1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ vị thành niên đang sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội tại thành phố hồ chí minh (luận văn thạc sĩ tâm lí học chuyên ngành tâm lí học)

159 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để có thể thực hiện và hoàn thành tốt luận văn thạc sĩ với đề tài "Nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ vị thành niên đang sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Dạ Thảo

NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ

CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN ĐANG SỐNG TRONG CÁC TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Dạ Thảo

NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ

CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN ĐANG SỐNG TRONG CÁC TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Tâm lí học

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ TỨ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây chính là thành quả của một nghiên cứu nghiêm túc do chính tôi tạo ra Kết quả báo cáo thực trạng hoàn toàn trung thực và chưa được công

bố trên bất kì công trình nghiên cứu của tác giả khác

Tác giả luận văn

Phan Thị Dạ Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có thể thực hiện và hoàn thành tốt luận văn thạc sĩ với đề tài "Nhu cầu tham

vấn tâm lý của trẻ vị thành niên đang sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội tại

thành phố Hồ Chí Minh", tác giả đã luôn nhận được những sự ủng hộ, hỗ trợ và

giúp đỡ tận tình của các cấp lãnh đạo, các thầy cô, bạn bè và gia đình

Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban Giám hiệu,

Phòng Sau Đại học, các thầy cô khoa Tâm lý học Trường Đại học Sư phạm Thành

phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tác giả có thể hoàn thành chương trình học tại

trường cũng như thực hiện tốt đề tài này

Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Tứ, người đã dìu

dắt và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình làm luận văn, Cô đã giúp đỡ cho tác giả

rất nhiều về kiến thức, tài liệu và phương pháp để tác giả có thể hoàn thành luận văn

một cách tốt nhất

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn:

- Quản lý, các mẹ, các em ở làng SOS Gò Vấp

- Ban Giám đốc làng Thanh thiếu niên Thủ Đức

- Ban quản lý, các thầy cô thuộc Trung tâm công tác xã hội - Giáo dục Dạy nghề

Thiếu niên Thành phố - Gò Vấp

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài,

song trên thực tế vẫn còn nhiều sai sót và khiếm khuyết Tác giả kính mong nhận

được sự đóng góp ý kiến chuyên môn từ Quý thầy cô, các chuyên gia, bạn bè và đồng

nghiệp để đề tài có thể được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24/10/2020

Tác giả Phan Thị Dạ Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan 3

Lời cảm ơn 4

Mục lục 5

Danh mục các chữ viết tắt 7

Danh mục các bảng 8

Danh mục các hình và biểu đồ 9

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÍ CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN 6

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu đề tài 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Tại Việt Nam 8

1.2 Các khái niệm cơ bản 12

1.2.1 Nhu cầu 12

1.2.2 Tham vấn tâm lí 19

1.2.3 Nhu cầu tham vấn tâm lí 28

1.2.4 Trẻ vị thành niên 31

1.2.5 Nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ vị thành niên 38

1.3 Tiêu chí đánh giá nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ vị thành niên 40

1.3.1 Biểu hiện nhu cầu tham vấn tâm lí qua các mặt 40

1.3.2 Mức độ biểu hiện nhu cầu tham vấn tâm lí 49

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ vị thành niên đang sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội tại Tp Hồ Chí Minh 51

1.4.1 Các yếu tố chủ quan 51

1.4.2 Các yếu tố khách quan 52

Tiểu kết chương 1 54

Trang 6

Chương 2 THỰC TRẠNG NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÍ CỦA TRẺ

VỊ THÀNH NIÊN ĐANG SỐNG TRONG CÁC TRUNG TÂM

BẢO TRỢ XÃ HỘI TẠI TP HỒ CHÍ MINH 57

2.1 Tổ chức nghiên cứu 57

2.1.1 Sơ lược các trung tâm bảo trợ xã hội 57

2.1.2 Mô tả mẫu khách thể nghiên cứu 60

2.1.3 Phương pháp nghiên cứu 62

2.1.4 Kiểm nghiệm mức độ tin cậy của thang đo 66

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ vị thành niên đang sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội tại Tp Hồ Chí Minh 72

2.2.1 Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ vị thành niên thông qua các nội dung tham vấn tâm lí 72

2.2.2 Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ vị thành niên thông qua các hình thức tham vấn 91

2.2.3 Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ vị thành niên thông qua cơ sở vật chất 93

2.2.4 Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ vị thành niên thông qua nguồn nhân lực 96

2.2.5 Kết quả nghiên cứu trường hợp 99

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ vị thành niên đang sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội tại Tp Hồ Chí Minh 104

2.4 Một số biện pháp đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ vị thành niên đang sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội 108

2.4.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 108

2.4.2 Một số biện pháp đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ vị thành niên đang sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội 110

Tiểu kết chương 2 114

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 118

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Sơ lược khách thể nghiên cứu 61

Bảng 2.2 Mức độ quy đổi tương ứng của thang đo 65

Bảng 2.3 Kết quả kiểm nghiệm mức độ tin cậy của thang đo 66

Bảng 2.4 Biểu hiện NC TVTL thông qua nội dung TVTL về học tập 74

Bảng 2.5 Biểu hiện NC TVTL thông qua nội dung TVTL về hướng nghiệp 75

Bảng 2.6 Biểu hiện NC TVTL thông qua nội dung TVTL về các vấn đề tâm lí lứa tuổi, giới tính, hôn nhân, sức khỏe sinh sản 77

Bảng 2.7 Biểu hiện NC TVTL thông qua nội dung TVTL về mối quan hệ với người nuôi dưỡng, anh chị em sống cùng 79

Bảng 2.8 Biểu hiện NC TVTL thông qua nội dung TVTL về mối quan hệ với thầy cô 82

Bảng 2.9 Biểu hiện NC TVTL thông qua nội dung TVTL về mối quan hệ với bạn bè 84

Bảng 2.10 Biểu hiện NC TVTL thông qua nội dung TVTL về cảm xúc, suy nghĩ của bản thân 86

Bảng 2.11 Biểu hiện NC TVTL thông qua nội dung TVTL về các kỹ năng tự bảo vệ, phòng chống bạo lực, xâm hại 88

Bảng 2.12 So sánh sự khác biệt về NC TVTL giữa giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn 90

Bảng 2.13 Biểu hiện NC TVTL thông qua các hình thức TVTL 91

Bảng 2.14 Biểu hiện NC TVTL thông qua cơ sở vật chất 94

Bảng 2.15 So sánh sự khác biệt về NC TVTL giữa giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn 95

Bảng 2.16 Biểu hiện NC TVTL thông qua nguồn nhân lực 96

Bảng 2.17 Các yếu tố ảnh hưởng đến NC TVTTL của trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH 104

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Hình 1.1 Mô hình hoạt động tham vấn học đường tại các trường THCS

trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 10 Biểu đồ 2.1 Nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ VTN đang sống trong các TT

BTXH biểu hiện qua các nội dung TVTL 72 Biểu đồ 2.2 Cách giải quyết khó khăn tâm lí của trẻ VTN đang sống trong

các TT BXTH 106

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội loài người ngày càng phát triển mạnh mẽ trên các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật cũng như ở nhiều lĩnh vực khác Song song đó, đời sống tâm lí của con người cũng trở nên đa dạng và phong phú để đáp ứng những đòi hỏi của xã hội Những sự thay đổi này giúp cho cuộc sống thêm nhiều màu sắc hơn, mới mẻ hơn Tuy nhiên, nếu sự thay đổi diễn ra quá mạnh mẽ, liên tục và nhanh chóng thì sẽ có tác động tiêu cực đến sức khỏe của con người cả mặt thể chất lẫn tinh thần

Những khó khăn trong cuộc sống mà mỗi người cần đối mặt như những thông tin tiêu cực, những tệ nạn xã hội, những nỗi buồn đau, mất mát… phần nào khiến con người trở nên trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn, nhưng một mặt khác cũng gây ra những căng thẳng tâm lí, khó khăn trong đời sống tinh thần của con người Trước những khó khăn tâm lí đó, con người dần dần bộc lộ nhu cầu cần được chia sẻ, được thông cảm và thấu hiểu bởi người khác, họ trao đổi những câu chuyện, thông tin với nhau hay nói một cách khác là họ nảy sinh nhu cầu tham vấn tâm lí (NC TVTL) TVTL là hoạt động trợ giúp tâm lí, giáo dục không chỉ ở người trưởng thành

mà còn ở trẻ vị thành niên (VTN) - một giai đoạn có nhiều sự thay đổi Lứa tuổi VTN

là giai đoạn quá độ, giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn với rất nhiều những chuyển biến tâm lí đa dạng và phức tạp ở trẻ VTN nói chung và trẻ VTN có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng Sự xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành do kết quả biến đổi mạnh mẽ của ý thức và tự ý thức, của nội dung và hình thức hoạt động học tập, của mối quan hệ ứng xử với người lớn, với bạn bè, của tính tích cực xã hội ở các em Điều này làm cho các em luôn tò mò, thích khám phá thế giới, độc lập trong học tập và các hoạt động xã hội Tuy nhiên, do sự hiểu biết còn nhiều hạn chế nên các em gặp không ít khó khăn trong học tập, tu dưỡng, cũng như xây dựng quan

hệ ứng xử với thầy cô giáo, với cha mẹ và bạn bè để đáp ứng được kỳ vọng, trông đợi của gia đình, nhà trường và xã hội

Do đặc thù bản thân và môi trường sống mà ở trẻ VTN đang sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội (TT BTXH) mang một số đặc điểm tâm lí như dễ tổn thương,

Trang 11

mặc cảm tự ti, tội lỗi, tự trách bản thân, có xu hướng làm theo những nhu cầu của người khác mặc dù khả năng ứng phó, khả năng độc lập tương đối cao Đồng thời,

sự trợ giúp cho trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH chủ yếu là sự trợ giúp về điều kiện vật chất, ngày nay điều kiện tinh thần cũng đã bắt đầu được quan tâm tuy nhiên chưa đủ để đáp ứng cho nhu cầu tâm lí, cho sự phát triển đầy đủ về lòng tự trọng, sự tự tin ở trẻ VTN có hoàn cảnh đặc biệt Điều đó dẫn đến tâm lí bi quan đối với bản thân, với người khác và với tương lai của chính bản thân trẻ VTN

Hầu hết trẻ VTN đều cần có sự giúp đỡ của người lớn để có thể ứng phó được với khủng hoảng tâm lí trong quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách Điều này

có nghĩa là trẻ VTN nói chung và trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH nói riêng đều đang có NC TVTL, nhận định được nhu cầu này, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã ban hành thông tư số 31/2017 hướng dẫn thực hiện công tác tham vấn tâm lí cho học sinh

