh niên các câ"p từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động theo hướng sát cơ
sở, sát đôi tượng và phong trào của tuổi trẻ Qua các phong trào,
tổ chức Đoàn và Hội liên hiệp thanh niên được củng cô", đã tiến hành kết nạp nhiều thanh niên vào tổ chức; xuất hiện nhiều đoàn viên ưu tú được giới thiệu kết nạp vào Đảng
Tuy nhiên, bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ lãnh đạo phong trào thanh niên còn một sô" hạn chê" Các tổ chức Đoàn còn nhiều lúng túng trong việc đổi mới nội dung và hình thức
Trang 24hoạt động Nhiều tổ chức cơ sở Đoàn, Hội Liên hiệp thanh niên chỉ tồn tại trên danh nghĩa, không hoạt động Sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đôi với công tác thanh niên còn chung chung, chưa gắn công tác xây dựng Đảng với xây dựng Đoàn
M ột sô" cán bộ, đảng viên thiếu lòng tin vào lực lượng thanh niên hiện tại
Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, đến tháng 6-1990, Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Định phát triển có 11 Liên đoàn Lao động huyện, thành phô", 2 công đoàn ngành, 550 công đoàn cơ sở,
860 công đoàn bộ phận và 5.200 tổ công đoàn, với 3,2 vạn đoàn viên, chiếm 93,8% tổng sô" công nhân lao động trong tỉnh Công đoàn tỉnh đã thành lập điểm 2 công đoàn cơ sở ngoài quô"c doanh
là công đoàn Hợp tác xã Bình Minh (thành phô" Quy Nhơn) và công đoàn Hợp tác xã vận tải 30/4 (huyện An Nhơn) với 240 đoàn viên
Công đoàn các cấp đã vận động, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giai câ"p công nhân, từng bước nâng cao trình
độ kiến thức mọi m ặt cho công nhân lao động, đáp ứng yêu cầu công tác, phục vụ sự nghiệp đổi mới, góp phần phục vụ đắc lực cho phát triển sản xuâ"t nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và thực hiện 3 chương trình kinh tê" lớn của tỉnh Với chức năng, nhiệm vụ được giao, công đoàn làm tô"t việc bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động, nhâ"t là trong quá trình thực hiện Q uyết định sô" 176/HĐBT, ngày 09-10-1989 của Hội đồng Bộ trưởng về “sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tê" quô"c doanh” H oạt động của công đoàn từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động theo phương châm hướng về cơ sở
193
Trang 25Tuy nhiên, nhiều công đoàn cơ sở còn lúng túng khi vận dụng chức năng, nhiệm vụ của công đoàn trong tình hình đổi mới cơ ch ế quản lý kinh tế, quản lý xí nghiệp Không ít công đoàn hoạt động theo tư duy và nếp làm cũ; tình trạng thả nổi sinh hoạt tổ công đoàn còn phổ biến và không quản lý được đoàn viên Một sô" cán bộ công đoàn chưa yên tâm, phân khởi trong công tác Phong trào thi đua của công đoàn nhiều nơi trong tỉnh vẫn hình thức, không thu hút được đông đảo đoàn viên tham gia.
Quán triệt quan điểm đổi mới của Đảng và chủ trương của Tỉnh ủy về tăng cường công tác vận động quần chúng, công tác cán bộ nữ trong tình hình mới, Hội Phụ nữ tỉnh Bình Định đoàn kết, tập hợp đông đảo chị em, k ế thừa và phát huy truyền thông
“anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”, phát huy tinh thần
tự lực, tự cường nỗ lực vươn lên cùng Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng quê hương đất nước Với hai cuộc vận động: “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” và “Nuôi dạy con theo khoa học, góp phần hạn chế trẻ
em suy dinh dưỡng và bỏ h ọ c”, xuâ"t hiện nhiều tâm gương điển hình phụ nữ làm kinh tế giỏi, nuôi con khỏe dạy con ngoan, giúp nhau trong sản xuất Trong công tác cán bộ của Đảng bộ, phụ nữ tham gia cấp ủy và Hội đồng nhân dân ngày một tăng Tỉnh ủy khóa XIV tỷ lệ nữ chiếm 8,3% tổng sô" ủy viên Ban Châ"p hành; câ"p huyện, thành ủy chiếm 10%; cấp ủy xã, phường, thị trân chiếm 7,98% Nữ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh nhiệm
kỳ 1989-1994 chiếm 13,69%; đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, thành phô" chiếm 6,52% và đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trân chiếm 6,29%
Trang 26Công tác vận động phụ nữ tham gia tổ chức hội từng bước được đổi mới Toàn tỉnh có 80,5% phụ nữ vào tổ chức hội Phân chi hội được củng cố ở vùng núi, vùng sâu và vùng xa Tuy nhiên, các hình thức tập hợp phụ nữ thiếu đa dạng nên chưa thu hút đông đảo phụ nữ tham gia, nhất là phụ nữ là tín đồ các tôn giáo Hội chưa tổ chức tốt việc xây dựng và nhân điển hình tiên tiến trong phong trào phụ nữ Lề lôi làm việc, phong cách công tác ở các cấp hội mang nặng tính hành chính, chưa sát cơ sở Nhiều cấp ủy Đảng, chính quyền nhận thức chưa đầy đủ về công tác lãnh đạo hội phụ nữ và phong trào phụ nữ.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám (khóa VI), ngày 06-7-1990 Ban Chấp hành Hội Nông dân tĩnh Bình Định xây dựng Đề án đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động Phong trào xây dựng cơ sở được tăng cường; các cơ sở xã, phường, thị trấn đều có tổ chức hội và thu hút hầu hết nông dân vào tổ chức hội Hội Nông dân các cấp trong tỉnh làm nòng cốt thực hiện chủ trương đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, nhất là vận động hội viên tích cực đưa giống lúa, ngô, lạc
có năng suất cao vào thâm canh tăng năng suất; cải tạo vườn tạp tạo nên những vùng sản xuất hàng hóa Qua đó, nhiều hộ nông dân thoát nghèo, trở thành hộ khá và giàu Năm 1994, Bình Định có 25.000 hộ nông dân sản xuất giỏi cấp cơ sở, 1.300
hộ cấp huyện, 160 hộ cấp tỉnh, có mức lãi từ 4-70 triệu đồng/năm Tuy nhiên, công tác Hội và phong trào nông dân tỉnh Bình Định vẫn còn những hạn chế: phong trào phát triển chưa đều; đội ngũ cán bộ còn thụ động, chờ đợi sự chỉ đạo của cấp trên
195
Trang 27Đáp ứng nguyện vọng của lực lượng cựu chiến binh, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, ngày 05-3-1990, Ban Thường
vụ Tỉnh ủy ra Quyết định số 125-QĐ/TU về việc thành lập Hội cựu chiến binh tỉnh Bình Định và chỉ định Ban Chấp hành lâm thời Ban Châp hành lâm thời Hội Cựu chiến binh tỉnh gồm 17 đồng chí Trong 5 năm 1990-1995, các cấp Hội trong tỉnh không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, hoạt động có nề nếp và chất lượng; tích cực tham gia hoạt động chính trị xã hội, cùng các cấp, các ngành, các địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng Nhiều hội viên được tín nhiệm bầu giữ các chức vụ chủ chốt ở cơ sở Trên các cương vị được phân công, các hội viên Hội Cựu chiến binh đều nêu cao bản chất “Bộ đội Cụ Hồ ”, tiếp tục đem tinh thần, trí tuệ, sức lực của mình góp phần cùng Đảng bộ và nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới quê hương, đất nước Hàng ngàn hội viên gương mẫu đi đầu thực hiện tốt các chủ trương, đường lôi của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được quần chúng tín nhiệm, xứng đáng là chỗ dựa tin cậy của cấp ủy đảng và chính quyền địa phương
n LÃNH ĐẠO PHÁT TRIEN k i n h tế - XÃ HỘI
Trong 2 năm đầu tái lập tỉnh, trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó khăn của một tỉnh mới tái lập, ngày 08-7-1989 Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định
ra Nghị quyết số 01-NQ/TU “về những nhiệm vụ chủ yếu kinh
tế - xã hội 6 tháng cuối năm 1989” đã đề ra các mục tiêu, yêu cầu chủ yếu là giữ vững và tiếp tục phát triển sản xuất nông, lâm ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; khôi phục hoạt động của khu vực kinh tế quốc doanh công thương nghiệp Mở rộng kinh
Trang 28tế đối ngoại và tăng kim ngạch xuất khẩu Khai thác các nguồn thu và tăng thu đúng chính sách để bảo đảm các nhu cầu chi cần thiết, nhất là chi lương và trợ cấp đúng hạn, chi xây dựng cơ bản đối với những công trình cấp thiết, củ n g cô" quô"c phòng, đảm bảo an ninh, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Đảng bộ yêu cầu chuẩn bị tốt các tiền đề để thực hiện k ế hoạch năm 1990 và các năm tiếp theo.
v ề chương trình lương thực, thực phẩm: Quán triệt Nghị quyết sô" 01-NQ/TU của Tỉnh ủy, ủ y ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các cấp, các ngành các địa phương tập trung phát triển nông nghiệp, thực hiện chương trình lương thực, thực phẩm do Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI đ ề ra Năm 1989, tổng diện tích gieo cây 3 vụ trong tỉnh đạt 115.014 ha, vượt 2,65% kê" hoạch, tăng 1,24% so với năm 1988 Năng suâ"t đạt 32,73 tạ/ha, tăng 5,9% so với năm 1988 Tổng sản lượng lúa cả năm 386.722 tấn, vượt 1,8% kê" hoạch và 7,1% so với năm 1988 Tổng sản lượng lương thực đạt 416.722 tấn, lương thực bình quân đầu người 334 kg/năm, tăng 6% so với năm 1988
Hơn một năm triển khai Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tê", cơ chê" khoán mới bước đầu giải phóng được năng lực sản xuất trong nông nghiệp, tạo động lực khuyến khích nông dân hăng hái nhận ruộng đất, bỏ vốn đầu tư vào thâm canh tăng năng suâ"t, phát triển sản xuất Tuy vậy, các hợp tác xã nông nghiệp chưa khai thác hết tiềm năng của địa phương Khoán gọn mới thực hiện ở một sô" sản phẩm chủ yếu; ngành nghề, cây công nghiệp, đồi rừng chưa có hướng đi 'cụ thể Chức năng và hiệu lực quản lý nhà nước của ủ y ban nhân dân xã đôi với hợp tác xã nông nghiệp chưa rõ ràng
197
Trang 29Trước tình hình đó, ngày 08-3-1990 Ban Thường vụ Tỉnh ủy
ra Nghị quyết sô" 05-NQ/TU về tiếp tục quán triệt, vận dụng thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, nhân mạnh: giao khoán sử dụng đất cho tập thể và từng hộ xã viên trong thời hạn từ 10 đến 15 năm đôi với cây lương thực và
từ 15 năm đến 20 năm đôi với cây công nghiệp, cấp giây chứng nhận quyền sử dụng ruộng đâ"t lâu dài từ 40 đến 50 năm cho những ai đầu tư khai hoang trồng cây công nghiệp, 20 năm nếu trồng cây lương thực Kiện toàn, củng cố hợp tác xã nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới Đây là chủ trương đúng đắn, sớm và sáng tạo của Bình Định so với các địa phương khác trong cả nước
Triển khai Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các huyện, thành phô" đẩy mạnh thực hiện khoán 10 ở tất cả các hợp tác xã nông nghiệp trong tỉnh, tạo nên động lực mới, thúc đẩy sản xuâ"t nông nghiệp phát triển toàn diện Năm 1990, mặc dù thời tiết không thuận, nắng nóng kéo dài làm cho đồng ruộng khô hạn, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, nhưng nhân dân trong tỉnh vẫn phân đâu gieo trồng đạt 163.200 ha, tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 390.618 tân
Do gắn lao động với đâ"t đai thông qua cơ chê" khoán sản phẩm, nông dân đã đầu tư vốn, sử dụng giống mới, thâm canh tăng năng suất Năm 1991, tổng diện tích gieo trồng 176.500
ha, tăng 13.300 ha so với năm 1990, trong đó, diện tích trồng lúa 120.900 ha Năng suâ"t lúa đạt 36 tạ/ha, tăng 3,27 tạ/ha so với năm 1989 Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 456.920 tân, tăng 66.302 tấn so với năm 1990 Bình quân lương thực đầu người đạt 350 kg/năm, cao hơn mức lương thực bình quân đầu
Trang 30người trong cả nước1 Lương thực đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xã hội, làm tròn nghĩa vụ nhà nước, góp phần ổn định thị trường lương thực trên địa bàn.
Bước đầu hình thành một sô" vùng chuyên canh cây công nghiệp Vùng trồng chè, dâu, mía ở các huyện Hoài Ân, Tây Sơn; vùng trồng điều, mía, lạc thuôc lá ở các huyện Tây Sơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Nhơn Năm 1991, diện tích trồng mía toàn tỉnh đạt 3.700 ha, sản lượng đạt 118.586 tấn; diện tích trồng lạc 4.100 ha, sản lượng đạt 3.575 tấn
Cùng với trồng trọt, chăn nuôi phát triển cả ở nông thôn và khu vực thành phô", thị trân Đàn gia súc, gia cầm tăng nhanh Năm 1991, đàn trâu, bò trong tỉnh có 209.033 con, đàn lợn 274.337 con, đàn gia cầm 1.708.500 con Phong trào nuôi trồng thủy, hải sản phát triển, nhất là nuôi tôm xuất khẩu Năm 1991, diện tích nuôi tôm 1.950 ha, sản lượng đạt 1.660 tấn; các hoạt động khai thác, chê" biến thủy, hải sản cũng có nhiều chuyển biến: đóng mới 415 tàu, thuyền đưa tổng sô" lên 3.475 chiếc, khai thác được 22.000 tấn hải sản và chê" biến 1,2 triệu lít nước mắm, góp phần tăng kim ngạch xuâ"t khẩu
Tỉnh ủy Bình Định xác định: Lâm nghiệp cùng với nông
*
nghiệp là hai ngành kinh tê" mũi nhọn trong việc ổn định đời sông của nhân dân trong tỉnh trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới Quán triệt chủ trương của Tỉnh ủy, ngày 26-12-1990, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị sô" 23-CT/TU về phát triển kinh tê" - xã hội miền núi yêu cầu: “xây dựng kinh tê" - xã hội
1 Năm 1989, sản lượng lương thực cả nước đạt 21,5 triệu tấn Lương thực bình quân đầu người đạt 332 kg/năm.
199
Trang 31miền núi là phát triển kinh tế lâm nghiệp kết hợp với nông nghiệp, lấy kinh tế hộ làm cơ sở, gắn kinh tế gia đình với kinh tế vườn - rừng và chăn nuôi, phát huy tiềm năng, th ế mạnh từng vùng, liên kết chặt chẽ với miền xuôi, từng bước tổ chức lại sản xuất, tiến hành phân công lao động hợp lý theo hướng sản xuất hàng h ó a ”1.
Sau khi có Chỉ thị số 23-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh
ủy, kinh tế - xã hội miền núi có chuyển biến tích cực, đăc biệt là nghề rừng có nhiều tiến bộ mới ở các khâu: quản lý, bảo vệ, trồng mới, khai thác và ch ế biến lâm sản Năm 1989, toàn tỉnh trồng được 2.916 ha rừng tập trung và 20 triệu cây phân tán Năm 1991 trồng được 4.000 ha, tăng 1.084 ha so với năm 1989
Đ ất đồi, rừng đã tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, nâng dần mức sống của nhiều hộ nông dân Có sự liên kết giữa các vùng, miền và sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành phần kinh tế, nên sản xuất - kinh doanh phát triển đa dạng, toàn diện Sản xuất nông, lâm nghiệp từng bước gắn với thị trường, kinh tế hàng hóa xuất hiện Đời sông của đồng bào các dân tộc ở miền núi từng bước được cải thiện
v ề chương trình hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu: Cùng với phát triển nông nghiệp, thực hiện chương trình hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, Tỉnh ủy tập trung chỉ đạo phát triển công nghiệp địa phương tạo ra hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Thực hiện Quyết định số 217-HĐBT ngày 14-11-1987 của Hội đồng Bộ trưởng, ban hành các chính sách đổi mới k ế hoạch hóa
1 Trích Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 26-12-1990 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
về phát triển kinh tế - xã hội miền núi Tài liệu lưu tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Định.
Trang 32và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa và sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, ủ y ban nhân dân tỉnh tiến hành sắp xếp lại các doanh nghiệp qucíc doanh H ết năm 1991, Bình Định giải thể và sáp nhập 59 doanh nghiệp, còn lại 76 doanh nghiệp tỉnh quản lý và
49 doanh nghiệp huyện quản lý Các doanh nghiệp tiến hành sắp xếp lại sản xuất, thực hiện giảm biên ch ế gián tiếp, rà soát lại định mức lao động, đầu tư thay đổi thiết bị và dây chuyền công nghệ mới, gắn sản xuất với tiêu dùng Nhiều doanh nghiệp
mở rộng quy mô sản xuất và một sô" xí nghiệp của tỉnh mới được xây dựng và đưa vào sản xuất như: đông lạnh súc sản, xay xát gạo xuâ"t khẩu, ch ế biến hạt điều, khai thác đá ốp lát, khai tuyển quặng titan, thuộc da, ươm tơ
Quán triệt chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, tỉnh khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế tư nhân Đến năm 1991, toàn tỉnh có gần 10.000 cơ sở ngoài quô"c doanh khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nhân dân, tạo việc làm cho hàng vạn người lao động Nhờ vậy, sản xuất công nghiệp có những chuyển biến nhâ"t định Năm 1991, giá trị tổng sản lượng công nghiệp đạt 100.930 triệu đồng, tăng 20% so với năm 1990 Đa dạng hóa m ặt hàng tiêu dùng, một số m ặt hàng mũi nhọn có khôi lượng khá, châ"t lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuâ"t khẩu như giày da, may mặc, cơ khí, đá ốp lát Hoàn thành nộp thuế cho nhà nước
v ề xuâ"t khẩu, Tỉnh ủy chỉ đạo các ngành, các địa phương phát huy th ế mạnh về lao động, tài nguyên, khoáng sản tạo ra sản phẩm hàng hóa xuất khẩu, góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Bình Định trong 5 năm 1986-1991 đạt 42 triệu rúp-đôla, tăng 16,67% so với giai đoạn 1981-1985
201
Trang 33Sau gần 5 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề ra, nhất là 2 năm tái lập tỉnh, cơ cấu kinh tế của tỉnh đã bước đầu có những chuyển biến tích cực sả n xuất lương thực, thực phẩm ngày càng phát triển Nông nghiệp từng bước gắn với công nghiệp ch ế biến Năng lực sản xuất của nhiều thành phần kinh tế được huy động Phong trào nhân dân đầu tư vốn phát triển nghề cá, nuôi tôm xuất khẩu, trồng rừng kinh tế, phát triển mạng lưới điện, giao thông nông thôn, xây dựng trường học và thực hiện các chính sách xã hội Bộ m ặt quê hương có nhiều đổi mới.
Tuy nhiên, nền kinh tế của tỉnh còn nhiều yếu kém và khó khăn: kinh tế thuần nông, nông nghiệp độc canh, tỷ trọng, giá trị sản lượng giữa cây lương thực, cây công nghiệp và chăn nuôi chưa hợp lý; một sô" chủ trương về phát triển kinh tế chưa mang lại hiệu quả, năng suất lao động thấp1; tốc độ tăng trưởng kinh
tế chậm 2, chưa có tích lũy từ sản xuất Thu chưa đủ chi, dẫn đến mâ"t cân đôi trong nền kinh tế Đặc biệt là vốn, vật tư và thị trường, sản xuâ"t - kinh doanh còn hạn chế
Bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, bên cạnh khắc phục những khó khăn, Đảng bộ
và nhân dân Bình Định ra sức phát huy những thuận lợi: đường lôi đổi mới của Đảng đã và đang đi vào cuộc sông, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII, khẳng định rõ những vân đề cơ bản về định hướng, quan điểm, bước đi trong quá trình xây dựng đất nước Tiềm năng kinh tế của tỉnh phong
1 Bằng 75% mức bình quân cả nước.
2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 2%/năm.
Trang 34phú, đa dạng chưa được khai thác Đội ngũ cán bộ đã trưởng thành một bước cả về trình độ tư duy cũng như năng lực quản lý
và tổ chức thực hiện
Trong những năm 1992-1995, các cấp ủy Đảng tập trung chỉ đạo phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp toàn diện, tiếp tục thực hiện chương trình lương thực, thực phẩm của tỉnh; đồng thời đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về cải tiến công tác quản lý nông nghiệp ở các địa phương trong tỉnh
Ngày 16-3-1992, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 01-NQ/TU về một số công tác cấp bách trong sản xuất nông nghiệp
chỉ rõ: năng suất và sản lượng lúa vụ Đông - Xuân 1992 trên địa bàn tỉnh đạt thấp, đây là vụ thất thu lớn Tổng sản lượng lương thực giảm 30%, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Đ ể khẩn trương khắc phục hậu quả mất mùa, ổn định đời sông nhân dân, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu: ủ y ban nhân dân tỉnh, các huyện, thành ủy tăng cường chỉ đạo các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đẩy mạnh sản xuất vụ hè thu, phấn đấu vượt k ế hoạch về diện tích, năng suất và sản lượng để bù lại mức thiếu hụt của vụ đông xuân, tạo thế ổn định đời sông vật chất và tinh thần của nhân dân
Nhờ những biện pháp chỉ đạo tích cực, chủ động của các cấp ủy Đảng, sự nỗ lực của toàn dân, năm 1992, mặc dù thời tiết không thuận, cơn bão sô" 6 và 7 1 đổ bộ vào Bình Định gây ra úng ngập kéo dài và phá hủy nhiều công trình thủy lợi nội đồng, giông, vật tư của nông dân, nhưng tổng diện tích gieo trồng vẫn
1 Cơn bão sô" 6, 7 năm 1992 gây lũ úng lớn kéo dài gây thiệt hại cho tỉnh trên
40 tỷ đồng và 9 người chết.
203
Trang 35tăng 14,4%, riêng diện tích trồng cây lương thực tăng trên 2.000
ha so với năm 1991 Sản lượng lương thực đạt gần 400.000 tấn, tăng gần 400 tấn so với năm 1990
Bước sang năm 1993, vụ Đông - Xuân gặp rét muộn và kéo dài, vụ hè - thu và vụ mùa liên tiếp bị hạn hán Ngày 18-8-
1993, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị sô" 07-CT/TU về việc tập trung chông hạn Mặc dù rất cô" gắng nhưng diện tích, năng suất, sản lượng đều giảm, tổng sản lượng lương thực chỉ đạt320.000 tấn, là năm có sản lượng thấp nhâ"t từ trước đến năm
1993 Năm 1994, thời tiết “mưa thuận, gió h ò a ”, thuận lợi, Bình Định được mùa cả 3 vụ lúa Tổng sản lượng lương thực đạt467.000 tấn, tăng 147.000 tấn so với năm 1993 là năm có sản lượng lương thực đạt cao nhất từ trước đến năm 1995 Tổng sản lượng lương thực 5 năm 1991-1995 đạt gần 2,1 triệu tân, tăng hơn 56,5 vạn tân so với những năm 1986-1990 Nhờ đó, tạo điều kiện để ổn định đời sông nhân dân, phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ câu kinh tê" nông nghiệp, nông thôn
Bên cạnh việc tập trung phát triển cây lương thực, Tỉnh ủy chủ trương: mở rộng gieo trồng những cây có giá trị kinh tê" cao,
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích và hỗ trợ nông dân áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ sinh học, nâng cao chất lượng giông lúa, và giông cây màu đưa vào sản xuâ"t; thay đổi cơ câu mùa vụ, bô" trí cơ câu cây trồng hợp lý, phá thê" độc canh, tránh được thiên tai khắc nghiệt; đẩy mạnh công tác khuyến nông và tích cực làm thủy lợi; thực hiện giao đất, giao rừng cho nông dân; từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, đưa máy cơ khí nhỏ vào phục vụ phát triển kinh tê" nông nghiệp; chuyển dịch cơ câu kinh tê" nông thôn
Trang 36theo định hướng phát triển tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp - dịch vụ ở nông thôn.
Ngành trồng trọt phát triển đa dạng và tương đối toàn diện Trên địa bàn tỉnh đã hình thành một sô" vùng cây công nghiệp, cây thực phẩm và cây ăn quả mang tính sản xuất hàng hóa, với
sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Đến năm 1995, diện tích cây công nghiệp dài ngày đạt 22.835 ha, trong đó diện tích trồng mới của 5 năm 1991-1995 là 9.050 ha, diện tích cho thu hoạch sản phẩm 10.220 ha Cây công nghiệp ngắn ngày phát triển nhanh, nhất là mía, lạc và một số cây trồng khác, sản phẩm sản xuất ra có thị trường tiêu thụ và đạt hiệu quả kinh tế cao Năm 1995, diện tích cây công nghiệp ngắn ngày 18.825 ha, tăng 9.600 ha so với năm 1990 Bước đầu hình thành vùng cây công nghiệp tập trung với quy mô lớn, tạo tiền đề cho công nghiệp chế biến phát triển, tăng thu nhập cho nhân dân
Nông nghiệp đạt kết quả khá, nhưng quá trình thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã bộc lộ những khó khăn và hạn ch ế mới về đất đai, cơ chế quản lý của hợp tác xã M ặt khác, một sô" chính sách của Trung ương cũng như chủ trương của tỉnh ban hành những năm trước đây đã có nhiều điểm không phù hợp với cơ chế mới
Để khắc phục tình trạng trên, thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương và Tỉnh ủy, ngày 12-9-1992 ủ y ban nhân dân tỉnh ra Chỉ thị sô" 41-CT/UB về tiếp tục đổi mới cơ chê" quản lý kinh tê" nông nghiệp nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển và chuyển dịch cơ câu kinh tê" nông nghiệp nông thôn Tỉnh chỉ đạo thí điểm giao quyền
sử dụng đâ"t lâu dài cho hộ xã viên ở xã Nhơn Khánh Sau khi có chỉ thị và rút kinh nghiệm ở xã Nhơn Khánh, các huyện và
205
Trang 37thành phô" Quy Nhơn khẩn trương tổ chức thực hiện, với hai vân đề cơ bản: điều chỉnh đất đai, giao quyền sử dụng ruộng đâ"t lâu dài cho hộ xã viên; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các Ban quản lý hợp tác xã nông nghiệp Quán triệt Chỉ thị 41 của ủ y ban nhân dân tỉnh, câ"p ủy, chính quyền các địa phương đã nỗ lực thực hiện đạt hiệu quả khá cao Đ ến tháng 4-1994, toàn tỉnh có 232 hợp tác xã, phần lớn các xã, hợp tác xã đã giao quyền sử dụng mộng đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân Bộ máy ban quản lý các hợp tác xã từng bước được tinh giản so với trước Khoán 10 từ 65-70%; một số hợp tác xã tinh giản tới 78-79% Trong tỉnh phổ biến mỗi hợp tác xã còn 7-10 cán bộ Nhiều hợp tác xã tổ chức làm dịch vụ được nhiều khâu, bước đầu có hiệu quả Vai trò tự chủ của hộ nông dân được phát huy Nhiều hình thức hợp tác mới trong nông nghiệp
và nông thôn hình thành, v ố n quỹ, tài sản của hợp tác xã được kiểm kê xác định lại, thực hiện khoán bảo toàn sử dụng vô"n và
cơ sở vật chất phục vụ sản xuất
Tuy nhiên trong quá trình tổ chức thực hiện Chỉ thị số 41 của
Úy ban nhân dân tỉnh, nhiều hợp tác xã lúng túng trong đổi mới chức năng, nhiệm vụ của ban quản lý Một số hợp tác xã chưa hoàn thành giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ xã viên Tổ chức dịch vụ còn đơn điệu; vai trò của hợp tác xã đối với kinh tế
hộ còn hạn chế
Để tiếp tục đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và nông thôn, tháng 6-1993, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII) ra Nghị quyết số 05-NQ/HNTW ngày 10-6-1993 về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, đã nhân mạnh: phải đặt sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất lớn hàng hóa, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
Trang 38hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, coi đó là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu Ban Chấp hành Trung ương nêu rõ nội dung, phương hướng đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cải tiến
cơ cấu kinh tế nông thôn, kiên trì và nhất quán thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện chính sách giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân, đặc biệt là tuân thủ 5 quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp
Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khóa v n ) và vận dụng vào điều kiện cụ thể của địa phương, ngày 04-01-1994, Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 09-NQ/TU
về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Bình Định đến năm 2000 xác định mục tiêu: đến năm 2000 tăng gấp đôi tổng giá trị nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ so với năm
1992 Đổi mới cơ cấu giá trị giữa trồng trọt và chăn nuôi từ 67%
và 33% (năm 1992), thành 64% và 36%; cơ cấu giá trị giữa nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ từ 55% - 27% - 18% (năm 1992), thành 45% - 32% - 23%; cơ cấu lao động giữa khu vực nông nghiệp - công nghiệp và dịch vụ từ 80% và 20% (năm 1992), thành 60% và 40% (năm 2000) Bình quân thu nhập đầu người ở nông thôn tăng gấp đôi so với năm 1990, đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nông dân được cải thiện
Sau đó, Tỉnh ủy mở Hội nghị Cán bộ chủ chốt học tập Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm và thảo luận Nghị quyết 09 của Tỉnh ủy Các huyện, thành ủy và các đảng ủy trực thuộc tiến hành quán triệt cho các cấp cơ sở nắm vững quan điểm của Đảng, chủ trương của Tỉnh ủy để xây dựng đề án, tổ chức thực hiện
207
Trang 39Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khóa VII) và Nghị quyết 09 của Tỉnh ủy, nông nghiệp Bình Định phát triển tương đối toàn diện, chăn nuôi tiếp tục phát triển đa dạng, phong phú và tăng nhanh, chiếm 30% giá trị sản xuất nông nghiệp, trở thành một ngành có thu nhập khá ở nông thôn Một số mô hình chăn nuôi tiên tiến được nhân rộng Việc đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào chăn nuôi, nhất là quy trình lai và cải tạo giống; phong trào nạc hóa đàn lợn, Sind hóa đàn bò, siêu trứng, siêu thịt trong gia cầm, tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở nông thôn Đàn bò tăng từ192.00 con (năm 1991) lên 210.000 con (năm 1993) và 230.000 con (năm 1995), trong đó có 3.000 con bò lai Tỉnh tiến hành cải tạo đàn bò theo chương trình VIE 86-008 đạt kết quả khả quan Đàn lợn tăng từ 274.000 con (năm 1991) lên 310.000 con (năm 1993) và 340.135 con (năm 1995), trong đó có 75% lai hướng nạc Đàn gia cầm được giữ vững, vịt siêu thịt, siêu trứng có khả năng thích nghi với nhiều vùng trong tỉnh, có thể nhân ra diện rộng.
Nuôi trồng và đánh bắt thủy, hải sản phát triển khá nhanh, với nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả, toàn ngành nâng cao giá trị xuất khẩu Hàng ngàn hécta mặt nước ao hồ, đầm, được các hộ gia đình bỏ vốn đầu tư nuôi trồng các loại tôm, cá và các đặc sản khác Nuôi tôm cải tiến và bán thâm canh được mở rộng, năng suất, sản lượng đạt cao Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 1995 đạt 2.170 ha Việc di chuyển ngư trường đánh bắt hải sản ở vùng biển phía Nam và phía Bắc tiếp tục phát triển Nhiều tàu thuyền đóng mới có công suất lớn, đẩy mạnh đánh bắt xa bờ, tăng sản lượng khai thác hải sản Hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy, hải
Trang 40sản được chú trọng, sản lượng đánh bắt hải sản hàng năm đạt trên 47.000 tấn.
Cùng với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, từng bước khắc phục tình trạng thuần nông, Tỉnh ủy chú trọng chỉ đạo khôi phục các nghề truyền thống, phát triển thêm ngành nghề mới, chuyển một bộ phận đáng kể lao động nông nghiệp sang làm tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, từng bước phân công lại lao động, giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn Công nghiệp sơ chế đã hình thành ở các vùng, các thị trấn, thị tứ Hệ thống thị trấn, thị tứ và các trung tâm dịch vụ ở nông thôn đã và đang hình thành, tuy còn nhỏ bé nhưng bước đầu đã đáp ứng nhu cầu trao đổi và giao lưu hàng hóa
Trong sản xuất lâm nghiệp, thực hiện Đề án bảo vệ và phát triển rừng năm 1992 của tỉnh, các địa phương đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng cho hộ xã viên thực hiện phủ xanh đất trông, đồi núi trọc bằng các chương trình PAM, 327, 120 của Chính phủ Tích cực trồng rừng theo dạng hỗn giao và trồng cây phân tán để nâng cao độ che phủ của rừng, cung cấp nguyên liệu gỗ cho công nghiệp và làm hàng thủ công mỹ nghệ Trong
5 năm 1991-1995, Bình Định trồng được 21.330 ha rừng tập trung, 32 triệu cây phân tán, bảo vệ khoanh nuôi 22.300 ha rừng Việc giao đất, giao rừng gắn với định canh, định cư cho các hộ nông dân huyện miền núi được đẩy mạnh, góp phần ổn định đời sống cho nông dân và giảm đáng kể tình trạng phá rừng làm nương rẫy, từng bước đưa miền núi phát triển, sả n lượng khai thác gỗ tròn trong 5 năm (1991-1995) đạt 106.000 m3, bình quân mỗi năm khai thác 21.000 m3, tạo nguyên liệu cho nghề sản xuất
đồ gỗ xuất khẩu phát triển
209