1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu, đề xuất sơ đồ công nghệ khai thác lò chợ khấu than bằng máy, chống giữ bằng giá khung, giá xích

7 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 526,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, sản lượng than khai thác từ các lò chợ khoan nổ mìn, chống giữ bằng giá khung và giá xích chiếm khoảng 43,5% tổng sản lượng than hầm lò của Tập đoàn TKV. Mặc dù công nghệ đã được áp dụng thuần thục, tuy nhiên do khấu gương bằng khoan nổ mìn nên công nghệ đã đạt đến giới hạn về năng suất và sản lượng. Nghiên cứu, đề xuất sơ đồ công nghệ nhằm nâng cao sản lượng, năng suất lao động, mức độ an toàn và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động là nội dung chính của bài báo này. Mời các bạn tham khảo!

Trang 1

Tóm tắt:

Hiện nay, sản lượng than khai thác từ các lò chợ khoan nổ mìn, chống giữ bằng giá khung và giá xích chiếm khoảng 43,5% tổng sản lượng than hầm lò của Tập đoàn TKV Mặc dù công nghệ

đã được áp dụng thuần thục, tuy nhiên do khấu gương bằng khoan nổ mìn nên công nghệ đã đạt đến giới hạn về năng suất và sản lượng Nghiên cứu, đề xuất sơ đồ công nghệ nhằm nâng cao sản lượng, năng suất lao động, mức độ an toàn và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động là nội dung chính của bài báo này.

1 Đặt vấn đề

Khoảng 10 năm trở lại đây, sản lượng khai

thác than từ các lò chợ chống giữ bằng giá

khung và giá xích, khấu gương khoan nổ mìn

đã liên tục phát triển, từ 1,6 triệu tấn năm 2008

[1] (chiếm 9,4% tổng sản lượng than hầm lò của

Tập đoàn TKV) lên đến 8,76 triệu tấn năm 2018

(chiếm 43,5%) [2] Công nghệ khai thác than

lò chợ chống giữ bằng giá khung và giá xích

đã tạo ra những bước đột phá về sản lượng và

năng suất lao động cũng như mức độ an toàn so

với các công nghệ khai thác sử dụng vì gỗ hoặc

những loại vì thủy lực đơn chiếc trước đó (cột

thủy lực đơn, giá thủy lực di động) Hiện nay,

giá khung và giá xích đã được áp dụng rộng

rãi tại các đơn vị khai thác than hầm lò thuộc

Tập đoàn TKV với công suất lò chợ trung bình

khoảng 150 ÷ 180 nghìn tấn/năm Theo thời

gian, các khâu trong quy trình công nghệ cũng

đã được hoàn thiện, tuy nhiên do công tác khấu

gương phải thực hiện bằng khoan nổ mìn dẫn

đến sản lượng, năng suất lao động của các lò

chợ này đã tiệm cận đến giới hạn của công

nghệ, trong khi đó chi phí tiền lương và các loại

bảo hiểm hiện nay còn chiếm tỷ lệ cao trong giá

thành khai thác (từ 45 ÷ 55%), nếu không tiếp

tục đổi mới, nâng cao năng suất lao động sẽ rất

khó cân bằng được các chính sách đãi ngộ, lợi

ích của người lao động và hiệu quả kinh doanh

trong những năm tới Hơn nữa, để đáp ứng nhu

cầu năng lượng cho nền kinh tế theo quy hoạch

phát triển ngành than đã được Chính phủ phê duyệt (Quy hoạch 60), số lượng lò chợ hoạt động đồng thời tại các mỏ hầm lò sẽ tiếp tục tăng, kéo theo đó là nhu cầu cao về nhân lực trực tiếp, đây cũng là những khó khăn không nhỏ của ngành than hiện nay Do đó, để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, song song với việc đẩy mạnh áp dụng cơ giới hóa đồng bộ tại các khu vực vỉa có điều kiện thuận lợi, cần đổi mới nâng cao mức độ cơ giới hóa trong các công đoạn sản xuất, đặc biệt là công tác khấu gương của các lò chợ giá khung, giá xích nhằm nâng cao sản lượng, năng suất lao động, từ đó cho phép giảm số lượng lò chợ và nhân lực trực tiếp tại các mỏ hầm lò, góp phần phát triển bền vững ngành than