Hiện nay, hoạt động TVTL ở Việt Nam đang phát triển tương đối rộng với nhiều loại hình tham vấn đa dạng và phong phú nhằm trợ giúp cho thân chủ nâng cao khả năng tự giải quyết những khó khăn tâm lí gặp phải trong cuộc sống Tuy nhiên, hoạt động tham vấn chuyên biệt cho trẻ VTN để đáp ứng NC TVTL ở các em trong lĩnh vực học tập và quan hệ giao tiếp, ứng xử vẫn còn là một lĩnh vực tương đối xa

lạ, chưa có nhiều nghiên cứu và ứng dụng

Năm 2010, trong Tuyển tập báo cáo Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học lần thứ 7 ĐH Đà Nẵng, tác giả Nguyễn Thị Phương Trang đã có bài viết về NC TVTL của trẻ mồ côi sống tại trung tâm nuôi dạy trẻ em khó khăn thành phố Đà Nẵng, nghiên cứu cho thấy có đến 32,9% trẻ sống tại trung tâm rất mong muốn được TVTL

và 41,2% trẻ sống tại trung tâm mong muốn được TVTL Đồng thời, có rất nhiều nội dung TVTL mà trẻ sống tại trung tâm muốn được tham vấn, trong đó, nội dung tham vấn về học tập chiếm tỉ lệ cao nhất 21%, tiếp đến là nghề nghiệp trong tương lai 18,2%, nội dung tham vấn về tình yêu chiếm 14,1% và tình bạn chiếm 14,7% Ngoài

ra, các nội dung tham vấn khác như quan hệ với người lớn, quan hệ với thầy cô, quan

hệ với anh chị em sống cùng, vấn đề giới tính, vấn đề sức khỏe sinh sản… cũng rất được trẻ sống tại trung tâm quan tâm (Nguyễn Thị Phương Trang, 2010)

Trang 12

Năm 2012, tác giả Lê Thu Trang cũng đã nghiên cứu về NC TVTL của trẻ VTN

vi phạm pháp pháp luật ở Trường Giáo dưỡng số 2 Ninh Bình, thông qua nghiên cứu tác giả cho thấy nhu cầu được TVTL đối với trẻ VTN tại trường giáo dưỡng ở mức độ rất cao (80,1%), trẻ tại trường giáo dưỡng mong muốn được nhà tham vấn thấu hiểu, cũng như được mọi người chấp nhận Những chủ đề tham vấn mà trẻ VTN vi phạm phạm pháp luật muốn được trợ giúp gồm: lo lắng về gia đình (65,2%), lo lắng khi trở

về cộng đồng (45,4%), lo sợ quay lại con đường cũ (48,2%), ứng xử trong trường (41,1%), lo lắng về công việc tương lai (42,6%), lo lắng về chỉ tiêu lao động, học tập ( 37,6%), không có sự hiểu biết về sức khỏe tình dục và bạn bè, người yêu bỏ (19,9%) (Lê Thu Trang, 2012)

Có nhiều công trình nghiên cứu về NC TVTL của trẻ VTN, tuy nhiên nghiên cứu về NC TVTL của trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH còn rất hạn chế Xuất phát từ lý luận và thực tế trên, mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên

cứu của đề tài “Nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ vị thành niên đang sống trong các

Trung tâm Bảo trợ xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh” được xác lập

2 Mục đích nghiên cứu

Xác định thực trạng NC TVTL của trẻ VTN, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp đáp ứng NC TVTL cho trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH tại Tp Hồ Chí Minh

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số lí luận liên quan đến đề tài như: nhu cầu, tham vấn tâm lí, nhu cầu tham vấn tâm lí, nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ VTN, đặc điểm tâm lí của trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH

- Xác định thực trạng NC TVTL của trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH

- Đề xuất một số biện pháp nhằm đáp ứng NC TVTL của trẻ VTN đang sống

trong các TT BTXH

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: NC TVTL của trẻ VTN

- Khách thể nghiên cứu: trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH

Trang 13

5 Giả thuyết nghiên cứu

- Biểu hiện NC TVTL của trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH thông qua nội dung TVTL, hình thức TVTL, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực Trong đó, biểu hiện NC TVTL ở mức độ trung bình và không đồng đều giữa các nội dung TVTL, hình thức TVTL

- Có sự khác biệt về biểu hiện NC TVTL thông qua nội dung TVTL, hình thức TVTL, cơ sở vật chất theo các nhóm tuổi và giới tính

- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến NC TVTL của trẻ VTN đang sống trong các

TT BTXH gồm yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, nhưng yếu tố chủ quan ảnh hưởng nhiều hơn

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung làm rõ mức độ biểu hiện NC TVTL của trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH dưới góc độ các đặc điểm của nhu cầu (đối tượng thỏa mãn nhu cầu, phương thức thỏa mãn và các hình thức, điều kiện thỏa mãn), cụ thể là các biểu hiện thông qua nội dung TVTL, hình thức TVTL, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực

6.2 Giới hạn khách thể nghiên cứu

30 - 35 trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH tại thành phố Hồ Chí Minh Trẻ VTN có độ tuổi từ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi và được chia thành 2 nhóm

Nhóm 1: từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Nhóm 2: từ 16 tuổi dưới 18 tuổi

6.3 Giới hạn địa bàn nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu tại 3 cơ sở bao gồm: Làng thanh thiếu niên Thủ Đức - Thủ Đức, Làng SOS Gò Vấp - Gò Vấp, Trung tâm Công tác xã hội - Giáo dục Dạy nghề Thiếu niên Thành phố - Gò Vấp Trong luận văn, Làng thanh thiếu niên, Làng SOS, Trường dạy nghề được hiểu như TT BTXH xét về mặt quản lí hành chính

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Thông qua việc tìm đọc, phân tích, so sánh và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu, tác giả xây dựng hệ thống cơ sở lí luận cho đề tài NC

Trang 14

TVTL của trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Để tìm hiểu về thực trạng NC TVTL của trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH và các biểu hiện qua nội dung TVTL, hình thức TVTL, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, tác giả sử dụng các phương pháp sau:

7.2.1 Phương pháp phỏng vấn

- Mục đích: tìm hiểu thực trạng biểu hiện NC TVTL qua nội dung TVTL của trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH

- Nội dung: sử dụng hình thức phỏng vấn trực tiếp trẻ VTN đang sống trong các

TT BTXH ở độ tuổi từ 13 đến dưới 18 tuổi nhằm thu thập thông tin một cách trực tiếp về nội dung NC TVTL

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Mục đích: nhằm thu thập thông tin về mức độ biểu hiện của NC TVTL thông qua nội dung TVTL, hình thức TVTL, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực

- Nội dung: các nội dung liên quan đến biểu hiện NC TVTL của trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH

7.2.3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp

- Mục đích: phân tích sâu hơn NC TVTL của trẻ VTN qua những trường hợp

cụ thể

- Nội dung: tìm hiểu, thu thập thông tin về hoàn cảnh gia đình, các khó khăn tâm lí và NC TVTL để có thêm cơ sở hiểu về NC của trẻ

7.3 Phương pháp thống kê

- Mục đích: xử lí số liệu thống kê nhằm bổ sung cơ sở để bình luận số liệu thu thập được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Cách thực hiện: sử dụng phần mềm SPSS để xử lí kết quả thống kê

Trang 15

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NHU CẦU THAM VẤN

TÂM LÍ CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu đề tài

1.1.1 Trên thế giới

Năm 1930, tham vấn chính thức ra đời do công của E.G Williamson 1979), đây cũng là lần đầu tiên xuất hiện một lí thuyết hoàn chỉnh của tham vấn Tiếp theo đó, sự du nhập và hình thành các trường phái Tâm lí học khác nhau để thay thế,

(1900-bổ sung cho trường phái Phân tâm học của Freud đang thịnh hành trong giai đoạn này

Cùng với sự phát triển của các trường phái tâm lí thì các nhà nghiên cứu cũng bắt đầu chú ý đến các khía cạnh khác như kỹ thuật, lợi ích, tiềm năng mà TVTL đem lại cho thân chủ, đặc biệt là những thân chủ chưa trưởng thành như trẻ VTN

Năm 2014, hai tác giả Jenny Shumba và George Moyo đã tiến hành nghiên cứu trường hợp của 13 học sinh trung học được lựa chọn có chủ đích và 4 chuyên viên tham vấn học đường từ hai trường trung học tại Harare Metropolitan, một tỉnh ở phía bắc Zimbabwe (Jenny Shumba và George Moyo, 2014)

Kết quả nghiên cứu cho thấy hấu hết những đứa trẻ mất người thân sẽ trải qua cảm giác đau đớn và nỗi nhớ Từ sự đau khổ này một số trẻ có cảm giác sẽ trả thù cho người thân của họ, sự tổn thương dường như bắt nguồn rất sâu sắc và gợi lên những cảm xúc báo thù sâu sắc hơn việc tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người có thể thông cảm Ý tưởng tự sát cũng được chứng minh do nỗi đau mất mát Ví dụ một đứa

trẻ đã gợi ý điều này khi trẻ tâm sự rằng: “Cái chết của mẹ tôi thực sự làm tôi đau

đớn Đến giờ tôi vẫn đau đớn Nếu tôi đi sâu vào suy nghĩ về nó thì tôi đã làm tôi căng thẳng và đôi khi tôi nghĩ đến việc phạm phải những điều tồi tệ, đôi khi tôi ước mình đã chết”

Nghiên cứu cũng chỉ ra những khó khăn của các chuyên viên tham vấn học đường khi làm công việc tham vấn như:

+ Thiếu sự hỗ trợ từ đồng nghiệp, chuyên viên tham vấn học đường cần có sự

hỗ trợ đồng đẳng trong quá trình làm việc

Trang 16

+ Cảm thấy khó khăn khi đối mặt với nan đề bị lạm dụng tình dục

+ Xuất hiện sự phụ thuộc vào tình cảm, cảm xúc của trẻ mất mát người thân với chuyên viên tham vấn học đường

+ Quy trình hỗ trợ liên quan đến nhiều khía cạnh xã hội và thiếu sự đồng bộ trong việc cung cấp các chính sách hỗ trợ

Dựa trên những phát hiện trên, nghiên cứu kết luận rằng những đứa trẻ mất mát người thân đã trải qua nhiều tình huống ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến việc đi học và khiến chúng cần được tham vấn về sự mất mát Tuy nhiên quá trình tham vấn học đường tại các trường học ở Harare gặp khó khăn do thái độ tiêu cực đối với chuyên viên tham vấn học đường; thiếu kế hoạch đúng đắn và bản chất phản ứng của tham vấn mất người thân trong các trường học; các trường không có chính sách cũng như không đặt ra các thủ tục về tham vấn mất người thân (Jenny, S., và George, M., 2014)

Năm 2016, trong một tạp chí khoa học ở Ấn Độ, tác giả Dar Sameena và cộng

sự đã tái khẳng định rằng việc TVTL cho trẻ VTN sẽ góp phần hữu ích cho việc xác định sớm và phòng ngừa các vấn đề sức khỏe tâm thần Tác giả cũng cho rằng lứa tuổi VTN thường là giai đoạn khỏe mạnh nhưng có một số yếu tố nguy cơ của bệnh trưởng thành bắt đầu ở tuổi VTN và có thể được ngăn ngừa bằng các biện pháp can thiệp thích hợp trong giai đoạn này Ở độ tuổi VTN có sự mâu thuẫn nội tại giữa việc trở nên độc lập và cần sự trợ giúp, vì vậy TVTL là điều cần thiết (Dar Sameena et al., 2016)

Năm 2017, hai tác giả Ridwan B Pramono và Dwi Astuti đã tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm ứng dụng liệu pháp nhận thức hành vi (Cognitive Behavioral Therapy - CBT) trong việc cải thiện sự tự chấp nhận bản thân của trẻ VTN sống trong trại trẻ mồ côi Nghiên cứu tiến hành với hai nhóm đối chứng và thực nghiệm, mỗi nhóm có 12 trẻ nam ở độ tuổi VTN đang sống trong trại trẻ mồ côi tham gia Kết quả nghiên cứu cho thấy liệu pháp nhận thức hành vi đóng góp khoảng 68,6% vào việc cải thiện sự tự chấp nhận bản thân ở trẻ mồ côi trong độ tuổi VTN Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những tác động trong đời sống hằng ngày như: cảm thấy chán nản, nhận được sự đối xử bất lợi, thiếu sự hỗ trợ, gây hấn bằng lời nói hoặc những lời nói làm

Trang 17

mất tự tin dễ khiến trẻ mồ côi cảm thấy khác biệt, bản thân ít giá trị, dễ tấn công bằng bạo lực, dễ bị bắt nạt và có xu hướng rút lui, trốn tránh khỏi cộng đồng vì vậy việc TVTL đối với trẻ VTN mồ côi là điều rất cần thiết (Ridwan, B., P., và Dwi, A.,2017)

1.1.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam vấn đề nghiên cứu và tìm hiểu về NC TVTL ở nhiều lứa tuổi đã xuất hiện từ rất sớm và đạt được những thành quả nhất định Năm 1989, Trung tâm Nghiên cứu Tâm lí trẻ em và tâm bệnh lý được sáng lập và lãnh đạo bởi BS Nguyễn Khắc Viện Trung tâm cũng cho xuất bản tờ “Thông tin khoa học tâm lí”, đặc biệt quan tâm đến những trẻ em bị rối loạn tâm trí do hoàn cảnh

Năm 2002 và năm 2003, tác giả Trần Thị Minh Đức có các bài viết về TVTL như “Bàn về hiệu quả của Tư vấn trên báo”; “Thực trạng tham vấn ở Việt Nam: Từ

lý thuyết đến thực tế” (Trần Thị Minh Đức, 2003, 2002)

Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về NC TVTL, đặc biệt NC TVTL của nhóm trẻ VTN bắt đầu được chú trọng và phát triển Các tác giả tập trung nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng phân chia theo hai xu hướng chủ yếu + Xu hướng thứ nhất: nghiên cứu đánh giá thực trạng NC TVTL của trẻ + Xu hướng thứ 2: nghiên cứu đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp nhằm đáp ứng NC TVTL cho trẻ

Năm 2007, tác giả Phan Thị Mai Hương và cộng sự trong cuốn “Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn” đã khẳng định sự cần thiết của hoạt động TVTL nhằm giúp trẻ VTN có khả năng lựa chọn cách ứng xử tích cực, thích hợp với hoàn cảnh và tạo nhân tố cho sự phát triển nhân cách (Phan Thị Mai Hương

et al., 2007)

Năm 2012, tác giả Lê Thu Trang trong nghiên cứu “Nhu cầu tham vấn tâm lí của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật tại trường giáo dưỡng” đã chỉ ra rằng hơn 80% trẻ VTN cảm thấy TVTL là rất cần thiết Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, TVTL đem lại những hiệu quả nhất định đối với trẻ VTN như giải tỏa những bức xúc (85.1%), có cơ hội trò chuyện, nói lên những tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của mình (43,3%), có nhận thức và lối sống tích cực (39,7%), hiểu biết nhiều hơn về cuộc sống (33,3%) Tác giả cũng cho thấy NC TVTL của trẻ VTN tại trường giáo dưỡng

Trang 18

nói riêng và trẻ VTN nói chung là rất cao (hơn 50%) Trẻ VTN cũng có mong muốn được tham vấn và giúp đỡ với nhiều hình thức khác nhau như: tham vấn cá nhân (70,9%), tham vấn nhóm (16,3%), sinh hoạt ngoại khóa (34,8%) (Lê Thu Trang, 2012)

Năm 2012, tác giả Hoàng Thị Tâm và cộng sự trong một nghiên cứu về trẻ VTN đang học tại trường THPT Đồng Hới, Quảng Bình cũng cho thấy có hơn 70% trẻ VTN cảm thấy cần thiết hoặc rất cần thiết đối với việc TVTL Trẻ VTN đang đi học có NC TVTL về những lĩnh vực như: học tập, quan hệ ứng xử với giáo viên, với bạn bè, với bạn khác giới, với các thành viên trong gia đình, hướng nghiệp Trong đó lĩnh vực học tập chiếm mức độ cao bởi áp lực học tập ngày một nhiều Bên cạnh đó nghiên cứu cũng cung cấp thêm rằng có khoảng 76.4% trẻ VTN có NC được tham vấn tại trường bởi các chuyên viên chuyên nghiệp có kiến thức chuyên môn Tác giả gợi ra các biện pháp nhằm cải thiện NC TVTL của trẻ VTN tại trường học như: nâng cao nhận thức và hiểu biết về TVTL cho học sinh, nâng cao nhận thức về vai trò của TVTL với giáo viên, các bộ quản lí giáo dục, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ TVTL, chú trọng sự đa dạng trong nội dung và hình thức TVTL (Hoàng Thị Tâm và Trần Thị Tú Anh, 2012)

Năm 2016, tác giả Nguyễn Thị Trâm Anh và cộng sự trong một công trình nghiên cứu đã đề ra mô hình TVTL cho trẻ VTN đang học tại các trường THCS trên địa bàn TP Đà Nẵng biểu thị theo sơ đồ sau:

Trang 19

Hình 1.1 Mô hình hoạt động tham vấn học đường tại các trường THCS trên

địa bàn thành phố Đà Nẵng (Nguồn: Nguyễn Thị Trâm Anh)

Tác giả cũng đề ra tiến trình cho hoạt động tham vấn như sau:

+ Lập kế hoạch tham vấn học đường cho học sinh, phụ huynh và giáo viên trong trường theo năm học, từng học kỳ, từng tháng dựa trên cơ sở nghiên cứu sàng lọc và phát hiện vấn đề trong tình huống học đường, tâm lí lứa tuổi

+ Xây dựng/lựa chọn công cụ đánh giá nhằm chẩn đoán các khía cạnh khác nhau hỗ trợ cho việc xác định đúng đắn vấn đề của học sinh

+ Tìm hiểu và tiếp cận học sinh: Thông tin tìm hiểu về học sinh có thể qua nhiều kênh thông tin khác nhau, tuy nhiên cần tránh bị nhiễu thông tin và định kiến bởi thông tin mang lại, do vậy việc lấy thông tin từ chính học sinh là thông tin tốt nhất Việc tiếp cận học sinh có nhu cầu tham vấn cần là một sự tiếp cận tự nhiên thông qua các hoạt động trong nhà trường và ngoài nhà trường và cần có phương pháp thúc đẩy nhu cầu được tham vấn từ phía học sinh

+ Tham vấn cá nhân/nhóm/gia đình: Lựa chọn hình thức tham vấn phù hợp với vấn đề, đặc điểm tâm lí của thân chủ là học sinh

+ Lượng giá thường xuyên và lượng giá kết thúc cho hoạt động tham vấn

Trang 20

+ Công tác lưu trữ hồ sơ theo mã số và theo dõi học sinh sau khi kết thúc tham vấn

+ Nghiên cứu này cũng cho thấy có khoảng 94,1% học sinh mong muốn người tham vấn là người có chuyên môn, được đào tạo chính quy Hình thức tham vấn mà trẻ mong muốn chủ yếu là tham vấn trực tiếp bởi trẻ VTN mong muốn được chia sẻ và giải quyết vấn đề một cách cặn kẽ, có khoảng 24% trẻ VTN lựa chọn hình thức tham vấn gián tiếp là qua internet bởi các em cho rằng như vậy có thể đảm bảo được bí mật cá nhân và dễ bộc lộ suy nghĩ của mình hơn” (Nguyễn Thị Trâm Anh et al., 2016)

Năm 2018, tác giả Lê Ngọc Hân đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhu cầu tham vấn tâm lí của học sinh trung học phổ thông ở Trường phổ thông dân tộc nội trú tại Thành phố Cần Thơ”, kết quả nghiên cứu cho thấy học sinh THPT có NC TVTL biểu hiện qua nội dung TVTL ở mức độ thỉnh thoảng với NC TVTL về nội dung các kỹ năng sống là cao nhất (ĐTB=3,30) Trong đó bao gồm các kỹ năng như: “mong muốn biết cách nói lời yêu thương (ĐTB=3,39), muốn có kỹ năng tự nhận thức (ĐTB=3,39), muốn được học về kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ (ĐTB=3,39), muốn được học về kỹ năng ứng phó với căng thẳng (ĐTB=3,36), muốn được tăng cường kỹ năng thể hiện sự tự tin (ĐTB=3,36), muốn nắm vững kỹ năng giao tiếp (ĐTB=3,36) …”

Bên cạnh đó, học sinh THPT còn quan tâm đến các nội dung TVTL khác và

có NC TVTL ở các lĩnh vực như: tâm lí lứa tuổi thanh niên, học sinh, học tập - hướng nghiệp, các mối quan hệ và các vấn đề cá nhân

Nghiên cứu còn đánh giá NC TVTL của học sinh THPT qua hình thức TVTL, kết quả cho thấy học sinh mong muốn sẽ được TVTL thông qua các họa động lồng ghép vào tiết học, hoặc các chuyên đề, diễn đàn… thường xuyên hơn so với tham vấn

cá nhân và trực tiếp (Lê Ngọc Hân, 2018)

Nhìn chung vấn đề NC TVTL của trẻ VTN đã được nhiều nhà nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới khai thác Tuy nhiên các đề tài chủ yếu tập trung vào NC TVTL học đường hoặc có một số nghiên cứu dưới góc độ NC TVTL của trẻ VTN vi phạm pháp luật, nhóm trẻ VTN có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ mồ côi, cơ nhỡ, trẻ VTN đang sống trong các TT BTXH vẫn còn hạn chế

Trang 21

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Nhu cầu

a) Khái niệm nhu cầu

Tính đến thời điểm hiện tại, nhu cầu được xem xét từ nhiều khía cạnh khác

nhau Theo từ điển Oxford Psychology định nghĩa “nhu cầu là thiếu một cái gì đó

mà sự thiếu thốn đó là cần thiết cho sự sống còn” hay nói một cách khác “nhu cầu

là một trạng thái động lực do thiếu một thứ gì đó mà một sinh vật đòi hỏi hoặc mong muốn đạt được” (Andrew, M., C., 2000)

Từ điển Tâm lí học của Hiệp hội Tâm lí APA cũng có định nghĩa “nhu cầu

là một tình trạng căng thẳng trong một sinh vật do thiếu một cái gì đó cần thiết cho

sự sống còn, hạnh phúc hoặc hoàn thiện cá nhân”

Theo tác giả M.S Bhatia “nhu cầu là một thuật ngữ mơ hồ đề cập đến một

trạng thái nội tâm của sự không thỏa mãn hoặc căng thẳng liên quan đến sự mong muốn, sự thôi thúc hoặc kích thích hành vi nội sinh khác Nhu cầu còn có ngụ ý một kích thích bên trong bẩm sinh hoặc bản năng của con người” (Bhatia, M., S., 2009)

Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cùng cộng sự của mình trong cuốn Tâm lí học

đại cương đã định nghĩa “nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu khách quan được con

người phản ánh trong những điều kiện cụ thể và thấy cần được thoả mãn để tồn tại

và phát triển” (Nguyễn Quang Uẩn, 2000)

Tác giả Trần Tuấn Lộ định nghĩa về nhu cầu như sau “nhu cầu là những cái,

những điều mà mỗi người chúng ta cần, mong và muốn được thỏa mãn trong suốt cuộc đời hoặc chỉ trong một giai đoạn nào đó của cuộc đời hoặc trong những lúc nào

đó mà thôi” (Trần Tuấn Lộ, 2014)

“Nhu cầu là một lực động xuất phát từ cơ thể, trong khi đó áp lực là lực tác động vào cơ thể, không cái nào trong hai cái đó (nhu cầu và áp lực) lại tồn tại tách

rời nhau”- định nghĩa này được nêu ra bởi tác giả Henry Murray, ông cũng cho rằng

không có nhu cầu nào diễn ra mà không gây ra sự căng thẳng với chủ thể và để giải tỏa sự căng thẳng này chủ thể cần thỏa mãn các áp lực đang có hay nói cách khác là cần thỏa mãn các nhu cầu của chính mình Quan điểm của Murray một lần nữa tái

Trang 22

khẳng định rằng nhu cầu là sự đòi hỏi phải thỏa mãn và nhu cầu không xuất hiện độc lập, riêng lẽ mà nó luôn đi kèm với những hoạt động của chủ thể

Ở góc độ nguồn gốc tích cực của cá nhân thì “nhu cầu con người cần được

hiểu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển với tư cách

là một nhân cách” (Lê Khanh, 2007)

Nhìn chung, nhu cầu là sự thiếu thốn về điều gì đó mà sự thiếu thốn này xuất hiện trong quá trình chủ thể hoạt động, sinh trưởng và phát triển Nhu cầu không xuất hiện một mình vì vậy nhu cầu của cá nhân mang tính đa dạng và phong phú vô cùng Đồng thời, nhu cầu cũng có tính chi phối đến đời sống, hành vi và nhận thức của chủ thể Mặt khác có thể nhận định nhu cầu là trạng thái tâm lí và là nguồn gốc tích cực của cá nhân

Tuy nhiên, không phải tất cả các sự thiếu thốn đều trở thành nhu cầu bởi nhu cầu chỉ xuất hiện khi chủ thể đáp ứng được 3 phương diện sau:

+ Chủ thể ý thức được sự thiếu thốn và cần thiết của một cái gì đó

+ Chủ thể bắt đầu nhận thức được các cách thức, phương thức bù đắp, thỏa mãn sự thiếu thốn

+ Chủ thể nhận thức ý nghĩa của sự thiếu thốn với sự phát triển của bản thân Khi chủ thể đáp ứng cả 3 phương diện trên nghĩa là sự thiếu thốn bắt đầu gây ra trong chủ thể một sự căng thẳng nhất định do nhận ra tình trạng thiếu thốn và cần được bù đắp để phát triển, lúc này sự thiếu thốn trở thành nhu cầu

Tóm lại, nhu cầu được hiểu và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau

nhưng trong luận văn, tác giả sử dụng định nghĩa “nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu

khách quan được con người phản ánh trong những điều kiện cụ thể và thấy cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển” của tác giả Nguyễn Quang Uẩn làm cơ sở lí

luận cho đề tài

b) Đặc điểm của nhu cầu

Tùy thuộc vào cách tiếp cận vấn đề mà các nhà nghiên cứu chỉ ra các đặc điểm của nhu cầu khác nhau Trong cuốn giáo trình Tâm lí học đại cương năm 2001

Trang 23

tác giả Phạm Tất Dong đã xem nhu cầu là một trạng thái tâm lí và diễn ra theo 5 giai đoạn:

+ Nhận ra đối tượng

+ Nảy sinh trạng thái cảm xúc

+ Thúc đẩy tìm kiếm cách thức thỏa mãn nhu cầu

+ Nhu cầu suy yếu

+ Xuất hiện sự lặp lại

Một số tác giả khác như tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến và Trần Quốc Thành trong cuốn giáo trình Tâm lí học đại cương dùng để giảng dạy tại

ĐH Huế (năm 2000), tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang trong cuốn tâm lí học đại cương (năm 2007), hay cuốn Tâm lí học đại cương do tác giả Huỳnh Văn Sơn chủ biên (Huỳnh Văn Sơn et al., 2012) cũng đã trình bày nhu cầu

có 4 đặc điểm cơ bản sau:

+ Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng Khi nào nhu cầu gặp đối tượng có

khả năng đáp ứng sự thỏa mãn thì lúc đó nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động nhằm tới đối tượng

+ Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó

quy định

+ Nhu cầu có tính chu kỳ

+ Nhu cầu của con người khác xa về chất so với nhu cầu của con vật: nhu

cầu của con người mang bản chất xã hội

Tác giả Nguyễn Xuân Thức và Lê Thị Bừng lại có cùng quan điểm rằng nhu cầu có 3 đặc điểm sau: (Nguyễn Xuân Thức, 2007)

+ Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng (tính đối tượng của nhu cầu)

+ Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó

quy định

+ Nhu cầu có tính chu kỳ

Trong bài giảng tại Học viện Phật giáo Tp Hồ Chí Minh hệ đào tạo từ xa năm 2016, tác giả Ngô Minh Duy có đề cập đến các đặc điểm của nhu cầu như sau: (Ngô Minh Duy, 2016)

Trang 24

+ Phong phú và đa đạng

+ Luôn luôn có đối tượng

+ Nội dụng phụ thuộc: trạng thái thiếu hụt, điều kiện, phương pháp thỏa mãn + Có tính chu kỳ và cường độ tăng dần

+ Chịu sự chi phối của ý thức và có bản chất xã hội

+ Có mối liên hệ mật thiết với cảm xúc

+ Nhu cầu chi phối đời sống tâm lí của con người

Nhìn chung có nhiều quan điểm về đặc điểm của nhu cầu và tùy thuộc vào cách thức tiếp cận mà các tác giả có các quan điểm khác nhau Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng nhu cầu luôn cần phải có đối tượng, nội dung của nhu cầu có sự phụ thuộc vào điều kiện và phương thức thỏa mãn nhu cầu quy định, sự xuất hiện của nhu cầu trong đời sống hằng ngày luôn mang tính chu kỳ và nhu cầu con người khác xa

về chất so với nhu cầu con vật, nhu cầu con người mang bản chất xã hội Kế thừa quan điểm trên về đặc điểm của nhu cầu, trong luận văn, tác giả phân tích 3 đặc điểm

của nhu cầu bao gồm: nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng (tính đối tượng của nhu

cầu), nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thước thỏa mãn nó quy định, nhu cầu có tính chu kỳ

+ Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng (tính đối tượng của nhu cầu) Nhu cầu

bao giờ cũng có đối tượng xác định, đối tượng của nhu cầu nằm ngoài và tồn tại một cách độc lập với chủ thể Đối tượng của nhu cầu có khả năng thỏa mãn nhu cầu thông qua hoạt động, cũng nhờ vậy mà nhu cầu mang tính đối tượng và bản thân đối tượng trở thành động cơ có chức năng thúc đẩy, định hướng cho hoạt động Nói một cách khác, chính tính đối tượng mà nhu cầu đã kích thích sản xuất phát triển và tạo nên mối quan hệ giữa “cung - cầu”, thể hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân với hoàn cảnh Đồng thời, đối tượng của nhu cầu trở thành nội dung của nhu cầu khi được chủ thể ý thức, điều này cũng đồng nghĩa với việc nhu cầu đã xác định được hướng Tuy nhiên, cùng một nhu cầu nhưng mỗi cá nhân sẽ có những đối tượng của nhu cầu khác nhau, việc xác định đối tượng rõ ràng, cụ thể thì ý nghĩa của nhu cầu đối với đời sống của cá nhân và xã hội càng được nhận thức sâu sắc

