1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu áp dụng thử nghiệm công nghệ sử dụng trụ nhân tạo bảo vệ lò chuẩn bị trong quá trình khai thác tại mỏ Khe Chàm III, Công ty than Khe Chàm-TKV

10 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hầu hết sản lượng tại mỏ Khe Chàm III, Công ty than Khe Chàm được khai thác từ các lò chợ cột dài theo phương, giữa mức vận tải và thông gió của các lò chợ liền kề sẽ phải để lại trụ than bảo vệ, gây tổn thất tài nguyên, tăng chi phí mét lò chuẩn bị và giá thành khai thác. Bài báo giới thiệu về kết quả nghiên cứu, triển khai giải pháp công nghệ sử dụng trụ nhân tạo thay thế trụ than bảo vệ đường lò chuẩn bị trong thực tế tại mỏ Khe Chàm III. Mời các bạn tham khảo!

Trang 1

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG THỬ NGHIỆM CÔNG NGHỆ SỬ DỤNG TRỤ NHÂN TẠO BẢO VỆ LÒ CHUẨN BỊ TRONG QUÁ TRÌNH KHAI THÁC TẠI

MỎ KHE CHÀM III, CÔNG TY THAN KHE CHÀM - TKV

ThS Đinh Văn Cường, TS Trịnh Đăng Hưng

TS Phạm Quang Nam, KS Hoàng Phương Thảo

Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - Vinacomin

ThS Lương Thanh Chung

KS Trần Quang Tuân

Công ty than Khe Chàm – TKV

Biên tập: TS Nhữ Việt Tuấn

Tóm tắt:

Hầu hết sản lượng tại mỏ Khe Chàm III, Công ty than Khe Chàm được khai thác từ các lò chợ cột dài theo phương, giữa mức vận tải và thông gió của các lò chợ liền kề sẽ phải để lại trụ than bảo vệ, gây tổn thất tài nguyên, tăng chi phí mét lò chuẩn bị và giá thành khai thác Bài báo giới thiệu về kết quả nghiên cứu, triển khai giải pháp công nghệ sử dụng trụ nhân tạo thay thế trụ than bảo vệ đường lò chuẩn bị trong thực tế tại mỏ Khe Chàm III.

1 Đặt vấn đề

Hầu hết sản lượng tại mỏ Khe Chàm III, Công

ty than Khe Chàm được khai thác từ các lò chợ

được chuẩn bị theo hệ thống khai thác cột dài

theo phương Để chuẩn bị mức thông gió cho lò

chợ phân tầng dưới, sẽ phải để lại trụ than bảo vệ

đường lò vận tải của lò chợ đang khai thác, gây

tổn thất tài nguyên, chi phí mét lò chuẩn bị lớn,

ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Để

giải quyết vấn đề, có thể xem xét thay thế trụ than

bằng kết cấu trụ nhân tạo Bài báo này giới thiệu

về kết quả nghiên cứu, triển khai giải pháp công

nghệ sử dụng trụ nhân tạo thay thế trụ than bảo

vệ đường lò chuẩn bị trong thực tế tại mỏ Khe

Chàm III

2 Kinh nghiệm khai thác sử dụng trụ nhân

tạo thay thế trụ than bảo vệ lò chuẩn bị trên thế

giới và trong nước

Công nghệ sử dụng trụ nhân tạo thay thế trụ

than bảo vệ lò chuẩn bị trong quá trình khai thác

đã được áp dụng khá phổ biến trên thế giới Trong

đó, vật liệu được sử dụng để thi công trụ có thể là

cụm cột, cũi lợn gỗ/kim loại, dải đá chèn, gạch/đá

hộc xây hay vật liệu hóa chất Thời gian gần đây,

vật liệu là hỗn hợp bê tông mác thấp được cấu

thành từ tro xỉ nhà máy nhiệt điện, đá thải nghiền

kết hợp phụ gia, xi măng cũng được áp dụng

Trụ bảo vệ nhân tạo bằng dải đá chèn thường

được áp dụng khi khai thác các vỉa than có chiều

dày nhỏ (thường dưới 2,0m) theo hệ thống khai thác liền gương, đào lò chuẩn bị theo sơ đồ gương

mở rộng [1, 2] Để không gian làm việc đảm bảo yêu cầu theo quy định, gương lò chợ và lò thông gió, vận tải đào tiến trước gương sẽ phải cắt một phần đá vách hoặc trụ vỉa Đá sau khi cắt sẽ được vận chuyển vào phạm vi dự kiến xây dựng trụ bảo

vệ nhân tạo, qua đó cho phép khai thác tối đa tài nguyên, không phải vận chuyển đá ra ngoài cửa lò

và hạn chế nguy cơ cháy nội sinh (hình 1) Phương pháp này trước đây được sử dụng nhiều tại Liên

Xô cũ (ví dụ như mỏ Centeralnaya-Bokovskaya khai thác vỉa than số 51 Nadbokovskiy có chiều dày 1,0m; mỏ Volodarskiy khai thác vỉa than h8 Maidannovskiy có chiều dày từ 1,1 ÷ 1,15m [7; 8; 9])

Sơ đồ thi công thể hiện trong hình 1 tồn tại nhược điểm là dải đá chèn có độ co ngót lớn nên diện tích sử dụng đường lò chuẩn bị giảm mạnh sau thi công Bên cạnh đó, lò chợ phân tầng dưới (nếu có) trong quá trình khai thác sẽ phải khấu qua phần đá chèn của gương khấu mở rộng hoặc phải đào lại tuyến lò thông gió mới (hình 1a), nên

cơ bản chỉ áp dụng được cho lò chợ cuối cùng trong tầng Nhược điểm này sẽ được khắc phục khi tổ chức đào đồng thời cặp lò vận tải (lò chợ phân tầng trên), thông gió (lò chợ phân tầng dưới) bằng giải pháp gương mở rộng Khi đó, trụ than giữa hai đường lò sẽ được khai thác để tạo không

Trang 2

gian chứa đá thải từ gương lò dọc vỉa trong quá

trình đào (hình 2) mà không phải vận chuyển ra

ngoài, công tác thông gió thực hiện bằng hạ áp

chung nên đơn giản và tiết kiệm chi phí Ví dụ áp

dụng sơ đồ này có thể kể đến một số mỏ than tại

Nga như: mỏ than Lugansugol (thi công lò dọc vỉa

trong vỉa than có chiều dày từ 1,5 ÷ 1,8m, diện

tích đào 14,5 m2, đào bằng khoan nổ mìn kết hợp

máy đánh rạch, tốc độ đào lò đạt 501m/tháng)

và Kalininygol thuộc vùng than Tula (thi công lò

dọc vỉa trong vỉa than có chiều dày từ 1,2 ÷ 1,5m,

diện tích đào 8,0 m2, sử dụng combai ПК-3, tốc

độ đạt 1635 m/tháng) Tại Trung Quốc, Mỏ Bát

Nhất (Sơn Đông) cũng áp dụng sơ đồ này để thi

công các cặp lò thông gió, vận tải khi khai thác vỉa

than số 16 có chiều dày 0,8 m, đường lò có dạng

hình vuông, chiều cao, chiều rộng lò 2,0 m, chiều

dài phần gương mở rộng giữa hai đường lò được

chèn đá là 8,0m

Trụ bảo vệ bằng các cụm cột, cũi lợn kim loại

hoặc trụ đỡ nhân tạo được áp dụng ở vỉa than có

chiều dày lớn hơn Ví dụ việc áp dụng giải pháp này có thể kể đến mỏ Ziemowit (Ba Lan), sử dụng kết cấu trụ nhân tạo bằng bê tông (đường kính 0,6m) để bảo vệ các đường lò dọc vỉa có chiều cao

từ 4,0 ÷ 4,3m, rộng 5,0 ÷ 5,5m khi khai thác lò chợ

902 và 904 tại vỉa 209 (chiều dày vỉa 4,5m, góc dốc 4°) Kết quả áp dụng thành công, các đường

lò được bảo vệ đảm bảo kích thước yêu cầu làm

lò thông gió cho lò chợ kế tiếp (903 và 905), giảm được 30 ÷ 60% chi phí so với đào lò mới (hình 3) Tuy nhiên, tồn tại chưa được giải quyết là vấn đề

rò gió và trào khí, nhiệt, nước từ khu vực đã khai thác vào lò chợ liền kề phía dưới [7] Cùng với nhược điểm này, trong điều kiện vỉa than có khả năng tự cháy, giải pháp sẽ không được phép áp dụng

Để khắc phục nhược điểm của hình thức kết cấu trụ bảo vệ nhân tạo bằng cụm cột, cũi hay trụ bê tông (chi phí gỗ cao, tiềm ẩn nguy cơ cháy,

rò gió, xuất khí, nhiệt, nước từ khu vực đã khai

a Trường hợp góc dốc vỉa lớn

b Trường hợp góc dốc vỉa nhỏ (<15 0 )

1 – Máng cào lò chợ; 2, 3 - Máng cào chuyển tải

than; 4,6 - Dải chèn từ đá nổ mìn tại gương lò

dọc vỉa 5; 5 – Lò dọc vỉa vận tải

Hình 1 Sơ đồ thi công trụ nhân tạo bằng dải đá

chèn theo hệ thống khai thác liền gương

a Sơ đồ áp dụng tại Nga

b Sơ đồ áp dụng tại Trung Quốc Hình 2 Sơ đồ thi công trụ nhân tạo bằng dải đá chèn theo hệ thống khai thác cột dài theo phương

Trang 3

thác ), một số mỏ hầm lò trên thế giới đã xây

dựng trụ nhân tạo thành các dải liên tục ở phạm

vi hông lò chuẩn bị cần bảo vệ, qua đó đảm bảo

độ kín khít và cách ly tốt khu vực đã khai thác Trụ

nhân tạo có chiều cao bằng chiều dày vỉa than

được khai thác, chiều rộng tùy thuộc vào yêu cầu

chịu lực và vật liệu thi công, nhưng thông thường

bằng từ 0,7 ÷ 1,1 lần chiều dày vỉa Tại Ba Lan,

vật liệu sử dụng để xây dựng các dải trụ bảo vệ

thường được hình thành từ hỗn hợp nước, xi

măng, tro bay và các cốt liệu rắn khác để tăng khả

năng kháng nén của trụ Dải trụ sau thi công từ 6

÷ 7 giờ sẽ đông kết chịu lực, sau 28 ngày khả năng

chịu nén có thể đạt 24 MPa [11]

Tại Trung Quốc, việc thay thế trụ than bằng

các dải trụ nhân tạo cũng được áp dụng tại một

số mỏ than Có thể kể đến mỏ Tân Nguyên (Tập đoàn than Dương Môi, tỉnh Sơn Đông) áp dụng giải pháp này để bảo vệ lò dọc vỉa cấp gió sạch của lò chợ cơ giới hóa đồng bộ 3107 tại vỉa số

3 (chiều dày 2,8m, góc dốc 4°) Lò được chống neo chất dẻo cốt thép kết hợp neo cáp, chiều rộng 4,0m, chiều cao 2,8m, chiều dài đường lò 1592m,

độ sâu so với bề mặt địa hình 500m Dải trụ nhân tạo được xây dựng bằng hỗn hợp khoáng hóa (hóa chất) hàm lượng nước cao (tỷ lệ hóa chất-nước–phụ gia là 1-5-1), kích thước trụ: cao x rộng

là 2,8x2,0m, xuyên qua thân trụ được bố trí bổ sung neo thép để tăng khả năng chịu nén Kết quả