2 Đề xuất các sơ đồ công nghệ khai thác

lò chợ giá khung, giá xích kết hợp máy khấu

Hiện nay, công nghệ cơ giới hóa khai thác than hầm lò đã được áp dụng rộng rãi tại các nước có nền công nghiệp phát triển như Trung Quốc, Mỹ, Úc, Nga và Ba Lan [3], trong đó Trung Quốc là quốc gia có sản lượng than khai thác hàng năm cao nhất thế giới đồng thời cũng

là một trong những nước đi đầu về nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học trong khai thác than Cùng với các tổ hợp cơ giới hóa có kích thước và trọng lượng lớn, từ năm 1990 tại Trung Quốc đã đưa vào áp dụng công nghệ khai thác cơ giới hóa sử dụng các loại giàn chống có kích thước nhỏ và khối lượng nhẹ (CGH nhẹ)

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ KHAI THÁC LÒ CHỢ KHẤU THAN BẰNG MÁY, CHỐNG GIỮ BẰNG GIÁ KHUNG, GIÁ XÍCH

TS Đào Ngọc Hoàng, TS Lê Đức Nguyên

ThS Đàm Huy Tài, ThS Phùng Việt Bắc

Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - Vinacomin

Biên tập: TS Đào Hồng Quảng

Trang 2

với công suất lò chợ khoảng 500.000 ÷ 600.000

tấn/năm Song song với công nghệ CGH nhẹ,

công nghệ bán cơ giới hóa sử dụng vì chống

tổ hợp (giá khung, giá xích) cũng được nghiên

cứu để khai thác các khu vực khoáng sàng nhỏ,

trữ lượng phân tán, điều kiện địa chất phức tạp,

không phù hợp đầu tư mô hình CGH loại nhẹ

Theo đó, từ năm 2000, dựa trên sự thành công

trong việc áp dụng giá khung thủy lực di động

cho điều kiện vỉa than dày, thoải đến nghiêng,

một số mỏ hầm lò của Trung Quốc như: Mỏ

Dương Tuyền 2 (tỉnh Sơn Tây), mỏ số 8 - Công

ty Hạc Môi (tỉnh Hà Nam), mỏ Long Hâm, Thành

phố Hạc Cương (tỉnh Hắc Long Giang) đã áp

dụng công nghệ khấu than sử dụng máy khấu

kết hợp với chống giữ lò chợ bằng giá khung

thủy lực di động tại các khu vực vỉa dày từ 5,5

÷ 8,0m, góc dốc 3 ÷ 170, chiều dài lò chợ theo

hướng dốc từ 80 ÷ 122m theo phương từ 474

÷ 1100m Kết quả áp dụng cho thấy lò chợ làm

việc ổn định, hiệu quả Sản lượng khai thác đạt

trung bình 400.000 ÷ 450.000 tấn/năm, cá biệt

có lò chợ đã cho sản lượng khai thác đạt đến

600.000 tấn/năm (lò chợ 80619 mỏ than Dương

Tuyền 2, tỉnh Sơn Tây) Năng suất lao động đạt

từ 15 ÷ 20 tấn/công

Tiếp đến năm 2010, sau khi giá thủy lực

di động liên kết xích được ra đời và áp dụng

thành công ở các mỏ có điều kiện vỉa biến động

mạnh về góc dốc, công nghệ cơ giới hóa khấu

than bằng máy khấu, chống giữ bằng giá thủy

lực di động liên kết xích đã được đưa vào áp

dụng tại một số mỏ hầm lò Trung Quốc như: mỏ

Ngũ Mẫu Xung - Tập đoàn mỏ Trường Sa (tỉnh

Hồ Nam), mỏ than Tân Khất Lao, huyện Thần Mộc (tỉnh Thiểm Tây), v.v cho các vỉa dày trung bình từ 1,2 ÷ 2,4m, góc dốc từ 8 ÷ 150, chiều dài lò chợ theo hướng dốc từ 90 ÷ 120m, theo phương khoảng 360m Công nghệ khai thác lò chợ sử dụng giá xích chủ yếu được áp dụng cho điều kiện các vỉa trung bình, thoải với công suất đạt được từ 300.000 ÷ 350.000 tấn/năm khi sử dụng máy khấu hai tang Năng suất lao động đạt