Trang 25

+ Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó

quy định Trên thực tế, các chủ thể có thể có cùng một nhu cầu nhưng đối tượng của

nhu cầu không tương đồng với nhau từ đó nội dung của nhu cầu không đồng nhất Bên cạnh đó nội dung của nhu cầu còn chịu sự ảnh hưởng từ điều kiện sống, hay nói cách khác nhu cầu là sự phản ảnh về điều kiện sống Nội dung của nhu cầu do điều kiện thỏa mãn nó quy định nghĩa là nhu cầu của con người nằm trong xã hội và do xã hội thỏa mãn, do đó nhu cầu của con người mang tính xã hội Các nhu cầu của con người như học tập, nghiên cứu, thưởng thức nghệ thuật… đều mang tính xã hội rõ rệt Ngay cả những nhu cầu dường như chỉ liên quan đến những chức năng sinh vật của cơ thể con người thì trên thực tế vẫn mang tính xã hội bởi con người không thỏa mãn một cách tùy tiện Nội dung của nhu cầu còn phụ thuộc vào phương thức thỏa mãn nhu cầu Nghĩa là không phải tất cả các nhu cầu đều có thể được thỏa mãn bằng một cách thức mà tùy thuộc điều kiện xã hội giống như C Mác có viết: "đói là đói, song cái đói được thoả mãn bằng thịt chín với cách dùng dao và dĩa thì khác hẳn cái đói bắt buộc phải nuốt bằng thịt sống với cách dùng tay, móng và răng" Từ đó có thể thấy nhu cầu con người phụ thuộc vào điều kiện và phương thức thỏa mãn nó trong thời điểm nảy sinh nhu cầu, vì vậy để nảy sinh nhu cầu tốt cần tạo ra những điều kiện

và phương thức thỏa mãn tương ứng

+ Nhu cầu có tính chu kỳ Nhu cầu được hiểu là sự thiếu thốn về cái gì đó,

mà cái gì đó có khả năng ảnh hưởng đến sự phát triển của chủ thể, khiến chủ thể cần đáp ứng đầy đủ sự thiếu thốn này để thỏa mãn nhu cầu Khi một nhu cầu này được đáp ứng sẽ có những nhu cầu khác cao hơn xuất hiện, nhờ vậy mà con người tích cực hoạt động và liên tiếp thỏa mãn các nhu cầu để nhân cách con người ngày càng hoàn thiện Đồng thời, nhu cầu có tính đối tượng và đối tượng trở thành động cơ hành động hay nói cách khác nhu cầu định hướng cho hoạt động vì vậy khi triệt tiêu một nhu cầu này thì một nhu cầu khác sẽ xuất hiện để đảm bảo cho hành động được diễn ra

liên tục Con người, xã hội cũng từ đó ngày một phát triển hơn

Trang 26

c) Phân loại nhu cầu

Nhu cầu của con người rất đa dạng và phong phú bởi nhu cầu có tính đối tượng Nội dung nhu cầu phụ thuộc vào điều kiện và phương thức thỏa mãn, chính vì vậy mà có rất nhiều cách thức để phân loại nhu cầu

Tác giả H.A Marry đã chia nhu cầu thành 20 loại bao gồm: chiếm ưu thế;

gây hấn; tìm kiếm các mối liên hệ bạn bè; bỏ rơi người khác; tự trị; phục tùng thụ động; tôn trọng, ủng hộ; thành đạt; trở thành trung tâm của sự chú ý; vui chơi; ích kỷ; tính xã hội; tìm người bảo trợ; giúp người; tránh bị trách phạt; tự vệ; vượt qua những thất bại; an toàn; ngăn nắp, trật tự; phán đoán

Một số tác giả khác lại phân chia nhu cầu theo các tiêu chí khác, ví dụ tác giả

Covaliov A.G (1976) đã chia làm ba nhóm chính gồm: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh

thần và nhu cầu chính trị - đạo đức (Phạm Minh Hạc và Lê Đức Phúc, 2004)

Tác giả X.L.Rubinstein lại phân loại nhu cầu theo ba mức độ gồm: ý hướng,

ý muốn, ý định Trong đó, ý hướng là tiền đề của nhu cầu, ở mức độ này chủ thể bắt

đầu có cảm giác thiếu, cần một cái gì đó nhưng chưa rõ ràng Nghĩa là, chủ thể chỉ mới ý thức được sự thiếu hụt về một cái gì đó nhưng sự thiếu hụt đó là cái gì, đối tượng thỏa mãn là gì thì chưa thể ý thức được Nếu chủ thể có thể trả lời cho câu hỏi thiếu hụt về cái gì và đối tượng thỏa mãn là gì thì lúc này nhu đầu ở cấp độ cao hơn, cấp độ ý muốn Tuy nhiên nhu cầu vẫn chưa được thỏa mãn nếu chủ thể chưa tìm ra được phương thức thỏa mãn Ở cấp độ ý muốn, chủ thể có khuynh hướng tìm kiếm cách thức, phương tiện để thỏa mãn sự thiết hụt Ý muốn sẽ chuyển sang ý định khi chủ thể ý thức được đầy đủ sự thiếu hụt đó là gì, đối tượng thoả mãn là gì và các phương thức, phương tiện thỏa mãn là như thế nào Lúc này, chủ thể sẵn sàng hoạt động để thỏa mãn nhu cầu và nhu cầu cũng trở thành sức mạnh nội tại thúc đẩy chủ thể hoạt động một cách có hiệu quả nhằm thỏa mãn nó Có thể nói, ý hướng là cơ sở của ý muốn và ý định là sự thừa kế, phát triển ở mức độ cao hơn của ý hướng, ý muốn (Phạm Minh Hạc và Lê Đức Phúc, 2004)

Trước đó, tác giả Abraham Maslow cũng đã phân chia nhu cầu thành 5 mức

độ từ thấp đến cao như sau: (Nguyễn Thơ Sinh, 2008)

+ Nhu cầu sinh lí: nhu cầu cơ bản như ăn uống, bài tiết, tình dục…

Trang 27

+ Nhu cầu an toàn: cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm,

gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo

+ Nhu cầu tình cảm và được chấp nhận: được dư luận xã hội thừa nhận,

sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ…

+ Nhu cầu cầu được tôn trọng: lòng tự trọng và được người khác tôn trọng + Nhu cầu được thể hiện mình: nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết,

nghiên cứu…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài…) nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân

Vào những năm 1970 và 1990, một số nhà tâm lí học theo trường phái Nhân văn đã hiệu chỉnh thêm 3 bậc bao gồm:

+ Nhu cầu về nhận thức, hiểu biết: học để hiểu biết, góp phần vào kiến thức

chung

+ Nhu cầu về thẩm mỹ: có sự yên bình, ham muốn hiểu biết về những gì

thuộc nội tại

+ Nhu cầu về tự tôn bản ngã: một trạng thái siêu vị kỷ hướng đến trực giác

siêu nhiên, lòng vị tha, hòa hợp bác ái

Erich Fromm đã đề nghị 5 nhu cầu căn bản nơi con người gồm: (Nguyễn Thơ Sinh, 2008)

+ Sự liên hệ: nhu cầu về các mối liên hệ người với người, không thể chấp

+ Nhu cầu về một khung định hướng: nhu cầu nhận thức và nghiên cứu

Tác giả Lê Thị Bừng đã phân chia nhu cầu thành 3 loại cơ bản sau: (Lê Thị

Bừng et al., 2008)

Trang 28

+ Nhu cầu vật chất: là cơ sở cho sự sống, tồn tại, phát triển của con người

và con vật

+ Nhu cầu tinh thần: là những cấu tạo đặc biệt, chỉ con người mới có và nó

chứng tỏ một trình độ cao của nhân cách

+ Nhu cầu xã hội: là nhu cầu liên quan đến mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân

1.2.2 Tham vấn tâm lí

a) Khái niệm

Ngày nay, mặc dù TVTL đã được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống của con người không chỉ trên thế giới mà ngay ở tại Việt Nam nhưng thuật ngữ về TVTL vẫn còn khá mới mẻ và chưa thật sự phổ biến ở một vài độ tuổi Đồng thời, vẫn có nhiều cách hiểu về TVTL hay tham vấn, nhưng trong luận văn, tác giả thống nhất rằng thuật ngữ “tham vấn” và “TVTL” có cùng một nội hàm khái niệm

Năm 2001, trong bài viết ở tạp chí Tâm lí học số 2, tác giả Vũ Kim Thanh có

dẫn chứng về thuật ngữ TVTL theo tổ chức TVTL thế giới như sau: “Tham vấn là

một quá trình trợ giúp dựa trên các kỹ năng, trong đó, một người dành thời gian, sự quan tâm và sử dụng thời gian một cách có mục đích để giúp đỡ thân chủ khai thác tình huống, xác định và triển khai các giải pháp khả thi trong một thời gian cho phép” Khái niệm này đã chỉ ra rằng TVTL chính là một quá trình trợ giúp giữa người

với người, trong đó người trợ giúp cần có những kỹ năng, thời gian và sự quan tâm nhất định đối với người được trợ giúp (Vũ Kim Thanh, 2001)

Trang 29

Carl Rogers đã mô tả về tham vấn như sau: “Tham vấn như là quá trình nhà

tham vấn hay trị liệu sử dụng mối quan hệ tích cực để tạo nên môi trường an toàn giúp đối tượng chia sẻ, chấp nhận và hướng tới thay đổi” (Phạm Thanh Bình, 2012)

Tài liệu tập huấn khóa đào tạo giảng viên nguồn về TVTL của Tổ chức Unicef Việt

Nam đã trình bày rằng: “Tham vấn tâm lí được hiểu như là mối quan hệ tự nguyện

giữa nhà tham vấn và khách hàng Trong mối quan hệ này nhà tham vấn giúp khách hàng tự xác định và tự giải quyết các vấn đề của mình” Từ các khái niệm này có thể

thấy TVTL là một quá trình trợ giúp mà điểm đến là giúp cho thân chủ nhìn nhận vấn

đề của mình và tự giải quyết chúng chứ nhà tham vấn không làm thay cho thân chủ (Tổ chức Unicef Việt Nam, 2002)

Một số định nghĩa khác về TVTL của các tác giả Việt Nam trong những năm gần đây cũng góp phần khẳng định thêm TVTL chính là công cụ hữu hiệu trong việc trợ giúp thân chủ Đặc biệt trong việc giúp thân chủ chấp nhận và tự giải quyết vấn

đề của mình như định nghĩa “tham vấn như là quá trình chuyên gia tham vấn đặt

mình vào vị trí của người đương sự, hiểu vấn đề của đương sự và cùng đương sự chia

sẻ, định hướng cho đương sự cách giải quyết vấn đề của họ chứ không phải thay họ giải quyết vấn đề”

Hay định nghĩa “tham vấn tâm lí là một quá trình trợ giúp tâm lí, trong đó

nhà tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng nhằm trợ giúp thân chủ nhận thức được bản thân, vấn đề và nguồn lực của mình để giải quyết vấn đề của mình theo hướng tích cực” của tác giả Phạm Thanh Bình (Phạm Thanh Bình, 2014)

Bên cạnh đó, còn có các định nghĩ khác về TVTL, ví dụ như tác giả Onner P.K cho rằng, tham vấn tâm lí là một quá trình, vì vậy, nó đòi hỏi nhà tham vấn phải dành thời gian và sử dụng kết hợp các kĩ năng tham vấn một cách thuần thục để có thể trợ giúp cho thân chủ tốt nhất trong phạm vi cho phép Tham vấn là một khoa học thực hành nằm giúp con người vượt qua được những khó khăn tâm lí của chính mình, giúp họ có khả năng hoạt động độc lập trong xã hội bằng chính kĩ năng sống và năng lực của mình (Trần Thị Minh Đức, 2016)

Trang 30

Mielke J định nghĩa: “tham vấn là một quá trình, một mối quan hệ nhằm

giúp đỡ thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác nhận thức và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của thân chủ” (Trần Thị Minh Đức, 2016)

Trong cuốn Từ điển Psychology của Offox có định nghĩa về tham vấn như

sau: “tham vấn là công việc thực hành hay là một ngành nghề mà trong đó áp dụng

các liệu pháp tâm lí và kỹ năng giao tiếp để giúp cho thân chủ về các vấn đề cá nhân,

sự quan tâm hoặc rút ra kinh nghiệm cho chính bản thân họ” Trong định nghĩa này

cũng có cung cấp thêm rằng các nhà tham vấn có thể làm việc với các cá nhân, gia đình, cặp đôi…ở nhiều môi trường khác nhau như cơ quan tư vấn, phòng khám, tổ chức kinh doanh hoặc hành nghề một cách độc lập (Andrew, M., C., 2000)

Từ điển Tâm lí học của Hiệp hội Tâm lí học Hoa Kì đã định nghĩa: “TVTL

là hoạt động hỗ trợ chuyên nghiệp trong việc đối phó với các vấn đề cá nhân, bao gồm các vấn đề về cảm xúc, hành vi, hướng nghiệp, hôn nhân, giáo dục, phục hồi chức năng và lối sống (ví dụ: nghỉ hưu) Nhà tham vấn sử dụng các kỹ thuật như lắng nghe tích cực, hướng dẫn, tư vấn, thảo luận”

Tác giả Trần Thị Minh Đức cũng có định nghĩa rằng: “tham vấn là quá trình

tương tác giữa nhà tham vấn - người có chuyên môn và kĩ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo đức của nghề tham vấn và được pháp luật thừa nhận với thân chủ - người đang có vấn đề khó khăn về tâm lí cần được giúp đỡ Thông qua các kĩ năng trao đổi và chia sẻ thân mật (dựa trên các nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính chất chuyên nghiệp), tâm tình, giúp thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình,

tự tìm thấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình” (Tổ Chức Unicef

Việt Nam, 2018)

Như vậy có thể thấy ở bất kì cách định nghĩa nào thì thuật ngữ “tham vấn” hay “TVTL” vẫn mang nội hàm rằng đây là sự trợ giúp về mặt tinh thần từ người có kiến thức chuyên môn ở lĩnh vực tâm lí học với người gặp khó khăn tâm lí (thân chủ)

Sự trợ giúp này nhằm mục đích giúp cho thân chủ đối mặt với vấn đề, khơi gợi tiềm năng nơi thân chủ để thân chủ tự giải quyết vấn đề của chính mình

Trên cơ sở tổng hợp và phân tích các quan điểm của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu về TVTL trong và ngoài nước ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong

Trang 31

luận văn, tác giả quyết định sử dụng khái niệm tham vấn được dùng trong tài liệu tập huấn kỹ năng tham vấn học đường của ĐH Sư Phạm Hà Nội năm 2017 để là công cụ

lí luận: “tham vấn tâm lí được hiểu là sự tương tác giữa nhà tham vấn và thân chủ,

trong đó, nhà tham vấn sử dụng các kỹ năng chuyên môn trợ giúp thân chủ đối mặt, đánh giá đúng vấn đề, đồng thời khơi dậy tiềm năng để thân chủ có thể tự giải quyết vấn đề đang gặp phải và có năng lực đối mặt, giải quyết những vấn đề tương tự nảy sinh trong tương lai” (Tài liệu tập huấn, 2017)

Trong đó, khái niệm TVTL bao gồm 3 dấu hiệu cơ bản sau:

+ TVTL là một quá trình: TVTL thường diễn ra trong một khoảng thời gian

nhất định giữa nhà tham vấn và thân chủ Trong tiến trình này có mở đầu, diễn biến

và kết thúc, trong mỗi giai đoạn bao gồm nhiều bước cụ thể khác nhau và có thể kéo dài trong 1 vài ngày, vài tuần, vài tháng hay thậm chí vài năm bởi quá trình tham vấn mang tính tác động hai chiều do đó quá trình tham vấn diễn ra dài hay ngắn chịu sự ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau của nhà tham vấn và thân chủ

+ TVTL là sự trợ giúp: có thể hiểu rằng sự trợ giúp trong quá trình TVTL là

sự hỗ trợ thân chủ thông qua những công cụ, phương tiện tâm lí nhằm giúp thân chủ

có thêm thông tin, giải tỏa những cảm xúc gây ảnh hưởng tiêu cực và để thân chủ tự giúp chính bản thân mình Trong sự trợ giúp này nhà tham vấn có vai trò như người soi sáng chứ không phải là người đưa ra lời khuyên hay người làm thay thân chủ

+ TVTL là trợ giúp thân chủ khai thác tiềm năng: nghĩa là thông qua các

công cụ, phương tiện tâm lí, nhà tham vấn góp phần trợ giúp thân chủ khai thác các tiềm năng của chính mình để chủ động đối mặt, tự giải quyết vấn đề và tự chịu trách nhiệm với cuộc đời mình Lúc này nhà tham vấn có nhiệm vụ giúp thân chủ nhìn thấy tiềm năng của chính mình, biết cách đánh thức và sử dụng các tiềm năng để giải quyết vấn đề trong hiện tại và tương lai

b) Đặc điểm của tham vấn tâm lí

Ngoài ra, trong khái niệm còn có một số đặc điểm của TVTL như:

+ TVTL là một hoạt động hay một quá trình trợ giúp: quá trình TVTL diễn

ra với sự tham gia tự nguyện giữa nhà tham vấn và thân chủ, trong đó có sự mở đầu, diễn biến và kết thúc Đồng thời, đời sống tâm lí của con người vô cùng phong phú

vì vậy không dễ để hoạt động trợ giúp diễn ra nhanh chóng Quá trình TVTL cần diễn

Trang 32

ra theo một quá trình mà quá trình đó bao hàm một mối quan hệ tích cực, chủ động giữa nhà tham vấn và thân chủ

+ Đối tượng trợ giúp: trong hoạt động TVTL đối tượng mà các nhà tham

vấn hướng đến bao gồm thân chủ và các nan đề của thân chủ Hay nói một cách khác, đối tượng trợ giúp mà các nhà tham vấn hướng đến là những người đang gặp khó khăn tâm lí có mong muốn được trợ giúp và những khó khăn này gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển về mặt cảm xúc, suy nghĩ, nhận thức hay nhân cách của thân chủ, khiến thân chủ không có được cuộc sống mà thân chủ trông đợi Thân chủ có thể

là cá nhân ở nhiều độ tuổi khác nhau như trẻ em, thanh thiếu niên, người trưởng thành, cao tuổi… các cặp đôi, gia đình hay nhóm người có khó khăn tâm lí nhưng không thể

tự giải quyết và có NC TVTL

+ Phương thức, hình thức trợ giúp: hoạt động TVTL diễn ra dựa trên nền

tảng là mối quan hệ tích cực và tự nguyện giữa nhà tham vấn và thân chủ Đồng thời, cũng có sự tác động qua lại từ hai phía thông qua việc tương tác trực tiếp đến cá nhân, gia đình, cặp đôi, nhóm hay gián tiếp thông qua điện thoại, email hoặc thư từ Ngày nay, việc tham vấn trực tiếp diễn ra nhiều hơn cũng như đem lại hiệu quả tức thời hơn

so với tham vấn gián tiếp Trong quá trình tương tác này, nhà tham vấn cần sử dụng những kỹ năng như: lắng nghe, phản hồi, đặt câu hỏi, thấu cảm, bộc lộ bản thân… hoặc các lí thuyết trong tham vấn nhằm mục đích giúp thân chủ trải nghiệm quá trình

tự khám phá, khai thác được tiềm năng, thế mạnh của bản thân, từ đó tự giải quyết vấn đề của mình

+ Yêu cầu đối với người trợ giúp: đời sống tâm lí con người diễn ra phức tạp

do đó đòi hỏi nhà tham vấn cần có kiến thức về tâm lí, tham vấn và các kiến thức liên quan Nhà tham vấn cũng cần có các phẩm chất cần thiết, các kỹ năng và thái độ đứng đắn với nghề nghiệp Bên cạnh đó, người trợ giúp cần tuần thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp để hoạt động tham vấn đạt được hiệu quả một cách tốt nhất Thuật ngữ nhà tham vấn dùng để mô tả công việc của của người làm công tác tham vấn chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp

c) Các hình thức tham vấn tâm lí

Xã hội ngày càng phát triển về mặt khoa học, công nghệ, do đó các hình thức tham vấn tâm lí cũng trở nên đa dạng và phong phú hơn để đáp ứng nhu cầu của con

Trang 33

người Tùy thuộc vào đối tượng tham vấn, hình thức hoạt động và mục tiêu tham vấn

mà có thể chia tham vấn tâm lí thành nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung có hai hình thức tham vấn tâm lí bao gồm tham vấn trực tiếp và tham vấn gián tiếp

+ Hình thức tham vấn trực tiếp

Đây là hình thức tham vấn mà nhà tham vấn và thân chủ cùng mặt đối mặt với nhau trong cùng một không gian, thời gian và trao đổi một cách trực tiếp các nan

đề của thân chủ Quá trình này không thông qua bất kì phương tiện trung gian nào

Ở hình thức tham vấn này, nhà tham vấn cần nắm vững và vận dụng nhiều kỹ năng khác nhau trong tham vấn tâm lí như kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng phản hồi… để có thể giúp thân chủ nhận diện khó khăn, hiểu rõ hơn về cảm xúc, hành vi của chính mình… Từ đó thân chủ có thể nhận ra nguồn lực của bản thân, đưa ra những giải pháp cho vấn đề của riêng mình và trở nên tốt hơn trong tương lai

