1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Ứng dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2007-2015

94 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ có ý nghĩa đối với ngân hàng trong việc giải quyết những vấn đề còn vướng mắc, sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện hữu, tăng cường năng lực cạnh tranh và đưa ra các quyết định chính sách nhằm mang lại lợi nhuận tối ưu cho ngân hàng và giúp các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hỗ trợ tạo điều kiện để các ngân hàng hoạt động tốt hơn.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

_

NGUYỄN HỮU DỰ

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH SFA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG

MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

_

NGUYỄN HỮU DỰ

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH SFA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG

MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VÕ XUÂN VINH

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả

nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

TP.HCM ngày tháng năm 2017 Học viên

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LUẬN VĂN 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 1

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu 2

1.6 Kết cấu của luận văn 2

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 2

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH SFA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

2.1 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 4

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM 4

2.2.1 Các nhân tố bên trong 5

2.2.1.1 Năng lực về vốn 5

2.2.1.2 Chỉ tiêu khả năng thanh khoản của ngân hàng: 5

2.2.1.3 Khả năng sinh lời của ngân hàng: 5

2.2.1.4 Năng lực quản lý của ban lãnh đạo 6

2.2.1.5 Năng lực về công nghệ 6

2.2.1.6 Nguồn nhân lực 6

2.2.2 Các nhân tố bên ngoài 6

2.2.2.1 Tác động từ kinh tế vĩ mô 7

2.2.2.2 Môi trường pháp lý 7

2.3 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 7 2.3.1 Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu tài chính 7

2.3.1.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi 8

Trang 5

2.3.1.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng 9

2.3.2 Đánh giá hiệu quả bằng phương pháp phân tích hiệu quả biên 11

2.3.2.1 Phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA)- Tiếp cận tham số 11

2.3.2.2 Phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) - Tiếp cận phi tham số 13

2.4 Tóm tắt các nghiên cứu trước đây 14

2.4.1 Một số nghiên cứu đánh giá HQHĐ ngân hàng bằng mô hình SFA trên thế giới 15

2.4.2 Một số nghiên cứu đánh giá HQHĐ của ngân hàng bằng mô hình SFA ở Việt Nam 16

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 20

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 21

3.1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 21

3.2 Tình hình hoạt động của các NHTMCP Việt Nam 22

3.2.1 Hoạt động huy động vốn 22

3.2.2 Hoạt động cấp tín dụng 24

3.2.3 Hoạt động thanh toán và đầu tư công nghệ 26

3.2.4 Hoạt động kinh doanh ngoại hối 27

3.3 Đánh giá HQHĐ của NHTMCP Việt Nam bằng các chỉ số tài chính 28

3.3.1 Lợi nhuận trước thuế 28

3.3.2 Khả năng sinh lời 29

3.3.3Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 31

CHƯƠNG 4: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH SFA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 32

4.1 Phương pháp tiếp cận biên ngẫu nhiên SFA: 32

4.1.1 Dữ liệu và định nghĩa biến 33

4.1.2 Các biến liên quan đến hiệu quả: 34

4.1.3 Công thức của mô hình: 36

Trang 6

4.2.1 Kiểm định sự phù hợp mô hình SFA 39

4.2.2 Kết quả ước lượng hiệu quả bằng mô hình SFA 40

4.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả ngân hàng Việt Nam 47

4.2.3.1 Tác động của rủi ro và chất lượng tài sản lên hiệu quả chí phí 48

4.2.3.2 Tác động của các biến đặc trưng của ngân hàng lên chi phí 48

4.2.3.3 Các biến thêm vào 50

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 50

CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GỢI Ý GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM 52

5.1 Kiến nghị đối với NHNN 52

5.2 Đối với các NHTMCP Việt Nam 53

5.2.1 Nâng cao năng lực tài chính và sử dụng vốn 53

5.2.2 Kiểm soát việc tăng quy mô ngân hàng 54

5.2.3 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực 54

5.2.4 Gia tăng thị phần đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ cung cấp phát triển các dịch vụ mới 55

5.2.5 Đầu tư vào công nghệ 56

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 57

5.3.1 Hạn chế 57

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 57

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 58

KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Viết tắt Viết đầy đủ tiếng Việt Viết đầy đủ tiếng Anh ABB Ngân hàng TMCP An Bình An Binh Commercial Joint

Stock Bank

ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần

BID Ngân hàng Thương mại cổ phần

Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Joint Stock Commercial Bank for Investment and

Development of Vietnam

CTG Ngân hàng Thương mại Cổ phần

Công thương Việt Nam

Vietnam Joint Stock Commercial Bank for Industry and Trade

DEA Phân tích bao dữ liệu Data Envelopment Analysis

EIB Ngân hàng Thương mại Cổ phần

Xuất nhập khẩu Việt Nam

Vietnam Commercial Joint Stock Export Import Bank

EPS hệ số thu nhập trên cổ phiếu Earnings Per Share

JSCB Ngân hàng thương mại cổ phần Joint-Stock Commercial Banks

Kienlong Ngân hàng Thương mại Cổ phần

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

OCB Ngân Hàng TMCP Phương

Đông Việt Nam

Orient Commercial Joint Stock Bank

Trang 8

ROA Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn tài sản Return On Assets

ROE tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở

SFA Phân tích biên ngẫu nhiên Stochastic Frontier Analysis

SOCB Ngân hàng thương mại có vốn

nhà nước

State-Owned Commercial Banks

STB Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

Sai Gon Thuong Tin Commercial Joint Stock Bank

VCB Ngân hàng Thương mại cổ phần

Ngoại thương Việt Nam

Vietnam Joint Stock Commercial Bank for Industry and Trade

VIB Ngân hàng Thương mại cổ phần

Quốc tế Việt Nam

Vietnam International Commercial Joint Stock Bank

VPB Ngân Hàng TMCP Việt Nam

Thịnh Vượng

Vietnam Prosperity Joint Stock Commercial Bank

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Một số nghiên cứu đánh giá HQHĐ ngân hàng bằng mô hình SFA trên thế

giới 18

Bảng 3.1 Số lượng ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 21

Bảng 3.2 Quy mô vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 22

Bảng 3.3 Lợi nhuận trước thuế của NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 28

Bảng 3.4 Khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 29

Bảng 3.5 Chỉ số NIM của một số NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 29

Bảng 4.1 Miêu tả các biến thống kê 37

Bảng 4.2 Kiểm định sự phù hợp mô hình SFA 39

Bảng 4.3 Hiệu quả chi phí của 15 NHTMCP giai đoạn 2007-2015 41

Bảng 4.4 Hiệu quả theo loại hình ngân hàng 43

Bảng 4.5 Tổng hợp hiệu quả ước lượng của từng ngân hàng giai đoạn 2007-2015

45

Bảng 4.6 Ước lượng chi tiết hiệu quả của từng ngân hàng trong từng năm giai đoạn 2007-2015 46

Bảng 4.7 Kết quả ước lượng đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2007-2015 47

Biểu đồ 3.1 Tốc độ tăng trưởng huy động vốn của hệ thống NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 23

Biểu đồ 3.2 Dư nợ tín dụng trong Tổng tài sản của các NHTMCP giai đoạn 2007-2015 24

Biểu đồ 3.3: Tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 25

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ nợ xấu / tổng dư nợ của hệ thống NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007– 2015 25

Biểu đồ 4.1: Biểu đồ thể hiện hiệu quả chi phí của các NHTMCP Việt Nam năm 2007-2015 42

Trang 10

Biểu đồ 4.2: Biểu đồ so sánh hiệu quả chi phí trong bình theo loại hình ngân hàng giai đọan 2007 – 2015 44

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LUẬN VĂN

1.1 Lý do chọn đề tài

Sau hơn 25 năm đổi mới hệ thống ngân hàng Việt Nam dần đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế, với nhiệm vụ chính là huy động và phân bổ vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và thúc đẩy sự lưu thông hàng hóa thông qua các dịch vụ thanh toán của ngân hàng

Tuy nhiên, với môi trường kinh tế đang mở cửa, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các ngân hàng nước ngoài đầy kinh nghiệm Cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật tạo ra những xu hướng phát triển mới về công nghệ ngân hàng, kèm theo sự biến động do các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu

đã tạo ra những thách thức lớn với hệ thống ngân hàng Việt Nam Điều này đòi hỏi

hệ thống ngân hàng phải cải cách và thay đổi để tăng hiệu quả hoạt động nhằm góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế, gia tăng năng lực cạnh tranh nhất là trong điều kiện thị trường tài chính Việt Nam đang chịu sức ép lớn từ quá trình hội nhập Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ có ý nghĩa đối với ngân hàng trong việc giải quyết những vấn đề còn vướng mắc, sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện hữu, tăng cường năng lực cạnh tranh và đưa ra các quyết định chính sách nhằm mang lại lợi nhuận tối ưu cho ngân hàng và giúp các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hỗ trợ tạo điều kiện để các ngân hàng hoạt động tốt hơn

Đó là lý do tôi chọn đề tài “Ứng dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cồ phần Việt Nam giai đoạn 2007-2015”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Ước lượng và phân tích HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam bằng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA)

- Gợi ý giải pháp nâng cao HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam như thế nào?

Trang 12

- HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam như thế nào theo mô hình SFA? Các yếu

tố nào tác động đến HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam?

- Từ kết quả mô hình thì các giải pháp nào góp phần cải thiện và nâng cao

HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu luận văn là HQHĐ của các NHTMCP (bao gồm ngân hàng tư nhân và có vốn nhà nước) Việt Nam giai đoạn 2007-2015

- Phạm vi nghiên cứu: do hạn chế về dữ liệu nên luận văn tập trung nghiên cứu HQHĐ của 15 NHTMCP tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 Các NHTMCP được lựa chọn có tổng tài sản chiếm 53% tổng tài sản của hệ thống NHTMCP Việt Nam, theo thứ tự xếp hạng tổng tài sản giảm dần tại ngày 31/12/2015

1.5 Phương pháp nghiên cứu

- Tổng hợp và kế thừa các nghiên cứu trước đây để đưa ra các biến giá đầu vào, biến đầu ra và các biến tác động vào HQHĐ của mô hình

- Sử dụng phương pháp định lượng để đưa ra kết quả về HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam thông qua phương pháp SFA

1.6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần kết luận, kết cấu luận văn gồm 5 chương:

- Chương 1: Giới thiệu luận văn

- Chương 2: Cơ sở lý luận về mô hình SFA đánh giá HQHĐ của ngân hàng thương mại

- Chương 3: Thực trạng HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam

- Chương 4: Ứng dụng mô hình SFA đánh giá HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam

- Chương 5: Một số gợi ý giải pháp nâng cao HQHĐ của các NHTMCP Việt nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã giới thiệu tổng quát về mục tiêu nghiên cứu, dữ liệu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu trong luận văn Bằng việc sử dụng mô hình nghiên cứu

Trang 13

biên ngẫu nhiên SFA với mẫu nghiên cứu gồm 15 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2015 để đánh giá HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam

Từ đó luận văn đưa ra các gợi ý giải pháp phù hợp để cải thiện và nâng cao HQHĐ của các NHTMCP

Trang 14

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH SFA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại

Theo Kumbahakar và lovell (2000) thì hiệu quả là khả năng sử dụng đầu vào tối thiểu để sản xuất ra một đầu ra cho trước, hoặc là khả năng sản xuất sản lượng tối đa từ một đầu vào nhất định Còn theo Farrell (1957) Hiệu quả bao gồm 2 loại

là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Hiệu quả kỹ thuật là việc sử dụng các đầu vào vật lý cho trước (như lao động, máy móc, nhà xưởng…) để sản xuất ra các đầu

ra với sản lượng tốt nhất Hiệu quả kỹ thuật được biết đến như khả năng tối đa hóa đầu ra của một đơn vị trong điều kiện đầu vào cho trước (định hướng đầu ra), hoặc tối thiểu hóa tổng đầu vào để sản xuất một lượng đầu ra nhất định (định hướng đầu vào) Tóm lại, hiệu quả thể hiện khả năng và trình độ của đơn vị trong việc sử dụng các nguồn lực có giới hạn

Như ta đã biết, ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp với những hoạt động mang tính chất đặc trưng riêng với mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận Vì vậy, việc đánh giá HQHĐ của NHTM cũng dựa trên những nền tảng lý thuyết như đánh giá HQHĐ của một doanh nghiệp tổ chức Do đó, trong luận văn này, tác giả xem xét việc đánh giá HQHĐ của các NHTMCP dựa trên tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế: cho thấy khả năng của một ngân hàng kết hợp các nguồn lực đầu vào (lao động

kỹ thuật vốn…) thành các đầu ra (thu nhập lợi nhuận…)

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM

Theo Ongore và các cộng sự (2013) và Masood và các cộng sự (2012) thì các yếu tố ảnh hưởng đến HQHĐ của các NHTM được phân thành hai nhóm nhân tố chủ yếu: nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bên ngoài Nhóm nhân tố bên trong chủ yếu liên quan là các nhân tố liên quan đến các nhân tố đặc trưng của ngân hàng như: năng lực về vốn, khả năng thanh khoản, rủi ro tín dụng, khả năng sinh lời và các yếu tố liên quan đến năng lực quản lý của ban lãnh đạo Trong khi đó, nhóm nhân tố bên ngoài phản ánh sự tác động của kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng kinh tế, chính sách pháp luật mà các ngân hàng đang hoạt động

Trang 15

2.2.1 Các nhân tố bên trong

2.2.1.1 Năng lực về vốn

Theo nghiên cứu của Berger (1997) và Sufian và Habibullah (2010) trong trường hợp các ngân hàng có tỷ lệ nguồn vốn thấp gây ra các trạng thái rủi ro cho ngân hàng Do đó, một cấu trúc vốn mạnh sẽ góp phần tác động tích cực đến HQHĐ của ngân hàng Ngoài ra, năng lực về vốn mạnh sẽ là một cơ sở cho các ngân hàng có thể chống đỡ được các điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định và tăng tính an toàn cho khách hàng người gửi tiền vào ngân hàng (Athanasoglounn và các cộng sự, 2008) Tại Việt Nam, nguồn vốn ảnh hưởng đến rất nhiều đến quy mô kinh doanh của ngân hàng Những ngân hàng có nguồn vốn mạnh và ổn định thì có nhiều lợi thế hơn trong hoạt động điển hình như lợi thế về mở rộng qui mô, chiếm lĩnh thị trường hay cả phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng

2.2.1.2 Chỉ tiêu khả năng thanh khoản của ngân hàng:

Rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng rơi vào tình trạng thiếu hoặc không đủ khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính thường xuyên Nói một cách khác, rủi ro thanh khoản xảy ra khi NH không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền hoặc không thể vay mượn để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản vay nợ tức thời của mình Khả năng thanh khoản thường được đo lường thông qua các chỉ tiêu như khả năng thanh khoản trên tổng tài sản có, khả năng chi trả trong 30 ngày, tỷ lệ dự trữ

thanh khoản…

2.2.1.3 Khả năng sinh lời của ngân hàng:

Mục tiêu chính của các ngân hàng là lợi nhuận Do đó, khả năng sinh lời từ các của ngân hàng là nhân tố cực kỳ quan trọng để đánh giá HQHĐ và khả năng phát triển trong tương lai của một NHTM Chỉ tiêu này thường được đo lường thông qua các chỉ tiêu như lợi nhuận sau thuế, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và thu nhập lãi cận biên… Thông thường các nhà nghiên cứu có thể sử dụng các chỉ tiêu trên bằng cách so sánh giữa số liệu thực hiện

và kế hoạch, so sánh với các NHTM khác trong ngành, theo dõi xu hướng qua các thời kỳ để nhận biết khả năng sinh lời trong tương của ngân hàng

Trang 16

2.2.1.4 Năng lực quản lý của ban lãnh đạo

Theo nghiên cứu của Kauko (2009) về mối quan hệ giữa ban lãnh đạo và hiệu quả hoạt động thì năng lực quản lý và trình độ học vấn của ban lãnh đạo có ý nghĩa

và tác động mạnh mẽ đến HQHĐ của ngân hàng Ngoài ra, sự thay đổi ban lãnh đạo

do về hưu hay chuyển đổi công tác sẽ gây ra sự xáo trộn trong điều hành ngân hàng, điều này sẽ tác động không tốt HQHĐ Như vậy một ban lãnh đạo được đào tạo tốt,

có năng lực quản lý, cơ cấu tổ chức ổn định sẽ tác động tích cực đến hiệu quả của ngân hàng

2.2.1.5 Năng lực về công nghệ

Theo nghiên cứu của Manlagnit (2010) thì sự thay đổi trong công nghệ có tác động tích cực đến HQHĐ của các ngân hàng Do đó, để gia tăng hiệu quả hoạt động đòi hỏi các ngân hàng cần đầu tư hơn nữa về công nghệ cụ thể như: hiện đại hóa hệ thống thanh toán, hệ thống thông tin điện tử, hệ thống báo cáo rủi ro, hệ thống thông tin quản lý…điều này góp phần làm đa dạng hóa dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, tăng cường khả năng dự báo rủi ro, hạn chế tổn thất, đạt được hiệu quả kinh doanh cao hơn

2.2.1.6 Nguồn nhân lực

Theo nghiên cứu của Hasan and Marton (2003) thì chi phí hoạt động có tác động tiêu cực đến HQHĐ của NHTMCP, trong chi phí hoạt động thì chi phí cho nhân viên là thành phần chiếm tỷ trọng lớn nhất Như vậy, chi phí cho nhân viên lớn sẽ tác động tiêu cực đến HQHĐ của NHTMCP Tuy nhiên, vì nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng để ngân hàng hoạt động và phát triển nên các ngân hàng nên xem xét một cách cẩn trọng trong hoạch định trong cơ cấu nhân lực Việc phát triển nguồn nhân lực phải đảm bảo đi kèm với việc phát triển hệ thống cũng như mục tiêu phát triển của ngân hàng

2.2.2 Các nhân tố bên ngoài

Ngoài các yếu tố nội tại của ngân hàng, HQHĐ của các ngân hàng còn bị tác động bởi các yếu tố môi trường điển hình như các yếu tố về kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý

Trang 17

2.2.2.1 Tác động từ kinh tế vĩ mô

Theo nghiên cứu của Ongore và các cộng sự (2013) và Masood và các cộng sự (2012) thì yếu tố như lạm phát, tăng trưởng GDP đều có tác động đến hiệu quả ngân hàng Cụ thể: Bởi vì lạm phát tác động đến giá trị đồng tiền, sức mua của người dân

và lãi suất thực nên theo các nghiên cứu trên thì yếu tố lạm phát có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Đối với tốc độ tăng trưởng GPD thì theo Ongore và các cộng sự (2013), tốc độ tăng trưởng GDP cao có tác động tích cực đến ROA và NIM bởi vì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao khuyến khích các ngân hàng cho vay nhiều hơn, người vay tiền sẵn sang đầu tư hơn do đó lợi nhuận cũng dần được nâng cao Neely và Wheelock (1997) đã nghiên cứu tác động của thu nhập bình quân đầu người Kết quả cho rằng thu nhập bình quân đầu người biến tạo ra một tác động tích cực đến thu nhập của ngân hàng, điều này tác động đến hiệu quả của cả ngân hàng

2.2.2.2 Môi trường pháp lý

Nghiên cứu của Pasiouras và các đồng sự (2009) cho thấy các quy định cho ngân hàng làm tăng kỷ luật thị trường và trao quyền cho giám sát của cơ quan có thẩm quyền Điều này làm tăng cả hiệu quả chi phí và lợi nhuận của các ngân hàng Tuy nhiên, việc khắc khe trong đảm bảo nguồn vốn sẽ giúp nâng cao hiệu quả chi phí nhưng lại làm giảm hiệu quả của lợi nhuận Tóm lại, môi trường pháp lý có tác

động tích cực cũng như có thể tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động ngân hàng 2.3 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại

2.3.1 Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu tài chính

Theo nghiên cứu của Ongore và các cộng sự (2013) và Masood và các cộng sự (2012) thì có rất nhiều các chỉ tiêu để tính toán hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Tuy nhiên, với mỗi mục đích nghiên cứu khác nhau mà các nhà nghiên cứu có cách thức lựa chọn và sử dụng các chỉ tiêu phù hợp nhất Nhìn chung, trong các nghiên cứu trên thì các chỉ tiêu này thường được phân chia thành 03 nhóm

Trang 18

chính bao gồm: các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi, các chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh và các chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng

2.3.1.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi

Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả trong việc tạo ra lợi nhuận của ngân hàng Có nhiều tỷ lệ để đánh giá tiêu chí này, tuy nhiên , theo Ongore và các cộng sự (2013) thì các tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) thường được sử dụng nhiều hơn cả cụ thể:

ROA cũng là tỷ lệ cho thấy khả năng sinh lợi của một ngân hàng Tỷ lệ này đánh giá khả năng quản lý, sử dụng tài sản của ngân hàng để tạo ra thu nhập Hay nói cách khác, tỷ lệ này cho thấy hiệu quả của các nguồn lực của công ty được sử dụng để tạo ra thu nhập Theo Wen (2010), tỷ lệ ROA cao cho thấy công ty đã sử dụng hiệu quả nguồn lực của mình

Trong khi đó, ROE là tỷ số tài chính liên quan đến lợi nhuận mà một ngân hàng kiếm được so với tổng số vốn cổ phần đã đầu tư ROE là chỉ số cho các cổ đông thấy được lại hiệu quả vốn đầu tư của họ Do đó, ROE cao hơn thì công ty tốt hơn

về mặt tạo lợi nhuận Như vậy, có thể suy luận từ câu nói trên rằng ROE càng có hiệu quả trong quản lý sử dụng vốn cổ đông

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM là thước đo hiệu quả trong việc sử dụng giữa thu nhập lãi và số tiền lãi phải trả cho người cho vay (ví dụ như tiền gửi) so với số lượng tài sản của của ngân hàng Nó thường được biểu diễn bằng tỷ lệ phần trăm của khoản tiền vay của tổ chức tài chính trong một khoảng thời gian nhất định và các tài sản khác trừ đi số tiền lãi vay của các khoản vay mượn chia cho số tiền trung bình của tài sản mà nó kiếm được thu nhập trong khoảng thời gian đó Tài sản thu nhập) Biến NIM được định nghĩa là thu nhập lãi ròng chia cho tổng tài sản thu nhập (Gul và cộng sự, 2011) Chỉ tiêu này phản ánh chi phí của các dịch vụ trung

Trang 19

gian ngân hàng và hiệu quả của ngân hàng Như vậy, lãi suất ròng càng cao, lợi nhuận của ngân hàng càng cao và ngân hàng càng ổn định Do đó, nó là một trong những thước đo chính về lợi nhuận của ngân hàng Tuy nhiên, mức lãi suất ròng cao hơn có thể phản ánh các hoạt động cho vay rủi ro liên quan đến các khoản nợ cho vay đáng kể (Khrawish, 2011)

2.3.1.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh

Theo Ongore và các cộng sự (2013), các chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh thường được sử dụng gồm:

 Tổng thu nhập hoạt động/ Tổng tài sản: Tỷ lệ này thể hiện mức hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của ngân hàng Tỷ lệ này càng lớn cho thấy ngân hàng đã phân bổ tài sản một cách hợp lý, giúp nâng cao lợi nhuận của ngân hàng

 Hiệu quả hoạt động (tổng chi phí hoạt động/ tổng tài sản): Hiệu quả hoạt động phản ánh khả năng quản lý các chi phí liên quan đến hoạt động của ngân hàng như tiền lương, chi phí đầu tư tài sản….tỷ lệ hiệu quả hoạt động thấp thể hiện hiệu quả trong quản lý chi phí hoạt động của ngân hàng

2.3.1.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng

Ngoài các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi và khả năng kinh doanh của ngân hàng trên thì các chỉ tiêu để đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng cũng thường xuyên được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng Theo Ongore và các cộng sự (2013) thì các chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động ngân hàng bao gồm:

Tỷ lệ an toàn vốn (Tổng vốn chủ sở hữu/ tổng tài sản): Tỷ lệ an toàn vốn cho thấy sức mạnh về nguồn vốn của ngân hàng và là một trong những tỷ lệ cơ bản để xác định năng lực về vốn của ngân hàng Tỷ lệ này cao cho thấy nhu cầu tài trợ vốn bên ngoài của ngân hàng thấp và ngân hàng có thể tái phân phối nguồn vốn để gia tăng thêm lợi nhuận của mình Ngoài ra, tỷ lệ an toàn vốn cao còn thể hiện khả năng

Trang 20

chịu đựng các cú sốc từ bên ngoài và khả năng quản lý rủi ro của các cổ đông ngân hàng

Chất lượng tài sản: Chất lượng tài sản được đo lường bằng hai tỷ lệ bao gồm tỷ

lệ cho vay/tổng tài sản và tỷ lệ nợ xấu/tổng tài sản Trong đó, tỷ lệ cho vay chia cho tổng tài sản đo lường nguồn thu nhập và các kỳ vọng về lợi nhuận của ngân hàng Các khoản nợ xấu chia cho tổng tài sản là thước đo quan trọng về chất lượng tài sản Ngoài ra, tỷ lệ này còn thể hiện được cụ thể danh mục cho vay nào đang làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của ngân hàng (Aydogan, 1990)

Tỷ lệ thanh khoản (tài sản thanh khoản / tổng tài sản): Tỷ lệ này càng cao thì các ngân hàng chịu đựng được các rủi ro thanh khoản cao hơn và ngược lại.Vì tài sản thanh khoản là loại tài sản mà ngân hàng dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi có nhu cầu liên quan đến thanh khoản Do đó tài sản này thường có mức sinh lời rất thấp nên ngân hàng nên xem xét điều chỉnh nắm giữ loại tài sản này một cách hợp

lý để tối ưu hóa lợi nhuận của ngân hàng

Tiền gửi: Tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu và có chi thấp nhất của các ngân hàng Việc sử dụng hiệu quả nguồn tiền gửi trong việc chuyển thành các khoản cho vay

để tạo ra thu nhập Lãi và lợi nhuận thu được từ các khoản tiền gửi chuyển thành các khoản vay càng cao Vì lý do đó, tiền gửi của các ngân hàng có ảnh hưởng tích cực

 Hệ số rủi ro tín dụng (Tổng dư nợ tín dụng/ Tổng tài sản): hệ số này được sử dụng để phản ánh tỷ trọng cho vay của ngân hàng so với tổng tài sản Tỷ trọng này càng lớn thì lợi nhuận càng cao, Tuy nhiên nếu tỷ lệ này quả cao có thể gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng

 Tỷ lệ nợ xấu (Nợ xấu/ Tổng dư nợ tín dụng): Tỷ lệ này thường được sử dụng

để đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Chỉ số này càng nhỏ thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng cao, ngân hàng ít gặp rủi ro trong hoạt động

Mặc dù được sử dụng rộng rãi để đo lường hiệu quả của các ngân hàng nhưng các chỉ tiêu tài chính này lại tồn tại các hạn chế nhất định Theo Yeh (1996) thì mỗi

tỷ lệ đơn lẻ chỉ có ý nghĩa khi được sử dụng với một tiêu chuẩn phù hợp nhất định,

Trang 21

trong khi đó việc thiết lập các tiêu chuẩn đánh giá thì rất phức tạp và cần thiết phải

có cái nhìn tổng quát về tình hình của một ngân hàng để thiết lập mô hình hợp lý Ngoài ra, hệ thống kinh tế luôn biến động và chịu nhiều yếu tố tác động từ bên ngoài cũng là một rào cản để thiết lập mô hình nghiên cứu đúng đắn và phù hợp Đó cũng là lý do gần đây các nhà phân tích thường sử dụng phương pháp phân tích hiệu quả biên để phân tích về HQHĐ của ngân hàng vì phương pháp này khắc phục nhược điểm trong phân tích của các chỉ tiêu tài chính và cho thấy được tổng quan thực trạng của ngân hàng dưới các tác động của nhiều yếu tố ngoại cảnh

2.3.2 Đánh giá hiệu quả bằng phương pháp phân tích hiệu quả biên

Như đã nói ở trên, vì tính phức tạp trong hoạt động mà việc đánh giá HQHĐ của ngành ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn Vì vậy, các nhà nghiên cứu điển hình như Farell(1957), Meeusen and van Den Broeck (1977) và Aigner và các cộng sự (1977), đã phát triển một phương pháp đánh giá hiện đại, cho kết quả tổng quan hơn

về HQHĐ ngân hàng là phương pháp phân tích hiệu quả biên Phương pháp này giả

sử rằng các hiệu quả đơn vị hoạt động (trong đề tài này là các ngân hàng) sẽ nằm xung quanh một đường biên hiệu quả (cũng là đường biên thể hiện đơn vị hoạt động tốt nhất tính từ dữ liệu nghiên cứu)Và khoảng cách từ các đơn vị đến đường biên hiệu quả đó chính là mức độ phi hiệu quả của đơn vị tính toán Phương pháp này cho phép xác định được hiệu quả tổng quan của từng ngân hàng và xếp hạng của từng ngân hàng dựa trên thực tế hoạt động của chúng Ngoài ra, với phương pháp này các nhà nghiên cứu còn có thể xác định các nhân tố tác động đến hiệu quả của ngân hàng Dựa trên kết quả nghiên cứu này, các nhà quản lý có thể xác định đánh giá hoạt động của hệ thống ngân hàng mình, đồng thời có những cải thiện nhằm nâng cao khả năng hoạt động thực những bộ phận có thể áp dụng được, qua đó cải thiện HQHĐ của toàn bộ ngân hàng Phương pháp phân tích hiệu quả biên được chia thành hai nhóm là tiếp cận tham số và tiếp cận phi tham số

2.3.2.1 Phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA)- Tiếp cận tham số

Trang 22

Là một phương pháp rất phổ biến để đánh giá hiệu quả, phân tích biên ngẫu nhiên được đề xuất bởi Aigner và các cộng sự (1977), Battese và Corra (1977), và Meeusen và van DenBroeck (1977) Cách tiếp này thường tập trung vào nghiên cứu đến hiệu quả sản xuất hoặc hiệu quả chi phí của ngân hàng, Vì vậy, nó có thể tính toán hiệu quả của một ngân hàng nhất định bằng cách so sánh mức sản xuất hoặc mức chi phí của ngân hàng đó với mức tối ưu Ngoài ra phương pháp này còn

có thể được sử dụng để nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Thông thường hàm biên ngẫu nhiên thường được viết dưới dạng:

ln ( ) Trong đó là tổng chi phí sản xuất các biến nghiên cứu; là véc tơ đầu ra của ngân hàng là véctơ của các biến chưa được xác định thể hiện cho biến giá đầu ra

và biến đầu vào trong hàm chi phí Theo Aigner và các cộng sự (1977) thì là các sai số của hàm chi phí của ngân hàng thứ i và có thể được viết dưới dạng:

Trong đó đại diện cho sai số trong ước lượng và các nguồn nhiễu trong thống

kê được giả định là độc lập và có phân phối chuẩn N(0, ), và là các biến ngẫu nhiên được giả định là phân phối độc lập nhưng không đồng nhất

Dựa vào thông số hàm chi phí biên ngẫu nhiên theo trên thì hiệu quả chi phí của một ngân hàng có thể diễn đạt như sau:

( ) Công thức trên hàm ý rằng hiệu quả chi phí không lớn hơn 1 Việc dự đoán về tính không hiệu quả của chi phí dựa trên các kỳ vọng có điều kiện điều mà được tổng hợp các ước tính được tính toán trong Lovell và các cộng sự (1982) và Battese

và Coelli (1988, 1993)

Ngoài ra, các thông số của mô hình biên ngẫu nhiêu và các nhiễu kèm theo ,

có được tính toán được bằng cách sử dụng ước lượng cực đại (ML) hoặc phương pháp bình quân nhỏ nhất (OLS) Một số nghiên cứu cho thấy ước lượng ML là phương pháp được ưa thích Điển hình như nghiên cứu của Coelli (1995) và Olesen

Trang 23

và các đồng sự (1980) cho thấy ước lượng ML có xu hướng thực hiện tốt hơn theo phương pháp OLS trong các trường hợp cỡ mẫu

Trong mô hình SFA thường được sử dụng để phân tích hiệu quả chi phí và hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng Trong đó, hiệu quả chi phí là tỷ số giữa chi phí tối thiểu mà tại đó có thể đạt được một khối lượng sản xuất nhất định Trong khi đó, hiệu quả lợi nhuận là sự lựa chọn các yếu tố sản xuất, chi phi, và kể cả doanh thu

Do đó, hiệu quả lợi nhuận rộng hơn hiệu quả chi phí

Mô hình SFA có các ưu điểm như: không cần giả định trước tất cả các ngân hàng đều đạt hiệu quả, có thể kiểm định được các giả thuyết liên quan, Chú trọng đến các sai số thống kê và đo lường các sai số này, SFA ước lượng mức hiệu quả cao nhất của hộ chứ không phải là hiệu quả kỹ thuật trung bình mẫu Tuy nhiên mô hình này cũng có một số nhược điểm như: Sự phức tạp khi đưa ra dạng hàm và dạng phân phối của dữ liệu hợp lý cho mô hình Ngoài ra, quy mô mẫu phải đủ lớn

Trang 24

phát triển một cách phổ biến trong phân tích hiệu quả trong nhiều lĩnh vực khác nhau: ngân hàng, bảo hiểm, giáo dục, y tế,…

Vì DEA được xây dựng dựa trên các điểm thực tế thực tế trong quan sát nên phương pháp này có thể được áp dụng với các mẫu nghiên cứu nhỏ Do vậy DEA thường được sử dụng để phân tích chuyên sâu theo khu vực hoặc theo địa phương Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của của phương pháp này đó là nó không tính toán đến yếu tố sai số hay nhiễu trong thống kê Ngoài ra, vì điểm hiệu quả DEA là hiệu quả tương đối trong một nhóm DMU nên trong trường hợp có 1 DMU nằm trên đường hiệu quả biên thì không có nghĩa nó có tối ưu trong thực tế Vì vậy, DEA thường được thực hiện kết hợp với phân tích hồi quy trong một mô hình 2 bước (2-stages DEA) hay nhiều bước (multi-stages DEA) để làm tăng thêm tính thuyết phục của mô hình

Như vậy, cả hai cách tiếp cận tham số và phi tham số đều có những ưu điểm cũng như hạn chế riêng, do đó việc lựa chọn một phương pháp đúng đắn phù hợp với mục đích nghiên cứu còn gây ra nhiều tranh cãi Để khắc phục điều này một số nhà nghiên cứu đã thực hiện kiểm tra bằng không phải một mà là 2 hay nhiều phương pháp Sau đó các nhà nghiên cứu này dẽ thực hiện việc so sánh, đánh giá và phân tích để lựa chọn kết quả hợp lý nhất Do hạn chế về mặt dữ liệu lẫn thời gian nghiên cứ nên trong luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên để đánh giá HQĐH của các ngân hàng TMCP ở Việt Nam

2.4 Tóm tắt các nghiên cứu trước đây

Có nhiều phương pháp khác nhau về kỹ thuật đánh giá hoặc thu thập dữ liệu đã được sử dụng để đánh giá HQHĐ của NHTM Tuy nhiên với các nghiên cứu sử dụng mô hình SFA để đánh giá HQHĐ thì phần lớn tập trung ở các nước phát triển

và ít được sử dụng ở những nước đang phát triển hoặc được sử dụng ở mức độ phân tích chéo các khu vực khác nhau như Châu Âu hoặc Châu Á Phần này sẽ tổng quan các nghiên cứu đánh giá HQHĐ ở một số nước và ở Việt Nam theo hướng phân tích tham số SFA

Trang 25

2.4.1 Một số nghiên cứu đánh giá HQHĐ ngân hàng bằng mô hình SFA trên thế giới

Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu về hiệu quả chi phí của Berger và Humphrey (1997) nghiên cứu này đã chỉ ra sự khác nhau giữa các kết quả từ các dự toán của năm loại mô hình biên bao gồm tiếp cận phi tham số (DEA, FDH) và tiếp cận tham

số (SFA, TFA và DFA) để đánh giá hiệu quả chi phí từ kết quả thu thập của 130 tổ chức tài chính trên 21 quốc gia Về kết quả phân tích tổng quát thì các phương pháp phi tham số cho kết quả phân tích hiệu quả chi phí thường là thấp hơn so với phân tích tham số Ngoài ra, hai tác giả còn đề nghị rằng các kết quả ước lượng từ nghiên cứu này còn là một chỉ dẫn đáng tin cậy cho việc ra quyết định điều hành chính sách của chính phủ và nghiên cứu ở mức độ quản lý nhà nước và doanh nghiệp

Một nghiên cứu nổi tiếng của Berger và Mester (1997) khi các tác giả nghiên cứu “bên trong chiếc hộp đen” để giải thích hiệu quả của các ngân hàng với dữ liệu

từ 6000 ngân hàng thương mại ở Mỹ trong suốt thời gian từ năm 1990 đến năm

1995 Hai tác giã đã gợi ý cách lựa chọn các biến khác nhau tác động đến thước đo hiệu quả dựa trên nền tảng sử dụng ba loại khái niệm về hiệu quả kinh tế là cơ cấu

về chi phí, lợi nhuận tiêu chuẩn, cũng các khoản lợi nhuận khác Lợi ích và các nhược điểm của từng loại thảo luận khá rõ ràng ở bài nghiên cứu này Ngoài ra, trong bài nghiên cứu này họ điều tra việc sử dụng các phương pháp DEA và SFA bao gồm việc giải thích sự khác nhau giữa hình thái hàm Fourier linh hoạt và hàm translog Nghiên cứu này cũng là nghiên cứu đầu tiên sử dụng các biến Quy mô ngân hàng, sở hữu của tổ chức, quản trị doanh nghiệp, các đặc điểm cụ thể của ngân hàng, đặc điểm thị trường, các điều chỉnh chính sách của liên bang, tính chất giới hạn địa lý của bang và các biến tương quan tiềm năng tác động đến hiệu quả

Altunbas và các cộng sự (2000) đã xem xét tác động của các yếu tố rủi ro và chất lượng lên chi phí của các ngân hàng thương mại Nhật trong gian đoạn 1993-

1996 Các tác giả đã sử dụng phương pháp biên ngẫu nhiên để tính toán hiệu quả quy mô, hiệu quả chi phí và sự phát triển công nghệ Trong nghiên cứu này, các tác giả đã tìm thấy rằng nguồn tài chính lớn có tác động mạnh đến sự tối ưu về qui mô

Trang 26

ngân hàng Và hiệu quả theo qui mô thì nhạy cảm với rủi ro và chất lượng tài sản hơn hiệu quả chi phí Ngoài ra, các tác giả cũng đã chỉ ra được rằng sự thay đổi công nghệ làm giảm chi phí sản xuất trong tương lai

Isik và Hassan (2002) cũng đã sử dụng phương pháp biên ngẫu nhiên để nghiên cứu các tác động của các nhân tố như: qui mô ngân hàng, yếu tố quản trị, quyền sở hữu đến hiệu quả chi phí và hiệu quả sản xuất của hệ thống ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1996 Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng đầu ra là các khoản cho vay ngắn, dài hạn và các khoản thu nhập khác Bằng phương pháp phân tích 2 bước, các tác giả trên đã tìm thấy hiệu quả của hệ thống ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế vĩ mô cũng như các chính sách bảo hộ của nhà nước Ngoài ra, mức độ liên kết của hiệu quả chi phí và hiệu quả lợi nhuận là rất thấp

Hughes và Mester (2008) đã trình bày đầy đủ các lý thuyết và bằng chứng về phân tích hiệu quả ngân hàng Nghiên cứu này đã tạo ra một nền tảng và thảo luận

về hai phương pháp thực nghiệm tổng quát (các tiếp cận phi cấu trúc và cách tiếp cận cấu trúc) trong việc đo lường hiệu suất ngân hàng Ngoài ra, một vài mối quan

hệ giữa quyền sở hữu và sáp nhập với giá trị ngân hàng cũng được thể hiện trong nghiên cứu

Ở châu á thì Manlagñit và cộng sự (2011) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi

ro và hiệu quả của hệ thống ngân hàng Philipin bằng các tiếp cận biên ngẫu nhiên giai đoạn 1990-1999 Các tác giả trên đã đưa vào mô hình các biến rủi ro và các biến chất lượng tài sản để phân tích chi phí bằng phương pháp tiếp cận 1 bước theo Battese và Coelli (1995) Bài nghiên cứu đã tìm ra rằng khủng hoảng tài chính Châu

Á năm 1997 đã gây ra nhiều tác động bất lợi lên hiệu quả chi phí, và chính điều đó cũng tác động đến sự cải cách ngân hàng ở hệ thống ngân hàng Philipin Ngoài ra, các tác giả cũng đã chứng minh được việc mua bán và sáp nhập ngân hàng có quan

hệ tiêu cực đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng

2.4.2 Một số nghiên cứu đánh giá HQHĐ của ngân hàng bằng mô hình SFA ở Việt Nam

Trang 27

Vu và Turnell (2010) đã tính tính toán hiệu quả chi phí của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2000-2006 bằng việc sử dụng kỹ thuật Bayesian Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả chi phí của hệ thống ngân hàng Việt Nam là khoản 87,21% tức các ngân hàng cần phải giảm khoản 12,79% chi phí nữa để đưa hiệu quả đến mức tối ưu Ngoài ra, các ngân hàng trong nghiên cứu đối mặt với việc giảm hiệu quả chi phí vì đây là giai đoạn các ngân hàng đầu tư để đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng mạng lưới và nâng cấp về công nghệ

Vu và các cộng sự (2013) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả lợi nhuận của các ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 2000-2006 Các tác giả đã nghiên cứu tác động của bốn nhóm biến số bao gồm: các đặc trưng ngân hàng, quyền sở hữu, sự chuyển đổi của môi trường kinh tế và điều kiện kinh tế vĩ mô đối với khả năng sinh lợi của các ngân hàng bằng cách sử dụng mô hình Tobit để xác định mức hiệu quả của các ngân hàng Nghiên cứu trên đã cho thấy hiệu quả lợi nhuận của một ngân hàng được tăng cường khi ngân hàng có quy mô lớn và khả năng quản lý tốt hơn Trong khi đó, hiệu quả đó bị giảm dần do chất lượng tài sản thấp và mức vốn hóa quá cao Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ lệ lạm phát thấp là một môi trường thuận lợi để các ngân hàng cải thiện khả năng sinh lời của mình Nghiên cứu cũng cho thấy trong số các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam từ các nước Úc, Nhật, Mỹ và Châu Âu thì có hiệu quả hoạt động tốt hơn so với các ngân hàng nước ngoài có trụ sở tại châu Á Trong khi các ngân hàng trong nước có hiệu quả hoạt động thấp hơn hẳn

Gần đây nhất Nguyễn và các cộng sự (2016) đã sử dụng mô hình SFA và DEA

để phân tích sự cải cách và hiệu quả của hệ thống ngân hàng Việt Nam Nhóm tác giả sử dụng số liệu của 32 ngân hàng Việt nam giai đoạn 2000-2014 Bài nghiên cứu trên đã đưa ra kết luận các ngân hàng được đầu tư từ các đối tác chiến lược nước ngoài và các ngân hàng có niêm yết trên sàn chứng khoán thì có hiệu quả chi phí cao hơn các ngân hàng còn lại Ngoài ra, hiệu quả chi phí của các ngân hàng sau khi được mua lại lại thấp hơn hiệu quả các ngân hàng trước khi mua lại và hiệu quả

Trang 28

này có xu hướng giảm dần Tuy nhiên, hiệu quả ngắn hạn và trung dài hạn của các ngân hàng niêm yết thì không có nhiều dẫn chứng

Như vậy, các nghiên cứu chủ yếu sử dụng hướng tiếp cận trung gian xem ngân hàng là cầu nối giữa người gửi tiền và người vay tiền Nhìn chung, kết quả các nghiên cứu phần lớn kết luận các NHTM Việt Nam hoạt động chưa thật sự hiệu quả Dù các nghiên cứu về HQHĐ của các NHTM Việt Nam thông qua phương pháp SFA có các lựa chọn biến số và cách thu thập số liệu khác nhau Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu đều có những đóng góp nhất định cho sự phát triển của ngành ngân hàng Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao HQHĐ của các ngân hàng

Việc nghiên cứu về hệ thống ngân hàng Việt Nam là cần thiết, đặc biệt nghiên cứu về HQHĐ Bằng cách cải thiện HQHĐ các ngân hàng Việt Nam mới có thể cạnh tranh được với các ngân hàng nước ngoài trong bối cảnh hiện nay

Bảng 2.1 Một số nghiên cứu đánh giá HQHĐ ngân hàng bằng mô hình SFA trên thế giới

Nghiên cứu Mẫu nghiên

- Giá vốn

- Giá lao động

- Giá các khoản tiền gửi

- Tổng cho vay

- các khoản cho vay doanh nghiệp

- Các loại chứng khoán

-Nợ xấu Tài khoản ngoại bàng

Vốn tài sản hữu hình

Altunbas và

các cộng sự

(2000)

136 ngân hàng từ năm 1993- 1995

và 139 ngân hàng trong năm 1996

- Giá lao động

- Giá vốn

- Giá tài sản

- Tổng cho vay

- Các loại chứng khoán

- Tài khoản ngoại bảng

- Tổng tài sản

- Vốn chủ sỡ hữu/ tổng tài sản

- ROA

- Cho vay/ tổng tài sản

- Nợ xấu/ tổng tài sản

Isik và

Hassan

(2002)

43 ngân hàng hồi giáo từ 21 nước giai

- Giá lao động

Trang 29

đoạn từ

1994-2001

- Giá các khoản cho vay ngắn hạn

khác

- Tài khoản ngoại bảng

Manlagñit và

cộng sự

(2011)

31 ngân hàng thương mại ở Philipin từ năm 1990 đến 2006

- Giá lao động

- Giá tài sản

- Giá vốn

- Tổng cho vay

- Các loại chứng khoản

- Tài khoản ngoại bảng

- Cho vay/ tiền gửi

- Tiền gửi/nợ phải trả

- Biến ngân hàng niêm yết

- Biến loại hình ngân hàng

Vu và Turnell

(2010)

56 Ngân hàng Việt Nam từ năm

2000 đến

2006

- Giá lao động

- Chi phí tài chính

- Chi phí phi tài chính

- Tổng cho vay

- Tài khoản ngoại bảng

- Các tài sản khác

- Vốn chủ sỡ hữu

Vu và các

(2013)

56 ngân hàng Việt Nam từ năm 2000 đến 2007

- Giá lao động

- Chi phí tài chính

- Chi phí phi tài chính

- Tổng cho vay

- Tài khoản ngoại bảng

- Các tài sản khác

- Kết hợp nghiên cứu với

27 ngân hàng

tư nhân

- Giá lao động

- Giá tài sản cố định

- Giá vốn

- Tổng cho vay

- Các tài sản sinh lời khác

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế

- VCSH/Tổng tài sản

- Biến thời gian

- Biến giả sở hữu ngân hàng

- Biến giả loại hình ngân hàng

- Các biến số cải cách quản trị trung và dài hạn

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 đã trình bày tổng quan về HQHĐ của NHTM và các phương pháp phân tích, đánh giá HQHĐ NHTM Hai phương pháp đánh giá thường được sử dụng chủ yếu là đánh giá thông qua các chỉ tiêu tài chính và đánh giá bằng phương pháp phân tích hiệu quả biên Trong phương pháp phân tích hiệu quả biên thì được thực hiện thông qua tiếp cận tham số và tiếp cận phi tham số Cách tiếp cận tham số thường được sử dụng nhất là phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên SFA

Ngoài ra, chương này còn tổng hợp một số kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước bằng cách sử dụng phương pháp biên ngẫu nhiêu SFA

Trang 31

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

3.1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Kể từ năm 2007 dưới cam kết mở cửa thị trường sau khi gia nhập WTO thì hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài Mặc dù sự tăng trưởng này tạo điều cho

hệ thống ngân hàng Việt Nam đa dạng hơn về loại hình cũng như tăng cường tính cạnh tranh nhưng chính điều đó cũng gây ra khó khăn cho các ngân hàng trong nước vốn là các ngân hàng nhỏ và vừa trong việc chiếm giữ khách hàng và thị trường trong nước

Bảng 3.1 Số lượng ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015

Năm Loại hình

Trang 32

Bảng 3.2 Quy mô vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 –

(Nguồn : Báo cáo thường niên của NHNN qua các năm )

Theo Bảng 3.2 tổng vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam liên tục đều trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2013 Mức tăng trung bình vào khoản 22,17% Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng đã có xu hướng chậm lại trong các năm 2013 đến 2015 Tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm trong các năm trên phản ánh sự khó khăn trong hoạt động của các ngân hàng thương mại Ngoài ra, sau giai đoạn bùng nổ việc đầu tư từ các nhà đầu tư chiến lược thì thị trường đã vắng dần các thương vụ lớn từ nguồn vốn nước ngoài Hầu hết các NHTMCP có vốn Nhà nước đều thuộc nhóm có vốn điều lệ cao nhất trong hệ thống ngân hàng

3.2 Tình hình hoạt động của các NHTMCP Việt Nam

3.2.1 Hoạt động huy động vốn

 Khả năng huy động vốn:

Ngân hàng thương mại hoạt động và phát triển được chủ yếu nhờ vào lượng tiền mà nó huy động được từ nền kinh tế Do đó, để huy động được nguồn vốn ổn

Trang 33

định đảm bảo chất lượng và số lượng luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong quá trình hoạt động của các ngân hàng

Biểu đồ 3.1 Tốc độ tăng trưởng huy động vốn của hệ thống NHTMCP Việt

Nam giai đoạn 2007 – 2015

(Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN qua các năm )

Biểu đồ 3.1 thể hiện tốc độ tăng trưởng huy động vốn toàn hệ thống ngân hàng Nhìn chung tốc độ tăng trưởng huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng giảm không đều Chỉ trong giai đoạn từ 2007 đến 2011, tốc độ tăng trưởng đã có hai lần giảm mạnh Cụ thể đó là mức này đã giảm mạnh 37,3% năm 2007 xuống còn 22,84% năm 2008 và mức giảm từ 36,2% năm 2010 xuống còn 12,4% năm 2011 Tốc độ tăng trưởng huy động vốn giữ ở mức dưới 20% từ năm 2011 trở đi Nguyên nhân của việc này là do tác động khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, lạm phát tăng mạnh cuộc đua lãi suất đột ngột bùng phát vào cuối năm 2010 khiến thị trường

bị xáo trộn Lãi suất huy động tiếp tục tăng cao những tháng đầu năm 2011 bắt buộc ngân hàng nhà nước phải quy định mức lãi suất trần theo Thông tư số 02/2011/TT-NHNN ngày 03/03/2011

Ngoài ra, có thể cho thấy dấu hiệu về thanh khoản của hệ thống NHTMCP căng thẳng được thể hiện quả tình trạng cạnh tranh lãi suất như thời điểm 2010-2011 Để

bù đắp chi phí đầu vào và các chi phí hoạt động thì các NHTMCP đã phải nâng lãi suất huy động lên cao nhằm thu hút thêm nguồn tiền gửi Từ đó, lãi suất cho vay đối với cũng tăng theo tác động đến chi phí hoạt động của doanh nghiệp Điều này đã làm các doanh nghiệp gặp rất khó khăn trong hoạt động gây tác động xấu khả năng

Trang 34

trả gốc và lãi của doanh nghiệp Đó cũng là lý do tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTMCP gia tăng

 Mức độ an toàn vốn:

Để đảm bảo mức độ ăn toàn của hệ thống ngân hàng, NHNN đã ban hành thông

tư 36 có hiệu lực từ tháng 2 năm 2015 quy định về các tỷ lệ an toàn giới hạn trong hoạt động ngân hàng Theo thống kê của NHNN, tính đến hết năm 2015 các NHTMCP đều đạt mức tỷ lệ đảm bảo vốn tự theo đúng quy định (CAR tối thiểu 9%) Hiện nay, để đáp ứng tình hình quản lý các tổ chức tín dụng, NHNN đang thí điểm áp dụng tiêu chuẩn Basel II đối với một số NHTMCP và dự kiến sẽ áp dụng chính thức lên cả hệ thống ngân hàng trong thời gian tới

(Nguồn : Báo cáo thường niên của NHNN qua các năm )

Biểu đồ 3.2 thể hiện mức dư nợ tín dụng trong Tổng tài sản của các NHTMCP Việt Nam Mặc dù trong thời gian gần đây các ngân hàng đã quan tâm đến việc cung cấp, mở rộng các dịch vụ khác nhưng thu nhập từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm mức cao và vào khoảng 60-80% trong tổng thu nhập của các ngân hàng Và đạt đỉnh điểm ở mức 88,8% trong 2015

Trang 35

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTMCP Việt Nam

giai đoạn 2007 – 2015

(Nguồn : Báo cáo thường niên của NHNN qua các năm )

Theo biểu đồ 3.3 thì tốc độ tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2007 – 2015 đạt mức trung bình ở khoản 22,89% Tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng giảm không đều điển hình như dưới tác động của khủng hoảng kinh tế năm 2007 tăng trưởng tín dụng giảm mạnh từ 51% xuống 23,38% năm trong 2008 Tuy nhiên, nhờ các chính sách kích thích kinh tế trong năm 2008 mà tăng trưởng tín dụng đã tăng trở lại lên 37,53% năm 2009 Mặc dù vậy, từ năm 2010 trở về sau tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống lại có chiều hướng giảm dần Nguyên nhân được đưa ra là do tăng trưởng tín dụng bị tác động do chính sách tiền tệ thắt chặt để chống lại mức lạm phát hai con số của nhà nước Đến Năm 2012, tăng trưởng tín dụng xuống mức thấp nhất và chỉ đạt 8,91% mặc dù chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đầu năm là 15 – 17% Trong năm 2012, NHNN cũng đã phân nhóm và giao chỉ tiêu tăng tín dụng cho các ngân hàng nhưng chỉ tiêu này hầu hết đều không hoàn thành Từ năm 2013 đến năm

2015, tăng trưởng tín dụng có chiều hướng tăng nhẹ nhờ sự hồi phục của nền kinh

Trang 36

(Nguồn : Báo cáo thường niên của NHNN qua các năm )

Biểu đồ 3.4 thể hiện tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2007 đến 2015 Tỷ lệ nợ xấu tăng đều từ năm 2007 đến 2011 và đỉnh điểm ở năm 2012 với mức trung bình là 4,08% Giai đoạn này trùng với giai đoạn tình hình kinh tế khó khăn và sự xuống dốc của thị trường bất động sản trong nước Năm 2013 Công ty quản lý tài sản của các TCTD (VAMC) ra đời giúp TCTD cũng đẩy mạnh tự giải quyết nợ xấu bằng nguồn

dự phòng tái cơ cấu nợ, điều này giúp nợ xấu giảm xuống mức 3,61% trong năm

2013 Từ năm 2014 đến 2015 tỷ lệ nợ xấu giảm dần về mức 2,9%

Tuy nhiên, theo đánh giá của Cơ quan xếp hạng tín dụng trong trường hợp áp dụng tiêu chuẩn Quốc tế về phân loại nợ xấu thì tỷ lệ nợ xấu Việt Nam sẽ cao hơn nhiều Lý do ở đây là do sự sai lệch trong cách phân loại nợ xấu Thay vì dựa vào tình hình kinh doanh của các đơn vi có nợ xấu thì các NHTMCP Việt Nam phân loại nợ chủ yếu dựa vào thời hạn nợ Điều này dẫn đến việc phân loại nợ vào nhóm không phản đúng thực chất khoản nợ gây khó khăn trong việc mua bán cũng như thu hồi nợ

3.2.3 Hoạt động thanh toán và đầu tư công nghệ

Về hoạt động thanh toán trong nước :

Hiện nay, các dịch vụ thanh toán trong nước của các NHTMCP đã có nhiều phát triển vượt bậc Ngoài các hoạt động thanh toán truyền thống như: thanh toán bằng ủy nhiệm chi, thanh toán qua thẻ thì các dịch vụ thanh toán định kỳ như thanh toán tiền điện, tiền nước, điện thoại, cước Internet hoặc đóng thuế qua hệ thống

Trang 37

ngân hàng đã được chú ý phát triển Các kênh dịch vụ tài chính ngân hàng hiện đại như: Mobile banking, Internet banking, SMS banking, và các dịch vụ thẻ ngày càng được nâng cấp về chất lượng cũng như tính an toàn Hệ thống máy POS, ATM được nhiều ngân hàng đầu tư đồng bộ ở các khu mua sắm, siêu thị, nhà hàng… Điều này giúp hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt được nhiều thuận lợi Tuy nhiên, dù được khuyến khích và đầu tư mạnh mẽ như trên nhưng vì thói quen nên Việt Nam vẫn là nước có tỷ lệ người dùng sử dụng thẻ để thanh toán thấp trong khu vực Số lượng giao dịch rút tiền mặt bằng thẻ qua hệ thống ATM còn rất cao và chiếm phần lớn lượng giao dịch

Về hoạt động thanh toán quốc tế :

Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với các

tổ chức hay cá nhân nước khác Sau năm khi gia nhập WTO năm 2007, hoạt động thanh toán quốc tế ở các NHTMCP Việt Nam đạt được những mức tăng trưởng đáng kể, việc hợp tác với các ngân hàng đại lý rộng khắp thế giới đã giúp cho các ngân hàng Việt Nam triển khai một cách đầy đủ các dịch vụ thanh toán quốc tế như: thanh toán bằng LC, thanh toán qua thư chuyển tiền MTR (MailTransfer Remittance), dịch vụ chuyển trong và ngoài nước; Dịch vụ kiều hối…

Về đầu tƣ công nghệ ngân hàng:

Đầu tư về công nghệ hiện đại hóa ngân hàng là một xu hướng tất yếu trong hệ thống ngân hàng hiện nay Để đảm bảo sự hoạt động ổn định và hiệu quả, hệ thống quản trị ngân hàng tập trung (Corebanking) đã được nhiều ngân hàng trong nước đầu tư và từng bước nâng cấp Đến nay, hầu hết các NHTMCP đã được triển khai các hệ thống này Ngoài ra, các hệ thống quản lý rủi ro, hệ thống đánh giá tự động luôn được chú ý phát triển góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng

3.2.4 Hoạt động kinh doanh ngoại hối

Hoạt động kinh doanh ngoại hối cũng là một hoạt động đang rất phát triển ở các ngân hàng Việt Nam hiện nay, ngoài ra hoạt động còn hỗ trợ cho các dịch vụ khác

Trang 38

như dịch vụ chuyển tiền, hoạt động cho vay hay hoạt động thanh toán… Tuy nhiên trong hoạt động này các ngân hàng cần chú ý tới rủi ro tỷ giá có thể xảy ra gây tác động xấu đến ngân hàng Hiện nay, trên cơ sở lý thuyết tại Việt Nam có 4 nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối được thực hiện: nghiệp vụ giao ngay, nghiệp vụ kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi, và nghiệp vụ quyền chọn Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường ngoại hối ở Việt Nam còn sơ khai nên các giao dịch thông thường chủ yếu là hoạt động giao ngay để tài trợ xuất nhập khẩu Các hoạt động khác đang được NHNN điều chỉnh và tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động

3.3 Đánh giá HQHĐ của NHTMCP Việt Nam bằng các chỉ số tài chính

3.3.1 Lợi nhuận trước thuế

Giai đoạn 2008 – 2015 nền kinh tế gặp nhiều khó khăn tuy nhiên các NHTMCP Việt Nam đã không ngừng phấn đấu để tồn tại và từng bước phát triển

Bảng 3.3 Lợi nhuận trước thuế của NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 –

2015 Năm

Chỉ tiêu 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Tổng lợi

(Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN qua các năm)

Bảng 3.3 cho ta thấy lợi nhuận của các ngân hàng Việt Nam giai đoạn từ 2007 đến 2015 Từ năm 2007 đến năm 2011 lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng tăng với tốc độ ổn định qua các năm Tuy nhiên từ năm 2012 trở về sau lợi nhuận trước thuế của các NHTM có sự sụt giảm mạnh, cụ thể: năm 2012 lợi nhuận đã giảm 47,8

% so với năm 2011 Sở dĩ có sự sụt giảm này là vì trong giai đoạn này lãi suất cho vay có xu hướng giảm mạnh, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn và sự cạnh tranh ngày

Trang 39

càng quyết liệt của các ngân hàng Bước sang các năm sau năm 2013, lợi nhuận xu hướng gia tăng nhưng ở mức thấp do điều kiện kinh tế tiếp tục khó khăn

3.3.2 Khả năng sinh lời

Bảng 3.4 Khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015

Đơn vị tính: %

(Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN Việt Nam qua các năm)

ROA và ROE có chiều hướng tăng giảm không ổn định điển hình giai đoạn 2007-2010 cả hai chỉ tiêu này có xu hướng tăng Tuy nhiên, trong giai đoạn 2010 –

2015 trở về sau, cả hai chỉ số này đều có xu hướng giảm mạnh điển hình như năm năm 2012 (ROA giảm 43,13% ROE giảm 46,85%) Nguyên nhân chủ yếu khiến chỉ

số khả năng sinh lời này giảm từ năm 2010 đến 2015 là do sự khó khăn trong nền kinh tế, chi phí dự phòng rủi ro ngày càng tăng trong đó dưới áp lực cạnh tranh thì các ngân hàng không gia tăng chi nhánh và nhân viên để chiếm lĩnh thị phần

3.3.3 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

Bảng 3.5 Chỉ số NIM của một số NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015

trưởng ROE 23,38 -28,43 39,73 -1841 -46,85 -1189 -12,6 16,9

Ngày đăng: 08/06/2021, 05:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w