từ 10 ÷ 15 tấn/công

So với các lò chợ giá khung hoặc giá xích, khấu than bằng khoan nổ mìn tại các mỏ hầm

lò vùng Quảng Ninh hiện nay (có công suất từ 80.000 ÷ 180.000 T/năm, phổ biến từ 140.000 ÷ 180.000 T/năm, một vài trường hợp đã đạt tới 230.000 T/năm, năng suất lao động đạt 4,3 ÷ 6,5 T/công [4], công nghệ khai thác chống giữ bằng giá khung và giá xích, khấu than bằng máy tại Trung Quốc đã cho công suất và năng suất lao động cao hơn từ 2 ÷ 3 lần

Công nghệ bán cơ giới hóa sử dụng máy khấu MG-200 W1 kết hợp giá thủy lực di động XDY-JF/LR/T2/120JZ cũng đã được đưa vào

áp dụng thử nghiệm tại mỏ Khe Chàm từ tháng 5/2002 ÷ 9/2005, sản lượng lò chợ hàng năm đạt từ 115.290 ÷ 184.606 tấn, công suất trung bình đạt 153.700 tấn/năm Năng suất lao động trung bình đạt 5,16 tấn/công[3], cao hơn 1,5 ÷ 2 lần so với các lò chợ khoan nổ mìn trong cùng điều kiện Trên cơ sở thử nghiệm thành công tại Công ty than Khe Chàm, từ tháng 4/2006, công nghệ này cũng đã được đưa vào thử nghiệm tại

a Lò chợ giá khung b Lò chợ giá xích

Hình 1 Đồng bộ thiết bị trong lò chợ giá khung (giá xích) kết hợp với máy khấu

Trang 3

lò chợ 13-3 và 12-2 khu Trung Tâm Công ty than

Dương Huy Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng,

do điều kiện địa chất phức tạp như: gặp nhiều

phay, nhiều nước ngầm, đá trụ mềm yếu, giá

thủy lực và máng cào bị lún phải thường xuyên

xử lý dẫn đến chiều cao lò chợ thấp không đủ

điều kiện lắp máy khấu (vỉa 13); vỉa thu hẹp

chiều dày trong phạm vi lớn kéo dài từ chân đến

đầu lò chợ và theo phương từ 10 ÷ 15m phải

khoan nổ mìn, hơn nữa, do đá vách mềm yếu,

dễ sập đổ nên lò chợ thường xuyên bị tụt nóc

gây khó khăn cho công tác chống giữ (giá thủy

lực không có khả năng che chắn kín nóc lò chợ;

không có liên kết với nhau, dễ xô dạt) và hỏng

hóc thiết bị (vỉa 12), vì vậy tổ hợp thiết bị đã

được tháo chuyển ra ngoài

Đánh giá kết quả áp dụng công nghệ bán cơ

giới hóa sử dụng giá khung và giá xích tại Trung

Quốc và kinh nghiệm khai thác tại các mỏ hầm

lò vùng Quảng Ninh cho thấy, giá khung và giá

xích có độ liên kết tốt đã khắc phục được nhược

điểm dễ xô dạt của giá thủy lực di động, từ đó

cho phép nâng cao mức độ an toàn và khả năng

thích nghi của công nghệ trong các điều kiện địa

chất phức tạp, đồng thời việc áp dụng máy khấu

thay cho khoan nổ mìn cho phép nâng cao đáng

kể sản lượng và năng suất lao động

Tổng hợp kinh nghiệm áp dụng cơ giới hóa

[3] từ năm 2002 và kinh nghiệm khai thác lò

chợ giá khung, giá xích [4] từ năm 2007 đến

nay tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh cho

thấy giá khung và giá xích áp dụng hiệu quả đối

với các khu vực vỉa than dày trên 1,6m, thoải

đến nghiêng (≤35°), trong khi hầu hết các loại máy khấu làm việc thuận lợi trong miền góc dốc đến 20°, một số loại máy khấu làm việc với góc dốc đến 35° Do vậy, việc nghiên cứu khả năng

áp dụng giá khung hoặc giá xích kết hợp máy khấu than tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh

có thể xem xét đối với các vỉa dày trên 1,6m và dốc đến đến 35°, đá trụ vỉa có cường độ kháng lún đạt từ cấp 4 trở lên [5] Ưu tiên thử nghiệm trước tại các khu vực vỉa than có góc dốc đến 20°, đá trụ bền vững

Kết quả đánh giá tổng hợp trữ lượng than tại một số mỏ/khoáng sàng khai thác hầm lò vùng Quảng Ninh như: Mạo Khê, Nam Mẫu, Uông

Bí, Vàng Danh, Hà Lầm, Núi Béo, Dương Huy, Quang Hanh, Thống Nhất, Hạ Long (Khe Chàm II-IV), Khe Chàm (Khe Chàm III) và Mông Dương cho thấy trong tổng số 630,6 triệu tấn than đã được quy hoạch vào khai thác đến năm 2025, trữ lượng các vỉa dày trên 1,6m và góc dốc vỉa đến 35 độ có khoảng 448,6 triệu tấn, chiếm đến 70% tổng trữ lượng than đã quy hoạch (chi tiết xem bảng 1) Trong đó, trữ lượng vỉa dày trung bình từ 1,6 ÷ 3,5m khoảng 168 triệu tấn (chiếm 26,7%) vỉa dày từ 3,5 ÷ 10m khoảng 251,5 triệu tấn (chiếm 40%), còn lại là vỉa dày trên 10m [3] Theo đánh giá, trữ lượng các khu vực vỉa dày trên 1,6m, thoải đến nghiêng có khả năng CGH tại các mỏ hầm lò hiện nay khoảng 200 triệu tấn, đây cũng là những khu vực có thể áp dụng giá khung hoặc giá xích kết hợp máy khấu than Đối với điều kiện các vỉa than dày trên 1,6m, thoải đến nghiêng, chống giữ bằng giá khung và

Bảng 1 Tổng hợp trữ lượng than theo các yếu tố chiều dày và góc dốc

Tổng 35.811,84 247.237,28 318.112,28 29.483,32 630.644,72

Trang 4

giá xích kết hợp máy khấu có thể khai thác theo

nhiều cách khác nhau, tuy nhiên trong điều kiện

các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh hiện nay

có thể xem xét áp dụng một số hệ thống khai

thác (HTKT) như sau:

(1) HTKT cột dài theo phương, khấu hết

chiều dày vỉa

Bản chất của HTKT cột dài theo phương,

khấu hết chiều dày vỉa như sau:

Công tác chuẩn bị: Theo giới hạn của tầng

(hoặc phân tầng), tiến hành đào lò dọc vỉa vận

tải (1) và thông gió (2) đến biên giới khai thác

của lò chợ, tiếp theo đào lò thượng khởi điểm

(3) nối thông lò vận tải và lò thông gió để lắp

đặt lò chợ Tùy theo cách thức chuẩn bị của

từng khu vực có thể đào lò song song chân (4)

và lò nối (5), khoảng cách giữa các lò nối theo

phương từ 80 ÷ 100m Trụ bảo vệ (6) được tính

toán để đảm bảo khả năng chống giữ áp lực mỏ

và duy trì lò dọc vỉa vận tải (1) làm lò thông gió

khi khai thác tầng (hoặc phân tầng) dưới Từ

lò thượng khởi điểm tiến hành lắp đặt vì chống

lò chợ, các thiết bị khai thác để tiến hành khấu

than Chi tiết về sơ đồ chuẩn bị cho HTKT cột

dài theo phương, lò chợ khấu hết chiều dày vỉa

xem hình 2

Công tác khai thác: Việc khai thác được tiến

hành trên toàn bộ chiều dày vỉa tương tự với các

lò chợ khai thác vỉa dày trung bình, thoải đến

nghiêng Theo đó, sau khi lắp đặt các vì chống

và hoàn tất công tác phá hỏa ban đầu, tiến hành khai thác thường kỳ lò chợ Trình tự khai thác thực hiện theo hướng khấu dật từ biên giới về trung tâm Tiến độ khấu thay đổi tùy thuộc vào chiều rộng tang khấu được chọn (thường là 0,6

