1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Tôn giáo học: Đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

28 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 405,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của Luận án này nhằm làm rõ đặc trưng cơ bản về lý tuyết và thực hành đức tin tôn giáo của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, từ đó rút ra một số ý nghĩa và khuyến nghị đối với các tổ chức có liên quan. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

NGUYỄN XUÂN HẬU

ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC TÔN GIÁO RA ĐỜI

Ở NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH TÔN GIÁO HỌC

Mã số: 9229009

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS LÊ TÂM ĐẮC

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện

họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Vào hồi giờ ngày tháng năm 2020

Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia

Và thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, bên cạnh các tôn giáo ngoại nhập như Phật giáo, Islam giáo, Công giáo, đạo Tin lành…, chúng ta thấy ở Nam Bộ

có sự hiện hữu khá nhiều loại hình tôn giáo ra đời ở khu vực này, tiêu biểu là: Bửu sơn Kỳ hương (BSKH), Tứ ân Hiếu nghĩa (TAHN), Phật giáo Hiếu nghĩa

Tà Lơn (PGHNTL), Phật giáo Hòa Hảo (PGHH), đạo Cao Đài (CĐ), Tịnh độ

Cư sĩ Phật hội Việt Nam (TĐCSPHVN)

Các tôn giáo nêu trên ra đời trong bối cảnh vùng đất Nam Bộ đã hình thành và đang phát triển Nhiều yếu tố văn hóa, xã hội Nam Bộ đương thời được các tôn giáo nội sinh tiếp thu Đó là môi trường khắc nghiệt của vùng đất mới làm nảy sinh tâm lý nương tựa vào thần linh Đó là vùng đồi núi Thất Sơn huyền bí - nơi lý tưởng của chốn tâm linh Đó là vùng giáp biên Tây Ninh - môi trường thuận lợi cho các hoạt động chính trị tôn giáo, v.v Tất cả tạo nên khoảng trống tâm linh trong một bộ phận không nhỏ người dân Nam Bộ, rất cần xuất hiện những loại hình tôn giáo mới để khỏa lấp khoảng trống ấy

Sự ra đời của các tôn giáo ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX không nằm ngoài bối cảnh chung của văn hóa, xã hội Nam Bộ Chúng kế thừa, dung hợp, sắp xếp, điều chỉnh để phù hợp với hoàn cảnh xã hội mới, lôi cuốn người dân thực hành các hoạt động tôn giáo và cả các hoạt động ngoài tôn giáo Mục đích đó đạt được không chỉ vào thời điểm các tôn giáo nội sinh ra đời mà còn cả những thời điểm về sau khi nhiều sự biến đổi ở Nam Bộ diễn ra làm cho vùng đất này thay đổi diện mạo Điều đó cho thấy, các tôn giáo ra đời ở Nam

Bộ có tính bền vững nhất định, bởi những giá trị của các tôn giáo này

Trên tinh thần tiếp nối thành quả nghiên cứu đi trước, với mong muốn góp phần lý giải rõ hơn một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau về các tôn

giáo ra đời ở Nam Bộ, tôi chọn đề tài “Đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở

Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” làm đề tài luận án Tiến sĩ, chuyên

2.2 Nhiệm vụ của luận án

- Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận liên

quan đến các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

- Thứ hai, trình bày có hệ thống khái quát điều kiện ra đời và quá trình

phát triển của các tôn giáo ở Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

- Thứ ba, làm rõ đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ vào cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Trang 4

- Thứ tư, phân tích giá trị các đặc trưng và khuyến nghị từ đặc trưng của

các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, gồm: nhóm tôn giáo thuộc Phong trào các Ông Đạo (Bửu sơn Kỳ hương, Tứ ân Hiếu nghĩa, Phật giáo Hiếu nghĩa

Tà Lơn, Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam) và tôn giáo thuộc phong trào Cơ Bút (đạo Cao Đài)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: là Nam Bộ, khu vực ra đời, tồn tại, hoạt động chính của các tôn giáo nội sinh được lựa chọn nghiên cứu Ngoài ra, luận án còn nghiên cứu đến một số khu vực có sự tác động, ảnh hưởng của các tôn giáo này

- Về thời gian: từ giữa thế kỷ XIX (năm 1849, thời điểm ra đời đạo Bửu sơn Kỳ hương) cho đến hiện nay (2019, thời điểm hoàn thành luận án)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội và nhân văn, như: phân tích - tổng hợp tư liệu (tư liệu gốc, tài liệu thứ cấp); phỏng vấn sâu, lấy ý kiến chuyên gia (học giả, chức sắc, chức việc, tín đồ); các phương pháp cụ thể như so sánh, khái quát, đối chiếu,v.v

5 Đóng góp khoa học của luận án

Từ phương diện Tôn giáo học, luận án góp phần làm rõ những đặc trưng

cơ bản và một số vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau liên quan đến các tôn giáo

ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XIX

Kết quả luận án còn đóng góp luận cứ khoa học cho việc nhận thức và ứng xử đúng đắn hơn và khách quan hơn đối với các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Thông qua phân tích đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX, luận án đóng góp những luận cứ khoa học trong nghiên cứu quy luật hình thành và phát triển của tôn giáo; mối quan hệ tương tác qua lại giữa tôn giáo đến các lĩnh vực đời sống xã hội

Trang 5

7 Kết cấu của luận án

Ngoài Lời cam đoan, Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, Tài liệu tham khảo, Phụ

lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 09 tiết và tiểu kết các chương

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU, TÀI LIỆU

1.1.1 Tổng quan tư liệu gốc

1.1.1.1 Kinh sách của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ

Gồm những bản kinh, sách của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ: BSKH, TAHN, PGHNTL, PGHH, TĐCSPHVN, CĐ Đây là những tư liệu quan trọng

để luận án tiếp cận phân tích đặc trưng của các tôn giáo thông qua tư tưởng giáo

lý, giáo luật, tổ chức, v.v Lưu ý tư liệu gốc của các tôn giáo đó là một số bản kinh, sấm, vãn, Thánh ngôn, v.v có nhiều phiên bản khác nhau Chúng tôi lựa chọn một số bản để làm cơ sở nghiên cứu, các bản cùng nội dung khác mang

tính tham khảo, đối chiếu Ví dụ như: Sấm truyền Đức Phật Thầy Tây An, của

Nguyễn Văn Hầu sưu tầm và biên soạn (1973) được Tòng Sơn Cổ tự xuất bản,

Phật giáo Hòa Hảo: Sấm giảng thi văn toàn bộ in năm 1966 và bản Sấm giảng thi văn giáo lý toàn bộ của Đức Huỳnh Giáo chủ tái bản năm 2004; quyển Thánh ngôn hiệp tuyển trọn bộ in năm 1972, Tòa thánh Tây Ninh giữ bản quyền, và Thánh ngôn hiệp tuyển quyển 1 và 2 hợp nhứt và chú thích do

Nguyễn Văn Hồng biên soạn và chú thích, ấn hành năm 2000

1.1.1.2 Văn bản của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ

Văn bản của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ tiêu biều gồm: Đạo thư của Đức Quyền Giáo tông về việc phát hành quyển Pháp Chánh truyền, ; các bản Thánh huấn, Thông tri, Điều lệ Hiến chương của các tôn giáo, v.v

1.1.2 Tổng quan những vấn đề nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án

1.1.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu sự ra đời của các tôn giáo ở Nam

Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Nhóm công trình lịch sử, văn hóa, xã hội liên quan đến các tôn giáo ra đời

ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tiêu biểu của các tác giả:

Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí; Paul Doumer, hồi kí Xứ Đông Dương; Paul Giran, Psychologie du peule

Trang 6

annamite (Tâm lý dân tộc An Nam); Georges Coulet, Les Sociétés Secrètes en terre d’Annam (Hội kín xứ An Nam); Phan Quang, Đồng bằng sông Cửu Long; Huỳnh Lứa chủ biên, Lịch sử khái phá vùng đất Nam bộ; Li Tana, “An Alternative Vietnam? The Nguyen Kingdom in the 17th and 18th Century” (Một Việt Nam khác? Vương quốc họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18), Journal of Southeast Asian Studies, 3/1988; Tạ Chí Đại Trường, Thần, Người và Đất Việt; Sơn Nam, Lịch sử An Giang; Nguyễn Văn Trung, Hồ sơ về Lục Châu học, Tìm hiểu con người ở vùng đất mới; Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa; Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám,v.v

Các công trình trên có lượng tư liệu phong phú liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài luận án như: đặc điểm vùng đất Nam Bộ, bối cảnh xã hội Nam Bộ, đặc tính người Nam Bộ Đây là những tiền đề quan trọng, hình thành nên đặc trưng của các tôn giáo khu vực này

1.1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu đặc trưng của các tôn giáo ra đời

ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

* Nhóm công trình nghiên cứu Phong trào các Ông Đạo

Năm 1956, Nguyễn Văn Hầu biên soạn quyển Đức Cố Quản hay là Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa, quyển Nhận thức Phật giáo Hòa Hảo (1968), quyển Thất Sơn màu nhiệm (1972) Tạ Chí Đại Trường, Thần Người và Đất Việt Đinh Văn Hạnh, Đạo Tứ ân Hiếu nghĩa của người Việt ở Nam bộ (1867-1975) Nguyễn Hoàng Sa, Đạo Hòa Hảo và ảnh hưởng của nó ở đồng bằng sông Cửu Long

Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam (2003), kỷ

yếu Hội thảo khoa học về giáo phái Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam

Phạm Bích Hợp, Người Nam Bộ và tôn giáo bản địa (Bửu sơn Kỳ hương - Cao Đài - Hòa Hảo) Phan An, Người Nam bộ dưới góc nhìn tôn giáo Ngô Văn Lệ, Các tôn giáo bản địa và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hoá của người Việt ở Nam Bộ

Các công trình này, dưới các góc độ ở nhiều lĩnh vực tôn giáo học, nhân học, văn hóa học, triết học, sử học, nhiều vấn đề liên quan đến các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ đã được làm rõ như: nguồn gốc, giáo lý, giáo luật, hành đạo, tổ chức, vai trò trong từng giai đoạn lịch sử, vấn đề đặt ra

* Các công trình nghiên cứu nhóm Phong trào Cơ bút (tiêu biểu là đạo Cao Đài)

Gabriel Gobron, Lịch sử đạo Cao Đài và Lịch sử và triết lý đạo Cao Đài;

Lê Văn Trung, Phương châm hành đạo; Trương Văn Tràng, Đại đạo giáo lý; Đồng Tân viết hai quyển: Lịch sử Cao Đài - Đại đạo Tam kỳ phổ độ - phần Vô

vi (năm 1967) và Lịch sử Cao Đài - Đại đạo Tam kỳ phổ độ - phần phổ độ (năm 1972), Tìm hiểu đạo Cao Đài (1997), tập hợp 310 câu trả lời của các học giả

nước ngoài như Teb Dutton, Jeremy Davidson, Serguei A Blagov tìm hiểu đạo

Cao Đài Quyển Đại đạo giáo lý và Triết lý của Trần Văn Rạng

Trang 7

Werner Jayne Susan, Peasant politics and religious sectarianism peasant priest in the Caodai in Vietnam (Chính trị nông dân và giáo phái: nông dân và chức năng trong đạo Cao Đài ở Việt Nam) xuất bản năm 1981 do Lê Anh Dũng trích dịch; Sergei Blagov với công trình The Caodai: A new religious movement (Đạo Cao Đài: Một phong trào tôn giáo mới) Bước đầu tìm hiểu đạo Cao Đài

do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên Trần Văn Giàu (1997), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, Tập 2: Hệ ý thức

tư sản và sự bất lực của nó trước các nhiệm vụ lịch sử (tái bản lần thứ ba) Nguyễn Thanh Xuân, Luận án tiến sĩ Sử học với nhan đề Quá trình ra đời và phát triển của đạo Cao Đài từ năm 1926 đến năm 1975 và quyển “Đạo Cao Đài hai khía cạnh: lịch sử và tôn giáo” Nguyễn Văn Trung với tác phẩm Hồ

sơ về Lục Châu học - Tìm hiểu con người ở vùng đất mới, dựa vào tài liệu văn,

sử bằng quốc ngữ ở miền Nam từ 1865 - 1930, v.v Các công trình nghiên cứu

về đạo Cao Đài trên các phương diện tôn giáo học, triết học, văn hóa học, sử học, nhân học… nêu trên giúp luận án có hướng tiếp cận liên ngành góp phần làm rõ đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐÃ NGHIÊN CỨU VÀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Một số vấn đề đã được nghiên cứu

- Về nội dung liên quan điều kiện ra đời các tôn giáo ở Nam Bộ, đây có thể xem là đóng góp nhiều nhất của các công trình có trước

Với các điều kiện về địa lý tự nhiên, lịch sử vùng đất Nam Bộ, cùng với cấu kết cộng đồng tộc người cho đến những sự biến động về chính trị,v.v Có thể thấy, Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một sự phức hợp của rất nhiều yếu tố, các yếu tố này đã tạo ra nơi đây một “khoảng trống tâm linh” như nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến

Một thành công nữa của các nhà nghiên cứu tôn giáo liên quan đến các điều kiện ra đời các tôn giáo nội sinh Nam Bộ đó là nghiên cứu về “con người Nam Bộ”, mối tương tác, ảnh hưởng văn hóa của các dân tộc anh em và vai trò của các dân tộc trong cộng đồng để tạo nên một sự cố kết chặt chẽ với nhau, nhưng lại vô cùng cởi mở, thông thoáng trong việc tiếp thu cái mới, v.v Đó là tiền đề rất quan trọng để những hiện tượng tôn giáo mới ra đời, trên sự kế thừa, dung hợp văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo

Và nội dung có thể được xem là trọng tâm nhất của các tác giả đi trước đã thành công, đó là yếu tố chính trị tại Nam Bộ Một giai đoạn đặc biệt đối với đời sống chính trị Nam Bộ cuối thế thế kỷ XIX đầu XX, đó là: vai trò triều Nguyễn, sự xâm lược và chính sách thuộc địa ở Nam Kỳ của Pháp, cùng với đó

là một lớp văn hóa mới phương Tây,v.v

- Về nội dung liên quan đến cứu đặc trưng các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ, các tác giả đã có những thành công như sau:

Các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ là sự hỗn dung tôn giáo, tín ngưỡng Hầu hết các nghiên cứu đồng nhất quan điểm này, ở những góc độ nghiên cứu khác

Trang 8

nhau, mỗi tác giả đều cho thấy nét đặc sắc của sự hỗn dung đó và được thể hiện qua đặc trưng của yếu tố truyền thống là nền tảng

Dù còn nhiều quan điểm khác nhau, nhưng khi bàn đến các tôn giáo ở Nam Bộ và đặc trưng của nó, các nhà nghiên cứu đều thừa nhận đó là những tổ chức tiếp nối của tinh thần “Cần Vương” với một kiểu thức mới của tổ chức mang màu sắc tôn giáo, giáo phái tôn giáo, đảng phái tôn giáo chính trị hay phong trào tôn giáo cứu thế,v.v

Trải qua thời gian, sự biến đổi của xã hội cũng làm cho các tôn giáo phải

tự thay đổi mình để thích ứng, điều này cũng làm cho đặc trưng tôn giáo có những biểu hiện mới với thời đại

- Những thành công nghiên cứu ý nghĩa của các tôn giáo ra đời ở Nam

Bộ Có thể nói, những nghiên cứu tôn giáo nội sinh trong thời gian gần đây chủ yếu đề cập đến vai trò, ý nghĩa của các tôn giáo trên nhiều lĩnh vực

1.2.2 Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Tổng quan các công trình có trước, luận án rút ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu liên quan đến đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đó là:

- Về phương pháp luận Luận án làm rõ tính quy luật ra đời của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ Các tác giả đi trước nghiên cứu tôn giáo ra đời ở Nam

Bộ với nhiều góc độ như: tôn giáo học, xã hội học tôn giáo, nhân học/ dân tộc học tôn giáo, triết học tôn giáo, chính trị học tôn giáo, sử học tôn giáo,v.v Phần lớn các công trình này tập trung vào đạo CĐ và PGHH, không nhiều các công trình về TĐCSPHVN, TAHN, PGHNTL, BSKH

- Về vấn đề loại hình tôn giáo Đó là một thực thể tôn giáo độc lập hay là

sự phái sinh của tôn giáo nào đó có trước, được gắn bởi một tên gọi khác (?), hoặc các tôn giáo này ra đời có phải do một thế lực chính trị nào đó sinh ra (?),v.v vẫn còn nhiều luận giải

- Về nhận diện và phân loại đặc trưng tôn giáo Cách nhận diện của các nhà nghiên cứu trước đây cho thấy có sự tương đồng và khác biệt trong cách thức phân loại, điều này dễ hiểu, vì phương pháp, cách tiếp cận, quan điểm khác nhau của mỗi tác giả Trên cơ sở những thành tựu của nghiên cứu có trước, luận án sẽ khái quát hóa, hệ thống hóa các quan điểm và đưa ra cách phân loại đặc trưng tôn giáo theo phương pháp và cách tiếp cận phù hợp, khả thi của tôn giáo học

- Về góc độ tôn giáo học so sánh Những yếu tố nào tạo nên đặc trưng của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ (?), chúng phản ánh điều gì trong đặc trưng đó (?) Và một vấn đề mang tính thời sự cho tôn giáo học đương đại là hàng loạt hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện (chủ yếu ở Bắc Bộ, từ những năm 80 của thế

kỷ trước đến nay)

1.3 CÁCH TIẾP CẬN, LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.3.1 Cách tiếp cận của đề tài

Luận án có các cách tiếp cận nghiên cứu sau: Tôn giáo học, Sử học tôn giáo, Nhân học tôn giáo, Chính trị học tôn giáo, Văn hóa học tôn giáo

Trang 9

1.3.2 Lý thuyết nghiên cứu

Lý thuyết thế tục hóa tôn giáo: là lý thuyết phản ánh sự tác động của đời

sống xã hội thâm nhập ngày càng sâu vào đời sống tôn giáo, buộc tôn giáo phải thay đổi và thích nghi để tồn tại Lý thuyết này phản ánh mối quan hệ tác động qua lại giữa tôn giáo - xã hội và nguyên lý tiếp cận chính là mối quan hệ phổ biến; nguyên tắc tiếp cận là quan điểm toàn diện của triết học Mác - Lênin

Lý thuyết Địa - tôn giáo: để bàn về tình hình, đặc điểm, đặc trưng của các

tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhất là “khoảng trống tâm linh” tại vùng đất mới và một số vấn đề được đặt ra qua việc nghiên cứu đặc trưng tôn giáo hiện nay

Lý thuyết vùng văn hóa: đề tài vận dụng phân tích đặc trưng các tôn giáo

ra đời ở Nam Bộ, vùng đất lịch sử ở trung tâm giao lưu của các nền văn hóa Nam - Bắc, Đông - Tây, theo quy luật hội tụ, giao thoa, kết tinh, lan tỏa

Lý thuyết loại hình tôn giáo: luận án phân tích điều kiện, dấu hiệu đặc

trưng tôn giáo của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ để phân loại các tôn giáo này thuộc loại hình nào

1.3.3 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án

Đặc trưng tôn giáo/ đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; Tôn giáo nội sinh; Tôn giáo hỗn hợp; Tính cứu thế; Thuyết Mạt thế; Tính huyền linh; Kế thừa, dung hợp; Tính dân tộc/ dân tộc tính; Tính nhập thế; Thông linh học; Cơ bút/ phong trào Cơ bút; Thiên Nhãn; Trần Điều; Trần Dà; Chữ Nhất (Nhứt); Tứ Ân; Ông Đạo/ phong trào các Ông Đạo

Chương 2 ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TÔN

GIÁO Ở NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

2.1 ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI CỦA CÁC TÔN GIÁO Ở NAM BỘ CUỐI THẾ

KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

2.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, chính trị

* Về địa lý tự nhiên: Nam Bộ là vùng địa lý tự nhiên có nhiều nét riêng

biệt Với một vị trí địa lý thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên, Nam

Bộ trở thành vùng đất hứa của những người đi mở đất Tuy nhiên, Nam Bộ buổi đầu vô vàn khó khăn, thử thách đối với những người mới đến Thuận lợi và khó khăn góp phần hình thành nên những tôn giáo mới, vừa mang giá trị đặc trưng truyền thống, vừa có tính thiết yếu mới, hòa hợp với môi trường nơi vừa mới khai lập

* Về lịch sử, chính trị: những tác động lớn về lịch sử, chính trị là điều

kiện, tiền đề cho các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ Chính bối cảnh xã hội này là hình thành nên những đặc tính của đặc trưng các tôn giáo, chúng biểu hiện và tác động liên tục đến đời sống tôn giáo Có thể khái quát ngắn gọn đó là: vai trò

Trang 10

triều đình phong kiến, chính sách của thực dân Pháp ở Nam Bộ, v.v góp phần

ra đời các tôn giáo nội sinh

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của Nam Bộ

Về kinh tế: Ngay từ thời gian đầu khai phá, do đặc thù địa lý, lịch sử, con

người và sự giao lưu văn hoá của các cộng đồng tộc người, kinh tế ở Nam Bộ

có nhiều điểm khác với các vùng miền trong cả nước Ở Nam Bộ chế độ công điền, công thổ, quan hệ thuê mướn là phổ biến chứ không phải là phát canh thu

tô như cố hương miền Trung, miền Bắc

Về xã hội: Quá trình tiếp biến văn hóa dẫn đến sự hỗn dung văn hóa tín

ngưỡng trong các tôn giáo Xã hội Nam Bộ mang tính “động” và “mở” rất cao

Lưu dân Nam Bộ chủ yếu từ khu vực miền Trung, trải qua một chặng đường dài đến với Nam Bộ đã mang theo vốn văn hóa từ quê cha đất tổ đến với

vùng đất mới để được đổi đời Người Hoa, Khmer cũng góp phần khai khẩn và

phát triển vùng Nam Bộ Trên tinh thần ấy, các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ mang những giá trị văn hoá dân tộc, sự kế thừa và dung hợp những giá trị tư tưởng của các tín ngưỡng, tôn giáo có trước với điều kiện văn hóa vùng đất mới, xây dựng một hệ thống tôn giáo nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng cho một bộ phận người dân Nam Bộ Vì thế, các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ là một trong những đặc trưng phản ánh con người Nam Bộ

2.1.3 Điều kiện văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng

* Về văn hóa: Văn hóa Nam Bộ có sự pha trộn với văn hóa các dân

tộc, tạo nên một tổng thể văn hoá phong phú, trong đó tín ngưỡng, tôn giáo

cũng vậy

Từ đó, hình nên văn hóa đặc tính con người nơi đây: hòa hợp, bình dị; bao dung, hào phóng; trọng nghĩa; linh hoạt, năng động Các tính cách đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến các tôn giáo, đặc trưng các tôn giáo cũng đã phản ánh nên tính cách của cư dân Nam Bộ

*Về tôn giáo, tín ngưỡng: Với những đặc điểm, sự ảnh hưởng của các

tôn giáo đến xã hội Nam Bộ nói chung và các tôn giáo nói riêng như: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Công giáo, tín ngưỡng dân gian Là nhứng thành tố rất

quan trọng, tiền đề quyết định cho đặc trưng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ

cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

*Về các tổ chức có mang màu sắc tôn giáo khác: Các tổ chức mang màu

sắc tôn giáo ở Nam Bộ lúc bấy giờ có ảnh hưởng của người Hoa (Minh Hưng) truyền sang: Thiên Địa Hội; và người Việt các Hội kín Nam Kỳ có mang màu

sắc tôn giáo

2.2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TÔN GIÁO RA ĐỜI Ở NAM

BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

2.2.1 Quá trình phát triển của các tôn giáo thuộc phong trào các Ông Đạo

Luận án khái quát, phân tích nguyên nhân và quá trình ra đời, đặc biệt là những giáo chủ của các tôn giáo và một số mối quan hệ thuộc các tôn giáo ở

Trang 11

Tây Nam Bộ: từ Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hiếu Nghĩa

Tà Lơn, Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, với những đặc điểm của bối cảnh xã hội Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

2.2.2 Quá trình phát triển của các tôn giáo ảnh hưởng từ phong trào

Cơ bút

Các tôn giáo mới chịu ảnh hưởng Phong trào Cơ bút ở Nam Bộ cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX gồm nhóm Ngũ Minh và đặc biệt là đạo Cao Đài Trong luận án này, đạo CĐ là tôn giáo tiêu biểu cho Phong trào Cơ bút Nhưng trước khi nghiên cứu về CĐ, cần sơ lược vài nét về Minh Sư đạo, Minh Lý đạo thuộc nhóm Ngũ Minh (các nhánh: Minh Đường đạo, Minh Thiện đạo, Minh Tân đạo không phân tích trong luận án này vì ảnh hưởng không mạnh, thực hành đạo như Minh Sư đạo và phần lớn đã hòa vào đạo CĐ) Và quá trình hình thành của đạo Cao Đài ở Nam Bộ, cùng một số hoạt động của nó

Tiểu kết chương 2

Sự ra đời của các tôn giáo mới thời kỳ này không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh, mà còn là phương thức khai hoang lập làng, mở trại ruộng, tập hợp nhân dân chống lại cường hào ác bá và thực dân xâm lược Tuy có lúc thăng trầm, nhưng những đóng góp của chúng là rất to lớn ở vùng đất phía Nam của

Tổ quốc

Chương 3 ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN TRONG LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH ĐỨC TIN CỦA CÁC TÔN GIÁO RA ĐỜI Ở NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ

XIX ĐẦU THẾ KỶ XX

3.1 MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG TRONG LÝ THUYẾT TÔN GIÁO

3.1.1 Kế thừa, dung hợp những giá trị của Phật giáo

- Kế thừa, dung hợp tư tưởng pháp môn Tịnh độ của Phật giáo

Tôn giáo thuộc nhóm các Ông Đạo có sự kế thừa, dung hợp tư tưởng pháp môn Tịnh độ từ Phật giáo rõ nét nhất Ông Đoàn Minh Huyên khuyên tín

đồ trong lúc tu hành phải thành tâm trì niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà “Nam

Mô A Di Đà Phật” (Di Đà lục tự) Đức Phật A Di Đà cũng là danh hiệu tụng niệm của TAHN, PGHNTL, PGHH, đặc biệt là TĐCSPHVN Cụ thể, các tôn giáo ở Nam Bộ dạy tín đồ việc niệm Phật và kết quả thực hành niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà

- Kế thừa, dung hợp thuyết Mạt thế luận của Phật giáo

Lý thuyết về Mạt thế của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ được bắt nguồn từ quan niệm về một Kỳ Tận Thế (Hạ ngươn/ Hạ nguyên) hay một Ngày Phán Xét bởi Hội Long Hoa/ Hội Long Vân Các yếu tố Phước - Tội, Thiện - Ác, Thiêng đường - Địa ngục,v.v chi phối xuyên suốt tư tưởng, giáo lý, nên Hội Long Hoa, được xem là thuyết giáo chủ đạo để cầu mong đến sự cứu thế của thời kỳ Mạt thế qua những lời Tiên tri, Sấm giảng

Trang 12

3.1.2 Kế thừa, dung hợp giá trị của Nho giáo và Đạo giáo

CĐ đã kế thừa, dung hợp nhiều yếu tố của Đạo giáo, Nho giáo vào trong giáo lý của mình Đạo CĐ giải thích về nguồn gốc của con người trên tư duy Thái cực - Đức Chí Tôn - là “Trời” (Nho giáo), người chủ quản làm cho sự tiến hóa từ thảo mộc, sang cầm thú (đã được ban phần hồn), rồi sự tiến hóa cứ thế tiếp tục đến nhiều đời, nhiều kiếp để trở thành người

Với các tôn giáo thuộc nhóm các Ông Đạo, sự kế thừa, dung hợp Nho giáo và Đạo giáo không bao gồm những thuyết giáo phong phú và phức tạp như đạo CĐ, mà chỉ là cách hành xử tiếp thu từ Nho giáo như: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, kết hợp với huyền thuật và vô vi của Đạo giáo

3.1.3 Kế thừa, dung hợp các giá trị của hệ thống tín ngưỡng dân gian

- Kế thừa, dung hợp các giá trị của tín ngưỡng dân gian truyền thống người Việt

Những phân tích bên trên cho thấy, các tôn giáo ở Nam Bộ ra đời trên cơ

sở của sự kế thừa, dung hợp tôn giáo truyền thống, nhưng tín ngưỡng dân gian, truyền thống của ngưởi Việt mới là nền tảng tư tưởng của các tôn giáo này Vì sao lại khẳng định đó là tín ngưỡng của người Việt (?)

Theo chúng tôi, tín ngưỡng của cộng đồng các dân tộc thiểu số (Hoa, Khmer, Chăm,v.v ) ở Nam Bộ trong giai đoạn này, đã hình thành và phát triển lâu dài, trở thành bản sắc văn hóa truyền thống của họ thì rất khó để các tôn giáo khác, nhất là tôn giáo mới có thể ảnh hưởng đến được, dù rằng có những tương đồng trong lý thuyết tôn giáo và thực hành tôn giáo Mặt khác, các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ về cơ bản là tín ngưỡng bản địa của người Việt, nhất là tín ngưỡng dân gian truyền thống đã bền chặt từ ngàn đời với tục: thờ Trời, thờ Mẫu, thần linh Việt

- Dung hợp tín ngưỡng dân gian của người Hoa (Minh Hương) đã được bản địa hóa

Tín ngưỡng dân gian truyền thống người Việt là nền tảng của tư tưởng các tôn giáo ra đời ở Nam bộ, ngoài ra, phần lớn các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ còn có sự dung hợp tín ngưỡng thờ Quan Công, một loại hình tín ngưỡng dân gian người Hoa thời kỳ nhà Minh ở Trung Quốc truyền vào Việt Nam và được bản địa hóa Cụ thể đó là tín ngưỡng thờ Quang Công

Sự kế thừa, dung hợp trong lý thuyết của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là đặc trưng cơ bản nhất và chúng được biểu hiện qua biểu tượng và đối tượng thờ:

- Về biểu tượng tôn giáo Biểu tượng của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ

cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một sự kế thừa, dung hợp lý thuyết tôn giáo khá đặc sắc, do những người sáng lập tôn giáo tạo ra hoặc sự chỉ dạy của “bề trên”; cụ thể gồm: tấm Trần điều của BSKH, TAHN, PGHNTL; tấm Trần dà của PGHH; chữ Nhất của TĐCSPHVN; Thiên nhãn của đạo CĐ

- Đối tượng thờ thờ là một sự dung hợp lý thuyết tôn giáo Đối tượng thờ

của các tôn giáo có thể chia làm hai dạng: (1) Những tôn giáo có tượng thờ

Trang 13

(tượng cốt): đạo CĐ, TĐCSPHVN; (2) Những tôn giáo không có tượng thờ (không có tượng cốt): BSKH, TAHN, PGHH, PGHNTL Cần lưu ý, chủ trương của các tôn giáo không thờ tượng cốt, không có nghĩa họ không có các ban thờ các đối tượng được tín ngưỡng Mà ngược lại, ở các tôn giáo này, niềm tin vào các đối tượng thờ rất phong phú, đôi khi còn phức tạp hơn so với những tôn giáo truyền thống, những tín ngưỡng truyền thống

3.1.4 Kế thừa, dung hợp những giá trị của văn hóa phương Tây

Bên cạnh các tôn giáo truyền thống phương Đông, các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ còn dung hợp sáng tạo văn hóa phương Tây, nổi bật là đạo CĐ Tôn giáo này thừa nhận sự cứu thế của Moise là kỳ phổ độ thứ nhất, Jesus là kỳ phổ

độ thứ hai, cho đó là cơ cứu độ của Thượng đế ở phương Tây trước khi đến kỳ phổ độ thứ ba

Với các tôn giáo thuộc nhóm các Ông Đạo, trong thời gian thực dân Pháp cai trị, thái độ của các tôn giáo này cơ bản là chống Pháp, bài xích văn hóa Pháp, do vậy ảnh hưởng văn hóa phương Tây chưa thấy rõ Có lẽ vì đó mà các tôn giáo này gần như không dung nhập văn hóa phương Tây, mà cố giữ văn hóa truyền thống qua kiến trúc thờ tự, cách ăn mặc, để râu, búi tóc,v.v Các Ông Đạo luôn tỏ thái độ phản kháng

3.2 MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG TRONG THỰC HÀNH ĐỨC TIN TÔN GIÁO

3.2.1 Tính huyền linh trong thực hành đức tin tôn giáo

Với các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ, huyền linh tôn giáo cũng mang đầy đủ những tính chất như trên, nhưng lại được biểu hiện bởi một hệ các Ông Đạo và những người sáng lập tôn giáo

Sự xuất hiện các Ông Đạo, những người thực hành huyền linh tôn giáo/ tôn giáo thần bí/ huyền bí, được xem là đặc trưng giai đoạn đầu hình thành các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Trong giai đoạn này,

sự huyền linh rất được các tôn giáo và hội kín quan tâm bằng thực hành phép thuật của các thầy phù thủy (hội kín) và các Ông Đạo với hình thức tiên tri (dự đoán những điều tất yếu xảy ra bằng việc tiếp xúc siêu nhiên) Cách thức tu hành kỳ lạ, hành xử khác người, trị bệnh bằng phép thuật của các Ông Đạo gây

sự chú ý đặc biệt, niềm tin sâu sắc cho một bộ phận cư dân

Người CĐ cho rằng, cơ bút có giá trị thiêng liêng với họ Bởi vì, họ tin có thế giới thần tiên trong vũ trụ; Thượng đế giáng điển lập đạo và chính Thượng

đế làm giáo chủ, mà không trao quyền này cho bất kỳ ai Cơ bút để lại những di sản kinh sách lớn lao cho đạo CĐ

Ngoài những Ông Đạo xưng là giáo chủ tôn giáo, phần lớn Ông Đạo còn lại không chủ trương lập đạo, không thu hút tín đồ hay cho ra đời hệ thống giáo

lý của riêng mình, mà chủ yếu hoạt động theo tư cách cá nhân, thể hiện những năng lực kỳ dị, siêu phàm, làm cho người dân vừa khiếp sợ vừa kính trọng

3.2.2 Tính dân tộc trong thực hành đức tin tôn giáo

Các tôn giáo này ra đời ở Nam Bộ trong hoàn cảnh đất nước bị nô lệ, nhân dân sục sôi ý chí chống giặc ngoại xâm, giành độc lập dân tộc Những gì

Trang 14

con người chẳng giành được bằng bàn tay của chính mình ở thế giới hiện thực lại được bù đắp bởi lòng bao dung của Trời, Phật ở thế giới mai sau Những người sáng lập các tôn giáo ở Nam Bộ đã sớm nắm bắt nguyện vọng của nhân dân, nên họ nhanh chóng hướng tôn giáo do mình sáng lập vào chủ đề quốc gia dân tộc, đề cao tinh thần yêu nước thương dân, đấu tranh chống giặc ngoại xâm Như vậy, trong thời điểm ra đời và quá trình hoạt động, các tôn giáo ở Nam Bộ đều mang đặc trưng yêu nước một cách rất chủ động Trong đó, hoạt động chính trị ở những sự biến động của thời cuộc càng làm cho đặc trưng đó trở nên đặc biệt hơn đối với các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ

Bên cạnh lòng yêu nước, các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ còn chú trọng lấy đạo lý làm người là nội dung căn bản của giáo lý và lấy việc thực hành đạo lý làm người làm phương thức tu hành Trọng tâm tư tưởng giáo lý là “Tu nhân” theo Tứ Ân và Học Phật Đây là triết thuyết bao trùm trong giáo lý của các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ Dù là những người dân mang tri thức Tam giáo (các Ông Đạo), hay công chức Tây học (chức sắc đạo CĐ), thì khi truyền đạo cho những người nông dân ít học, họ thường dùng giáo lý “dạy đời” gắn liền tính truyền thống địa phương Việc vận dụng hệ tư tưởng đạo đức truyền thống và tư tưởng tôn giáo đã làm nên kiểu “tôn giáo bình dân”, “tôn giáo tổng hợp”: “Đặc trưng nổi bật của các tôn giáo nội sinh với tất cả các tôn giáo khác, là ở chỗ nó nâng đạo lý làm người truyền thống của người Việt lên thành nội dung chủ yếu của giáo lý, thành pháp môn, thành phương thức tu hành, hay có thể nói, đạo lý làm người đã được tôn giáo hóa”

Cùng với truyền thống thờ cúng tổ tiên, các tôn giáo ra đời ở Nam Bộ đặc biệt quan tâm đến tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Nhân dân sùng bái và tôn thờ Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân, Trương Định, Trần Văn Thành,… không chỉ vì thành tích chống giặc ngoại xâm của họ, mà còn vì

sự “huyền linh” liên quan đến cuộc đời của họ Đây là một truyền thống đạo lý tốt đẹp của người dân Nam Bộ nói chung, tín đồ các tôn giáo ở Nam Bộ nói riêng: “Ở Việt Nam từ trước đến nay cả hai khuynh hướng thờ phụng tổ tiên và thờ phụng tự nhiên đã tiến tới sự phối hợp làm một ở sự thờ phụng vị anh hùng dân tộc, vừa là linh hồn tiền nhân bất tử, vừa là những anh hùng phối hợp với các thế lực tự nhiên thần thánh hóa và dân Việt tìm thấy ở trong sự thần thánh hóa anh hùng dân tộc ấy cái quốc hồn để làm sức mạnh cấu kết đoàn thể, để làm sinh lực sống còn của dân tộc”

3.2.3 Tính nhập thế trong thực hành đức tin tôn giáo

Nhập thế không chỉ là việc tương trợ xã hội mà còn là phương pháp tu hành, những lời giáo huấn, khuyến tu của các Ông Đạo, chức sắc các tôn giáo

ra đời ở Nam Bộ đến tín đồ nhằm giúp họ nỗ lực công đức, công quả, công phu

để được đến Niết Bàn, Hội Long Hoa, Bạch Ngọc Kinh

Đạo CĐ cho rằng, nhập thế là hướng đến việc làm xã hội, phải biết dấn

thân, làm tròn trách nhiệm đối với nhân dân, là “trường thi công quả” mới có

Ngày đăng: 08/06/2021, 07:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm