1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Quản lý Giáo dục: Quản lý dịch vụ công trong trường mầm non công lập thành phố Hà Nội theo tiếp cận bảo đảm chất lượng

244 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 244
Dung lượng 3,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của Luận án nhằm đề xuất các giải pháp quản lý dịch vụ công trong trường mầm non công lập để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non. Để hiểu rõ hơn mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của Luận án này.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM

MAI THỊ KHUYÊN

QUẢN LÝ DỊCH VỤ CÔNG TRONG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO

TIẾP CẬN BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Đảng ủy, BGH, Quý Thầy Cô trong Khoa QLGD và các Phòng, Ban, Trung tâm của Trường ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội nơi tôi đang công tác đã luôn bên cạnh động viên, tạo điều kiện về mặt thời gian, hỗ trợ về mặt tinh thần và cho tôi những ý kiến quý báu về mặt chuyên môn để tôi hoàn thành được Luận án

Luận án được hoàn thiện cũng nhận được sự giúp đỡ, động viên của các thành viên trong gia đình, người thân và bạn bè đã luôn đồng hành ủng hộ về vật chất, tinh thần trong suốt thời gian hoàn thành Luận án

Dù đã cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song Luận án chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được các ý kiến của các nhà khoa học, quý Thầy Cô và quý vị

Hà Nội, ngày tháng 02 năm 2021

Tác giả

Mai Thị Khuyên

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN ÁN ix

MỞ ĐẦU 1

Chương 1:7CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DỊCH VỤ CÔNG VÀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ CÔNG7TRONG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP THEO TIẾP CẬN7BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về dịch vụ công và dịch vụ công trong trường mầm non 7

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về quản lý dịch vụ công trong giáo dục mầm non 13

1.2 Dịch vụ công trong trường mầm non 15

1.2.1 Dịch vụ và dịch vụ công 15

1.2.2 Dịch vụ giáo dục và dịch vụ công trong giáo dục 18

1.2.3 Trường mầm non công lập 22

1.2.4 Hoạt động dịch vụ công trong trường mầm non 23

1.3 Quản lý dịch vụ và chất lượng dịch vụ 27

1.3.1 Quản lý dịch vụ 27

1.3.2 Chất lượng dịch vụ 29

1.3.3 Các cấp độ bảo đảm chất lượng 31

1.3.4 Mô hình CIPO trong giáo dục 34

1.4 Quản lý dịch vụ công trong trường mầm non theo tiếp cận bảo đảm chất lượng và dựa vào mô hình CIPO 36

1.4.1 Nội dung quản lý dịch vụ công trong trường mầm non theo tiếp cận đảm bảo chất lượng và dựa vào mô hình CIPO 36

1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dịch vụ công trong trường mầm non công lập 44

Kết luận Chương 1 47

Trang 5

Chương 2:THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG VÀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ CÔNG TRONG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO

TIẾP CẬN BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG 49

2.1 Khái quát về giáo dục mầm non của thành phố Hà Nội 49

2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 50

2.2.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng 50

2.2.2 Nội dung nghiên cứu thực trạng 50

2.2.3 Phương pháp khảo sát 51

2.2.4 Chọn mẫu địa bàn nghiên cứu 51

2.2.5 Công cụ đánh giá và thang đánh giá 52

2.2.6 Quy trình nghiên cứu thực trạng 53

2.3 Thực trạng dịch vụ công trong trường mầm non công lập thành phố Hà Nội 53 2.3.1 Thực trạng tổ chức hoạt động chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ 53

2.3.2 Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục trong trường mầm non 65

2.3.3 Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật 74

2.3.4 Thực trạng tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ MN 77

2.3.5 Mức độ sẵn sàng tham gia vào cung cấp nguồn lực tài chính của cha mẹ trẻ cho dịch vụ công trong trường mầm non 82

2.4 Thực trạng quản lý dịch vụ công trong trường mầm non theo tiếp cận bảo đảm chất lượng 84

2.4.1 Thực trạng quản lý các yếu tố đầu vào của dịch vụ công 84

2.4.2 Thực trạng quản lý các yếu tố quá trình dịch vụ công 97

2.4.3 Thực trạng quản lý các yếu tố đầu ra 103

2.4.4 Thực trạng các yếu tố bối cảnh tác động ảnh hưởng tới hoạt động quản lý dịch vụ công trong trường mầm non 110

2.5 Đánh giá chung về dịch vụ công và quản lý dịch vụ công trong trường mầm non công lập thành phố Hà Nội 119

2.5.1 Những thành công đạt được và nguyên nhân 119

2.5.2 Những hạn chế cơ bản và nguyên nhân 119

Kết luận Chương 2 122

Trang 6

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÍ DỊCH VỤ CÔNG TRONG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO TIẾP CẬN BẢO

ĐẢM CHẤT LƯỢNG 123

3.1 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp 123

3.1.1 Đảm bảo tính khoa học 123

3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 123

3.1.3 Đảm bảo tính hệ thống 123

3.1.4 Đảm bảo tính khả thi và có hiệu quả 124

3.1.5 Đảm bảo tính kế thừa 124

3.2 Các giải pháp được đề xuất 124

3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết, khả thi của các giải pháp đã đề xuất 153

3.3.1 Mục đích của khảo nghiệm 153

3.3.2 Nội dung và phương pháp khảo nghiệm 153

3.3.3 Đối tượng khảo nghiệm 154

3.3.4 Kết quả khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 155

3.4 Thử nghiệm giải pháp “Tổ chức hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên trong trường mầm non.” 158

3.4.1 Mục đích thử nghiệm 158

3.4.2 Cơ sở lựa chọn giải pháp thử nghiệm khoa học 159

3.4.3 Giả thuyết thử nghiệm 160

3.4.4 Mẫu và thời gian thử nghiệm 160

3.4.5 Nội dung và cách thức thử nghiệm 160

3.4.6 Tiêu chí và thang đánh giá kết quả thử nghiệm 165

3.4.7 Phương pháp đánh giá thử nghiệm 166

3.4.8 Kết quả thử nghiệm 166

Kết luận Chương 3 169

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 170

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 174

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 175

PHỤ LỤC 183

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BGD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

CIPO Mô hình Quản lý chất lượng theo tiếp cận quá trình C:

Context (bối cảnh), I: Input (đầu vào), P: Process (quá trình), O: Outcome (đầu ra)

PDCA Plan – Do – Check – Action ( Kế hoạch – Tổ chức – Chỉ

đạo – Kiểm tra) SPSS Statistical Package for the Social Sciences

Trang 8

Viết tắt Viết đầy đủ

QLCLGD Quản lý chất lượng giáo dục

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Số trường học, giáo viên và trẻ mầm non của TP Hà Nội 50

Bảng 2.2: Mô tả khách thể nghiên cứu phân theo nhóm khu vực 51

Bảng 2.3: Mô tả đặc điểm khách thể nghiên cứu 51

Bảng 2.4: Mô tả đối tượng phỏng vấn trong nghiên cứu 52

Bảng 2.5: Thang đánh giá mức độ khảo sát thực trạng 52

Bảng 2.6: Kết quả về thực hiện hoạt động chăm sóc thể lực và tinh thần 55

Bảng 2.7: Kết quả đánh giá chung về hoạt động chăm sóc dinh dưỡng 58

Bảng 2.8: Kết quả đánh giá chung về hoạt động chăm sóc vệ sinh 61

Bảng 2.9: Kết quả đánh giá chung về hoạt động chăm sóc dinh dưỡng 62

Bảng 2.10 : Kết quả đánh giá chung về hoạt động bảo đảm an toàn 64

Bảng 2.11 Kết quả đánh giá chung về tổ chức hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng 65

Bảng 2.12: Kết quả đánh giá chung về hoạt động vui chơi cho trẻ 67

Bảng 2.13: Kết quả đánh giá chung về hoạt động học 69

Bảng 2.14: Kết quả đánh giá chung về hoạt động lao động 71

Bảng 2.15: Kết quả đánh giá chung về hoạt động ngày lễ, ngày hội 73

Bảng 2.16: Kết quả đánh giá chung về tổ chức hoạt động giáo dục 73

Bảng 2.17: Kết quả ĐGC về hoạt động giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật 76

Bảng 2.18: Kết quả đánh giá chung về tổ chức hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức 79

Bảng 2.19: Điểm TBC theo ý kiến đánh giá của các đối tượng khảo sát 80

Bảng 2.20: Kết quả đánh giá chung về chương trình giáo dục 86

Bảng 2.21: Kết quả đánh giá chung về đội ngũ nhà trường 89

Bảng 2.22: Kết quả đánh giá chung về quản lý cơ sở vật chất và khai thác nguồn thực phẩm 92

Bảng 2.23: Kết quả đánh giá chung về quản lý hoạt động tài chính 95

Bảng 2.24: Kết quả đánh giá chung về quản lý các yếu tố đầu vào 96

Bảng 2.25: Kết quả đánh giá chung về quản lý hoạt động chăm sóc 97

và nuôi dưỡng 97

Trang 10

Bảng 2.26: Kết quả đánh giá chung về quản lý hoạt động giáo dục 99 Bảng 2.27: Kết quả đánh giá chung về quản lý hoạt động giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật trong nhà trường 100 Bảng 2.28: Kết quả đánh giá chung về quản lý hoạt động tuyên truyền và phổ biến kiến thức khoa học 102 Bảng 2.29: Kết quả đánh giá chung về quản lý các yếu tố đầu ra đáp ứng yêu cầu của ngành 103 Bảng 2.30: Kết quả đánh giá chung về quản lý các yếu tố đầu ra đáp ứng yêu cầu của trường 105 Bảng 2.31: Kết quả đánh giá chung về quản lý các yếu tố đầu ra đáp ứng yêu cầu của trẻ và cha mẹ trẻ 106 Bảng 2.32: Kết quả đánh giá chung về quản lý các yếu tố đầu ra đáp ứng yêu cầu của xã hội, cộng đồng và địa phương 108 Bảng 2.33: Kết quả đánh giá chung về quản lý dịch vụ công 109 Bảng 2.34: Số lượng dân cư trên địa bàn và số trẻ đến trường MN TP Hà Nội 110 Bảng 2.35: Kết quả đánh giá chung về yếu tố chính sách tác động tới QLDVC 114 Bảng 2.36: Kết quả đánh giá chung về yếu tố nhận thức của công đồng dân cư 116 Bảng 2.37: Kết quả đánh giá chung về yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dịch vụ công trong trường mầm non 118 Bảng 3.1 Ý kiến đánh giá về tính cấp thiết của các giải pháp 155 Bảng 3.2 Ý kiến đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất 157 Bảng 3.3 Kết quả đánh giá năng lực thực hiện các dịch vụ công của giáo viên Trường Mẫu giáo số 5 trước và sau thử nghiệm 166