Đối với hình thức tham vấn trực tiếp, thông tin, câu chuyện của thân chủ có thể truyền đến nhà tham vấn một cách nhanh chóng, chính xác không chỉ thông qua ngôn ngữ lời nói mà còn thông qua ngôn ngữ không lời như cử chỉ, điệu bộ… Tham vấn trực tiếp giúp nhà tham vấn có thể nắm bắt thông tin một cách đầy đủ, không bỏ

lỡ những thông tin quan trọng và có ý nghĩa ở thân chủ Ngược lại, thân chủ cũng có thể nhanh chóng tiếp nhận các phản hồi của nhà tham vấn và đưa ra cách thức giải quyết vấn đề của mình, vì vậy, tham vấn trực tiếp tính đến hiện tại là hình thức tham vấn đem lại hiệu quả cao, nhanh chóng góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí cho thân chủ

Tuy nhiên, đối với các thân chủ không quen giao tiếp bằng lời nói, nhút nhát hoặc thân chủ có các vấn đề tham vấn đặc biệt như HIV, lạm dụng tình dục… thì hình thức tham vấn trực tiếp sẽ gây khó khăn cho nhà tham vấn trong việc tiếp cận cũng như khai thác thông tin của thân chủ

Tham vấn trực tiếp bao gồm tham vấn cá nhân, tham vấn nhóm, tham vấn gia đình và tham vấn cặp đôi

+ Hình thức tham vấn gián tiếp

Trang 34

Bên cạnh hình thức tham vấn trực tiếp còn có hình thức tham vấn gián tiếp, đây là hình thức tham vấn đã xuất hiện từ lâu và ngày càng đa dạng trong cách thức thực hiện tại Việt Nam cũng như trên thế giới

Ở hình thức tham vấn gián tiếp, nhà tham vấn và thân chủ không trực tiếp gặp mặt mà thông qua các phương tiện trung gian như điện thoại, thư từ, email… để trao đổi thông tin với nhau Thân chủ có thể thông qua các phương tiện trung gian để trình bày câu chuyện, những vấn đề khó khăn cũng như mong muốn của bản thân đến nhà tham vấn Nhà tham vấn dựa vào các dữ kiện mà thân chủ đã cung cấp để trao đổi thêm thông tin, nắm bắt vấn đề của thân chủ Từ đó, giúp thân chủ tìm ra phương hướng giải quyết phù hợp với khó khăn, khả năng của thân chủ

Đối với các thân chủ có các nan đề đặc biệt như thân chủ bị lạm dụng tình dục, thân chủ bị bệnh HIV, thân chủ ngại giao tiếp, có khó khăn về nói… thì hình thức tham vấn gián tiếp, đặc biệt là tham vấn qua thư, qua email sẽ gúp thân chủ thấy

an toàn khi chia sẻ thông tin và mang lại hiệu quả cao Tuy nhiên, do không có sự tương tác trực tiếp, kịp thời nên thông tin và dữ liệu qua lại có thể bị ảnh hường dẫn đến hiệu quả tham vấn bị ảnh hưởng Vì vậy, để đạt hiệu quả cao trong quá trình tham vấn gián tiếp, nhà tham vấn cần tinh ý, có giác quan nhạy bén và tập trung cao độ khi làm việc

Ngoài ra, nhà tham vấn còn có thể thông qua các buổi nói chuyện chuyên đề, các diễn đàn tâm lí… để cung cấp thêm các kiến thức về tâm lí nhằm giúp nhiều người nhìn nhận rõ hơn về vấn đề bản thân đang gặp phải, từ đó tìm đến sự trợ giúp phù hợp

d) Phân biệt tham vấn tâm lí với tư vấn và trị liệu tâm lí

+ Tư vấn

Hiện nay, các thuật ngữ như tư vấn, tham vấn, TVTL vẫn chưa có sự phân biệt lớn tại Việt Nam

Theo từ điển Thuật ngữ Tâm lí học của tác giả Vũ Dũng có trình bày: “tư

vấn là khái niệm thường được hiểu theo các nghĩa sau: 1 Cuộc bàn thảo của các chuyên gia về một vấn đề nào đó 2 Lời khuyên của một chuyên gia, 3 Sự phán quyết, khẳng định của chuyên gia với tư cách một lời khuyên giúp cho chủ thể giải quyết

Trang 35

một vấn đề nào đó, 4 Sự giúp đỡ thêm của giáo viên đối với học viên trong học tập” (Vũ Dũng, 2008)

Trong Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê, tư vấn được định nghĩa “là

đóng góp ý kiến về một vấn đề được hỏi nhưng không có quyền ra quyết định” (Hoàng

Phê et al., 2016)

Nhìn chung các định nghĩa này đều mang nội hàm rằng tư vấn chính là cung cấp thông tin, cho lời khuyên về một vấn đề nào đó với chủ thể nhằm mục đích giúp chủ thể giải quyết vấn đề của mình

Tuy nhiên, giữa tư vấn và TVTL tồn tại một số khác biệt không chỉ trong nội hàm khái niệm mà còn thể hiện rõ trong cách thức, phương thức tiếp cận và mục đích hoạt động

Về mặt khái niệm, TVTL là sự tương tác mang tính cá nhân giữa nhà tham vấn với thân chủ Tư vấn là cuộc trò chuyện giữa một chuyên gia trong một lĩnh vực nào đó với người cần lời khuyên trong lĩnh vực tương ứng Kết quả cuối cùng là hỗ trợ người cần giúp đỡ đưa ra quyết định, kết quả tham vấn chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ tham vấn nhưng kết quả tư vấn chịu ảnh hưởng từ tri thức của người tư vấn Đồng thời có thể thấy rằng tham vấn là một quá trình với nhiều lần tương tác giữa thân chủ và nhà trị liệu nhằm mục đích giúp thân chủ nhận ra và sử dụng tốt tiềm năng của chính mình vì vậy kết quả tham vấn thường mang tính ổn định và lâu dài Nhưng tư vấn có thể diễn ra trong một hoặc một vài lần gặp gỡ với mục đích giúp chủ thể giải quyết vấn đề mang tính tức thời do đó kết quả tư vấn không lâu bền Thêm vào đó, nhà tham vấn cần thể hiện sự tin tưởng vào khả năng tự quyết định của thân chủ và chấp nhận thân chủ vô điều kiện, ngược lại, nhà tư vấn chỉ cần cung cấp những giải pháp mà chủ thể nên làm và đưa ra những lời khuyên mang tính chuyên môn

Về mặt kiến thức, nhà tham vấn cần có kiến thức về hành vi, sự phát triển của con người, nhuần nhuyễn trong các kỹ năng chuyên môn bởi thân chủ và nan đề của thân chủ chính là đối tượng trung tâm của tham vấn Trong khi đó, nhà tư vấn cần có kiến thức sâu về những lĩnh vực cụ thể và có khả năng truyền đạt những kiến

Trang 36

thức này chính xác, như vậy có thể thấy nhà tư vấn mới là trung tâm trong hoạt động

tư vấn

Nhìn chung thuật ngữ tư vấn đang được sử dụng tại Việt Nam khá gần với thuật ngữ cố vấn, ngoài ra còn có thuật ngữ “tư vấn tâm lí” cũng được sử dụng nhiều trong các tài liệu, đặc biệt là tài liệu Tiếng Việt về Tâm lí học Nhưng các tác giả phần nhiều sử dụng thuật ngữ này với nội hàm là TVTL và chủ yếu nhấn mạnh đến quá trình can thiệp của nhà tham vấn

+ Trị liệu tâm lí

Hiện tại có nhiều quan điểm khác nhau trong việc sử dụng thuật ngữ TVTL

và trị liệu tâm lí bởi có một số nhà nghiên cứu cho rằng xét ở góc độ nào đó cả hai thuật ngữ này cùng mang một nội hàm ý nghĩa, tiêu biểu cho quan điểm này cần kể đến Carl Rogers, C.H Patterson hay G Corey…Tuy nhiên, cũng có nhóm ngược lại bảo vệ quan điểm rằng có sự khác biệt trong TVTL và trị liệu tâm lí, điển hình như

F Robinson (1950), C.Thorne (1950), P Blos (1946)…

Trong Tiếng Anh, trị liệu là therapy- được lấy từ gốc hy lạp là therapia mà nghĩa là chữa lành Theo Từ điển Tâm lí học và các ngành hoa học khác thì trị liệu tâm lí là một hình thức điều trị bệnh tâm thần và rối loạn hành vi Trong đó, một người được đào tạo để thiết lập liệu trình điều trị phù hợp bệnh nhân và thông qua giao tiếp trị liệu, cả bằng lời nói và không lời, nhằm cố gắng làm giảm bớt rối loạn cảm xúc, đảo ngược hoặc thay đổi mô hình hành vi không lành mạnh và khuyến khích nhân cách phát triển Tâm lí trị liệu được phân biệt với các hình thức điều trị tâm thần khác như sử dụng thuốc và liệu pháp sốc điện

Một quan điểm khác cho rằng trị liệu tâm lí là sự điều trị các rối loạn cảm xúc, hành vi, nhân cách và tâm thần thông qua giao tiếp dùng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ với người bệnh Trong thực hành trị liệu tâm lí có thể bao gồm cả việc chữa trị các rối loạn và giúp người bệnh có cách thức giải quyết các vấn đề trong cuộc sống

Có những quan điểm cho rằng, trị liệu tâm lí giống một quá trình can thiệp của nhà tham vấn tâm lí hay nhà công tác xã hội đối với thân chủ bằng việc sử dụng các liệu pháp tâm lí, với một số ca nặng cần sử dụng thêm thuốc để điều trị những rối nhiễu về tinh thần hay xúc cảm (Trần Thị Minh Đức, 2016)

Trang 37

Nhìn chung, vẫn chưa có sự phân biệt rõ rằng giữa thuật ngữ TVTL và trị liệu tâm lí, tuy nhiên không thể phủ nhận rằng giữa hai thuật ngữ này có một số khác biệt Cụ thể như đối tượng mà TVTL hướng đến chủ yếu là những thân chủ có các nan đề trong cuộc sống, trong khi đó, đối tượng của trị liệu tâm lí còn bao gồm cả những thân chủ mang các vấn đề rối nhiễu tâm lí, hành vi, nhận thức… và những rối nhiễu này thể hiện rõ ra ngoài, mang tính bệnh lí nhiều Do đối tượng không tương đồng nên TVTL và trị liệu tâm lí cũng có những hệ thống công cụ làm việc khác nhau Nếu như TVTL chủ yếu dựa trên mối quan hệ tương tác tích cực giữa nhà tham vấn và thân chủ thì trị liệu tâm lí sử dụng các hệ thống liệu pháp tâm lí và các bộ trắc nghiệm tâm lí…làm công cụ làm việc Đồng thời, hình thức TVTL có thể được sử dụng bởi các nhà tham vấn chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp, không chuyên hoặc các nhà công tác xã hội, thậm chí là các nhà giáo dục, quản lí… chỉ cần những nhà trợ giúp này nắm vững kiến thức tham vấn, các kỹ năng tham vấn và hiểu rõ nguyên tắc đạo đức nghề tham vấn nhưng trị liệu tâm lí thì không thể bởi có sự đòi hỏi về trình độ, kiến thức chuyên môn

Tóm lại, vẫn chưa có sự phân việt rõ ràng trong TVTL và trị liệu tâm lí, điều này gây ra những khó khăn nhất định đối với thân chủ trong việc tìm kiếm, xác định các phương thức phù hợp với nhu cầu của bản thân

1.2.3 Nhu cầu tham vấn tâm lí

a) Khái niệm nhu cầu tham vấn tâm lí

Trong những năm gần đây, kinh tế xã hội Việt Nam đã có sự phát triển rõ rệt,

sự phát triển này đem đến cuộc sống hiện đại và tiện nghi hơn nhưng đồng thời, sự phát triển này cũng đã đem lại những khó khăn về mặt tâm lí cho con người Những khó khăn tâm lí này ngày một lớn dần lên và ảnh hưởng đến sự phát triển của con người nếu không nhận được sự trợ giúp phù hợp Điều này làm nảy sinh nhu cầu về việc tìm kiếm những sự trợ giúp tâm lí nhằm mục đích giúp con người trở nên tốt hơn, phát triển hơn để có thể thích nghi được với sự phát triển của xã hội

Như vậy có thể thấy nhu cầu tìm kiếm sự trợ giúp tâm lí hay nói cách khác,

NC TVTL là một loại nhu cầu đặc biệt của con người Mà thông qua nhu cầu này con người có thể tìm thấy và được khơi dậy những tiềm năng của bản thân từ sự khó khăn

Trang 38

để giúp mình trở nên tốt hơn Trong một nghiên cứu về NC TVTL, tác giả Phạm Văn

Tư có thể hiện ý kiến rằng: “NC TVTL là một loại nhu cầu tinh thần của con người,

được thể hiện mức độ thấp là tìm kiếm sự sẻ chia, đồng cảm từ một cá nhân hay một nhóm người mà họ cảm thấy tin tưởng, mà thường là nhu cầu tìm kiếm sự cảm thông

từ những người có kinh nghiệm hơn như cha mẹ, anh chị, bạn bè…” (Phạm Văn Tư,

2015)

Đồng thời, tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền cũng đã định nghĩa về NC

TVTL như sau: “NC TVTL là đòi hỏi được tương tác, được trao đổi, được trợ giúp

của thân chủ khi gặp khó khăn về tâm lí, thân chủ cần chia sẻ với nhà tham vấn để được trợ giúp nhằm tìm kiếm và giải quyết khó khăn của mình một cách hiệu quả”

Trên cơ sở tổng hợp và phân tích dữ liệu cũng như kết hợp với các định nghĩa

về nhu cầu và TVTL đã trình bày ở trên, trong luận văn, tác giả sử dụng định nghĩa

“NC TVTL là những đòi hỏi tất yếu, khách quan được con người phản ánh trong điều kiện cụ thể Trong đó, con người nhận thấy những đòi hỏi này cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển Từ đó, con người tìm đến sự trợ giúp từ những nhà tham vấn, những người có kiến thức chuyên môn để được trợ giúp nhằm khơi dậy tiềm năng của bản thân có thể tự giải quyết vấn đề đang gặp phải và có năng lực đối mặt, giải quyết những vấn đề tương tự nảy sinh trong tương lai” làm công cụ

lý luận cho luận văn

Từ khái niệm trên có thể thấy rằng NC TVTL có các dấu hiệu sau:

+ NC TVTL là loại nhu cầu đặc biệt của con người: vì vậy để thỏa mãn NC

TVTL, thân chủ cần nhận được sự trợ giúp mang tính chuyên môn từ các nhà tham vấn trong một quá trình nhất định

+ NC TVTL bao giờ cũng có mục tiêu: tức là, nhà tham vấn sử dụng các kỹ

năng trong tham vấn và kiến thức chuyên môn của mình về tâm lí học với mục tiêu trợ giúp thân chủ giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống mà những vấn đề này có sự ảnh hưởng trược tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống tinh thần của thân chủ Cần chú ý rằng sự trợ giúp nhằm thỏa mãn NC TVTL của thân chủ là sự trợ giúp về mặt tâm lí

Trang 39

NC TVTL luôn hướng tới khai thác tiềm năng của thân chủ để giải quyết khó khăn tâm lí của bản thân thân chủ Trong TVTL, nhà tham vấn không làm giùm hay

ra quyết định thay thân chủ mà chỉ đóng vai trò là người soi sáng cho thân chủ Do

đó thông qua quá trình tham vấn, nhà tham vấn cần khai thác được thế mạnh, tiềm năng của thân chủ, và giúp thân chủ sử dụng những tiềm năng, thế mạnh này một cách hiệu quả trong quá trình tự giải quyết vấn đề của bản thân

b) Đặc điểm nhu cầu tham vấn tâm lí

NC TVTL là một loại nhu cầu cầu đặc biệt của con người vì vậy NC TVTL

sẽ mang các đặc điểm sau:

+ NC TVTL bao giờ cũng có đối tượng thỏa mãn: nhu cầu luôn có tính đối

tượng do đó NC TVTL cũng không ngoại lệ Đời sống tâm lí của con người rất đa dạng, vì vậy, dù có cùng một khó khăn tâm lí nhưng đối tượng thỏa mãn của từng người lại khác nhau và để sự trợ giúp đạt hiệu quả cao thì thân chủ cần xác định đối tượng thỏa mãn là ai, vấn đề cần tham vấn là gì… Đồng thời, đối tượng có khả năng thỏa mãn nhu cầu thông qua hoạt động, do đó, đối tượng trở thành động cơ có chức năng thúc đẩy thân chủ tìm kiếm sự trợ giúp từ các dịch vụ TVTL chuyên nghiệp và định hướng cho hoạt động tham vấn

+ Phương thức để thỏa mãn NC TVTL: nếu ví NC TVTL là công việc mở

khóa thì phương thức thỏa mãn NC TVTL chính là chiếc chìa khóa Những chiếc chìa khóa này không tự nhiên được tạo ra từ 1 phía là thân chủ hay nhà tham vấn mà được tạo ra dựa trên sự tin tưởng, trao đổi, hợp tác từ cả 2 phía là thân chủ với nhà tham vấn và ngược lại Nghĩa là thông qua quá trình trao đổi, thảo luận mà nhà tham vấn giúp thân chủ tìm kiếm các giải pháp để thân chủ tự giải quyết những khó khăn tâm

lí của mình Tuy nhiên, đời sống tâm lí ở mỗi lứa tuổi, mỗi con người là khác nhau vậy nên nhà tham vấn cần chú ý đến phương thức thỏa mãn NC TVTL để có được những phương thức phù hợp với đặc điểm cá nhân, văn hoá vùng miền của từng thân chủ hoặc nhóm thân chủ

+ Hình thức để thoả mãn NC TVTL: hoạt động thỏa mãn NC TVTL là một

quá trình, trong đó bao gồm các hình thức tham vấn khác nhau Tùy thuộc vào điều kiện, khả năng và nhu cầu của thân chủ mà nhà tham vấn quyết định hình thức tham

Trang 40

vấn là trực tiếp (cá nhân, gia đình, cặp đôi, nhóm) hay gián tiếp (gọi điện thoại, email, gửi thư…) để thỏa mãn NC TVTL của thân chủ

+ Điều kiện để thỏa mãn NC TVTL: nhà tham vấn không chỉ quan tâm đến

đối tượng, phương thức và hình thức thỏa mãn NC TVTL của thân chủ mà còn phải quan tâm đến có điều kiện khác như địa điểm tham vấn, sự hợp tác giữa nhà tham vấn với thân chủ, sự tin tưởng của thân chủ với nhà tham vấn để đảm bảo quá trình tham vấn được thành công

Đồng thời, không phải tất cả các khó khăn tâm lí đều trở thành NC TVTL mà những khó khăn này chỉ trở thành NC TVTL khi đạt đến sự ảnh hưởng nhất định nào

đó đối với sự phát triển của con người Và chỉ khi khó khăn tâm lí trở thành NC TVTL thì thân chủ mới quyết định tìm đến dịch vụ TVTL của các nhà tham vấn Do đó, trong bối cảnh cung cấp dịch vụ TVTL, các nhà tham vấn cần chú ý đến các nhiều yếu tố khác nhau để quá trình tham vấn đem lại hiệu quả với thân chủ

1.2.4 Trẻ vị thành niên

a) Giới hạn độ tuổi VTN

Giai đoạn trước thế kỉ thứ 18, các nghiên cứu về trẻ VTN còn hạn chế, người

ta tin rằng, trẻ nhỏ và trẻ VTN là phiên bản thu nhỏ của người lớn, cũng chính vì vậy

mà trẻ nhỏ và trẻ VTN bị đối xử bằng những luật lệ hà khắc như người lớn trong thời

kì lịch sử này

Vào thế kỉ 18, nhà triết học người Pháp Jean- Jacques Rousseau đưa ra quan điểm có tính giác ngộ và củng cố niềm tin trẻ nhỏ hay trẻ VTN không phải là người lớn thu nhỏ Theo quan điểm của Rousseau, trẻ VTN có độ tuổi từ 12 đến 20 tuổi Ông chia nhóm tuổi này thành 2 giai đoạn, giai đoạn từ 12 đến dưới 15 tuổi là giai đoạn quan trọng để giáo dục óc trò mò của trẻ và từ 15 tuổi đến 20 tuổi, cái tôi cá nhân dần hoàn thiện hơn, cảm xúc cũng có sự trưởng thành nhất định và sự ích kỷ của trẻ VTN dần được thay thế bằng việc quan tâm đến người khác Tuy nhiên, những lập luận này chỉ mang tính lí thuyết và thiên về sự lập luận của cá nhân ông (John, W., S., 2004)

Đến cuối thế kỉ thứ 19, đầu thế kỉ 20, các nhà tâm lí học, xã hội học, nhà giáo dục học và nhà tư vấn bắt đầu mổ xẻ khái niệm trẻ VTN, nổi bật trong giai đoạn này

Ngày đăng: 08/06/2021, 10:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w