áp dụng đạt tốt, kích thước đường lò đảm bảo yêu cầu, dải trụ duy trì ổn định không bị phá hủy, áp lực mỏ lớn nhất tác động lên dải trụ là 12,75 MPa, chi tiết thể hiện trong hình 4 [13]

Bên cạnh các ưu điểm là dễ thi công, khả năng chịu lực cao, thời gian thực hiện nhanh, ít co ngót,

a Trụ bê tông trên đường lò

b Kết quả bảo vệ đường lò dọc vỉa 062

1 – Kích thước khi đào; 2 – Kích thước phạm vi

ngã ba lò chợ; 3- Kích thước tại vị trí 200m phía

sau gương lò chợ Hình 3 Kết quả áp dụng giải pháp thay thế trụ

than bảo vệ lò chuẩn bị bằng trụ bê tông tại mỏ

Ziemowit (Ba Lan)

a Vị trí thi công dải trụ nhân tạo

b Dải trụ nhân tạo thi công hoàn thiện Hình 4 Dải trụ nhân tạo bảo vệ lò chuẩn bị tại mỏ Tân Nguyên, Tập đoàn than Dương Môi, tỉnh Sơn

Đông, Trung Quốc

Trang 4

cách ly tốt khu vực đã khai thác, giải pháp thi công

dải trụ nhân tạo bằng vật liệu hóa chất có nhược

điểm là giá thành cao Thời gian gần đây, một số

mỏ tại Trung Quốc như Hoa Thái, Tế Nam, Ngọa

Long Hồ, Bình Môi, Đại Trang, đã sử dụng vật

liệu thi công trụ bảo vệ nhân tạo là vật liệu dạng

vữa gồm hỗn hợp tro bay, tro đáy nhà máy nhiệt

điện, kết hợp một lượng phụ gia xi măng Kết quả

áp dụng đạt tốt tương đương vật liệu hóa chất,

trong khi đó giá thành được giảm đáng kể Đồng

thời, việc sử dụng tro bay, tro đáy cũng cho phép

giải quyết một lượng không nhỏ chất thải rắn từ

các nhà máy nhiệt điện tại các khu vực lân cận [8;

9;10; 11; 12]

Tại Việt Nam, thời gian qua vấn đề khai thác

không để lại/hạn chế trụ bảo vệ (đào lò men) hoặc

sử dụng trụ bảo vệ nhân tạo (sử dụng kết cấu cũi

gỗ) đã được nghiên cứu áp dụng tại một số mỏ

hầm lò vùng Quảng Ninh [1], gồm: lò chợ 7 vỉa G

mỏ Tân Lập (năm 1991 ÷ 1993), vỉa 8 (năm 1993),

lò chợ số 1 vỉa 7 TVD - mỏ Vàng Danh (năm 1998)

và vỉa 7 khu Nam, mỏ Dương Huy (năm 2004)

Việc áp dụng thử nghiệm các giải pháp khai thác

đã cho phép giảm đáng kể tổn thất than ở trụ bảo

vệ lò chuẩn bị, nhưng do hạn chế của vật liệu thi

công trụ, nên hiệu quả bảo vệ đường lò chưa

thực sự đáp ứng yêu cầu đặt ra Nhìn chung, việc

nghiên cứu chuyên sâu về công nghệ khai thác sử dụng trụ nhân tạo thay thế trụ than bảo vệ đường

lò chuẩn bị, cũng như vật liệu sử dụng thi công trụ chưa được đề cập nhiều trong ngành mỏ Việt Nam

3 Nghiên cứu áp dụng thử nghiệm giải pháp công nghệ sử dụng trụ nhân tạo tại mỏ Khe Chàm III [3]

3.1 Đánh giá xác định các đường lò vận tải

lò chợ năm 2020 có khả năng bảo vệ sử dụng lại tại mỏ Khe Chàm III

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn là các đường lò vận tải lò chợ năm 2020 tại mỏ Khe Chàm III Trên cơ sở đánh giá kế hoạch, trình tự khai thác lò chợ, sự cần thiết và khả năng duy duy trì sử dụng lại lò vận tải làm lò thông gió cho

lò chợ kế tiếp trong năm 2020, Viện KHCN Mỏ và Công ty than Khe Chàm đã phân tích và xác định được 05 đường lò có khả năng duy trì sử dụng lại, gồm: 03 đường lò tại vỉa 14-5 (lò dọc vỉa vận tải

lò chợ 14.5-19; lò dọc vỉa vận tải lò chợ 14.5-10;

lò dọc vỉa vận tải lò chợ 14.5-9A) và 02 đường lò tại vỉa 14-4 (lò dọc vỉa vận tải lò chợ 14.4-9; lò dọc vỉa vận tải lò chợ 14.4-2) Các đường lò đào trong phạm vi chiều dày vỉa từ dày trung bình (vỉa 14.4, chiều dày từ 2,25 ÷ 2,6m) đến dày (vỉa 14.5, dày

từ 5,37 ÷ 6,03m), góc dốc từ (từ 8 ÷ 25º) Đối chiếu

Bảng 1 Đề xuất áp dụng các giải pháp sử dụng trụ nhân tạo tại mỏ Khe Chàm III

TT Tên đường lò dọc vỉa

vận tải

Giải pháp

đề xuất

Diện tích đào (m 2 )

Diện tích chống (m 2 )

Chiều dài (m)

Chiều dày vỉa (m)

Gócdốc vỉa (độ)

Dung trọng than (T/m 3 )

1 Lò DVVT lò chợ 14.5-19 11,2 8,5 171 5,37 12 1,42 GP-1; GP-2

2 Lò DVVT lò chợ 14.5-10 13,1 10,4 540 5,67 15 1,42 GP-1; GP-2

3 Lò DVVT lò chợ 14.5-9A 11,2 8,5 243 6,03 8 1,42 GP-1; GP-2

1 Lò DVVT lò chợ 14.4-9 11,2 8,5 341 2,25 25 1,4 GP-4; GP-3; GP-1; GP-2

2 Lò DVVT lò chợ 14.4-2 13,1 10,4 265 2,6 17 1,4 GP-4; GP-3; GP-1; GP-2

* Ghi chú: các giải pháp đề xuất được liệt kê theo thứ tự ưu tiên

Trang 5

với kinh nghiệm tổng quan trên thế giới, kết hợp

điều kiện địa chất, kỹ thuật khu vực nghiên cứu,

đề tài đã đề xuất một số giải pháp chống giữ gia

cường để bảo vệ, duy trì sử dụng lại lò vận tải lò

chợ như sau:

- (1) Giải pháp chống giữ, gia cường bằng kết

cấu cũi kết hợp cụm cột gỗ hoặc cột thép (GP-1)

- (2) Giải pháp chống giữ, gia cường bằng kết

cấu kiểu trụ đỡ (GP-2)

- (3) Giải pháp chống giữ, gia cường bằng kết

cấu trụ nhân tạo dạng dải liên tục (GP-3)

- (4) Giải pháp khai thác không trụ bảo vệ

(GP-4)

Chi tiết đề xuất áp dụng các giải pháp đề xuất

xem bảng 1

3.2 Thiết kế, triển khai áp dụng thử nghiệm

giải pháp sử dụng trụ nhân tạo thay thế trụ

than bảo vệ lò chuẩn bị

3.2.1 Điều kiện địa chất, kỹ thuật mỏ đường

lò thiết kế

Trên cơ sở các đường lò có khả năng duy trì

sử dụng lại trong năm 2020, các bên thống nhất lựa chọn thiết kế giải pháp sử dụng trụ nhân tạo

để bảo vệ lò vận tải lò chợ 14.5-19 Theo kế hoạch của Công ty than Khe Chàm, lò chợ được chuẩn bị với kích thước theo hướng dốc 65m, theo phương 171m Để bảo vệ và duy trì lò vận tải làm lò thông gió cho lò chợ kế tiếp (14-5-20), sẽ để lại trụ than

có chiều rộng 18m (hình 5) Điều kiện địa chất, kỹ thuật mỏ đường lò và khu vực thiết kế như sau:

- Điều kiện địa chất: Vỉa than phạm vi thiết kế

có chiều dày riêng than 5,37m, toàn vỉa trung bình 5,6 m, góc dốc 12º, đá vách, đá trụ vỉa là các tập

đá bột kết ổn định, thuộc loại I về khí Mê tan, than trong vỉa không có tính tự cháy

- Thông số kỹ thuật của đường lò: lò dọc vỉa

vận tải 14.5-19 được đào bám theo trụ vỉa và nằm hoàn toàn trong vỉa 14.5, tiết diện hình vòm,

Hình 5 Bản đồ vị trí khu vực lò chợ thiết kế 14-5-19 mỏ Khe Chàm III

Trang 6

chiều cao 3,24m, chiều rộng 4,03m, diện tích đào

11,2m2, diện tích sử dụng 8,5m2 Đường lò được

chống giữ bằng vì chống thép linh hoạt, kết cấu

gồm 05 đoạn thép SVP27, bước chống 0,5m/vì

(hình 6)

3.2.2 Lựa chọn và thiết kế giải pháp sử dụng

trụ nhân tạo bảo vệ lò chuản bị

Lò dọc vỉa vận tải lò chợ 14-5-19 được thi công

trong phạm vi vỉa than có chiều dày lớn, nên các

giải pháp trụ nhân tạo bằng dải đá chèn, trụ đỡ

hay khai thác không trụ bảo vệ không phù hợp để

áp dụng Theo đó, trong trường hợp này, trụ nhân tạo có kết cấu dạng dải liên tục và kết cấu cũi là có thể áp dụng được

Thời điểm triển khai giải pháp, lò chợ 14-5-19

đã được chuẩn bị hoàn thiện, phải sớm đưa vào khai thác Đối chiếu hiện trạng điều kiện kỹ thuật, khả năng cung ứng các vật liệu phục vụ chống giữ gia cường, tiến độ sản xuất của đơn vị, trong điều kiện khu vực lò chợ 14.5-19 vỉa 14.5, các bên thống nhất lựa chọn giải pháp trụ nhân tạo bằng kết cấu cũi gỗ kết hợp cột thép Theo đó, phạm vi

Hình 6 Hộ chiếu chống giữ lò vận tải lò chợ 14.5-19

Hình 7 Hộ chiếu chống giữ trụ nhân tạo bảo vệ lò DVVT lò chợ 14.5-19

Trang 7

khám chân lò chợ sẽ được lưu và chống giữ bởi

các cũi có khả năng chịu nén phù hợp Đồng thời,

phạm vi bên trong đường lò dọc vỉa vận tải

14-5-19 cũng cần phải chống giữ gia cường bổ sung

Hộ chiếu chống giữ trụ nhân tạo bảo vệ đường lò

xem hình 7

Cùng với việc áp dụng giải pháp sử dụng trụ

nhân tạo thay thế trụ than bảo vệ tại lò chợ

14-5-9, sẽ cho phép khai thác được thêm than trong

trụ bảo vệ lò chuẩn bị (khoảng 19.951 tấn), nâng

tổng sản lượng khai thác được của khu vực thiết

kế lên 67.451 tấn, tỷ lệ tổn thất giảm xuống 14%, chi phí mét lò giảm gần 3 lần Đồng thời, giá thành sản xuất khi sử dụng trụ nhân tạo từ lò chợ 14-5-9 cũng cho phép giảm 33.915 đồng trên mỗi tấn than khai thác so với phương án để trụ than bảo vệ đang được áp dụng tại mỏ Tổng giá trị làm lợi mang lại cho Công ty than Khe Chàm chỉ trong một diện lò chợ 14.5-19 là (67,45 nghìn tấn x 33.915 đồng/tấn) = 2.287.610 nghìn đồng Chi tiết thể hiện trong bảng 2 và biểu đồ hình 8

3.2.3 Đánh giá kết quả áp dụng giải pháp sử

Bảng 2 So sánh các chỉ tiêu chủ yếu của hai phương án công nghệ

Giá trị

Chênh lệch

Trụ than

1 Tổng sản lượng than NK 1000 T 52,78 74,95 22,17

3 Than thành phẩm 1000 T 47,50 67,45 19,95

4 Giá thành KT than lò chợ đ/tấn 314,770 404,994 90,224

5 Tổng chi phí SX-KD than tr đ 76,847 106,837 29,990

- Giá thành sản phẩm đ/tấn 1.617.844 1.583.929 -33,915

7 Tổng giá trị làm lợi của phương án đề xuất ng.đồng 2.287.610

Hình 8 So sánh giá thành sản phẩm giữa hai phương án công nghệ

Trang 8

a Mức độ biến dạng đứng

b Mức độ biến dạng ngang

c Tốc độ biến dạng đứng

Trang 9

dụng trụ nhân tạo thay thế trụ than bảo vệ

Để đánh giá mức độ ổn định của đường lò

được bảo vệ bằng trụ nhân tạo, trong quá trình

khai thác lò chợ 14-5-19, đề tài đã thiết thiết lập

các trạm quan trắc dịch động trên đường lò

14-5-19 Tổng số trạm đo là 11 trạm, tại các vị trí mét

thứ 3, 18, 33, 48, 63, 78, 93, 109, 123, 138, 153

tính từ gương lò khởi điểm lò chợ 14-5-19 về phía

giới hạn dừng khai thác

Kết quả quan trắc cho thấy, trong phạm vi

khoảng 40m phía trước và phía sau gương lò chợ,

tốc độ dịch động của đường lò diễn biến mạnh

và nhanh nhất (tốc độ biến dạng đứng từ 7 ÷ 10

đêm; biến dạng ngang 8 ÷ 20

mm/ngày-đêm) Theo hướng tiến gương lò chợ, tại khu vực

phá hỏa từ mét thứ 40 ngược theo hướng tiến

gương trở đi, tốc độ biến dạng của đường lò giảm

dần (tốc độ biến dạng đứng chỉ từ 0 ÷ 4

mm/ngày-đêm, biến dạng đứng từ 0 ÷ 6 mm/ngày-đêm) Từ

mét thứ 100 phía sau gương lò chợ về phía phá

hỏa, đường lò cơ bản không còn dịch động và đi

vào ổn định

Tổng giá trị biến dạng của đường lò trong thời

gian theo dõi đạt lớn nhất 300mm (trạm đo số 1)

theo chiều đứng, 350mm theo chiều ngang (trạm

đo số 3), tương ứng mức độ giảm tiết diện khoảng

9,8 ÷ 9,97%, đảm bảo kích thước theo quy định an

toàn để phục vụ thông gió, sản xuất của lò chợ

14-5-20 Chi tiết xem các biểu đồ hình 9a ÷ 9d

5 Kết luận

Giải pháp sử dụng trụ nhân tạo bảo vệ đường

lò chuẩn bị thay thế trụ than đã được áp dụng

thành công tại mỏ Khe Chàm III, Công ty than Khe Chàm Đường lò được bảo vệ có kích thước sau dịch động, biến dạng đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, an toàn để sử dụng cho lò chợ kế tiếp Đã cho phép giảm tổn thất tài nguyên và chi phí mét lò chuẩn bị, từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cho đơn

vị áp dụng Mặt khác, cùng với việc duy trì thành công đường lò để sử dụng lại, áp lực về nhân lực,

tổ chức sản xuất để thi công một gương lò độc lập cho đơn vị đã được giảm thiểu, đặc biệt là trong bối cảnh thiếu hụt thợ lò như hiện nay Kết quả áp dụng thử nghiệm thành công giải pháp là cơ sở cho Công ty than Khe Chàm nói riêng, các công

ty than hầm lò khác vùng Quảng Ninh nói chung nghiên cứu mở rộng áp dụng tại đơn vị để nâng cao hiệu quả sản xuất

Tài liệu tham khảo:

[1] Phùng Mạnh Đắc, Nguyễn Anh Tuấn và

nnk (1991), Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ: Nghiên

cứu áp dụng các sơ đồ công nghệ khai thác không

để lại trụ than bảo vệ, Viện Khoa học Công nghệ

Mỏ, Hà Nội

[2] Đào Hồng Quảng và nnk (2013), Báo cáo

tổng kết đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu đề xuất giải pháp kỹ thuật công nghệ hợp lý trong đào chống các đường lò chuẩn bị khi khai thác vỉa than mỏng đến dày trung bình vùng Quảng Ninh, Viện Khoa

học Công nghệ Mỏ, Hà Nội

[3] Báo cáo tổng kết: Nghiên cứu lựa chọn và

áp dụng giải pháp chống giữ gia cường phù hợp nhằm duy trì sử dụng lại lò vận tải lò chợ năm 2020

mỏ Khe Chàm III - Công ty than Khe Chàm – TKV,

d Tốc độ biến dạng ngang Hình 9 Kết quả quan trắc dịch động lò DVVT chợ 14-5-19

Trang 10

Viện Khoa học Công nghệ Mỏ, Hà Nội – 2020.

[4] Проведение штреков широким забоем

на шахте «Центральная-Боковская»,

бюллетень ЦИТИ 1957

[5] Разработка угольных пластов без

выдачи породы на поверхность, Косович В.Л.,

Углетехниздат 1958, 125с

[6] Краткий справочник горного инженере

угольной шахты, Бойко А.А., Москва 1963,

642с

[7] Piotr Niełacny (2009), Praca doktorska:

Dobór technologii utrzymywania wyrobisk

przyścianowych w jednostronnym otoczeniu

zrobów na podstawie pomiarów przemieszczeń

górotworu, Akademia Górniczo-Hutnicza w

Krakowie

[8] 刘德明, 赵平谦, 晏立森 平煤股份一矿戊 8-22180工作面沿空留巷膏体充填材料的应用研究 [J] 华东科技:学术版, 2013(8):372-372

[9] 柳成懋, 戚洋 沿空留巷膏体充填工作面顶 板控制技术[C] 全国采矿学术会议2015

[10] 张大虎, 范祥峰 膏体充填沿空留巷技术 在卧龙湖煤矿的应用[J] 安徽科技,

2010(8):50-51

[11] 张年有 膏体充填沿空留巷技术研究[J] 煤矿现代化, 2017(1):4-6

[12] 刘国磊, 温朋朋, 贾广辉 济阳煤矿 膏体充填沿空留巷技术[J] 煤矿安全, 2012, 43(12):94-96

[13] 张自政, 博士学位论文,沿空留巷充填区 域直接顶稳定机理 及控制技术研究, 中国矿业大

学, 二○一六年五月

Research on and trial application of the technology for artificial protection pillars

in use to protect the preparation roadways in the mining process at Khe Cham III

mine of Vinacomin - Khe Cham Coal Company

MSc Dinh Van Cuong, Dr.Trinh Dang Hung, Dr.Pham Quang Nam, Eng.Hoang Phuong Thao

Vinacomin – Instiute of Mining Science and Technology

MSc Luong Thanh Chung, Eng.Tran Quang Tuan – Vinacomin – Khe Cham Coal Company

Abstract:

Most of the output at Khe Cham III mine of Khe Cham Coal Company has been exploited from the lateral opening, the protection coal pillars between the transport and ventilation levels of the adjacent longwalls will have to be kept This will result in the loss of resources, increase in the cost of the preparation roadway meter and the exploitation costs The article introduces the results of research on and implemention of technological solutions in usage of artificial pillars in replacement of the protection coal pillars for preparation roadways at Khe Cham III mine.

Ngày đăng: 08/06/2021, 09:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w