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

Hình 1.1: Các cấp độ quản lí chất lượng của Edward Sallis 31

Hình 1.2 Chu trình Deming wikipedia.org/wiki/Chu_trình_PDCA [102] 34

Sơ đồ 1.1: Mô hình CIPO trong giáo dục theo Unessco 35

Sơ đồ 1.2: Mô hình CIPO trong QLDVC trường mầm non 37

Biểu đồ 2.1: Mức độ đánh giá tổ chức hoạt động chăm sóc sức khỏe thể lực và tinh thần 54

Biểu đồ 2.2: Mức độ thực hiện tổ chức hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ 57

Biểu đồ 2.3: Mức độ thực hiện các dịch vụ chăm sóc vệ sinh cho trẻ 59

Biểu đồ 2.4: Tổ chức hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non 63

Biểu đồ 2.5: Mức độ đánh giá tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ 66

Biểu đồ 2.6: Mức độ đánh giá về tổ chức hoạt động học 68

Biểu đồ 2.7: Mức độ tổ chức hoạt động lao động cho trẻ 69

Biểu đồ 2.8: Mức độ tổ chức các hoạt động ngày lễ, ngày hội cho trẻ (%) 72

Biểu đồ 2.9: Mức độ tổ chức hoạt động giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật 75

Biểu đồ 2.10: Mức độ thực hiện dịch vụ tuyên truyền, phổ biến kiến thức 78

Biểu đồ 2.11: Kết quả mức độ thực hiện chương trình giáo dục mầm non 85

Biểu đồ 2.12: Mức độ thực hiện về đội ngũ của nhà trường MN 88

Biểu đồ 2.13: Đánh giá chung về cơ sở vật chất và khai thác nguồn thực phẩm 91

Biểu đồ 2.14: Kết quả đánh giá về quản lý hoạt động tài chính 94

Biểu đồ 2.15: Kết quả đánh giá của CBQL và GV về QL hoạt động chăm sóc và nuôi dưỡng 98

Biểu đồ 2.16: Mức độ khảo sát thực hiện chính sách phát triển giáo dục mầm non 113

Biểu đồ 2.17: Kết quả mức độ nhận thức của cộng đồng về giáo dục mầm non 115

Biểu đồ 3.1 Thâm niên công tác của đối tượng tham gia khảo sát 154

Biểu đồ 3.2 Năng lực nghề nghiệp của giáo viên trường mầm non trước và sau thử nghiệm giải pháp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên 167

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngày nay DVC có vai trò rất quan trọng trong đời sống của mỗi người,

gia đình và sự phát triển của xã hội, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến các nhu cầu cuộc sống và sự phát triển của con người Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, các nhu cầu thiết yếu cơ bản của người dân ngày càng phong phú đa dạng, đòi hỏi Chính phủ phải bảo đảm cung ứng khi thị trường chưa đáp ứng được và khắc phục những hạn chế của thị trường Việc cung ứng DVC, nếu không đáp ứng được về số lượng, chất lượng hoặc chậm trễ sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích cơ bản của người dân, gây ra tình trạng bất bình đẳng và mất ổn định trong xã hội làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước Do đó, việc tổ chức cung ứng các DVC cho người dân và cộng đồng là trách nhiệm ngày càng lớn của Chính phủ

Nhà nước có vai trò quan trọng trong quản lý và cung ứng dịch vụ công trong xã hội Có các yếu tố chủ quan, yếu tố khách quan chi phối tới quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC ở mỗi nước và luôn luôn xảy ra sự bất cập giữa một bên là cung về DVC mà đại diện là nhà nước và một bên là cầu về DVC mà đại diện

là đòi hỏi của mọi người dân trong xã hội

Quản lý DVC trong giáo dục nói chung và GDMN trong thời gian gần đây được đặt ra nhằm giải quyết vấn đề đáp ứng nhu cầu của người dân, của người học, đặc biệt đối với cấp học thấp nhất là mầm non, đảm bảo thực hiện công bằng trong giáo dục, xây dựng nền móng bền vững cho sự phát triển của các bậc học tiếp theo

1.2 Trong một thời gian dài, nước ta thực hiện chế độ kinh tế kế hoạch hóa

tập trung quan liêu bao cấp, nhà nước quán xuyến và cung cấp hầu hết mọi nhu cầu của người dân trên cơ sở kế hoạch hóa nền kinh tế nên người dân không có khái niệm “dịch vụ công” như cách hiểu hiện nay và nhà nước cũng chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề này

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng như quan điểm chỉ đạo chiến lược phát triển GD đến năm 2020 đều khẳng định “đổi mới cơ bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”

Trang 13

Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có sự điều tiết của Nhà nước, cùng với sự xuất hiện của nhiều thành phần kinh tế, nhà nước ta từng bước cho phép các thành phần tư nhân tham gia đầu tư kinh doanh trên những lĩnh vực mà trước đây nhà nước độc quyền cung cấp hàng hóa, dịch vụ trong

đó có dịch vụ giáo dục Đây là một chủ trương nhằm từng bước phát huy tính chủ động và huy động nguồn lực, vốn của các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân (cả trong và ngoài nước) với nhiều hình thức đầu tư khác nhau vào nhiều lĩnh vực khác nhau

Cùng với sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh

tế thị trường theo định hướng XHCN có sự điều tiết của Nhà nước đã mang lại những thành tựu to lớn đối với sự phát triển của đất nước nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với tất cả các chủ thể quản lý nói chung và chủ thể QLGD nói riêng, trong đó có GDMN

1.3 Một thực tế cho thấy trong thời gian qua, chất lượng giáo dục ở các

trường MN nói chung và các trường MN công lập nói riêng còn có những bất cập, chất lượng GDMN ở một số trường còn chưa được như mong muốn, QL trường

MN công lập cũng có những bất cập, Bên cạnh đó, số lượng các trường MN tư thục, dân lập được thành lập mới trên các thành phố lớn trong đó có Hà Nội ngày càng tăng và là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các trường MN công lập trên địa bàn Hà Nội Vì vậy, muốn hòa nhập, phát triển và khẳng định vị thế của mình, các trường

MN công lập phải đổi mới phương pháp quản lý trong đó quản lý DVC có tính chất quyết định Dịch vụ công trong trường MN nói chung và trong trường MN công lập nói riêng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ Vì vậy, việc quản lý các dịch vụ này cần được quan tâm đặc biệt hơn nữa

1.4 Vấn đề QLGD nói chung và QLGD trường MN nói riêng cũng đã được

nhiều công trình quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về dịch vụ công và quản lý dịch vụ công trong trường MN công lập

Chính vì những lý do trên, đề tài: “Quản lý dịch vụ công trong trường mầm non công lập thành phố Hà Nội theo tiếp cận bảo đảm chất lượng” được chọn

làm đề tài của công trình nghiên cứu này

Trang 14

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn dịch vụ công, quản lý dịch vụ công trong trường mầm non công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội theo tiếp cận bảo đảm chất lượng, đề xuất các giải pháp quản lý dịch vụ công trong trường mầm non công lập để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Dịch vụ công trong trường mầm non công lập

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý dịch vụ công trong trường mầm non công lập thành phố Hà Nội theo

tiếp cận BĐCL

4 Giả thuyết khoa học

Dịch vụ công và quản lý DVC ở các trường MN công lập thành phố Hà Nội trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tốt, tuy nhiên vẫn còn có những hạn chế, bất cập, chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của xã hội Nếu đề xuất và áp dụng được các giải pháp quản lý DVC ở các trường MN công lập theo tiếp cận ĐBCL dựa vào mô hình CIPO trong quản lý, thì CL DVC trong trường MN công lập sẽ được nâng cao đáp ứng yêu cầu xã hội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý dịch vụ công trong trường mầm non công lập theo tiếp cận bảo đảm chất lượng

5.2 Nghiên cứu thực trạng dịch vụ công và quản lý dịch vụ công trong trường mầm non công lập thành phố Hà Nội theo tiếp cận bảo đảm chất lượng

5.3 Đề xuất giải pháp quản lý dịch vụ công trong trường mầm non công lập thành phố Hà Nội theo tiếp cận bảo đảm chất lượng và tiến hành khảo nghiệm các giải pháp, thử nghiệm 01 giải pháp nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài

và kiểm nghiệm tính khả thi, hiệu quả của các giải pháp đã được đề xuất

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Về nội dung nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu về dịch vụ công và quản lý dịch vụ công trong

Trang 15

trường mầm non công lập thành phố Hà Nội theo tiếp cận bảo đảm chất lượng dựa vào

mô hình CIPO trong quản lý yếu tố đầu vào, quản lý yếu tố quá trình, quản lý yếu tố đầu ra, quản lý yếu tố bối cảnh

6.2 Về đối tượng, địa bàn và thời gian khảo sát

6.2.1 Đối tượng khảo sát: CBQL trường MN; giáo viên và cha mẹ trẻ

6.2.2 Địa bàn khảo sát: Nghiên cứu tại 6 quận/huyện/thị xã gồm: quận Hoàn

Kiếm, Quận Ba Đình, Quận Hà Đông, Thị xã Sơn Tây, Huyện Sóc Sơn, Huyện Ba

Vì thuộc thành phố Hà Nội

6.2.3 Thời gian: từ 2018-2020

7 Các cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Cách tiếp cận

7.1.1.Tiếp cận bảo đảm chất lượng

Trong quá trình nghiên cứu, QLDVC trong trường MN công lập theo tiếp cận BĐCL Các hoạt động quản lý DVC trong trường MN công lập đều hướng đến nâng cao chất lượng của quản lý yếu tố đầu vào, quản lý yếu tố quá trình, quản lý yếu tố đầu

ra, quản lý yếu tố bối cảnh trong trường MN công lập thành phố Hà Nội

7.1.2 Tiếp cận cung – cầu

Cách tiếp cận cung - cầu trong nghiên cứu này là dựa trên yêu cầu của ngành GD&ĐT, của xã hội, của cha mẹ trẻ và trẻ Các DVC được cung cấp trong trường

MN công lập phải thoả mãn các yêu cầu của ngành, của xã hội, của CMT và của trẻ theo các tiêu chí BĐCL của GDMN

7.1.3 Dựa vào mô hình CIPO trong quản lý dịch vụ công trong trường mầm non theo tiếp cận BĐCL

Việc nghiên cứu trong luận án này dựa vào mô hình CIPO là một mô hình giáo dục đã được Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) thừa nhận và tiếp cận BĐCL Tiếp cận phối kết hợp này bao gồm tiếp cận các yếu tố đầu vào (Input), quá trình (Process), đầu ra (Output) và tác động của bối cảnh (Context) nhằm bảo đảm chất lượng DVC trong trường MN công lập

7.1.4 Tiếp cận hoạt động

Trong nghiên cứu này các hoạt động cung cấp DVC trong trường MN là một

hệ thống các chuỗi hoạt động được diễn ra liên tục trong trường MN, được thể hiện

ở 4 hoạt động: (1) Tổ chức hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ; (2) Tổ chức hoạt

Trang 16

động giáo dục trẻ (3) Tổ chức hoạt động giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong nhà trường (4) Tổ chức hoạt động tuyên truyền và phổ biến kiến thức về chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ Với quan điểm này, thực chất của việc nghiên cứu quản lý DVC trong trường MN công lập là triển khai nghiên cứu QL các hoạt động DVC trong

nhà trường nhằm ĐBCL đáp ứng yêu cầu của xã hội

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các vấn đề lý luận có liên quan đến DVC trong GD nói chung và quản lý DVC trong trường MN nói riêng bằng cách phân tích – tổng hợp, khái quát hóa các lý thuyết, quan điểm khoa học để xây dựng cơ sở lý luận về vấn đề quản lý DVC trong trường MN công lập nhằm BĐCL

7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua bảng khảo sát dành cho CBQL, GV, PH nhằm tìm hiểu về thực trạng DVC, QLDVC trong trường MNCL

- Phương pháp nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn sâu CBQL GDMN, GVMN, nhân viên chăm sóc trẻ và cha mẹ trẻ làm rõ hơn kết quả nghiên cứu định lượng, nguyên nhân để đề xuất giải pháp quản lý DVC

7.2.3 Nhóm các phương pháp bổ trợ khác

- Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến của một số nhà khoa học thuộc lĩnh vực QLGD về một số vấn đề có liên quan tới đề tài nghiên cứu

- Phương pháp khảo nghiệm

Lấy ý kiến của chuyên gia về QLGD, QLGDMN, CBQL, giảng viên ở các trường có đào tạo GVMN về giải pháp QLDVC đã được đề xuất

- Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng các kỹ thuật thống kê qua phần mềm SPSS 22.0 để xử lý các số liệu

và dữ liệu thu thập được

8 Các luận điểm bảo vệ

8.1 Quản lý DVC trong trường MN có tính quyết định đến BĐCL các dịch

vụ công trong trường MN Vận dụng tiếp cận BĐCL dựa vào mô hình CIPO trong quản lý DVC trong trường MN công lập sẽ nâng cao CL GDMN

Trang 17

8.2 Thực trạng tổ chức hoạt động DVC và QLDVC trong trường MN công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội cơ bản đã đáp ứng các yêu cầu của ngành GD&ĐT, của xã hội, của cha mẹ và trẻ Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có những hạn chế cần được khắc phục và cải thiện để BĐCL DVC trong trường MN công lập

8.3 Các giải pháp được đề xuất và áp dụng trong quản lý DVC trong trường

MN công lập theo tiếp cận ĐBCL dựa vào mô hình CIPO trong quản lý thì chất lượng DVC trong trường MN công lập sẽ được nâng cao

9 Đóng góp mới của đề tài

9.1 Về lý luận

Làm sáng tỏ một số khái niệm như: DVC trong giáo dục, DVC trong trường

MN công lập; chất lượng dịch vụ công, quản lý DVC trong trường MN… và xây dựng được khung lý luận cho việc nghiên cứu giải pháp quản lý DVC trong trường

MN công lập theo tiếp cận bảo đảm chất lượng

10 Cấu trúc của luận án

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án có cấu trúc gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận của dịch vụ công và quản lý dịch vụ công trong trường mầm non công lập theo tiếp cận bảo đảm chất lượng

Chương 2: Thực trạng dịch vụ công và quản lý dịch vụ công trong trường mầm non công lập thành phố Hà Nội theo tiếp cận bảo đảm chất lượng

Chương 3: Giải pháp quản lý dịch vụ công trong trường mầm non công lập thành phố Hà Nội theo tiếp cận đảm bảo chất lượng

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DỊCH VỤ CÔNG VÀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ CÔNG TRONG TRƯỜNG MẦM NON CÔNG LẬP THEO TIẾP CẬN

BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về dịch vụ công và dịch vụ công trong trường mầm non

Dịch vụ công ra đời là một yếu tố khách quan, nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, đảm bảo ổn định và công bằng xã hội Trên thế giới và ở tại Việt Nam, DVC được nghiên cứu tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, qua các nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ cho cộng đồng, phục vụ nhu cầu và lợi ích chung thiết yếu của

xã hội Dịch vụ công và quản lý dịch vụ công là một chủ đề hấp dẫn được các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam quan tâm và khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau, cụ thể qua các công trình nghiên cứu sau đây:

Công trình nghiên cứu về dịch vụ công của các tác giả nước ngoài

Thứ nhất, nghiên cứu về DVC và vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch

vụ công tiêu biểu có một số công trình nghiên cứu sau đây:

Các nghiên cứu của LeGrand [87], David Osborne và Ted Gaebler [80]; Wallis

J và Dollery B [96]: đã nêu những hạn chế của nhà nước khi cung ứng dịch vụ công,

do sự phát triển của khoa học - công nghệ, do các quan điểm bảo thủ, không chịu thay đổi của Nhà nước, cùng với sự phát triển của xã hội, đòi hỏi phải đổi mới quản lý của nhà nước về quản lý dịch vụ công cũng nên có những thay đổi để phù hợp với xu thế chung, tuy nhiên các quan điểm quản lý dịch vụ công trong giai đoạn này phần lớn dựa vào quyết định của người đứng đầu nhà nước

Thứ hai, về vấn đề ủy quyền cho tư nhân tham gia cung ứng các DVC có một

số công trình tiêu biểu như các nghiên cứu của Johnstone and Wood [84]; Seungho Lee [92]… Trong các nghiên cứu này, các tác giả đề cập đến dịch vụ công đã được giao quyền cung ứng cho tư nhân

Trang 19

Thứ ba, Nghiên cứu của các tổ chức nước ngoài có liên quan tới dịch vụ

công được cung ứng tại Việt Nam, tiêu biểu là công trình của các Ngân hàng Phát triển Châu Á [53] Trong nghiên cứu này, các tác giả đưa ra những ý kiến nhằm tham vấn cho Nhà nước trong việc quản lý và cung ứng DVC và đã đề cập đến vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong quá trình hỗ trợ các tổ chức của Việt Nam

Thứ tư, nghiên cứu về Chất lượng dịch vụ trong giáo dục cũng được quan

tâm nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới, thể hiện qua các nghiên cứu trên các góc nhìn khác nhau, từ các khía cạnh khác nhau, cụ thể sau đây:

Các công trình của các giả Ahmad và Garg [74]; Al-Dulaimi, Z Y S [76]; Senol, H., & Dagli, G [91] đã nghiên cứu qua các góc nhìn khác nhau của Hiệu trưởng, giảng viên, sinh viên và qua nhà tuyển dụng về chất lượng DVGD gồm có danh tiếng học thuật của trường, cơ hội nghề nghiệp, chương trình đào tạo, chi phí

và thời gian đào tạo, cơ sở vật chất và nơi trường học đóng Trong đó được đánh giá cao nhất là khía cạnh cơ sở vật chất của nhà trường Nghiên cứu đã chỉ ra được mức

độ đánh giá chất lượng DVGD từ góc nhìn của sinh viên, tuy nhiên nghiên cứu này chưa khảo sát những đối tượng liên quan khác như GV, nhà quản lý, nhà tuyển dụng; sự mong đợi của học sinh, sinh viên về sự mong đợi về CLDV trong trường học, các vấn đề chất lượng dịch vụ trong bối cảnh giáo dục và sự đóng góp trong việc xây dựng các tiêu chuẩn, tiêu chí, nâng cao nhận thức của Hiệu trưởng, của giáo viên và đóng góp của họ để tạo ra văn hóa chất lượng nhà trường từ đó nâng cao chất lượng của các trường

Bàn về chất lượng dịch vụ giáo dục mầm non, có một số nghiên cứu sau:

Tác giả Dora Choi Wa Ho [82] đã chỉ ra vai trò của lãnh đạo trong các vấn

đề liên quan đến chất lượng của các chương trình MN ở Hồng Kông

Brodin, J., & Renblad, K [77] đưa ra quan điểm của GVMN và nhân viên chăm sóc trẻ em về chương trình giảng dạy quốc gia cho trường MN ở Thụy Điển

Chất lượng dịch vụ giáo dục MN từ góc nhìn của cha mẹ trẻ MN Đối với độ tuổi MN, CMT có vai trò quan trọng trong việc đánh giá CLDV giáo dục Quan điểm của CMT về CLDV chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ hầu hết được đề cập

từ góc độ hài lòng của trẻ và CMT

Trang 20

Nhóm Nor Asiah Omar [89] và cộng sự đã có nghiên cứu tác động của chất lượng dịch vụ đối với sự hài lòng và tin tưởng của cha mẹ Nó cũng khám phá mối quan hệ giữa sự hài lòng, tin tưởng và lòng trung thành trong một trường MN Chất lượng dịch vụ cảm nhận trong một trường MN đã nhận được sự chú ý ngày càng tăng của các nhà nghiên cứu trong thập kỷ qua Bằng chứng nghiên cứu đã tiết lộ rằng việc nhận thức về chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng đến sự hài lòng và tin tưởng

Scopelliti, M., & Musatti, T [92] đã có nghiên cứu của cha mẹ về chất lượng dịch vụ GDMN liên quan đến nội dung chăm sóc trẻ em và sự hài lòng chung với dịch vụ trong các trường MN

Cleveland, J., Susman-Stillman, A., và Halle, T [90] đã nghiên cứu các thành tố của chất lượng dịch vụ GDMN bao gồm thực hành chăm sóc trẻ, các chiến lược để thực hiện phù hợp với sự phát triển hướng dẫn thực hành (bao gồm sử dụng chương trình giảng dạy và chiến lược đánh giá trẻ em), chiến lược hỗ trợ trẻ em phát triển kỹ năng xã hội và cảm xúc Quan điểm của CMT và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ MN về chất lượng và chất lượng thực hành, và mối liên kết giữa những thực tiễn và kết quả cho trẻ em và gia đình được nghiên cứu

Tác giả Jang, L F., Moore, L., & Lin, Y M [83] có tìm hiểu về nhận thức

và sự hài lòng của CMT về CLDV của GDMN ở Đài Loan; nghiên cứu của Virtanen, A., & Runtti, S [85], về chất lượng dịch vụ GD mầm non ở Phần Lan

Tác giả Aidanazima, A [75] có nghiên cứu ảnh hưởng của sự hài lòng của CMT đến CLDV ở trẻ em trung tâm chăm sóc đặc biệt ở Pusat Perkembangan Kanak-kanak Tunku Puteri Intan Safinaz (PPKKTPIS) đặt tại Đại học Utara Malaysia, Sintok, Kedah và Pewaris Generasi UniMAP ở thành phố Kangar, Perlis, Malaysia để xác định xem cha mẹ gửi con đến cả trung tâm chăm sóc trẻ đều hài lòng với dịch vụ cung cấp hay không Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ (chất lượng tin cậy, chất lượng đảm bảo, chất lượng hữu hình, chất lượng đồng cảm và chất lượng đáp ứng) và sự hài lòng của người dùng đối với các DV được cung cấp

Trang 21

Tác giả Malovic, M., & Malovic, S [88] có nghiên cứu về quan điểm của CMT về chất lượng dịch vụ GDMN dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn sâu 10 CMT ở Zemun thành phố Belgrade, Serbia, từ đó tác giả đã khái quát các quan điểm của CMT về chất lượng dịch vụ trong GDMN

Công trình nghiên cứu về dịch vụ công và dịch vụ công trong giáo dục của các tác giả trong nước

Thuật ngữ DVC tại Việt Nam lần đầu tiên được đề cập đến trong nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa VIII năm 1999 Kể từ đó đến nay, có nhiều nhà nghiên cứu và hình thành nhiều hướng nghiên cứu khác nhau về quan điểm, nội dung, phân loại DVC, trong đó có các hướng nghiên cứu sau:

Thứ nhất, nghiên cứu về DVC và xã hội hóa DVC là một trong những vấn đề

quan trọng, được nhiều tác giả nghiên cứu như: Phạm Quang Lê [45] và nhóm tác

giả đã có nghiên cứu về “Dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công: một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; Lê Chi Mai [46] trong nghiên cứu “Chuyển giao các dịch vụ công cho cơ sở ngoài nhà nước, vấn đề và giải pháp”; Lê Chi Mai [47] trong nghiên cứu “Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam”; Lê Chi Mai [48] về “Nhận thức

về dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Hải Hà, Mai Ngọc Anh [32] về “Cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam hiện nay”, các nghiên cứu này đã đề cập đến nhiều vấn đề như:

một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về dịch vụ công; vai trò của nhà nước trong cung ứng dịch vụ công; dịch vụ công ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn, trình bày khái niệm về dịch vụ công, phân loại dịch vụ công, cung ứng dịch vụ công hiện nay,

từ đó thấy được tầm quan trọng của DVC, đề cập tới xã hội hoá dịch vụ công

Thứ hai, nghiên cứu về đổi mới cung ứng dịch vụ công, cải cách dịch vụ

công, đổi mới việc cung ứng dịch vụ công, thực trạng và giải pháp trong cung ứng dịch vụ công tài chính thực hiện xã hội hoá dịch vụ công tiêu biểu là có các công

trình sau đây: Tác giả Chu Văn Thành [55] về “Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công: một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hoà [1] về

“Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam”, Các nghiên cứu của tác giả Lê Chi Mai [46] trong nghiên cứu “Chuyển giao các dịch vụ công cho cơ sở ngoài nhà

Trang 22

nước, vấn đề và giải pháp”; Lê Chi Mai [47] về “Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam”, Lê Chi Mai [48] về “Nhận thức về dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tác giả Đặng Đức Đạm [29] về “Dịch vụ công

và yêu cầu đổi mới”; nghiên cứu của Phan Thị Hồng Điệp [27] về “Quản lý nhà nước đối với dịch vụ công Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam”: đã đề cập đến những tiến triển, thay đổi trong 20 năm qua ở các nước trên

thế giới về quan niệm và thực tiễn về DVC và cung ứng DVC cũng như thực trạng cung ứng DVC của khu vực nhà nước và những yêu cầu đổi mới cung ứng dịch vụ công, quá trình xã hội hóa cung ứng DVC ở Việt Nam; cải cách dịch vụ công tại Việt Nam

Thứ ba, nghiên cứu về dịch vụ công trong giáo dục, ở Việt Nam DVC trong

lĩnh vực GD được nhà nước quan tâm đặc biệt vì GD là lĩnh vực đặc biệt đầu tư nhằm tạo nguồn nhân lực cho tương lai, chính vì vậy CLGD luôn được cả xã hội quan tâm, đồng thời thu hút một lượng nhân lực rất lớn tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp và quá trình cung ứng các dịch vụ này

Một trong những vấn đề được quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trong đó có có các nhà nghiên cứu của Việt Nam đó chính là Dịch vụ giáo dục Theo các nhà nghiên cứu về dịch vụ giáo dục, thì giáo dục, từ bản chất được xem là dịch vụ công do Nhà nước cung cấp cho người dân Giáo dục còn được coi như một dịch vụ tối thiểu mà mọi công dân có quyền được hưởng, không phân biệt các thành phần trong xã hội và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của xã hội, các nghiên cứu được phân tích dựa trên các quan điểm, chiến lược mục tiêu của giáo dục, cụ thể có các nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả sau đây:

Tác giả Đinh Văn Ân [1], với công trình nghiên cứu “Việt Nam tích cực gia nhập WTO trong một số lĩnh vực dịch vụ” đã đề cập đến việc mở cửa dịch vụ GD hiện nay là

một yêu cầu cấp thiết và đòi hỏi nội tại để cải thiện nền GD của chúng ta mà còn là một nghĩa vụ để cam kết phải thực hiện khi ra nhập WTO, bên cạnh đó thu hút được nguồn vốn từ các nước bên ngoài nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

Trong công trình nghiên cứu của mình về “Phát triển giáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, tác giả Phan Văn Kha [40] đã đề

Trang 23

cập tới dịch vụ giáo dục, phân loại dịch vụ giáo dục; quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh trong giáo dục Cũng trong bài báo này, tác giả cũng đã khẳng định rằng giáo dục là một dịch vụ công

Trong các nghiên cứu của tác giả Vũ Quang Việt [71] về “Giáo dục công hay

tư nhìn từ góc độ lý thuyết kinh tế” và nhóm nghiên cứu Trần Quốc Toản, Trần Thị Bích Liễu [58] về “Phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước nhu cầu hội nhập quốc tế”, các tác giả đã đưa ra các quan niệm khác nhau về

thị trường giáo dục, dịch vụ giáo dục, hàng hoá giáo dục, dịch vụ giáo dục, nghiên cứu bản chất của giáo dục, hoạt động giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường, tình trạng phát triển giáo dục và quản lý giáo dục đào tạo của Việt Nam, đề xuất các giải pháp nhằm phát triển giáo dục nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL và GVMN

Trong “Chiến lược giáo dục mầm non từ năm 1998 đến 2020” và “Vai trò điều tiết nhà nước trong việc đảm bảo chất lượng và công bằng giáo dục” của Bộ

GD&ĐT [7]; [13] đã đề cao vai trò và điều tiết của nhà nước trong đảm bảo công bằng giáo dục

Công trình nghiên cứu về “Cải cách giáo dục – Một số vấn đề chung và thực tiễn ở Việt Nam” của tác giả Nghiêm Đình Vỳ và Phạm Đỗ Nhật Tiến [66] đã khái

quát tiến trình cải cách giáo dục trên thế giới, rút ra bài học đối với phát triển giáo dục ở Việt Nam từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị đối với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam

Tác giả Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc [15] khẳng định “Không nên

bỏ qua yếu tố thị trường giáo dục” khi “trong thực tiễn có xu hướng thương mại hóa giáo dục, người dân có sẵn sàng chi trả cao để thụ hưởng nền GD cao hơn mức đại trà”

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoàng Yến [73] về “Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ giáo dục công” đã tập trung khai thác

về khía cạnh hài lòng của người dân bằng việc xây dựng bộ tiêu chí để từ đó dùng

bộ tiêu chí này để đánh giá sự hài lòng đối với các dịch vụ công được cung cấp trong nhà trường

Trang 24

Nhóm tác giả Trần Công Phong, Trịnh Thị Anh Hoa, Mạc Thị Việt Hà [50]

trong công trình nghiên cứu về “Lý luận và thực tiễn xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo” đã đề cập tới khái niệm về dịch vụ công, dịch vụ giáo

dục, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục, đồng thời nhóm tác giả cũng đưa một số định hướng giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công trong giáo dục và đào tạo

Thứ tư, nghiên cứu về chất lượng giáo dục và chất lượng giáo dục mầm non, tiêu biểu là tác giả Nguyễn Hữu Châu [15] và cộng sự trong công trình“Chất lượng giáo dục - những vấn đề lý luận và thực tiễn” đã chỉ ra được các tiêu chí và chỉ số

của chất lượng hệ thống GDMN bao gồm 3 thành tố và 14 tiêu chí cơ bản với 63 chỉ

số Nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Kim Thoa [64] về “Đánh giá trong giáo dục mầm non” cũng đề cập đến các tiêu chí để đánh giá chất lượng của cơ sở giáo dục

mầm non

Tác giả Trần Thị Bích Trà [60] và cộng sự đã nghiên cứu và đề xuất “Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ ở các trường mẫu giáo ngoài công lập” Tác giả Hoàng Hải Quế [56] trong nghiên cứu về “Phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non”, nghiên cứu này đã đề cập tới

vai trò của trường MN, đề xuất giải pháp đặc biệt được quan tâm không chỉ đối với GDMN mà còn cả các cấp khác như cấp khác là sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình

và xã hội trong chăm sóc và giáo dục trẻ

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về quản lý dịch vụ công trong giáo dục mầm non

Quản lý chất lượng giáo dục mầm non có nhiều công trình nghiên cứu ở các nước trên thế giới và tại Việt Nam, với một số hướng nghiên cứu chính sau đây:

Nghiên cứu về cấu trúc hệ thống QL GDMN và các yếu tố ảnh hưởng đến

Trang 25

nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa CBQL và GV về “giá trị và nhiệm vụ”;

“hệ thống và nhóm” và “nguồn lực và sự thay đổi” Tuy nhiên không có sự khác biệt về “đáp ứng nhu cầu học sinh và tăng cường đội ngũ GV” trong quản lý chất lượng

Ở Việt Nam, dưới góc độ khoa học QL và QLCL GDMN qua một số nghiên cứu tiêu biểu sau đây:

Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Châu [15] và cộng sự (2008) về “Chất lượng giáo dục những vấn đề lý luận và thực tiễn” đã đề cập đến xác định các tiêu chí và

chỉ số của hệ thống GDMN, cũng trong nghiên cứu tác giả đề cập đến QLCL GDMN

Các công trình nghiên cứu của tác giả Trần Thị Ngọc Trâm [61];[62];[63] và cộng sự đã đề cập và nghiên cứu về các khía cạnh của giáo dục mầm non như: về đổi mới quản lý cơ sở GDMN trong bối cảnh hiện nay; một số mô hình QL cơ sở GDMN, đổi mới QLGD Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đã đề xuất các giải pháp quản lý cơ sở GDMN ngoài công lập, đẩy mạnh công tác xã hội hóa GDMN nhằm nâng cao CL cơ sở GDMN ngoài công lập

Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết [57] về “Giáo dục mầm non: những vấn đề lý luận và thực tiễn” đã nghiên cứu về cơ sở lý luận, từ đó

làm cơ sở để đánh giá thực trạng, tác giả đề ra các giải pháp quản lý đối với giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm [59] trong công trình nghiên cứu về “Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở trường mầm non nông thôn theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể” đã đề xuất các biện pháp quản lý

nhằm nâng cao chất lượng GDMN ở nông thôn trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận

và thực tiễn

Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Trinh [65] và cộng sự, đã nghiên cứu về thực trạng và cơ chế quản lý nhóm trẻ độc lập tư thục tại Việt Nam Nghiên cứu này thực hiện khảo sát khu vực đông dân cư, khu công nghiệp và khu vực dân tộc thiểu số của Việt Nam về thực trạng hoạt động, quản lý và đề xuất biện pháp

Trang 26

khắc phục rào cản trong cơ chế quản lý nhóm trẻ độc lập tư thục của cơ quan quản

lý nhà nước, các tổ chức xã hội và gia đình trẻ

Nghiên cứu của Lê Thị Thu Ba [3] về “Quản lý chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ ở các trường MN tư thục thành phố Hồ Chí Minh” đã đề cập tới chất

lượng nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ ở các trường tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh,

từ đó đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu tác giả được biết nêu trên đã tập trung nghiên cứu về dịch vụ công, quản lý dịch vụ công, quản lý chất lượng giáo dục, chất lượng các trường mầm non theo góc nhìn khác nhau của CBQL, CMT, và GV, quản

lý chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở trường MN tư thục,…Tuy nhiên, vấn đề DVC và QLDVC trong trường MN theo tác giả được biết chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu Vì vậy, trong phạm vi luận án này sẽ tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây:

- Nghiên cứu về quản lý DVC trong trường MN công lập, đặc biệt làm rõ các

ND quản lý DVC trong các trường MN công lập;

- Làm rõ thực trạng DVC và QLDVC trong trường MN công lập và những bất cập cần phải điều chỉnh của DVC và QLDVC trong trường MN để BĐCL;

- Đề xuất các giải pháp quản lý DVC trong trường MN công lập thành phố

Hà Nội theo tiếp cận bảo đảm chất lượng

Những vấn đề giải quyết được thể hiện trong nghiên cứu của luận án này

1.2 Dịch vụ công trong trường mầm non

1.2.1 Dịch vụ và dịch vụ công

1.2.1.1 Dịch vụ

Cùng với sự phát triển chung của kinh tế - xã hội, trong tất cả các hoạt động,

Trang 27

lĩnh vực nào trong đời sống kinh tế xã hội đều có hoạt động cung cấp dịch vụ Có nhiều nghiên cứu đã đưa ra về các khái niệm dịch vụ như sau:

Theo https://vi.wikipedia.org/wiki/dịch vụ [100]: “Dịch vụ trong quốc tế, được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch

vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa – dịch vụ”

Một số nghiên cứu và định nghĩa về dịch vụ cũng được khai thác trên nhiều lĩnh vực khác nhau, được đưa vào từ điển cũng như các nghiên cứu trong và ngoài nước

Định nghĩa về dịch vụ tại Việt Nam được đưa vào kể đến Từ điển Tiếng Việt

[72] định nghĩa: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”

Nhà kinh tế học Kotler & G Armstrong [97] cũng đã khẳng định rằng: “Dịch

vụ mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là

vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật” Trong định nghĩa này cho thấy tác giả

có đề cập đến sản phẩm sản phẩm vô hình, một sản phẩm mà chỉ cảm nhận được trong quá trình sử dụng

Tác giả Đỗ Thị Hải Hà [31] cho rằng: “Dịch vụ là những hoạt động mang tính phục vụ chuyên nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người, của xã hội”

Như vậy, khái niệm về dịch vụ được đưa vào từ điển, thông qua luật rất đa dạng, và phong phú nhưng xét về bản chất cho thấy, tất cả những gì liên quan đến việc đáp ứng nhu cầu của con người từ giá trị vật chất cho đến những sản phẩm về

tinh thần Trong nghiên cứu này, dịch vụ được hiểu là: “Dịch vụ là những hoạt động phục vụ nhu cầu nào đó của con người, của xã hội được thể hiện qua các hoạt động giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng”

1.2.1.2 Dịch vụ công

Dịch vụ công “public service”, dịch vụ công/dịch vụ công cộng là một dịch

vụ nhằm phục vụ tất cả các thành viên của cộng đồng Nó thường được chính phủ cung cấp cho những người sống trong phạm vi, quyền hạn, trực tiếp (thông qua khu

Trang 28

vực công) hoặc bằng cách cung cấp tài chính cho các dịch vụ

Các quan niệm về dịch vụ công của các nghiên cứu luôn thể hiện vai trò của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ, theo quan niệm là “Dịch vụ công luôn gắn với vai trò của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ này”

Một số định nghĩa và quan điểm về dịch vụ công của các nghiên cứu trong nước, các nghiên cứu đều cho thấy tầm quan trọng của nhà nước trong cung cấp dich vụ công dưới hình thức cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp thông uỷ quyền và tạo điều kiện cho tư nhân thực hiện, cụ thể được kể đến các nghiên cứu sau đây:

Tác giả Hoàng Văn Hảo [39], cho rằng “DVC trên thế giới có hai quan niệm

và cách tổ chức khác nhau: (1) DVC là mọi hoạt động của nhà nước, không loại trừ một lĩnh vực nào; (2) DVC là mọi hoạt động do cơ quan nhà nước cung cấp mà không thu tiền nhằm đảm bảo trật tự công”

Theo tác giả Lê Chi Mai [47], cho rằng “DVC là để chỉ các hoạt động phục

vụ của Nhà nước đối với các nhu cầu thiết yếu của xã hội”

Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Trần Công Phong [50] và cộng sự định

nghĩa rằng: “DVC có thể được hiểu là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của

xã hội, vì lợi ích chung của cả cộng đồng, của xã hội, do nhà nước trực tiếp đảm nhiệm hay uỷ quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện”

Công trình nghiên cứu của tác giả Diệp Văn Sơn [54] thì khẳng định vai trò của nhà nước trong việc thực thi các chức năng quản lý nhà nước nhằm đảm bảo lợi

ích chung của xã hội và dịch vụ công và được tác giả định nghĩa rằng: “Dịch vụ công là những hoạt động thực thi chức năng quản lý nhà nước và đảm bảo phục vụ cho lợi ích chung tối cần thiết của xã hội, do các cơ quan công quyền hay các chủ thể được cơ quan công quyền ủy nhiệm đứng ra thực hiện”

Từ các công trình nghiên cứu và định nghĩa trên cho thấy dù nghiên cứu dưới góc độ DVC là hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực thi các chức năng quản lý hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng những hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu (lợi ích) thiết yếu của xã hội hay những nghiên cứu theo góc độ chủ thể quản lý nhà nước thì đều nói đến phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội

Trang 29

Từ những quan niệm và phân tích trên, trong nghiên cứu này thống nhất với

các quan điểm cho rằng: “Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện”

* Phân loại dịch vụ công

Có nhiều cách phân loại dịch vụ công tuỳ theo tiêu chí cụ thể, nghiên cứu này

dựa vào chức năng và tác dụng của dịch vụ được cung ứng để chia DVC thành 3

loại như sau:

- Dịch vụ hành chính công: Gắn liền với chức năng quản lý của nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân, những hoạt động cung cấp các dịch vụ phục

vụ trực tiếp người dân như: cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,…Người dân khi sử dụng các dịch vụ này phải đóng lệ phí hoặc phí Khoản đóng góp này chỉ mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước

- Dịch vụ công ích: Các hoạt động này được nhà nước đặc biệt quan tâm, các dịch vụ công ích gắn liền với các hoạt động cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân và cộng đồng như: vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị, phòng chống thiên tai…

- Dịch vụ sự nghiệp công: Đây là những dịch vụ được cung cấp phúc lợi xã hội thiết yếu cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khoẻ, thể dục thể thao, bảo hiểm, an sinh xã hội Hiện nay, dịch vụ sự nghiệp công có xu hướng chung trên thế giới là nhà nước chỉ thực hiện những DVC nào mà xã hội không thể làm được hoặc không muốn làm, nên nhà nước đã chuyển giao một phần việc cung ứng loại DVC này cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội

1.2.2 Dịch vụ giáo dục và dịch vụ công trong giáo dục

1.2.2.1 Dịch vụ giáo dục

Dịch vụ giáo dục được các nhà nghiên cứu đưa ra các quan điểm, nhận định giáo dục là dịch vụ, cụ thể có những quan điểm, khái niệm của các nhà nghiên cứu sau đây về dịch vụ giáo dục, cụ thể:

Tim Mazzarol, Geoffrey Normal Soutar [94], “The global maket for higher educaition Edward Elgar”: “Giáo dục là một loại hình dịch vụ thị trường và có 5

Trang 30

tính chất của dịch vụ bao gồm: (1) DVGD quan hệ với con người, đặc biệt là trí tuệ của họ hơn là với các công cụ, (2) quan hệ với khách hàng, nhất là với học sinh mang tính chính thống, lâu dài; (3) Đòi hỏi có sự chuyên môn hoá cao và quen thuộc; (4) Nhu cầu dịch vụ có thể ở quy mô khác nhau; (5) phương pháp cung cấp dịch vụ phụ thuộc vào các đối tượng khách hàng”

Tác giả Phan Văn Kha [43] phân loại dịch vụ giáo dục thành 2 nhóm: (1) những dịch vụ cơ bản trong xã hội, (2) những dịch vụ giáo dục khác: trong đó, nhóm dịch vụ cơ bản trong GD là những loại dịch vụ cung cấp kiến thức tối thiểu cần thiết cho hoạt động con người, tương ứng với trình độ phát triển kinh tế - xã hội

ở mỗi một giai đoạn nhất định Nhà nước tiếp tục tăng ngân sách đầu tư cho các dịch vụ giáo dục được ưu tiên; Nhóm dịch vụ GD khác là những dịch vụ chịu sự tác động mạnh của thị trường như cung ứng những kiến thức, kỹ năng, rèn luyện thái

độ, nghề nghiệp cho người lao động chuẩn bị đi vào thế giới nghề nghiệp trong tương lai, trực tiếp phục vụ trong các ngành KT-XH

Vũ Quang Việt [71], cũng đã khẳng định: “Giáo dục là sản phẩm đặc biệt theo nghĩa nó là phương tiện để nhằm tăng sản xuất ra của cải trong tương lai”

Công trình nghiên cứu của tác giả Trần Quốc Toản và Trần Thị Bích Liễu [58]

về “Thị Trường Giáo dục và dịch vụ giáo dục: Những vấn đề cũ và những hiểu biết mới” có khẳng định “Ở đâu có thị trường thì ở đó có dịch vụ, nên giáo dục là

dịch vụ”

Theo góc nhìn của các nhà kinh tế giáo dục, thì thị trường GD hết sức phức tạp vì ngoài những đặc điểm chung giống như các dịch vụ khác thì dịch vụ giáo dục

có thêm những đặc điểm riêng: (1) Dịch vụ giáo dục là dịch vụ công là quyền lợi

mà mỗi người dân đều được hưởng; (2) Dịch vụ GD là dịch vụ của niềm tin; (3) Khách hàng là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên chất lượng sản phẩm

Do vậy, thị trường dịch vụ GD là một trong những thị trường đặc biệt khác với những thị trường dịch vụ hàng hoá khác

Cung ứng DVC trong lĩnh vực GD là vấn đề không còn mới xét về mặt lịch

sử ở các quốc gia Lý giải về trách nhiệm của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ giáo dục, các nhà kinh tế cho rằng Nhà nước không thể không có trách nhiệm tài trợ giáo dục, đặc biệt là GD cơ bản Nhưng tại sao dịch vụ này phải được các nhà trường nhà nước cung cấp mà không phải là trường tư nhân cung cấp

Trang 31

Giáo dục là một loại hình dịch vụ bởi vì nó mang đầy đủ tất cả các đặc điểm của dịch vụ Tuy nhiên GD mang tính chất đặc thù, vì: (i) GD không chỉ mang lợi cho cá nhân người được GD mà cho cả xã hội; (ii) trẻ em chưa đến tuổi thành niên không có khả năng chi trả cho GD và việc bắt buộc cha mẹ chi trả cho GD không thể thực hiện nếu bản thân cha mẹ không có khả năng tài chính; (iii) chất lượng GD không thể dễ đo lường bằng công cụ thị trường như giá cả Theo đó, trong nghiên cứu luận án này, dịch vụ giáo dục được xác định có đặc trưng sau đây:

- Dịch vụ giáo dục là dịch vụ đáp ứng nhu cầu cơ bản nhằm phát triển con người, đặc biệt phát triển thể lực, trí lực giúp con người phát triển toàn diện

- Dịch vụ giáo dục do các tổ chức nhà trường hoặc những giáo viên có trình độ, chuyên môn cao cung cấp

1.2.2.2 Dịch vụ công trong giáo dục

Với mục tiêu xây dựng CNXH, trong một thời gian dài, Nhà nước đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cung ứng dịch vụ giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân Năm 1986, cùng với những đổi mới về chính trị và kinh

tế, lĩnh vực GD cũng đã được Đảng và Nhà nước đẩy mạnh cải cách Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư (khóa VII), Đảng Cộng sản Việt Nam

đã đề ra chủ trương đổi mới, khuyến khích sự phát triển của GD đào tạo ở mọi cấp học Tiếp đó, tại trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Đảng và Nhà

nước ta khẳng định: "Giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển GD là nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, chuyển mạnh quá trình GD chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, phát triển GD đào tạo gắn liền với phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học- công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động" [23]

Ở Việt Nam hiện nay, rất nhiều chuyên gia và các nhà nghiên cứu về GD cho rằng cần phải xem GD là một DVC và phải có những biện pháp và cách thức đầu tư sao cho tốt nhất để mọi học sinh được tiếp cận với dịch vụ có chất lượng cao Đây

là những lý do buộc Nhà nước phải có trách nhiệm chính trong việc cung ứng dịch

vụ GD cho xã hội

Trang 32

Tác giả Phan Văn Kha [43], trong bài báo “Phát triển giáo dục trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” đã kết luận: “Giáo dục đã được khẳng định là lĩnh vực dịch vụ công Tuy nhiên, phạm vi hoạt động và đặc điểm của loại dịch vụ này tuỳ thuộc và mức độ can thiệp của Nhà nước về đầu tư, cung cấp dịch vụ, chi phối và điều tiết các hoạt động”

Dịch vụ sự nghiệp công theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, Quy định cơ chế

tự chủ của đơn vị sự nghiệp công, thì dịch vụ sự nghiệp công được hiểu là dịch vụ

sự nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế văn hoá, thể thao và

du lịch; thông tin truyền thông và báo chí, khoa học và công nghệ, sự nghiệp kinh tế

và sự nghiệp khác [22]

Dịch vụ sự nghiệp công có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước là dịch vụ

sự nghiệp công mà nhà nước đảm bảo toàn bộ chi phí hoặc dịch vụ sự nghiệp công chưa tính đủ chi phí trong giá, phí được ngân sách nhà nước hỗ trợ Đây cũng chính

là nội dung mà nghiên cứu này đề cập trong nghiên cứu về dịch vụ công trong trường mầm non

Dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước là dịch

vụ công có điều kiện xã hội hoá cao, nhà nước không bao cấp, giá dịch vụ sự nghiệp công được vận hành theo cơ chế thị trường, theo quy luật cung cầu của thị trường và

sự can thiệp của nhà nước

Theo như các cách hiểu và phân loại về DVC đã đề cập ở trên, GD hiển nhiên được xem là một dịch vụ công Ở Việt Nam hiện nay, nhiều chuyên gia nhấn mạnh cần phải xem GD là DVC và phải có biện pháp hiệu quả để mọi học sinh tiếp cận được chất lượng GD cao điều này cần đến sự thống nhất

Vì vậy, Dịch vụ công trong GD có thể được hiểu là những hoạt động phục vụ mọi nhu cầu về GD ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo của người dân, vì lợi ích chung của xã hội, do nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện) nhằm bảo đảm ổn định và công bằng xã hội

Từ các nghiên cứu trên, xét trên góc độ DVC trong GDMN trong nghiên cứu này với tư cách là dịch vụ sự nghiệp công thuộc lĩnh vực giáo dục, dịch vụ sự

Trang 33

nghiệp công có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước Từ khái niệm về dịch vụ, dịch

vụ công, dịch vụ công trong giáo dục, nghiên cứu này cho rằng: “Dịch vụ công trong trường MN là những hoạt động phục vụ nhu cầu về giáo dục ở cấp học mầm non, vì lợi ích chung của trẻ mầm non do trường mầm non chịu trách nhiệm trước xã hội bảo đảm nhu cầu và công bằng về chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ”

1.2.3 Trường mầm non công lập

Theo luật GD số 43/2019/QH ngày 14 tháng 6 năm 2019 GDMN (GDMN) là cấp học đầu tiên của hệ thống GD quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc GD trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi nhằm phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, trí tuệ, tình cảm, ngôn ngữ, thẩm mỹ của trẻ em yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một [23]

Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm lý, sinh lý, trí tuệ, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho trẻ ở giai đoạn đầu đời, giúp phát triển nhận thức, tạo điều kiện cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời cũng như cho cuộc sống của trẻ sau này Chất lượng GDMN chịu ảnh hưởng của 4 yếu tố cơ bản, đó là: gia đình, nhà trường, xã hội và bản thân trẻ Nếu xác định được những thành phần chủ yếu của các yếu tố này và vận dụng hợp lí trong quá trình GD trẻ thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng GDMN Đánh giá chất lượng GDMN là sự đối chiếu khả năng của trẻ với các mục tiêu GDMN đã được nêu ra trong chương trình

Trường mầm non công lập là do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên và các hoạt động chi thường xuyên được quy định trong danh mục của nhà nước Trường mầm non công lập sẽ thực hiện theo quy định ban hành điều lệ trường mầm non

Trang 34

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo [13], Quyết định ban hành điều lệ trường

mầm non (Trích điều 2 Nhiệm vụ và quyền hạn của trường mầm non, trường mẫu giáo, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập), trong đó có quy định một số

nhiệm vụ sau:

- Trường mầm non tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ

em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và gắn với điều kiện thực tiễn của địa phương

- Nhiệm vụ của trường là huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật; thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi

- Trường phối hợp với gia đình, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em thông qua các hoạt động tuyên truyền chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ mầm non

- Hàng năm trường tự đánh giá thực hiện và đánh giá thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo quy định

1.2.4 Hoạt động dịch vụ công trong trường mầm non

Ở Việt Nam, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng dẫn đến việc chấp nhận cách hiểu và định nghĩa về DVC trong GD là một vấn đề cần thiết để có thể hướng đến việc so sánh, đối chiếu về khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân nói chung và người nghèo nói riêng với các quốc gia khác trên thế giới GD là một loại hình dịch vụ bởi GD mang đầy đủ tất cả các đặc điểm của dịch vụ bao gồm: tính phi vật chất, tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng, tính không chuyển đổi quyền sở hữu, tính không thể di chuyển và tính không đồng nhất Theo như các cách hiểu và phân loại

về DVC đã đề cập ở trên, GD hiển nhiên được xem là một DVC Ở Việt Nam hiện nay, nhiều chuyên gia nhấn mạnh cần phải xem GD là DVC và phải có biện pháp hiệu quả

để mọi học sinh tiếp cận được chất lượng GD cao (tuy nhiên trong nghiên cứu này không nghiên cứu đến trường MN công lập chất lượng cao)

Theo điều lệ Trường mầm non [10], tại Điều 24, có thể hiểu các hoạt động dịch vụ, bao gồm 4 hoạt động chính sau đây:

Trang 35

Tổ chức hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ được tiến hành thông qua các hoạt động theo quy định của chương trình giáo dục mầm non

(1) Tổ chức hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ bao gồm: chăm sóc dinh dưỡng; chăm sóc giấc ngủ; chăm sóc vệ sinh; chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn

(2) Tổ chức hoạt động giáo dục trẻ bao gồm: hoạt động chơi; hoạt động học; hoạt động lao động; hoạt động ngày hội, ngày lễ

(3) Tổ chức hoạt động giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong nhà trường: tuân theo Quy định về giáo dục trẻ em tàn tật, khuyết tật do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

(4) Tổ chức hoạt động tuyên truyền và phổ biến kiến thức về chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ

Vì vậy, từng hoạt động DVC trong trường MN cụ thể như sau:

(1) Tổ chức chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non

Chăm sóc đối với trẻ, trước hết là sự chào đón nhiệt tình, là những hành động cần thiết phải làm để thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của cha mẹ trẻ, của trẻ và của xã hội mà trẻ được người được chăm sóc theo những yêu cầu và mong muốn Nuôi dưỡng là sự nuôi nấng và chăm sóc để phát triển về sức khỏe, thể lực, tinh thần của trẻ Đối với trẻ việc nuôi dưỡng phải thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể của trẻ trong giai đoạn đầu đời, sự nuôi dưỡng trong giai đoạn này rất quan trọng và quyết định tới sự phát triển toàn diện cả về thể chất và trí tuệ đối với trẻ ở

độ tuổi MN, bởi vì đây là giai đoạn tăng trưởng đầu đời cho thể chất rất mạnh mẽ, chăm sóc dinh dưỡng và nuôi dưỡng khoa học, đúng, đủ sẽ quyết định quan trọng trong toàn bộ sự phát triển sau này của trẻ Chính vì vậy, công tác tổ chức thực hiện hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ đã được xác định là nhiệm vụ vô cùng quan trọng gắn liền với sự tồn tại và phát triển của các trường mầm non, các nội dung được cụ thể hoá như sau:

Chăm sóc sức khoẻ thể lực và tinh thần: Kiểm tra sức khỏe đầu năm học; Kiểm tra sức khỏe định kỳ trong năm học; Theo dõi tình trạng dinh dưỡng trẻ suy dinh dưỡng, trẻ béo phì; Phối hợp chăm sóc sức khỏe giữa gia đình và nhà trường;

Trang 36

Hướng dẫn trẻ rèn luyện thể lực; Hướng dẫn trẻ tự chăm sóc sức khoẻ; Hướng dẫn chọn trang phục phù hợp với thời tiết cho trẻ; Hướng dẫn chăm sóc trẻ khi trẻ bị ốm

Chăm sóc dinh dưỡng: Cung cấp bữa ăn đủ dinh dưỡng; Cung cấp tối thiểu

số bữa ăn theo lứa tuổi; Đảm bảo giờ ăn của trẻ theo từng lứa tuổi; Đảm bảo khẩu phần ăn hợp lý theo nhu cầu lứa tuổi

Chăm sóc vệ sinh: Hướng dẫn trẻ vệ sinh cá nhân; Cung cấp chỗ học đảm bảo vệ sinh; Cung cấp chỗ ngủ đảm bảo vệ sinh; Cung cấp khu vực vui chơi ngoài trời đảm bảo vệ sinh; Cung cấp nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn vệ sinh học đường; Cung cấp đồ chơi và thiết bị giáo dục đảm bảo vệ sinh; Cung cấp chỗ ngủ đảm bảo vệ sinh; Vệ sinh cá nhân cho trẻ trước khi ngủ

Chăm sóc giấc ngủ: Cung cấp đủ chỗ ngủ theo sĩ số lớp; Đảm bảo chương trình giáo dục để trẻ được ngủ đúng giờ, đủ giờ; Đảm bảo môi trường ngủ yên tĩnh; Đảm bảo thời gian nhu cầu ngủ phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ

Đảm bảo an toàn: Đảm bảo cung cấp thiết bị giáo dục an toàn; Đảm bảo cung cấp thiết bị khu vui chơi ngoài trời an toàn; Cung cấp CSVC có kiến trúc an toàn, thân thiện với trẻ; Đảm bảo an ninh trong nhà trường; Cung cấp thiết bị công nghệ đảm bảo an toàn cho trẻ trong khuôn viên nhà trường; Đảm bảo thực phẩm an toàn vệ sinh cho trẻ; Đảm bảo an toàn dinh dưỡng cho trẻ

(2) Tổ chức hoạt động giáo dục trong trường mầm non

Trẻ em trong giai đoạn ở cấp mầm non, hoạt động giáo dục không mang tính chất rập khuôn, máy móc mà việc tổ chức hoạt động GD trong trường MN hiện đại

là có sự thoát ly khỏi hoạt động học tập, có sự nâng cao vị trí của hoạt động vui chơi như là hoạt động cơ bản của tuổi mẫu giáo; việc vận dụng những hình thức làm việc có hiệu quả hơn: hoạt động dự án, tình huống chơi, tình huống dạy học nêu vấn

đề trong khuôn khổ tích hợp các lĩnh vực giáo dục Do đó, “Giờ học” như một hình thức tổ chức hoạt động học tập trong trường MN bị hủy bỏ Giờ học phải trở nên hấp dẫn với trẻ, là hình thức đặc biệt do GV tổ chức, là hình thức tổ chức hoạt động đặc trưng của trẻ, kích thích tính tích cực của trẻ, là sự tương tác và giao tiếp công việc, là sự tích lũy thông tin nhất định về thế giới xung quanh của trẻ, nhằm hình thành kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo nhất định

Tổ chức hoạt động vui chơi: Đảm bảo đồ chơi phù hợp với các loại hình hoạt động vui chơi; Tổ chức hoạt động chơi vận động; Tổ chức hoạt động chơi phù

Trang 37

hợp theo từng lứa tuổi; Tổ chức hoạt động vui chơi ngoài trời; Tổ chức hoạt động vui chơi trong nhà

Tổ chức hoạt động học: Hoạt động học theo chương trình GDMN từng lứa tuổi; Hoạt động học do trường thiết kế riêng; Hoạt động thể dục, thể thao; Hoạt động dã ngoại; Hoạt động học trong lao động

Tổ chức hoạt động lao động: Tổ chức hoạt động lao động giúp trẻ rèn luyện tính tỉ mỉ; Tổ chức hoạt động lao động giúp trẻ rèn luyện tính kiên trì; Tổ chức hoạt động lao động giúp trẻ rèn luyện tính khéo léo theo từng lứa tuổi; Tổ chức hoạt động lao động giúp trẻ rèn luyện sức khỏe theo từng lứa tuổi; Tổ chức hoạt động lao động giúp trẻ rèn luyện tính đoàn kết; Tổ chức hoạt động lao động giúp trẻ hòa đồng, hợp tác với các bạn

Tổ chức hoạt động ngày lễ, ngày hội: Tổ chức hoạt động kỷ niệm các ngày

lễ lớn của đất nước; Tổ chức hoạt động kỷ niệm các ngày lễ của ngành giáo dục; Tổ chức hoạt động các ngày hội trong năm; Tổ chức hoạt động thiết kế theo Chương trình giáo dục riêng của nhà trường

(3) Tổ chức hoạt động giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong trường MN

Trong trường mầm non, tổ chức hoạt động giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong trường MN là phục vụ nhu cầu của trẻ có hoàn cảnh khó khăn và làm tất cả mọi thứ có thể để đảm bảo sự hòa nhập hoàn toàn với xã hội và sự phát triển toàn

bộ khả năng của các em Đây là một nhiệm vụ quan trọng được nhà nước rất quan tâm, việc tổ chức các hoạt động giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật trong trường mầm non thường gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của GD hòa nhập trẻ khuyết tật là mỗi đứa trẻ đều có những đặc điểm riêng, các trường học hòa nhập cần coi trọng việc tạo cơ hội cho trẻ hỏi và được đánh giá bằng nhiều cách khác nhau GV trong các trường học hòa nhập đòi hỏi phải xem xét hệ thống các phương thức giảng dạy (thị giác, thính giác, vận động…) trong việc thiết kế phương thức riêng của mình Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả

hỗ trợ mà các nhà GD cung cấp cho học sinh khuyết tật cũng như đa dạng hóa trải nghiệm GD cho tất cả trẻ

Nội dung của hoạt động giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật: Xây dựng và thực hiện kế hoạch GD hòa nhập cho trẻ theo độ tuổi; Phân loại trẻ theo đối tượng để GD hòa nhập; Đảm bảo đồ chơi phù hợp với đặc điểm của trẻ hoà nhập; Tổ chức các

Trang 38

hoạt động dành riêng cho từng loại trẻ hoà nhập: vận động, giao tiếp, vui chơi, học tập, lao động; Hoạt động hỗ trợ cho CMT được GD hòa nhập

(4) Tổ chức hoạt động tuyên truyền phổ biến kiến thức về chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ

Mối quan hệ nhà trường, gia đình và xã hội có tầm quan trọng lớn trong việc nâng cao chất lượng GD và phát triển cộng đồng Trẻ trong độ tuổi mầm non gia đình được coi là “Búp trên cành” Các trẻ cần được nâng niu, chăm sóc, nuôi dưỡng một cách khoa học nên cần có sự phối hợp giữa gia đình – nhà trường – xã hội gắn

bó một cách mật thiết, mối quan hệ này có tác động qua lại Bởi vì, truyền thống gia đình ảnh hưởng sâu sắc đến nhân cách của trẻ em Gia đình là nơi được yêu thương

vô điều kiện, từ đó trẻ hình thành, phát triển và bồi đắp nhân cách Gia đình còn là cầu nối trẻ em với nhà trường và xã hội, là nơi nuôi dưỡng, GD trẻ em Nhà trường

là môi trường có đủ điều kiện nhất trong việc thực hiện các mục tiêu của GD trong giai đoạn trẻ MN Trường MN đóng vai trò quan trọng trong việc truyền thụ những nhận thức cho trẻ Bên cạnh truyền thụ tri thức văn hóa, nhà trường còn có nhiệm

vụ GD, rèn luyện về mặt phẩm chất đạo đức, đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ Cộng đồng xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng môi trường văn hóa, môi trường GD Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và

xã hội sẽ góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình

GD trẻ em

Nội dung hoạt động tuyên truyền: Trao đổi những vấn đề về tâm lý lứa tuổi của trẻ; Trao đổi những vấn đề về chăm sóc dinh dưỡng và chăm sóc trẻ; Tổ chức hội thảo cho cha mẹ về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ; Tổ chức hội thảo cho cha mẹ về

GD trẻ; Tổ chức hội thảo cho cha mẹ về chuẩn bị trẻ vào lớp 1; Phối hợp với các cơ quan, đoàn thể tham gia vào hoạt động giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ của nhà trường; Thu hút hỗ trợ từ các cơ quan, đoàn thể cho các hoạt động giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ của nhà trường

1.3 Quản lý dịch vụ và chất lượng dịch vụ

1.3.1 Quản lý dịch vụ

Quản lý được xem là một nghệ thuật, mọi công việc muốn hoàn thành, đạt được mục đích đề ra phải qua người khác Đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các

Trang 39

định nghĩa về quản lý, cụ thể sau:

Thuật ngữ quản lý lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959, “Quản lý là tác động của chủ lên đối tượng theo mục tiêu nhất định” Quản lý xuất hiện khi có các hoạt động chung của con người

QL điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp với các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành các hoạt động chung thống nhất của tập thể hướng tới mục tiêu đã định trước”

Trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Đạo [30], cho rằng: “Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập

kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức”

Theo Từ điển Tiếng Việt [72]: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định”

Tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc [16]: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” và “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”

Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Bùi Minh Hiền [34] và cộng sự cho

rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”

Như vậy, qua các khái niệm trên cho thấy quản lý vừa mang tính nghệ thuật, vừa mang tính khoa học, điều khiển một hệ thống là tổ chức xã hội, một nhóm người hoặc một cá nhân hướng đến mục tiêu rõ ràng

Từ các nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về quản lý cho thấy: Quản lý là một hoạt động mà đều phải có chủ thể quản lý, có đối tượng quản lý, có định hướng mục tiêu rõ ràng

Vì vậy, trong nghiên cứu này quan niệm: “Quản lý là hoạt động liên tục có

sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến các đối tượng

quản lý nhằm đạt được các mục tiêu chung đã đề ra”

Trang 40

Từ nghiên cứu về dịch vụ tại (mục 1.2.1.1), trong nghiên cứu đã nêu: “Dịch

vụ là hoạt động có chủ đích nhằm hướng tới và đáp ứng nhu cầu nào đó của con người được thể hiện qua các hoạt động tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng”

Từ đó, trong nghiên cứu này cho rằng: “Quản lý dịch vụ là tác động có mục đích, có kế hoạch của người quản lý tới các đối tượng quản lý nhằm đảm bảo cung

cấp các hoạt động dịch vụ có chất lượng đáp ứng nhu cầu của khách hàng”

Nghiên cứu cho thấy: “Quản lý dịch vụ công là những tác động có mục đích, có

kế hoạch của người quản lý tới các đối tượng quản lý nhằm đảm bảo cung cấp các dịch vụ công có chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội vì lợi ích chung của xã hội và của cộng đồng”

1.3.2 Chất lượng dịch vụ

Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu trong đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội trong việc nâng cao chất lượng sản xuất, kinh doanh và dịch vụ …Tuy nhiên khái niệm về chất lượng từ lâu vẫn luôn là một khái niệm khó xác định, trừu tượng, khó đánh giá, khó đo lường, đôi khi việc xác định chất lượng theo quan điểm của mỗi nhà nghiên cứu có sự khác nhau

Theo định nghĩa của Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn ISO 8402: “Chất lượng

là khả năng tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”

Lý thuyết về sự phù hợp với sứ mệnh và mục tiêu thì theo Bogue và Saunder:

“Chất lượng là sự phù hợp với tuyên bố sứ mệnh và kết quả đạt được của mục tiên trong phạm vi các chuẩn mực được công khai”

Các nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục trong nước, cũng đã có các khái niệm về giáo QLCL như:

Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Châu [15] và cộng sự: “Chất lượng GD- Những vấn đề lý luận và thực tiễn có nêu: Một số định nghĩa về chất lượng: “chất

lượng là sự phù hợp với mục tiêu”

Theo tác giả Nguyễn Đức Chính [22] và cộng sự cho rằng: “Chất lượng là mục tiêu của sự tìm tòi liên tục của con người trong suốt tiến trình lịch sử của nhân

Ngày đăng: 08/06/2021, 09:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w