÷ 0,8m) Điều khiển đá vách bằng phá hỏa toàn phần hoặc chèn lò

Công tác vận tải: Than khai thác từ gương

theo máng cào lò chợ, lò song song chân (4), lò nối (5) xuống lò dọc vỉa vận tải (1) và ra ngoài Vật liệu cung cấp cho lò chợ được vận chuyển

từ ngoài mặt bằng, theo các đường lò khai thông, chuẩn bị mức thông gió vào cung cấp cho lò chợ

Công tác thông gió: Thông gió cho lò chợ

theo sơ đồ thông gió chung của khu vực Gió sạch từ ngoài mặt bằng, theo các đường lò khai thông mức vận tải vào lò dọc vỉa vận tải (1), lò nối (5), lò song song chân (4) vào cấp cho lò chợ Gió thải từ lò chợ lên lò dọc vỉa thông gió (2) và ra ngoài theo các đường lò khai thông mức thông gió

Công tác thoát nước: Nước thoát ra từ lò chợ

tự chảy xuống lò song song chân, lò nối, lò dọc vỉa vận tải và ra hệ thống thoát nước chung của toàn mỏ

Phạm vi áp dụng: HTKT này có thể áp dụng

cho các khu vực vỉa dày trung bình từ 1,6 ÷ 2,5

m Than từ trung bình đến cứng Mức độ biến động chiều dày vỉa từ ổn định đến ổn định trung

1, 2 - lò dọc vỉa vận tải, thông gió; 2 - lò thượng khởi

điểm; 4 - lò song song chân; 5 - lò nối

Hình 2 Hệ thống khai thác cột dài theo phương,

lò chợ khấu hết chiều dày vỉa

Hình 3 Gương lò chợ khai thác 1 lớp hết chiều dày vỉa

Trang 5

bình Mức độ biến động về góc dốc từ ổn định

đến tương đối ổn định Khu vực áp dụng có

quy mô trữ lượng huy động của lò chợ không

nhỏ hơn công suất thiết kế của lò chợ để hạn

chế gián đoạn sản xuất do chuyển diện Đá kẹp

trong vỉa có hệ số kiên cố f ≤ 4 (phù hợp với khả

năng làm việc của hầu hết các loại máy khấu

hiện nay)

(2) HTKT cột dài theo phương, khấu lớp

trụ, hạ trần thu hồi than nóc

Bản chất của HTKT như sau:

Công tác chuẩn bị: Công tác chuẩn bị cho hệ

thống khai thác này bao gồm đào các lò dọc vỉa

vận tải, thông gió và thượng khởi điểm cùng các

đường lò khác Lò được đào bám trụ theo sơ đồ

tương tự HTKT cột dài theo phương, khấu hết

chiều dày vỉa (xem hình 2)

Công tác khai thác: Công tác khấu gương

bằng máy khấu, chiều cao khấu gương từ 1,8

÷ 2,5 m, phần than nóc được hạ trần thu hồi

sau khi di chuyển vì chống sang luồng mới (xem

hình 4)

Công tác vận tải: Công tác vận tải trong lò

chợ được thực hiện bằng máng cào Sơ đồ vận

tải từ chân lò chợ ra ngoài cũng như các công

tác phụ trợ khác thực hiện tương tự hệ thống

khai thác khấu một lớp hết chiều dày vỉa

Phạm vi áp dụng: HTKT này được áp dụng

trong điều kiện vỉa có chiều dày không ổn định

đến ổn định, cấu tạo vỉa từ đơn giản đến phức

tạp, đá vách dễ sập đổ đến sập đổ trung bình,

than không có tính tự cháy

(3) HTKT chia lớp nghiêng hạ trần thu hồi than lớp giữa

Về cơ bản, bản chất của HTKT này là tương

tự HTKT khấu một lớp hết chiều dày vỉa đối với các vỉa rất gần nhau Tuy nhiên thay vì một lớp khấu hết toàn bộ chiều dày vỉa, theo chiều dày, vỉa than được chia thành các lớp nghiêng khai thác độc lập (hình 5)

Tùy thuộc vào chiều dày vỉa, đặc điểm phân lớp đá kẹp, và chiều cao khấu của lò chợ sẽ hình thành từ 2 đến nhiều lớp khấu Tại mỗi lớp, các công tác chuẩn bị, khai thác, vận tải, thông gió, cấp thoát nước,… được thực hiện tương tự nhau Các lò chợ chia lớp theo trình tự từ trên xuống (khi điều khiển đá vách bằng phá hỏa toàn phần) hoặc từ dưới lên trên (khi điều khiển

đá vách bằng chèn lò) Chiều cao khấu gương

từ 2,0 ÷ 2,5 m, giữa các lớp khấu là các lớp than

hạ trần được tính toán để đảm bảo khả năng sập đổ phục vụ công tác thu hồi than hạ trần

Sơ đồ chuẩn bị vẽ trong trường hợp vỉa than được chia thành 2 lớp khấu xem hình 6 Trong

đó lớp vách khai thác trước, sau khi kết thúc lớp vách tiến hành khai thác lớp trụ hoặc khai thác đuổi nhau Khi khai thác đuổi nhau, khoảng cách vượt trước của các lớp được xác định theo công thức:

Lmin = m x cotgδ0 + Xmin, m

1,2 - lò dọc vỉa vận tải và thông gió lớp trụ; 3, 7 - lò thượng khởi điểm lớp vách; 5,6 - lò dọc vỉa vận tải

và thông gió lớp vách Hình 5 Hệ thống khai thác chia lớp nghiêng Hình 4 Lò chợ trụ, hạ trần thu hồi than nóc

Trang 6

Trong đó: m - là tổng chiều dày vỉa 2 lớp khấu

liền nhau và than hạ trần, m; δ0 - góc biên giới

theo phương, độ; Xmin - khoảng cách dự trữ để

đảm bảo cho lò chợ lớp dưới khai thác liên tục

trong thời gian lò chợ lớp trên gặp sự cố gián

đoạn sản xuất Giá trị Xmin phụ thuộc tốc độ tiến

gương của lò chợ, thường được chọn với thời

gian dự trữ khoảng 1 tháng

Điều kiện áp dụng của hệ thống khai thác: Vỉa than có chiều dày lớn hơn chiều dày tối đa cho phép của một lớp khấu tính theo khả năng sập đổ trần than và khả năng chịu tải của vì chống [5], vỉa ổn định đến ổn định trung bình về chiều dày và góc dốc

Tính toán sơ bộ cho một lò chợ bán cơ giới hóa sử dụng giá khung (GK) hoặc giá xích (GX)

TT Tên chỉ tiêu Đơn vị Lò chợ máy khấu Lò chợ khoan nổ mìn

Bảng 2 So sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của lò chợ bán cơ giới và lò chợ khoan nổ mìn, chống giữ bằng giá khung hoặc giá xích

TT Tên thông số Đơn vị tính Lò chợ máy khấu Lò chợ khoan nổ mìn

Bảng 3 Khái toán chi phí thiết bị các loại hình công nghệ

TT Các yếu tố chi phí Đơn vị tính Lò chợ máy khấu Lò chợ khoan nổ mìn

Bảng 4 Giá thành phân xưởng các loại hình công nghệ

Trang 7

Research and proposal of the coal mining flowsheet using coal cutting combines and longwall supporting with movable

supporting frames and chain supporting frames

Dr Dao Ngoc Hoang; Dr Le Duc Nguyen,

MSc Dam Huy Tai; MSc Phung Viet Bac

Institute of Mining Science and Technology – Vinacomin

Summary:

At present, the coal output exploited from the longwall with using blasting method and supporting with movable supporting frames and chain supporting frames has accounted for about 43.5% of VINACOMIN’s total coal output Although the technology has been applied widely and skillfully, but due to using blasting method, the productivity and output has been limitted Research and proposal

of the mining flowsheet to improve productivity, labor productivity, safety level and the working

kết hợp máy khấu có chiều dài 100m, chiều dày

vỉa 6,5m cho thấy so với lò chợ khoan nổ mìn

trong cùng điều kiện, lò chợ sử dụng máy khấu

có công suất cao hơn 1,5 lần; nhu cầu nhân lực

trực tiếp giảm khoảng10%; năng suất lao động

trực tiếp cao hơn 1,66 ÷ 2,21 (chi tiết xem từ

bảng 2 đến bảng 4) Với khái toán tổng mức đầu

tư dự kiến khoảng 55 tỷ đồng, giá thành khai

thác một tấn than thấp hơn từ 20 ÷ 22% so với

lò chợ khoan nổ mìn chống giữ bằng giá khung

hoặc giá xích trong cùng điều kiện

3 Kết luận

Kết quả đánh giá tổng hợp kinh nghiệm áp

dụng giá khung, giá xích kết hợp máy khấu than

tại các mỏ hầm lò của Trung Quốc và tính toán

sơ bộ trong điều kiện của các mỏ hầm lò của

TKV đã cho thấy công nghệ này cho phép nâng

cao đáng kể sản lượng của lò chợ so với khoan

nổ mìn, từ đó nâng cao năng suất lao động và

giảm giá thành khai thác than Ngoài ra, việc

giảm khối lượng các công việc thủ công như

khoan nổ mìn, xúc tải than đã góp phần cải thiện

điều kiện làm việc cho người lao động và nâng

cao mức độ an toàn

Hiện nay, trữ lượng than vỉa dày trung bình

và dày, thoải đến nghiêng tại các mỏ hầm lò

vùng Quảng Ninh cũng như cơ cấu sản lượng

khai thác hàng năm từ các đối tượng vỉa than

này đang chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng

sản lượng khai thác hầm lò của ngành than

Việc đổi mới công nghệ khai thác sẽ góp phần

tích cực trong việc nâng cao hiệu quả khai thác

và giảm áp lực về sự thiếu hụt nguồn nhân lực

đối với ngành than những năm tới

Trong điều kiện địa chất phức tạp tại các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh, việc đầu tư các

lò chợ bán cơ giới sử dụng giá khung và giá xích kết hợp máy khấu cho phép khai thác được nhiều khu vực khó hoặc không có khả năng áp dụng cơ giới hóa đồng bộ do công nghệ có chi phí đầu tư thấp hơn nhiều so với các lò chợ CGH đồng bộ Ngoài ra, cán bộ và công nhân tại các mỏ đã có nhiều kinh nghiệm khai thác và chống giữ lò chợ bằng giá khung hoặc giá xích

sẽ là một trong các yếu tố thuận lợi để nghiên cứu triển khai áp dụng trong thời gian tới./

Tài liệu tham khảo:

1 Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam, Báo cáo tổng hợp khối lượng mỏ, Hà Nội, 2008

2 Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam, Báo cáo tổng hợp khối lượng mỏ, Hà Nội, 2018

3 Đặng Thanh Hải, Báo cáo tổng kết đề tài “Phát

triển áp dụng cơ giới hóa đào lò và khai thác tại các

mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh giai đoạn 2013 ÷ 2015,

lộ trình đến năm 2020”, Hà Nội, 2016.

4 Đinh Văn Cường, Báo cáo tổng kết đề tài

“Nghiên cứu áp dụng giá khung, giá xích thay thế cột thủy lực đơn trong các lò chợ khai thác vỉa dày trung bình, dốc thoải đến nghiêng nhằm nâng cao mức độ

an toàn, sản lượng và năng suất lao động tại các mỏ than hầm lò”, Hà Nội, 2017.

5 Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam,

“Hướng dẫn thực hiện công tác phá hỏa ban đầu và chia lớp khai thác lò chợ trong các mỏ than hầm lò thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam”, Hà Nội 2018

Ngày đăng: 08/06/2021, 09:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm