1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu công nghệ cơ giới hóa phù hợp khai thác trong điều kiện các vỉa dày trung bình, góc dốc vỉa nghiêng, đá vách, trụ vỉa yếu tại các mỏ hầm lò vùng Mạo Khê - Uông Bí

8 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trữ lượng các khu vực vỉa dày trung bình, dốc nghiêng có điều kiện đá vách, trụ vỉa yếu tập trung chủ yếu tại các mỏ than hầm lò vùng Mạo Khê - Uông Bí. Để khai thác trong điều kiện vỉa như trên, các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh chủ yếu áp dụng công nghệ khấu gương bằng khoan nổ mìn, chống giữ bằng các vì chống thủy lực với năng suất lao động, công suất lò chợ thấp và mức độ an toàn còn hạn chế. Do vậy, nghiên cứu công nghệ cơ giới hóa khai thác nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và mức độ an toàn là nội dung chính của bài báo.

Trang 1

Tóm tắt:

Trữ lượng các khu vực vỉa dày trung bình, dốc nghiêng có điều kiện đá vách, trụ vỉa yếu tập trung chủ yếu tại các mỏ than hầm lò vùng Mạo Khê - Uông Bí Để khai thác trong điều kiện vỉa như trên, các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh chủ yếu áp dụng công nghệ khấu gương bằng khoan nổ mìn, chống giữ bằng các vì chống thủy lực với năng suất lao động, công suất lò chợ thấp và mức độ an toàn còn hạn chế Do vậy, nghiên cứu công nghệ cơ giới hóa khai thác nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và mức độ an toàn là nội dung chính của bài báo.

1 Đặt vấn đề

Kết quả đánh giá trữ lượng và điều kiện địa

chất tại các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh

cho thấy, trữ lượng có khả năng áp dụng công

nghệ cơ giới hóa (CGH) khai thác khoảng 231,1

triệu tấn, trong đó trữ lượng thuộc phạm vi vỉa

than dày trung bình, dốc thoải đến nghiêng

khoảng 60,6 triệu tấn [2], bao gồm cả phần trữ

lượng các khu vực có điều kiện địa chất kém

thuận lợi do yếu tố góc dốc vỉa lớn (từ 25 ÷ 350),

đá vách, trụ vỉayếu và tập trung chủ yếu tại một

số mỏ than hầm lò vùng Mạo Khê - Uông Bí)

Trong khi đó, hiện nay việc nhân rộng các mô

hình công nghệ CGH đồng bộ khai thác tại các

mỏ than hầm lò vùng Quang Ninh còn hạn chế

Nguyên nhân chủ yếu do các dây chuyền CGH

đang áp dụng có kích thước và trọng lượng lớn,

khả năng thích nghi với điều kiện góc dốc vỉa

lớn, biến động địa chất phức tạp vùng Quảng

Ninh thấp, nên việc đầu tư áp dụng các dây

chuyền CGH có mức độ rủi ro cao Do vậy, công

nghệ khai thác khấu gương bằng khoan nổ mìn,

chống giữ lò chợ bằng các loại vì chống thủy

lực (cột thủy lực đơn, giá thủy lực di động, giá

khung, giá xích) hiện vẫn chiếm vai trò chính,

đóng góp 60 ÷ 65% tổng sản lượng than hầm

lò hàng năm của TKV Do đó, việc nghiên cứu

công nghệ CGH khai thác trong điều kiện vỉa

có đá vách, trụ yếu và góc dốc vỉa lớn sẽ góp

phần thực hiện thành công chủ trương của

TKV, sản lượng than khai thác bằng công nghệ

CGH đồng bộ đạt mức 20 ÷ 25% tổng sản

lượng than khai thác hầm lò vào năm 2020

2 Kinh nghiệm áp dụng công nghệ

CGH trong điều kiện đá vách, trụ vỉa yếu

Tại Trung Quốc, từ sau năm 2000 đã nghiên cứu, chế tạo thành công các mô hình công nghệ CGH đồng bộ khai thác phù hợp với điều kiện địa chất kém thuận lợi như góc dốc vỉa lớn, đá vách, trụ vỉa và gương than mềm yếu, kém ổn định… Kết quả áp dụng đã cho các chỉ tiêu kinh

tế kỹ thuật tương đối tốt, ví dụ: tại lò chợ

J56-22070 thuộc mỏ Thiên An 9 - Bình Đỉnh Sơn - Hà Nam, khu vực có chiều dày vỉa trung bình 2,9m; góc dốc từ 8 ÷ 310; độ cứng của than f = 1,0 ÷ 1,2; vách trực tiếp là sét kết đôi chỗ là bột kết, vách cơ bản thuộc cấp II; trụ trực tiếp là sét kết; lưu lượng nước chảy vào lò chợ từ 3 ÷ 4 m3/h Trong điều kiện như trên, mỏ áp dụng sơ đồ công nghệ (SĐCN) khai thác cột dài theo phương, khấu than bằng máy khấu MG250/600-AWD kết hợp máng cào SGZ-764/500; chống giữ lò chợ bằng giàn chống ZY4000/17/37 và giàn quá độ ZY5000/18/38 Chiều dài theo phương của lò chợ 580m, theo hướng dốc 160m Để ứng xử với điều kiện địa chất vỉa bất lợi, mỏ đã áp dụng một số giải pháp kỹ thuật như: khấu vê để giảm góc dốc biểu kiến của lò chợ; sử dụng kích chống trôi, chống trượt, kích chống lún đế giàn nên sản lượng lò chợ đạt 45.920 tấn/tháng, tương đương với công suất 551.000 tấn/năm [3] Tại lò chợ J56-10030 mỏ số 10 - Bình Đỉnh Sơn - Hà Nam khai thác các vỉa than có góc dốc trung bình 250, cục bộ đến 350, dày trung bình 2,7m Phía trên vỉa than có lớp vách giả sét kết, chiều dày 0,2m; vách trực tiếp là lớp bột kết chiều dày 2,9m; vách cơ bản gần phay tương đối dập nát; trụ trực tiếp là bột kết màu xám và sét kết Độ xuất khí mêtan tương đối là 2,5 m3/tấn, lưu lượng nước thường xuyên chảy vào lò chợ khoảng 10

NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ CƠ GIỚI HÓA PHÙ HỢP KHAI THÁC

TRONG ĐIỀU KIỆN CÁC VỈA DÀY TRUNG BÌNH, GÓC DỐC VỈA NGHIÊNG,

ĐÁ VÁCH, TRỤ VỈA YẾU TẠI CÁC MỎ HẦM LÒ VÙNG MẠO KHÊ - UÔNG BÍ

TS Lê Văn Hậu, TS Lê Đức Nguyên,

ThS Ngô Văn Thắng

Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - Vinacomin

Biên tập: TS Đào Hồng Quảng

Trang 2

m3/h Chiều dài lò chợ theo hướng dốc 120m,

theo phương 1.007m Đồng bộ thiết bị sử dụng

bao gồm giàn chống loại tăng cường khả năng

chống trượt, chống đổ và chống lún nền mã hiệu

ZQY2000/14/31, máy khấu than MLS3PH-170 kết

hợp máng cào SGWD-180PB Sản lượng lò chợ

đạt 2.300 tấn/ngày, tương đương với công suất

714.000 tấn/năm, NSLĐ bình quân 20,9 tấn/

công, cao nhất đạt 25,52 tấn/công [3] Ngoài ra,

một số mỏ hầm lò như Doanh Cốc Sơn, Hồng

Quảng, Xương Hưng, Phổ Gia, thuộc tỉnh Quý

Châu cũng đã triển khai áp dụng thành công

công nghệ CGH khai thác vỉa dày trung bình, dốc

thoải đến dốc nghiêng, đá vách, trụ vỉa là sét kết

mềm yếu Sản lượng khai thác đạt từ 450 ÷1.200

nghìn tấn/năm, NSLĐ đạt từ 40 ÷ 70 tấn/công

Ở trong nước, công nghệ CGH khai thác

đã được nghiên cứu và đưa vào áp dụng từ

những năm 1967 ÷ 1970 Cho đến nay, trong

toàn TKV đã có 10 dây chuyền CGH khấu than

bằng máy cho đối tượng vỉa thoải đến nghiêng

được đưa vào áp dụng, hiện có 07 dây chuyền

đang hoạt động [2] gồm: Hà Lầm (02 lò chợ);

Khe Chàm (02 lò chợ); Vàng Danh, Quang

Hanh, Dương Huy (mỗi đơn vị có 01 lò chợ)

Sản lượng khai thác bằng công nghệ CGH tăng

từ 115,2 nghìn tấn năm 2002 (chiếm 1,9% tổng

sản lượng than hầm lò) lên 2.950,6 nghìn tấn

năm 2018 (chiếm 12,7% tổng sản lượng than

hầm lò) Sản lượng than khai thác bằng công

nghệ CGH từ năm 2002 ÷ 2018 xem hình 1

Сông nghệ CGH đồng bộ khai thác khấu hết

chiều dày vỉa được triển khai áp dụng đầu tiên trong ngành than tại Công ty than Khe Chàm (năm 2005), đồng bộ thiết bị gồm giàn chống tự hành ZZ-3200/16/26, máy khấu than MG150/375-W Các khu vực áp dụng có chiều dày vỉa từ 0,6 ÷ 4,94m, góc dốc phổ biến từ 1 ÷ 20o, một số vị trí lên tới 24 ÷ 270 Hầu hết các khu vực áp dụng tồn tại lớp vách giả sét kết, sét than mềm, chiều dày từ 0,5 ÷ 1,0m; đá trụ vỉa chủ yếu là bột kết bền vững, đôi chỗ là sét kết Chiều dài lò chợ theo phương từ 330 ÷ 680m, theo hướng dốc từ

109 ÷ 148m Thời điểm thuận lợi, sản lượng lò chợ đạt 40.000 ÷ 51.000 T/tháng, tương đương công suất 480.000 ÷ 600.000 T/năm Tuy nhiên, phần lớn thời gian hoạt động, sản lượng lò chợ duy trì từ 15.000 ÷ 35.000 T/tháng [3] Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sản lượng lò chợ thấp do: Tại một số lò chợ phía trên vỉa than là lớp vách giả sét kết, sét than rất dễ tụt lở trước gương, lò chợ phải khấu bộ bằng cột TLĐ + xà thép tiến trước để đón giàn; Thường xuyên phải khấu vượt các phay phá với biên độ từ 1,0 ÷ 2,6m; Góc dốc vỉa > 200, lò chợ phải khấu vê để đưa góc dốc biểu kiến của lò chợ nhỏ hơn 200 Năm 2015, tại Công ty than Dương Huy đã triển khai áp dụng công nghệ CGH đồng bộ khấu hết chiều dày vỉa sử dụng giàn chống tự hành ZY3200/16/36 kết hợp với máy khấu than MG300/700-W Các khu vực áp dụng có chiều dày vỉa đến 3,5m, góc dốc thoải đến nghiêng, chiều dài lò chợ theo hướng dốc 153m, theo phương 550m Sản lượng khai thác đạt được

Hình 1 Diễn biến sản lượng khai thác bằng công nghệ CGH trong TKV

Trang 3

tương đối thấp từ 7.933 ÷ 33.528 tấn/tháng,

NSLĐ trung bình 4,4 tấn/công-ca [3] Nguyên

nhân chính dẫn đến sản lương lò chợ đạt được

thấp do: Góc dốc vỉa tăng lên (trên 200) so với dự

kiến, làm cho giàn chống và máng cào trôi trượt

theo hướng dốc Để hạn chế sự ảnh hưởng của

góc dốc vỉa đến đồng bộ thiết bị CGH, lò chợ

phải khấu vê với chân tiến trước nhằm giảm góc

dốc lò chợ nhỏ hơn 200; Than gương và đá vách

mềm yếu, thường xuyên xảy ra sự cố tụt nóc, lở

gương, lò chợ phải khấu bằng thủ công kết hợp

với đóng nhói giữ nóc để di chuyển giàn chống

Cũng trong năm 2015, Công ty than Quang

Hanh đã triển khai áp dụng công nghệ CGH đồng

bộ khấu hết chiều dày vỉa sử dụng giàn chống

ZQY3600/12/28, máy khấu than MG132/320-W

kết hợp với máng cào SGZ630/220 Các khu vực

áp dụng có chiều dài theo hướng dốc khoảng

80m, theo phương từ 200 ÷ 300m, chiều dày vỉa

từ 1,7 ÷ 3,2m, trung bình 2,4m; góc dốc vỉa từ 8

÷ 350, trung bình 180 Vách trực tiếp là bột kết,

đôi chỗ ngay sát vỉa là lớp sét than dày từ 0,3 ÷

0,6m Vách cơ bản chủ yếu là bột kết hoặc cát

kết, đôi chỗ là sạn kết Trụ trực tiếp là lớp bột kết,

đôi chỗ là sét kết, sét than Phần lớn thời gian

hoạt động của lò chợ, góc dốc vỉa nằm trong giới

hạn từ 210 ÷ 350, nên giàn chống và máng cào

thường xuyên trôi trượt xuống lò chân Để khắc

phục sự cố trên, Công ty đã tổ chức khấu đẩy

chân vượt trước đầu lò chợ từ 3,6 ÷ 12,0m nhằm

đưa góc dốc lò chợ phù hợp với khả năng làm

việc của đồng bộ thiết bị CGH Song song với đó,

Công ty lắp đặt các hệ thống kích chống trôi giàn

chống, máng cào phạm vi một nửa phía dưới

lò chợ để tạo thành hệ liên kết nhóm giữa giàn

chống và máng cào, tăng sự hỗ trợ giữa các thiết

bị để có thể ngăn ngừa sự cố trôi thiết bị xuống

lò chân (hình 2) Nhờ việc chủ động thực hiện các giải pháp, nên đã hạn chế tối đa sự trôi trượt của các thiết bị, sản lượng lò chợ đạt từ 13.789

÷ 18.596 tấn/tháng, có thời điểm đạt trên 30.000 tấn/tháng, NSLĐ đạt từ 6,8 ÷ 13,6 tấn/công [4]

3 Nghiên cứu công nghệ CGH khai thác trong điều kiện vỉa dày trung bình, góc dốc vỉa nghiêng đến dốc nghiêng, đá vách, trụ yếu

Kinh nghiệm áp dụng công nghệ CGH trong điều kiện vỉa dày trung bình, góc dốc đến 35o, có

đá vách, trụ và than gương mềm yếu trên thế giới cho thấy, để giảm ảnh hưởng bất lợi của điều kiện địa chất vỉa đến đồng bộ thiết bị CGH trong lò chợ, các nước chủ yếu áp dụng giải pháp cải tiến đồng bộ thiết bị CGH, lắp đặt bổ sung hệ thống kích liên kết giúp cho các thiết bị trong lò chợ làm việc ổn định hơn Trên cơ sở kinh nghiệm

đó, nhóm tác giả sẽ phân tích và lựa chọn đồng

bộ thiết bị CGH phù hợp cho điều kiện vỉa than dày trung bình, góc dốc vỉa nghiêng, có đá vách, trụ yếu tại các mỏ hầm lò vùng Quảng Ninh Hiện nay, trên thế giới các loại giàn chống được chế tạo rất đa dạng và phong phú nhằm thích ứng cho từng điều kiện vỉa than khác nhau Tuy nhiên, phân loại giàn chống theo yếu tố về kết cấu, giàn chống được chia làm 03 nhóm chính: (1) - Giàn chống tự hành loại che chắn (loại chắn chống); (2) - Giàn chống tự hành loại chống chắn; (3) - Giàn chống tự hành loại chống Giàn chống loại che chắn (hình 3a) gồm kết cấu tay biên; hai cột thủy lực gắn vào xà nóc và đế giàn; kích cân bằng xà nóc và xà che chắn nằm

ở giữa đế giàn và xà che chắn; xà nóc, xà che chắn, kích cân bằng liên kết với nhau bằng kiểu khớp xoay Giàn chống loại che chắn được thiết

a Hệ thống chống trôi giàn chống b Hệ thống chống trôi máng cào c Hệ thống chống đổ giàn chống

Hình 2 Một số hình ảnh hệ thống chống trôi, chống đổ giàn chống, máng cào

Trang 4

kế có phần xà nóc ngắn hơn so với xà che chắn,

cho phép giảm diện tích chống giữ vách của giàn

chống và diện tích lộ vách trong lò chợ Khi đó,

giảm áp lực mỏ tác động lên giàn chống, cũng

như số lần tác động của giàn chống lên vách

vỉa, giúp cho vách ổn định hơn Loại giàn chống

này áp dụng phù hợp cho điều kiện vỉa có vách

thuộc loại kém ổn định đến ổn định trung bình

Giàn chống loại chống chắn (hình 3b) có kết

cấu tương tự như giàn chống che chắn (gồm

tay biên, 04 cột thủy lực, kích cân bằng, xà nóc

và xà che chắn) Tuy nhiên, xà nóc của giàn

chống loại chống chắn được thiết kế dài hơn

so với xà che chắn, do vậy diện tích chống giữ

vách của giàn chống và diện tích lộ vách trong

lò chợ lớn hơn so với loại giàn chống che chắn

Khi đó, áp lực mỏ tác động lên giàn chống lớn

và số lần tác động của giàn chống lên vách vỉa

nhiều hơn, nhờ đó vách sẽ được làm yếu sơ

bộ, thuận lợi cho việc điều khiển vách Loại giàn

chống này áp dụng phù hợp cho những vỉa than

có vách thuộc loại ổn định và khó điều khiển

Giàn chống kiểu chống (hình 3c) là loại giàn chống không có kết cấu tay biên và xà che chắn, giàn chống chỉ thay đổi chiều cao theo hướng thẳng đứng, cột chống được gắn vào xà và đế giàn Do giàn chống không có xà che chắn, nên

để đảm bảo không gian làm việc cho người và thiết bị trong lò chợ, xà nóc thường được thiết kế dài Do vậy, cơ chế làm việc của giàn chống loại chống tương tự như giàn chống loại chống chắn Loại giàn chống này áp dụng phù hợp cho những vỉa than có chiều dày từ mỏng đến trung bình, vách thuộc loại ổn định Mối quan hệ giữa chiều dài xà giàn và số lần tác động của giàn chống lên vách vỉa trong quá trình khai thác xem hình 4 Theo biểu đồ hình 4, chiều dài xà nóc của giàn chống tỷ lệ thuận với số lần tác động của giàn chống lên vách vỉa (tính từ thời điểm khấu gương đến khi phá hỏa), khi chiều dài

xà giàn chống tăng, số lần tác động của giàn chống lên vách vỉa trong quá trình khai thác cũng sẽ tăng và ngược lại Do vậy, trong điều kiện vỉa dày trung bình có đá vách, trụ vỉa và

a Giàn chống che chắn

(loại chắn chống) b Giàn chống loại chống chắn

c Giàn chống loại chống (loại chắn chống)

Hình 3 Phân loại giàn chống theo kết cấu

Hình 4 Biểu đồ mối tương quan giữa chiều dài xà nóc với số lần tác động của giàn chống lên vách vỉa

Trang 5

gương than mềm yếu áp dụng các loại giàn

chống kiểu che chắn (hình 3a) để khai thác

sẽ phù hợp hơn các loại giàn chống khác

Ngoài ra, các bộ phận của giàn chống cũng

được thiết kế phù hợp để ứng xử với điều kiện

địa chất vỉa bất lợi của khu vực áp dụng, ví dụ:

Xà nóc giàn chống cần được thiết kế phía đầu

lắp xà tiến gương dạng thò thụt để kịp thời che

chắn vách sau khi khấu gương, ngăn ngừa, xử lý

hiện tượng tụt nóc Đồng thời đầu xà tiến gương

có vị trí lắp đặt tấm chắn gương (hình 5a), có

thể tháo lắp tấm chắn gương dễ dàng Trường

hợp chiều cao khấu lớn, than gương mềm yếu

hoặc dừng lò chợ thời gian dài để sửa chữa

bảo dưỡng thiết bị, đẩy tấm chắn gương áp sát

gương than cho phép phòng tránh hiện tượng lở

gương Trong điều kiện gương than ổn định có

thể tháo dỡ tấm chắn gương để giảm tối đa thao

tác điều khiển giàn trong quá trình khai thác Xà

nóc và xà che chắn của giàn chống có tấm chắn

cạnh linh hoạt lắp một bên làm kín tối đa không

gian trên nóc, vị trí khớp nối giữa xà nóc và xà

che chắn được thiết kế dạng khớp bản lề có

vành chắn che kín toàn bộ không gian khớp nối

(hình 5c) ngăn chặn đá rơi vào không gian lò

chợ, đảm bảo an toàn cho công nhân làm việc Diện tích đế giàn đóng vai trò quan trọng trong việc kháng lún nền của giàn chống, diện tích của giàn phụ thuộc vào cường độ kháng nén của nền lò chợ Với từng điều kiện địa chất

cụ thể của khu vực áp dụng, sẽ xác định được cường độ kháng nén của nền lò, từ đó tính toán

và lựa chọn được diện tích đế giàn phù hợp Mối tương quan giữa cường độ kháng nén của nền lò với diện tích đế giàn xem hình 6

Theo biểu đồ hình 6, cường độ kháng nén (sn) của nền lò chợ tỷ lệ nghịch với diện tích đế giàn Theo đó, khi giá trị áp lực mỏ lớn nhất tác dụng lên giàn chống là không đổi (Rmax), giá trị của cường độ kháng nén của nền lò chợ giảm, tương ứng với giá trị diện tích đế giàn chống tăng và ngược lại Ngoài việc thiết kế diện tích

đế giàn phù hợp với cường độ kháng nén của nền lò, đế giàn còn được trang bị kích nâng đế (hình 7b) để khi cần thiết có thể sử dụng kích nâng đế kết hợp với hệ thống thanh đẩy máng cào nhấc đế giàn lên tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình di chuyển giàn chống Như vậy, trong điều kiện trụ vỉa mềm yếu, đế giàn chống cần được thiết kế dạng chỉnh thể, khả năng chống

a Kết cấu tấm chắn gương b Xà nóc của giàn chống c Khớp nối giữa xà nóc

và xà che chắn Hình 5 Kết cấu xà nóc của giàn chống

Hình 6 Biểu đồ mối quan hệ giữa cường độ kháng nén của nền lò chợ với diện tích đế giàn chống

Trang 6

biến dạng tốt, tính năng ổn định, chắc chắn

Đầu mũi trước đế giàn thiết kế vát dạng hình

thuyền 450 cho phép giảm lực cản trong quá

trình di chuyển giàn chống (hình 7a) Ngoài

ra, đế giàn được trang bị kích chỉnh đế phục

vụ căn chỉnh khoảng cách giữa các giàn chống

để thuận lợi khi di chuyển giàn chống (hình 7c)

Đối với điều kiện góc dốc vỉa: Kinh nghiệm

áp dụng CGH đồng bộ khai thác tại Trung Quốc

và các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh cho

thấy, khi góc dốc lò chợ < 15o, giàn chống có thể

không cần trang bị các cơ cấu chống trôi, chống

đổ giàn chống và máng cào Trường hợp góc

dốc vỉa từ 15 ÷ 250, cần xem xét đến khả năng

trang bị các cơ cấu chống trôi, chống đổ giàn ở

nhóm giàn chống chân lò chợ, đồng thời xem

xét khả năng trang bị cơ cấu chống trôi máng

cào ở mọi vị trí Khi góc dốc vỉa > 250 cần lắp đặt

thiết bị chống trôi, chống đổ cho các nhóm giàn

chống trong lò chợ, cầu máng trung gian của máng cào lắp đặt thiết bị chống trôi trượt Các

hệ thống kích chống trôi, chống đổ được lắp đặt dọc theo lò chợ, tạo thành hệ liên kết nhóm giữa giàn chống và máng cào, tăng sự hỗ trợ giữa các thiết bị để có thể ngăn ngừa sự cố trôi, trượt thiết bị xuống lò chân, giúp cho thiết bị làm việc

ổn định hơn, cụ thể: Kích chống đổ giàn chống

sử dụng để liên kết hai xà giàn chống cạnh nhau bằng mối liên kết đặt biệt dạng khớp xoay chữ thập Khớp xoay chữ thập cho phép kích thuỷ lực chống đổ có thể quay theo phương ngang

và thẳng đứng (so với mặt phẳng nóc lò chợ) một góc khoảng 900 Độ chênh cáo giữa hai xà giàn chống sau khi lắp đặt kích chống đổ không được lớn hơn 350mm, trường hợp vượt quá giá trị cho phép, sẽ làm phá huỷ các thiết bị Kích chống trôi giàn chống được lắp ở phía trước đế giàn (hình 9a) và phía sau đế giàn (hình

a Đế giàn chống có vị trí lắt kích nâng đế b Kết cấu kích nâng đế giàn chống c Kích căn chỉnh đế giàn

Hình 7 Kết cấu đế giàn có kích chống lún nền

a Vị trí lắp đặt kích chống đổ b Độ chênh cao cho phép giữa hai xà giàn

Hình 8 Kết cấu thiết bị chống đổ xà giàn chống

a Thiết bị chống trôi đế giàn phía

trước b Thiết bị chống trôi đế giàn phía sau c Độ chênh cao giữa hai đế giàn chống

Hình 9 Kết cấu thiết bị chống trôi đế giàn

Trang 7

9b) Các kích thuỷ lực này liên kết với đế giàn

thông qua khớp nối chữ thập và có thể quay theo

phương ngang và thẳng đứng (so với mặt phẳng

nền lò chợ) một góc khoảng 900 Độ chênh cáo

giữa các đế giàn khi lắp kích chống trôi không

được vượt quá 250mm, trường hợp vượt quá

giá trị cho phép, sẽ làm phá huỷ các thiết bị

Để chống trôi máng cào sử dụng kích

thủy lực một đầu kích liên kết với tai của cầu

máng cào, đầu còn lại liên kết với đế giàn bên

cạnh phía trên Khi máng cào có hiện tượng

trôi xuống phía dưới, dựa vào lực kéo của

kích thuỷ lực để kéo máng cào lên (hình 10)

Ngoài các giải pháp về kết cấu của các thiết bị

chính như trên, có thể áp dụng thêm một số giải

pháp kỹ thuật để ứng xử với điều kiện vỉa có vách,

trụ và gương than mềm, góc dốc vỉa lớn như:

- Đẩy nhanh tốc độ tiến gương của lò chợ

nhằm giảm áp lực mỏ tác dụng lên giàn chống,

cũng như giảm thời gian lộ vách, giúp cho nóc

lò chợ ổn định hơn Tốc độ tiến gương của lò

chợ phụ thuộc chủ yếu vào tham số chiều dài lò

chợ theo hướng dốc, khi chiều dài lò chợ lớn,

thời gian hoàn thành chu kỳ kéo dài dẫn đến

tốc độ tiến gương của lò chợ chậm và ngược

lại Kinh nghiệm áp dụng công nghệ CGH trong

và ngoài nước cho thấy, trong điều kiện vỉa

có đá vách, trụ và gương than mềm yếu, góc

dốc vỉa lớn, chiều dài lò chợ theo hướng dốc

thường được lựa chọn từ 80 ÷ 120m là phù hợp

- Khấu lò chợ xiên chéo với chân tiến trước

đầu chợ nhằm đưa góc dốc của lò chợ phù hợp

với miền làm việc của đồng bộ thiết bị Đồng

thời 03 giàn chống đầu tiên tại đầu và chân lò

chợ lắp đặt cụm kích chống trôi, chống đổ ở

phần xà và đế giàn, ngoài ra trong lò chợ cứ

10 giàn bố trí một nhóm kích chống trôi, chống

đổ cho giàn chống và máng cào để thuận lợi cho việc điều chỉnh giàn lúc di chuyển

- Áp dụng sơ đồ khấu một chiều theo hướng

từ trên xuống, chiều từ dưới lên máy khấu không cắt than mà sẽ thực hiện vét nền lò Việc bố trí khấu gương lò chợ theo hướng từ trên xuống trong trường hợp góc dốc vỉa lớn

sẽ đảm bảo an toàn cho nhóm công nhân thao tác di chuyển giàn chống và máng cào phía sau máy khấu (không bị than, đá quăng trong khi máy khấu cắt than gương), đồng thời tang khấu luôn tỳ vào bậc gương than và tạo lực đẩy vào máng cào theo hướng lên trên, góp phần hạn chế trôi trượt máng cào và máy khấu

- Để ngăn ngừa máng cào trượt xuống, lúc máy khấu tiến hành khấu xuống, trước tiên không đẩy cầu máng mà đợi sau khi máy khấu khấu đến khoảng giữa lò chợ, lúc này mới bắt đầu

di chuyển máng cào, việc di chuyển được thực hiện đồng thời cả hướng lên và hướng xuống

- Khi máy khấu than theo hướng đi xuống, cứ

5 giàn tổ hợp thành một phân đoạn để di chuyển giàn chống theo hình thức di từ dưới lên trên, giàn dưới cùng làm thành giàn đầu hàng của nhóm kiểm soát trôi trượt cho các giàn còn lại

- Các giàn từ số 3 đến số 7 tại ngã ba chân chợ là nhóm giàn có vai trò chống trôi, chống đổ cho toàn bộ lò chợ, việc di chuyển giàn chống của nhóm này được thực hiện theo thứ tự từ giàn chống số 4®5®6®7®3

- Khi di chuyển giàn chống phía chân lò chợ, trước tiên di chuyển giàn chống số 2, 3 đợi sau khi giàn chống số 2 và số 3 di chuyển ổn định chắc chắn, tiếp tục di chuyển giàn chống số 1

- Sử dụng giàn chống đặc biệt tại đoạn ngã

ba giữa chân lò chợ với lò dọc vỉa vận tải nhằm

Hình 10 Kết cấu thiết bị chống trôi máng cào lò chợ

Trang 8

Study on the suitable mechanization technology for the medium coal seam exploitation with dip angle, inclined bed, weak roof rock and coal pillar

at underground coal mines at Mao Khe and Uong Bi areas

Dr Le Van Hau, Dr Le Duc Nguyen, MSc Ngo Van Thang

Institute of Mining Science and Technology – Vinacomin

Summary:

The coal reserves in medium coal seams with dip angle, inclined bed and weak roof rock and coal pillar are estimated at 32.9 million tons, mainly concentrated in Mao Khe and Uong Bi underground coal mines In order to exploit the coal in the above mentioned mining conditions the coal mining units usually apply the drilling and blasting mining method, using hydraulic supports However, the labor productivity and the longwall capacity are low and the safety level has been limited Therefore, research on mining mechanization technology to improve the mining efficiency and the safety level is the main content in this paper.

trôi trượt cho các giàn chống ở trong lò chợ

4 Kết luận

Kết quả đánh giá trữ lượng và điều kiện địa

chất tại các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh

cho thấy, phần trữ lượng vỉa dày trung bình, dốc

thoải đến nghiêng, có đá, vách trụ yếu khoảng

32,9 triệu tấn Để khai thác trong điều kiện vỉa

trên, các mỏ than hầm lò vùng Quang Ninh chủ

yếu áp dụng công nghệ khấu gương bằng khoan

nổ mìn, chống giữ bằng các vì chống thủy lực

cho năng suất lao đông, công suất lò chợ thấp

và mức độ an toàn còn hạn chế Trên cơ sở kinh

nghiệm áp dụng công nghệ CGH đồng bộ khấu

hết chiều dày vỉa trong và ngoài nước, để lựa

chọn đồng bộ thiết bị CGH phù hợp cho điều

kiện vỉa dày trung bình, góc dốc vỉa nghiêng đến

dốc nghiêng, có đá vách, trụ yếu, nhóm tác giả

đề xuất một số giải pháp: (1) - Lựa chọn các loại

giàn chống kiểu che chắn có phần xà nóc ngăn

hơn so với xà che chắn; (2) - Xà nóc của giàn

chống thiết kế có xà tiến gương kết hợp với tấm

chắn gương; (3) - Đế giàn chống được thiết kế

phù hợp với cường độ kháng nén của nền lò và

được trang bị kích nâng đế, kích căn chỉnh đế

giàn; (4) - Để hạn chế ảnh hưởng của góc dốc

vỉa, trong lò chợ lắp đặt bổ sung hệ thống kích chống trôi, trượt máng cào và giàn chống Ngoài

ra, có thể áp dụng bổ sung các giải pháp như: Đẩy nhanh tốc độ tiến gương; khấu lò chợ xiên chéo với chân tiến trước đầu chợ; áp dụng sơ

đồ khấu một chiều theo hướng từ trên xuống

Tài liệu tham khảo:

1 Trần Xuân Hòa (2011), Báo cáo tổng kết đề

tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu nâng cao mức độ

cơ giới hóa và hiện đại hóa khai thác than hầm lò

và định hướng ứng dụng cho các mỏ than hầm

lò vùng Quảng Ninh”, Viện KHCN Mỏ, Hà Nội.

2 Đặng Thanh Hải (2016), Đề tài “Phát triển

áp dụng cơ giới hóa đào lò và khai thác tại các mỏ hầm lò vùng Quang Ninh giai đoạn 2013 ÷ 2015,

lộ trình đến năm 2020”, Viện KHCN Mỏ, Hà Nội.

3 Đào Hồng Quảng (2018), Đề tài “Nghiên cứu

đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm hạn chế ảnh hưởng của góc dốc vỉa than đến lò chợ cơ giới hóa vỉa thoải đến nghiêng”, Viện KHCN Mỏ, Hà Nội.

4 Đinh Văn Cường và nnk (2016), Báo cáo

“Đánh giá kết quả áp dụng và nghiên cứu hoàn thiện công nghệ cơ giới hóa khai thác tại Công

ty than Quang Hanh”, Viện KHCN Mỏ, Hà Nội.

Ngày đăng: 08/06/2021, 09:42

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w