1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chẩn đoán và điều trị hen khó trị và hen nặng ở người trưởng thành và trẻ vị thành niên

3 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 325,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hen chưa kiểm soát là một tình trạng thường gặp nhưng không phải toàn bộ các bệnh nhân này đều là hen khó trị hay hen nặng. Hen khó trị và/hoặc hen nặng chỉ được chẩn đoán sau khi đã đánh giá toàn diện và tối ưu hóa điều trị các bệnh nhân hen chưa kiểm soát. Hen nặng một nhóm nhỏ trong hen khó trị. Việc điều trị hen hen nặng hiện tại dựa trên phân loại kiểu hình hen nặng có viêm type 2 hoặc không viêm type 2.

Trang 1

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ HEN KHÓ TRỊ VÀ HEN NẶNG

Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH VÀ TRẺ VỊ THÀNH NIÊN

Lê Thị Tuyết Lan 1

TÓM TẮT

Hen chưa kiểm soát là một trình trạng thường gặp nhưng không phải toàn bộ các bệnh nhân này đều là hen khó trị hay hen nặng Hen khó trị và/hoặc hen nặng chỉ được chẩn đoán sau khi đã đánh giá toàn diện

và tối ưu hóa điều trị các bệnh nhân hen chưa kiểm soát Hen nặng một nhóm nhỏ trong hen khó trị Việc điều trị hen hen nặng hiện tại dựa trên phân loại kiểu hình hen nặng có viêm type 2 hoặc không viêm type 2

SUMMARY

DIAGNOSIS AND MANAGEMENT OF DIFFICULT-TO-TREAT AND SEVERE ASTHMA IN ADULTS AND ADOLESCENCES

Uncontrolled asthma is a common condition, but not all of them are difficult-to-treat or severe asthma Difficult-to-treat asthma and/or severe asthma are diagnosed only after a comprehensive evaluation and optimization of uncontrolled asthma patients Severe asthma is a subgroup of difficult-to-treat asthma Severe asthma management currently is based on classification of Type 2 inflammation asthma or non-type 2 inflammation asthma

1 Khái niệm, tần suất và gánh nặng

Các khái niệm về hen chưa được kiểm soát

(Uncontrolled asthma), hen khó trị

(Difficult-to-treat asthma), hen nặng (Severe asthma) đã được đề

cập đến trong nhiều y văn, cần phân biệt rõ các khái

niệm này vì liên quan chặt chẽ đến điều trị GINA

2019 đã đưa ra khái niệm về các dạng hen này [3]

Hen chưa được kiểm soát là khi có một

hoặc cả hai điều sau đây:

• Kiểm soát triệu chứng kém: triệu chứng

thường xuyên hoặc sử dụng thuốc cắt cơn thường

xuyên, hoạt động bị hạn chế do hen, thức giấc do hen

• Các đợt cấp thường xuyên cần dùng

corticosteroid đường uống (OCS) (≥2/năm) hoặc

các đợt cần nhập viện nặng (≥1/năm)

Hen khó trị là hen chưa kiểm soát được mặc

dù điều trị ở GINA Bậc 4 hoặc 5 (dùng corticosteroid hít liều trung bình hoặc cao (ICS) kết hợp với một thuốc duy trì thứ hai như LABA, LAMA…, hoặc duy trì OCS), hoặc cần các thuốc điều trị kể trên

để duy trì kiểm soát và giảm nguy cơ đợt cấp Đây không phải là nhóm bệnh nhân “khó trị” vì trong nhiều trường hợp, hen có thể khó điều trị do các yếu tố có thể thay đổi như kỹ thuật hít không đúng, tuân thủ điều trị kém, hút thuốc lát, bệnh đồng mắc hoặc do chẩn đoán không chính xác

Hen nặng là một nhóm con của hen khó trị

Đây là nhóm mà hen không được kiểm soát mặc

dù tuân thủ điều trị tối ưu và đã điều trị các yếu tố ảnh hưởng, hoặc trở nên xấu hơn khi giảm điều trị liều cao Có lẽ, hen nặng chẩn đoán hồi cứu vì hen

Trang 2

giải quyết các yếu tố ảnh hưởng như kỹ thuật hít

và tuân thủ điều trị

Trong 1 nghiên cứu tại Hà Lan, tần suất bệnh

nhân hen cần điều trị GINA bậc 4-5 là 24%, tần suất

hen khó trị (GINA bậc 4-5 và kiểm soát triệu chứng

kém) là 17%, còn tần suất hen nặng (GINA bậc 4-5

và kiểm soát triệu chứng kém và tuân thủ điều trị tốt

và kĩ thuật sử dụng dụng cụ hít tốt) là 3.7% [4]

Bệnh nhân hen nặng phải chịu gánh nặng

triệu chứng, các đợt cấp và tác dụng phụ của thuốc

Thường xuyên khó thở, khò khè, nặng ngực và ho

cản trở cuộc sống hàng ngày Bệnh nhân thường

có những đợt cấp nặng Tác dụng phụ của thuốc

cũng thường gặp trên nhóm bệnh nhân này, đặc

biệt bệnh nhân dùng OCS [2],[5]

2 Đánh giá và quản lý bệnh nhân hen khó

trị/ hen nặng

Việc đánh giá tình trạng hen của bệnh nhân

chỉ là hen chưa kiểm soát hay hen khó trị/ hen

nặng rất quan trọng, từ đó giúp đưa ra hướng xử

trí phù hợp với từng trường hợp [1]

Đầu tiên, cần xác định lại chẩn đoán hen, liệu

bệnh nhân đã được chẩn đoán hen chính xác hay

chưa? Cần hỏi bệnh sử, thăm khám kĩ lưỡng và

cần nghĩ đến các chẩn đoán phân biệt ở các bệnh

nhân này Khó thở có thể do COPD, bệnh lý tim

mạch, bép phì, suy nhược… Ho có thể do rối loạn

chức năng dây thanh (VCD), hội chứng nhỏ mũi

sau, GERD, giãn phế quản, lao, dùng thuốc ức chế

men chuyển… Khò khè có thể do béo phì, COPD,

VCD, dị vật phế quản… Việc sử dụng hô hấp ký

có test dãn phế quản cung cấp thêm bằng chứng

của tắc nghẽn đường dẫn khí nhỏ có hồi phục

Sau khi đã chẩn đoán xác định hen, cần đánh

giá các yếu tố có thể ảnh hưởng đến triệu chứng

hen và đợt cấp như kỹ thuật sử dụng dụng cụ hít

không chính xác (có thể gặp ở 80% bệnh nhân)

[7], tuân thủ điều trị kém (tới 75% bệnh nhân hen) [6], bệnh đồng mắc, các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi, yếu tố khởi phát, việc lạm dụng thường xuyên SABA, lo lắng, trầm cảm và các vấn đề xã hội và kinh tế và cần lưu ý tác dụng phụ của thuốc Trong việc quản lý hen chưa kiểm soát hay hen khó trị/ hen nặng, việc tối ưu hóa điều trị và đánh giá đáp ứng điều trị cần thực hiện đầy đủ Nhóm bệnh nhân này nên được xem xét sử dụng các nhóm thuốc khác (LABA, LAMA, LTRA…) kết hợp với ICS Bệnh nhân nên được cung cấp

và hướng dẫn sử dụng kế hoạch hành động, kiểm tra thường xuyên kĩ thuật sử dụng và độ tuận thủ dụng cụ hít của bệnh nhân Đối với bệnh nhân có bệnh đồng mắc và các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi, cần điều trị ổn định các bệnh đồng mắc và

và các yếu tố nguy cơ này Ở một số bệnh nhân,

có thể xem xét các điều trị không dùng thuốc như cai thuốc lá, tập thể dục, tránh các dị nguyên… Hẹn tái khám và đánh giá đáp ứng điều trị sau

3 tháng, cần đánh giá triệu chứng (tần suất triệu chứng, giới hạn vận động, thức giấc ban đêm…), việc sử dụng thuốc cắt cơn, đợt cấp, tác dụng phụ của thuốc, chức năng hô hấp, lý tưởng nhất có thể đánh giá mực độ hài lòng cũng như các vấn đề khó khăn của bệnh nhân trong điều trị hen

Bệnh nhân hen nặng theo GINA là những bệnh nhân:

• Sau theo dõi điều trị 3-6 tháng, hen của bệnh nhân vẫn chưa kiểm soát thì đây là nhóm bệnh nhân hen nặng

• Bệnh nhân hen chưa kiểm soát được điều trị kiểm soát hen tốt, nhưng khi bậc điều trị thì hen không kiểm soát trở lại hoặc vào đợt cấp Cần phải nâng bậc điều trị trở lại để bệnh nhân đạt được kiểm soát hen

Ở nhóm bệnh nhân hen nặng, theo GINA, cần đánh giá phenotype của bệnh nhân để chọn lựa điều trị phù hợp Bệnh nhân được chia thành nhóm

Trang 3

nặng, thường đáp ứng tốt với ICS) và viêm không

type 2 Trên lâm sàng, để nhận diện viêm type 2,

bệnh nhân cần có 1 hoặc nhiều đặc điểm sau [3]:

• Bạch cầu ái toan máu ≥150 / μl và / hoặc

• FeNO ≥20ppb và / hoặc

• Bạch cầu ái toan đờm 2% và / hoặc

• Hen do dị ứng

• Cần sử dụng OCS

Nên lập lại đo bạch cầu ái toan máu, FeNO

3 lần trước khi khẳng định bệnh nhân hen nặng

viêm không type 2

Ở bệnh nhân hen nặng viêm type 2, cần xem

xét sử dụng ICS liều cao (nếu chưa dùng), liều

OCS thấp nhất có thể, hoặc các thuốc sinh học

như anti-IgE, anti-IL5/5R hoặc anti-IL4R

Ở bệnh nhân hen nặng viêm không type 2, nên đánh giá lại toàn diện bệnh nhân như xem xét chẩn đoán phân biệt, kĩ thuật hít, bệnh đồng mắc, tác dụng phụ của thuốc… Nếu cần thiết, sử dụng các cận lâm sàng khác (CT ngực, nội soi phế quản…) để hỗ trợ chẩn đoán phân biệt Hạn chế cho bệnh nhân tiếp xúc với các yếu tố khởi phát Điều trị trên nhóm bệnh nhân này cần xem xét các nhóm thuốc không sinh học (nếu chưa dùng) như LAMA, LTRA… Hiện tại, chưa có thuốc sinh học cho nhóm bệnh nhân này

3 Kết luận

Phần lớn bệnh nhân hen chưa kiểm soát có thể được kiểm soát với việc đánh giá toàn diện và điều trị phù hợp Chỉ một số nhỏ bệnh nhân hen thực sự

là “hen nặng” Quản lý bệnh nhân hen nặng đòi hỏi

sự hợp tác giữa bệnh nhân, bác sĩ đa khoa, bác sĩ chuyên khoa và các nhân viện y tế khác để tối ưu hóa kết quả lâm sàng và sự hài lòng của bệnh nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chung, K F., Wenzel, S E., Brozek, J L., Bush, A., Castro, M., Sterk, P J., et al (2014) International

ERS/ATS guidelines on definition, evaluation and treatment of severe asthma Eur Respir J, 43(2),

343-373�

2 Foster, J M., McDonald, V M., Guo, M & Reddel, H K (2017) “I have lost in every facet of my

life”: the hidden burden of severe asthma Eur Respir J, 50(3)�

3 Global Initiative for Asthma (2019) Difficult-to-treat & severe asthma in adolescent and adult

patients: Diagnosis and Management - A GINA Pocket Guide For Health Professionals�

4 Hekking, P P., Wener, R R., Amelink, M., Zwinderman, A H., Bouvy, M L & Bel, E H (2015)

The prevalence of severe refractory asthma J Allergy Clin Immunol, 135(4), 896-902.

5 Lefebvre, P., Duh, M S., Lafeuille, M H., Gozalo, L., Desai, U., Robitaille, M N., et al (2015)

Acute and chronic systemic corticosteroid-related complications in patients with severe asthma J

Allergy Clin Immunol, 136(6), 1488-1495.

6 Normansell, R., Kew, K M & Stovold, E (2017) Interventions to improve adherence to inhaled

steroids for asthma Cochrane Database Syst Rev, 4, CD012226.

7 Sanchis, J., Gich, I., Pedersen, S & Aerosol Drug Management Improvement, T (2016) Systematic

Review of Errors in Inhaler Use: Has Patient Technique Improved Over Time? Chest, 150(2), 394-406.

Ngày đăng: 08/06/2021, 11:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w