1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

127 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 3,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn đã nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của các NHTM tại Việt Nam và xem xét các nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

BÙI NGỌC LY

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN TRONG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA HỆ THÔNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

BÙI NGỌC LY

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN TRONG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA HỆ THÔNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán kiểm toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HOC:

TS NGUYỄN ANH HIỀN

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam” này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Anh Hiền Các số liệu, kết quả trình bày trong bài luận văn là trung thực và chính xác trong phạm vi hiểu biết của tôi

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của đề tài nghiên cứu này

TP Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2015

Học viên

BÙI NGỌC LY

Trang 4

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

Mở đầu

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ……… 1

1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan 1

1.1.1 Các nghiên cứu tại nước ngoài 1

1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 19

1.1.3 Vấn đề nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu 20

CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 23

2.1 Những vấn đề cơ bản về hệ thống Ngân hàng thương mại tại Việt Nam 23

2.1.1 Khái quát về hệ thống NHTM tại Việt Nam 23

2.1.2 Các giai đoạn phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam 24

2.1.3 Cơ cấu hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay 28

2.1.4 Các đặc điểm hoạt động chính của các NHTM tại Việt Nam 28

2.2 Những vấn đề cơ bản về công bố thông tin 29

2.2.1 Khái niệm về công bố thông tin 30

2.2.2 Phân loại công bố thông tin 30

2.2.3 Yêu cầu chung về công bố thông tin 30

Trang 5

2.3.2 Nội dung của Báo cáo thường niên 32

2.3.3 Công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên 34

2.4 Các lý thuyết liên quan đến công bố thông tin 35

2.4.1 Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory) 35

2.4.2 Lý thuyết đại diện (Principal – Agent Theory) 35

2.4.3 Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) 37

2.5 Đề xuất mô hình nghiên cứu 38

CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

3.1 Nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong mô hình nghiên cứu 43

3.1.1 Các biến độc lập 43

3.1.2 Biến phụ thuộc “Chỉ số công bố thông tin tự nguyện” 58

3.2 Phương pháp thu thập thông tin 61

3.3 Mô hình nghiên cứu 62

CHƯƠNG 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 64

4.1 Thực trạng công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các NHTM (Câu hỏi nghiên cứu số 1) 64

4.2 Phân tích mô hình hồi quy 68

4.2.1 Thống kê mô tả dữ liệu 68

4.2.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 70

4.2.3 Kiểm định phương sai của sai số thay đổi 71

Trang 6

(Câu hỏi nghiên cứu 2) 73

CHƯƠNG 5 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

5.1 Kết luận chung về công bố thông tin tự nguyện của các NHTM Việt Nam 81 5.2 Đóng góp của nghiên cứu 81

5.2.1 Đóng góp khoa học 82

5.2.2 Đóng góp thực tiễn 82

5.3 Những giới hạn của nghiên cứu 83

5.4 Kiến nghị các giải pháp nâng cao mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của các NHTM tại Việt Nam 83

5.5 Đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai 84

Trang 7

ACB Ngân hàng TMCP Á Châu

ANOVA Phân tích phương sai (Analysis Of Variance)

BacABank Ngân hàng TMCP Bắc Á

BASEL Ủy ban giám sát về ngân hàng (Basel Committee on

Banking supervision)BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển

CEO Giám đốc điều hành (Chief Executive Officer )

DongABank Ngân hàng TMCP Đông Á

EximBank Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu

FGLS Bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (Feasible

Generalized Least Squares)HĐQT Hội đồng quản trị

KienLongBank Ngân hàng TMCP Kiên Long

LienVietPostBank Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt

MaritimeBank Ngân hàng TMCP Hàng Hải

MDB Ngân hàng TMCP Phát triển Mê Kông

NHTM Ngân hàng thương mại

OceanBank Ngân hàng TMCP Đại Dương

OLS Bình phương tối thiểu (Ordinary Least Square)

OTC Chứng khoán phi tập trung (Over The Counter)

Trang 8

ROE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity)SacomBank Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thường Tín

SaigonBank Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương

SeaBank Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

SHB Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội

TechcomBank Ngân hàng TMCP Kỹ Thương

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam (Vietnam Accounting

Standards)

VietCapital Bank Ngân hàng TMCP Bản Việt

VietcomBank Ngân hàng TMCP Ngoại Thương

VietinBank Ngân hàng TMCP Công Thương

VIF Hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor)VPBank Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng

WLS Bình phương tối thiểu có trọng số (Weighted Least

Square)

Trang 9

thường niên phân theo nhóm …59

Bảng 3.2: Tổng hợp các nhân tố tác động của mô hình nghiên cứu 61

Bảng 4.1 Tổng hợp mức độ công bố thông tin tự nguyện của các NHTM giai đoạn 2012-2013, 65

Bảng 4.2: Sự phân bố mức độ công bố thông tin tự nguyện của các NHTM trong năm 2012-2013 67

Bảng 4.3: Thống kê mô tả dữ liệu 68

Bảng 4.4: Ma trận hệ số tương quan 69

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 71

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định phương sai của sai số thay đổi 72

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định Breusch – Pagan 72

Bảng 4.8: Kết quả hồi quy mô hình OLS 73

Bảng 4.9: Tóm tắt kết quả hồi quy 79

Trang 10

Hình 2.2: Nhóm 10 NHTM có tổng tài sản lớn nhất năm 2013 27

Hình 2.3: Nhóm 10 NHTM có vốn chủ sở hữu lớn nhất năm 2013 28

Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu của Raoudha and Chokri 39

Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu của Hoissan and Reaz 40

Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu đề xuất 41

Hình 3.1: 10 công ty kiểm toán có doanh thu lớn nhất năm 2013 47

Hình 3.2: 10 công ty kiểm toán có số lượng khách hàng lớn nhất năm 2013 47

Trang 11

Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển theo xu hướng toàn cầu hóa, tự do hóa

và hội nhập kinh tế quốc tế Đi cùng sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống tài chính ngân hàng cũng ngày càng lớn mạnh và có ảnh hưởng rộng khắp trong các hoạt động giao dịch của xã hội Hoạt động kinh doanh phát triển cũng đi kèm với áp lực cạnh tranh gay gắt Điều này làm cho môi trường kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam có nhiều thay đổi Trước đây, các NHTM Nhà nước giữ vị thế độc quyền trên thị trường tiền tệ Tuy nhiên sự gia tăng về số lượng các NHTM cổ phần cũng như

sự góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài vào ngân hàng Việt Nam và sự hiện diện của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng 100% vốn nước ngoài là nhân

tố quan trọng giúp đa dạng hóa các loại hình dịch vụ tài chính

Giai đoạn từ 2008 đến nay, với bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, các NHTM vẫn cố gắng tăng vốn điều lệ để đảm bảo mức vốn pháp định và góp phần nâng cao năng lực tài chính Mặc dù đã có những bước đi vượt bậc và liên tục nhận được sự quan tâm mang tính chiến lược từ Chính phủ nhưng do những hạn chế về quy mô so với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới nên các NHTM Việt Nam đang đối mặt với những khó khăn trong huy động vốn dẫn đến hạn chế trong việc đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và tạo ra những hạn chế nội tại

Do đó, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế Trong quá trình này, thông tin kế toán ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng Thông tin kế toán không chỉ phục

vụ cho công tác quản lý mà còn tác động đến quyết định của nhà đầu tư, người gửi tiền Để phục vụ cho sự phát triển của chính ngân hàng và bảo vệ quyền lợi cho các đối tượng liên quan, các NHTM cần đảm bảo tính trung thực, hợp lý của các thông tin công bố ra công chúng

Trang 12

trọng chi phối đến quyết định của nhà đầu tư, người gửi tiền và cả các doanh nghiệp vay vốn Do đó nhu cầu tìm hiểu về thông tin công bố trên báo cáo thường niên của các NHTM ngày càng tỏ ra cấp thiết và có tính thực tiễn cao

Tại Việt Nam, Nhà nước đã có những quy định bắt buộc đối với các NHTM

về thông tin cần công bố ra bên ngoài Tuy nhiên, các thông tin công bố trên báo cáo hiện nay chủ yếu là các thông tin trong quá khứ, trong khi đó các nhà đầu tư ngày càng hướng tới các thông tin về khả năng hoạt động trong tương lai của NHTM, thông tin đó thể hiện phần lớn trong các công bố tự nguyện Chính vì vậy, các NHTM không chỉ công bố các thông tin theo quy định của pháp luật mà còn hướng tới công bố các thông tin tự nguyện nhằm minh bạch hóa thông tin Công bố thông tin minh bạch được xem là một cơ chế thúc đẩy các NHTM nâng cao ý thức

và cải thiện tình hình quản trị công ty, qua đó đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của các nhà đầu tư và nền kinh tế toàn cầu

Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn cũng tác động đến quá trình hội nhập quốc tế về chuẩn mực kế toán nhằm hình thành một hệ thống chuẩn mực kế toán phục vụ cho lợi ích chung, chất lượng cao và có thể áp dụng trên toàn thế giới Sự hội nhập này đòi hỏi các NHTM khắt khe hơn trong việc công bố thông tin ra công chúng Chất lượng thông tin trên báo cáo thường niên sẽ quyết định đến việc đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM trong quá khứ và dự báo xu hướng phát triển trong tương lai Vì vậy việc lựa chọn thông tin tự nguyện cần phải công

bố trên báo cáo của NHTM là một vấn đề rất quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin Việc đánh giá các nhân tố tác động đến công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên góp phần hỗ trợ các nhà quản lý thấy được tác động này để từ đó có thể đưa ra các quy định, hướng dẫn phù hợp

Xuất phát từ thực tiễn trên, người nghiên cứu lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”

Trang 13

cáo thường niên của các NHTM tại Việt Nam và xem xét các nhân tố có ảnh hưởng

đến mức độ công bố thông tin tự nguyện

Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ tìm giải đáp cho các câu hỏi sau:

1, Mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các NHTM tại Việt Nam như thế nào?

2, Các nhân tố nào có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các NHTM tại Việt Nam?

Tổng quan các nghiên cứu liên quan

Chủ đề về công bố thông tin đã nhận được sự quan tâm của rất nhiều các nhà học thuật ở nhiều nước trên thế giới, cả các quốc gia phát triển và đang phát triển Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về mức độ công bố thông tin tự nguyện được thực hiện, về cả định tính và định, ở các công ty phi tài chính và tài chính Tuy nhiên tại Việt Nam, nghiên cứu thực nghiệm về công bố thông tin tự nguyện trong

hệ thống ngân hàng vẫn còn rất hạn chế

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin

tự nguyện trong báo cáo thường niên của các NHTM tại Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu này chỉ giới hạn cho một đánh giá về các thông tin tự nguyện công bố trong báo cáo thường niên các NHTM tại Việt Nam được công bố trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2013

Trang 14

những NHTM đã cung cấp báo cáo thường niên trên website của mình Từ đó kiểm định mô hình nghiên cứu đề xuất bằng cách sử dụng kỹ thuật phân tích thống kê mô

tả, phân tích hệ số tương quan và phân tích hồi quy OLS

Cấu trúc của luận văn

Người nghiên cứu xây dựng luận văn gồm 5 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan

1.1.1 Các nghiên cứu tại nước ngoài

Nhiều nhà nghiên cứu đã trích dẫn chuyên đề của Cerf (1961) là khởi diểm cho nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên Cerf (1961) nghiên cứu các báo cáo thường niên của 258 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York, 113 công ty niêm yết trên sàn giao dịch khác, và 156 công ty OTC trong giai đoạn từ tháng 7 năm 1956 đến tháng 6 năm 1957 Với phương pháp phân tích hồi quy được thực hiện trên 31 mục điểm, tác giả đã tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa bố công bố thông tin và quy mô tài sản, số lượng cổ đông và lợi nhuận Kể từ đó, chủ đề về công bố thông tin đã thu hút rất nhiều sự chú ý của các nhà học thuật ở cả các quốc gia phát triển và đang phát triển

Singhvi and Desai (1971), theo thiết kế nghiên cứu được giới thiệu bởi Cerf (1961), dựa trên danh sách kiểm tra mức độ công bố thông tin với 34 mục điểm tại

155 tập đoàn công nghiệp Mỹ đã báo cáo kết quả tương tự, có mối quan hệ đáng kể giữa mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên và các đặc điểm công ty Trong nghiên cứu này không đề cập đến sự khác biệt giữa công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện

Trong một nghiên cứu thực nghiệm khác, Buzby (1975) đã nỗ lực đo lường mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên của 88 công ty sản xuất ở Mỹ Các công ty tài chính được loại ra khỏi danh sách mẫu nghiên cứu Tác giả cũng đã khám phá mối quan hệ giữa công bố thông tin và hai đặc điểm công ty là tình trạng niêm yết và kích thước (đo bằng tổng tài sản) thông qua danh sách đo lường mức độ công bố gồm 39 mục thông tin

Trang 16

Stanga (1976) đã tiến hành một nghiên cứu để đo lường mức độ công bố thông tin của 80 công ty công nghiệp lớn tại Mỹ, và kiểm tra ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp (đo bằng doanh thu thuần) và loại ngành công nghiệp đến mức độ công bố thông tin Một bảng câu hỏi gồm 79 các mục thông tin đã được gửi đến cho các nhà phân tích tài chính Họ được yêu cầu xác định trọng số cho mỗi mục thông tin dựa trên thang điểm 5 (0 điểm nếu không cần thiết và 5 điểm nếu cần thiết) Sau

đó, một bảng điểm công bố thông tin có trọng số được phát triển để đánh giá mức

độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các công ty dựa trên trả lời nhận được từ các nhà phân tích tài chính Kết quả cho thấy rằng kích thước của một công ty không đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích sự khác biệt về công bố thông tin trên báo cáo thường niên giữa các công ty công nghiệp lớn Ngoài ra, loại ngành công nghiệp là nhân tố quan trọng giải thích những khác biệt trong mức độ công bố trong số lượng lớn các công ty công nghiệp

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm sau đó được tiến hành tập trung nhiều hơn vào công bố thông tin tự nguyện, chủ yếu ở các nước phát triển và dần dần các đang và kém phát triển bắt đầu đi theo Bên cạnh đó, so với trong các nghiên cứu trước, số lượng các biến và số lượng các mục điểm trong danh sách công bố thông tin ngày càng được mở rộng

Tại Anh, Firth (1979) đã tiến hành kiểm tra mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện và ba thuộc tính công ty, cụ thể là, quy mô, tình trạng niêm yết

và loại công ty kiểm toán Để đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện đối với mỗi công ty, chỉ số công bố thông tin có trọng số gồm 48 mục điểm được áp dụng Mỗi mục thông tin tự nguyện được lựa chọn dựa trên đánh giá của các tài liệu liên quan, báo cáo thường niên gần nhất của công ty và thảo luận với những người dùng khác nhau Nghiên cứu sử dụng các kiểm tra t-test để đánh giá thứ hạng tác động của ba biến độc lập về mức độ công bố thông tin tự nguyện Các kết quả thống kê cho thấy mối liên kết tích cực giữa tình trạng niêm yết, quy mô công ty và mức độ công bố thông tin tự nguyện Tuy nhiên không có mối liên quan giữa mức độ công

bố thông tin và loại công ty kiểm toán

Trang 17

Tại New Zealand, McNally et al (1982) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm

để kiểm tra mối liên hệ giữa mức độ công bố tự nguyện của 103 các công ty sản xuất niêm yết trên sàn chứng khoán New Zealand và một số đặc điểm của công ty: Quy mô, tỷ lệ lợi nhuận, tăng trưởng, kích cỡ công ty kiểm toán và nhóm ngành công nghiệp Các tác giả xây dựng chỉ số công bố có trọng số chứa 41 mục thông tin tài chính và phi tài chính mà công ty có thể tự nguyện tiết lộ Một bảng câu hỏi

đã được gửi đến một số biên tập viên tài chính và các thành viên sàn giao dịch chứng khoán, được xem là hai nhóm quan trọng của người dùng chuyên nghiệp tại New Zealand Hai nhóm này được yêu cầu xác định tầm quan trọng tương đối của mỗi thông tin công bố trong số 41 mục điểm trên thang điểm từ 1 đến 5, 5 là rất quan trọng Các kết quả nghiên cứu này đã tiết lộ rằng có sự khác biệt giữa hai nhóm trong đáng giá tầm quan trọng của việc công bố một mục thông tin cụ thể Một vài trong số những khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy chỉ có quy mô công ty có liên quan tích cực đáng kể đến mức độ công

bố thông tin tự nguyện

Lutfi (1989) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để điều tra về công bố thông tin tài chính tự nguyện tại 122 công ty Anh trên thị trường chứng khoán chưa niêm yết Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng đã thử nghiệm giả thuyết về các yếu tố quyết định có thể tác động đến công bố thông tin tự nguyện xuất phát từ lý thuyết đại diện, lý thuyết công ty, và các lý thuyết rủi ro thông tin Các biến giải thích được lựa chọn để kiểm tra là: quy mô doanh nghiệp, hoạt động ở nước ngoài, cơ cấu, lợi nhuận, sự đa dạng hóa, sở hữu vốn của giám đốc, sự tồn tại của các chương trình tùy chọn cổ phần cho ban điều hành, sự tồn tại của giám đốc không hành trong Hội đồng quản trị, tình trạng thuế, khu vực công nghiệp và các công ty kiểm toán Nhìn chung, kết quả nghiên cứu cho thấy không hỗ trợ cho mối quan hệ giữa công

bố thông tin tự nguyện và công ty kiểm toán, số lượng các giám đốc không điều hành trong Hội đồng quản trị, tình trạng thuế, và số lượng các cổ đông lớn

Trang 18

Cooke (1991) cũng đã điều tra về mức độ công bố tự nguyện trong báo cáo thường niên của 48 công ty tại Nhật Bản trong năm 1988 Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện và một số đặc điểm của công ty,

cụ thể là quy mô doanh nghiệp (được đo bằng số lượng cổ đông, tổng tài sản và doanh thu), tình trạng niêm yết trên thị trường chứng khoán, và loại ngành công nghiệp Cook (1991) đã xây dựng một danh sách công bố thông tin tự nguyện chứa

106 mục điểm dựa theo các nghiên cứu công bố trước đó Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy để kiểm tra mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện và các biến độc lập Kết quả cho thấy rằng mức độ công bố thông tin tự nguyện có mối liên kết tích cực với kích thước và tình trạng niêm yết trên thị trường chứng khoán Ngoài ra, các công ty sản xuất được phát hiện là công bố thông tin tự nguyện nhiều hơn so với các loại ngành khác

Malone et al (1993) đã đo lường mức độ công khai tài chính trong báo cáo thường niên của 125 công ty dầu mỏ và khí đốt Sử dụng chỉ số công bố có trọng số gồm 129 mục thông tin để đánh giá mức độ công khai thông tin tài chính Nghiên cứu xem xét liệu có mối liên quan giữa mức độ công bố thông tin tài chính và đặc điểm công ty được chọn Phân tích hồi quy từng bước được sử dụng và tác giả chỉ tìm thấy ba đặc điểm của công ty (gồm trạng thái niêm yết, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, và số lượng cổ đông) có ý nghĩa thống kê trong việc giải thích các mức độ công bố thông tin tài chính

Tại Malaysia, Hossain et al (1994) đã tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm

để kiểm tra tác động của sáu đặc điểm công ty (quy mô doanh nghiệp, cơ cấu sở hữu, đòn bẩy, tài sản hiện hữu, kích thước của các công ty kiểm toán, và tình trạng niêm yết nước ngoài) đến mức độ bố tự nguyện chung trong báo cáo thường niên của 67 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Kuala Lumpur Mẫu nghiên cứu được lựa chọn ngẫu nhiên từ 279 các công ty phi tài chính vào năm

1991 Để đánh giá mức độ công bố thông tin tự nguyện, tác giả đã thiết lập chỉ số công bố có chứa 78 mục thông tin tự nguyện dựa trên các tài liệu trước đó Việc phân tích các kết quả cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp, cơ cấu sở hữu và đầu tư

Trang 19

nước ngoài có liên quan đáng kể đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty Malaysia trong các báo cáo thường niên của họ Mặt khác, đòn bảy, tài sản hiện hữu và kích thước của các công ty kiểm toán không phải là những yếu tố quan trọng trong việc giải thích mức độ công bố tự nguyện của các doanh nghiệp

Meek et al (1995) đã tiến hành kiểm tra mối liên quan giữa một số đặc điểm công ty và mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của các tập đoàn đa quốc gia tại Hoa Kỳ, Anh và châu Âu trong năm 1989 Một danh sách kiểm tra mức độ công bố chứa 85 mục thông tin tự nguyện đã được phát triển Bằng cách sử dụng hồi quy đa tuyến tính, kết quả cho thấy rằng quy mô công ty, quốc gia,

và tình trạng niêm yết quốc tế là ba biến quan trọng nhất giải thích sự khác biệt về mức độ công bố tự nguyện của các công ty trong mẫu điều tra

Tại Thụy Sĩ, Raffournier (1995) đã đánh giá mức độ tự nguyện công bố thông tin trong báo cáo thường niên của 161 công ty niêm yết Thụy Sĩ Nghiên cứu này cũng xét mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện và một số đặc điểm của các công ty, cụ thể là quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, cơ cấu sở hữu, đòn bảy,

tỷ lệ tài sản cố định, kích thước của các công ty kiểm toán, tính quốc tế (đại diện bởi

tỷ lệ xuất khẩu so với tổng doanh thu), và loại ngành công nghiệp Tác giả sử dụng một chỉ số công bố chứa 30 mục thông tin tự nguyện Phân tích hồi quy đơn và đa biến tìm thấy rằng quy mô doanh nghiệp và tính quốc tế liên quan đáng kể với mức

độ công bố thông tin tự nguyện

Hossain et al (1995) khảo sát thực nghiệm mối quan hệ giữa năm đặc điểm công ty là quy mô, đòn bảy, tài sản hiện hữu, loại công ty kiểm toán, và tình trạng niêm yết nước ngoài và mức độ công bố thông tin tự nguyện trong các báo cáo thường niên của 55 công ty phi tài chính niêm yết New Zealand Mẫu này bao gồm

15 công ty niêm yết ở cả New Zealand và sàn giao dịch chứng khoán nước ngoài và

40 công ty được lựa chọn ngẫu nhiên chỉ niêm yết tại New Zealand Để đánh giá mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty, Hossain et al (1995) đã sử dụng chỉ số công bố không trọng số bao gồm 95 mục thông tin tự nguyện Sử dụng phân tích hồi quy, kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy quy mô doanh nghiệp,

Trang 20

đòn bảy và tình trạng niêm yết nước ngoài có liên quan về mặt thống kê với mức độ công bố thông tin tự nguyện, trong khi loại hình kiểm toán và tài sản hiện hữu không có tác động đáng kể đến mức độ công bố thông tin tự nguyện

Gray et al (1995) đã nghiên cứu tác động của áp lực thị trường vốn quốc tế đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của116 công ty

đa quốc gia Mỹ và 64 công ty đa quốc gia Anh năm 1989 Để đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện, một danh sách kiểm tra gồm 128 mục thông tin tự nguyện được xây dựng Sử dụng phân tích phương sai (ANOVA), kết luận chỉ ra rằng các công ty đa quốc gia Mỹ niêm yết quốc tế tự nguyện công bố nhiều thông tin về chiến lược và phi tài chính so với các công ty niêm yết trong nước Trong khi

đó, không có sự khác biệt về mức độ công bố thông tin tự nguyện giữa các công ty

đa quốc gia niêm yết quốc tế và trong nước tại Anh

Tại Tây Ban Nha, Inchausti (1997) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết phi tài chính Mức độ công

bố thông tin được đo bằng cách sử dụng một chỉ số công bố có chứa 50 mục thông tin (bao gồm cả tự nguyện và bắt buộc) Inchausti (1997) đã lựa chọn 138 công ty niêm yết: 49 công ty vào năm 1998, 47 công ty vào năm 1990, và 42 công ty vào năm 1991 Mối liên hệ giữa mức độ công bố thông tin và các biến độc lập đã được kiểm tra bằng cách sử dụng phân tích hồi quy từng bước và phân tích dữ liệu bảng Trong nghiên cứu này, chỉ có ba biến độc lập, cụ thể là quy mô doanh nghiệp, công

ty kiểm toán và niêm yết chứng khoán đã được tìm thấy có ảnh hưởng đến mức công bố trên báo cáo thường niên

Nghiên cứu của Depoers (2000) đánh giá thực nghiệm mức độ công bố thông tin tự nguyện trong các báo cáo thường niên của 102 công ty phi tài chính niêm yết được lựa chọn ngẫu nhiên trên thị trường chứng khoán Paris vào năm 1995 và liên kết của nó với các đặc điểm công ty, cụ thể là: quy mô, hoạt động nước ngoài (đo bằng tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu bán hàng), chi phí sở hữu (được đo bằng tổng tài sản cố định), áp lực lao động, đòn bảy, kích thước công ty kiểm toán và cơ cấu

sở hữu Tác giả đã phát triển chỉ số công bố bao gồm 65 mục thông tin tự nguyện

Trang 21

Nghiên cứu này cho thấy mức độ công bố thông tin tự nguyện liên quan thống kê với quy mô doanh nghiệp, hoạt động nước ngoài, chi phí sở hữu, và áp lực lao động Tại Jordan, Naser et al (2002) nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa các đặc điểm của công ty và mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của

84 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường tài chính Amman trong năm 1998,

và hoạt động trong cả hai lĩnh vực sản xuất và dịch vụ Chỉ số công bố thông tin bao gồm 104 mục được xây dựng để đo lường mức độ công bố thông tin của công ty

Để kiểm tra sự liên hệ giữa việc công bố thông tin và đặc điểm công ty được lựa chọn, phân tích hồi quy đa biến đã được sử dụng Những phát hiện của nghiên cứu chỉ ra rằng mức vốn hóa thị trường, công ty kiểm toán, tỷ lệ đòn bảy, doanh thu và

tỷ suất lợi nhuận báo cáo một liên kết tích cực và đáng kể

Haniffa and Cook (2002) đã tiến hành một nghiên cứu để kiểm tra mối quan

hệ giữa một số biến độc lập và mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết của Malaysia Các biến độc lập được phân loại thành ba nhóm: biến quản trị doanh nghiệp, biến văn hóa, và biến đặc điểm công ty Mẫu nghiên cứu bao gồn 167 công ty phi tài chính đã công bố báo cáo thường niên vào cuối tháng 12 năm 1995 Tác giả đã sử dụng chỉ số công bố bao gồm 65 mục thông tin tự nguyện Việc lựa chọn các mục trong việc xây dựng chỉ số công bố thông tin được dựa trên các tài liệu có liên quan và áp dụng cho môi trường Malaysia Các kết quả, dựa trên mô hình hồi quy, chỉ ra rằng hai biến quản trị công

ty (các thành viên gia đình trong HĐQT và chủ tịch HĐQT không điều hành), và nhóm các đặc điểm công ty liên quan đáng kể với mức độ công bố thông tin tự nguyện Mặt khác, các biến văn hóa đã được tìm thấy không liên quan đến mức độ công bố thông tin tự nguyện

Chau and Gray (2002) đã kiểm tra mối quan hệ của cơ cấu sở hữu với mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết tại

2 nước Hồng Kông và Singapore Để đảm bảo rằng các mẫu được lựa chọn từ Hồng Kông và Singapore là đồng nhất, người nghiên cứu chỉ chọn những công ty trong ngành công nghiệp Các công ty này bao gồm các ngành: thực phẩm và đồ uống,

Trang 22

vận chuyển và giao thông vận tải, xuất bản và in ấn, thiết bị điện tử và công nghệ, vật liệu xây dựng và xây dựng Một mẫu 60 công ty niêm yết đã được lựa chọn ngẫu nhiên từ Hồng Kông cho nghiên cứu này, đại diện cho khoảng 32% tổng số các công ty Một quy trình tương tự đã được thực hiện đối với các công ty Singapore, 62 công ty niêm yết được chọn ra từ tổng 133 công ty (chiếm 47%) Báo cáo thường niên năm 1997 đã được thu thập cho mỗi công ty trong mẫu Một danh sách kiểm tra mức độ công bố đã được phát triển để đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện gồm113 mục điểm Các mục thông tin được lựa chọn dựa trên các nghiên cứu liên quan và khảo sát toàn diện quốc tế về kế toán và báo cáo Một phân tích hồi quy tuyến tính được sử dụng để kiểm tra sự liên quan giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện và các biến độc lập Các kết quả thực nghiệm cho thấy

có một mối liên hệ tích cực giữa quyền sở hữu và mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết tại Hồng Kông và Singapore Hơn nữa, các kết quả cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của đặc điểm ngữ cảnh tại Hồng Kông và Singapore Chau và Gray (2002) kết luận rằng các công ty địa phương và có kiểm soát gia đình có ít động lực để công bố thông tin vượt quá yêu cầu bắt buộc vì nhu cầu công bố thông tin công khai là tương đối yếu so với các công ty với quyền sở hữu cổ phần lớn hơn

Leventis and Weetman (2004) đã điều tra mối liên hệ giữa các biến đặc điểm công ty và mức độ công bố thông tin tự nguyện của 87 công ty niêm yết phi tài chính niêm yết trên sàn chứng khoán Athens năm 1997 Một danh mục công bố tự nguyện được phát triển, gồm 72 mục thông tin liên quan đến thị trường Hy Lạp Sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính, những phát hiện chỉ ra rằng mức độ tổng thể về công bố thông tin của công ty trong mẫu là tương đối thấp ở 37,57% Kết quả cũng cho thấy biến có ý nghĩa đáng kể nhất là quy mô doanh nghiệp Biến quan trọng khác là tình trạng niêm yết và lợi nhuận cổ phiếu

Gul và Leung (2004) đã tiến hành một nghiên cứu để kiểm tra mối quan hệ giữa cơ cấu lãnh đạo hội đồng quản trị, cụ thể là kiêm nhiệm của CEO, tỷ lệ các giám đốc bên ngoài trong HĐQT và mức độ công bố thông tin tự nguyện của 385

Trang 23

công ty niêm yết phi tài chính trong năm 1996 tại Hồng Kông Một danh mục công

bố gồm 44 mục thông tin được phát triển để đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện Tác giả đã sử dụng các phương pháp tiếp cận không trọng số để tính toán

số điểm công bố thông tin tự nguyện Sử dụng phân tích hồi quy đa biến, kết quả cho thấy rằng sự kiêm nhiệm vị trí của CEO có liên quan đến mức độ công bố thông tin tự nguyện thấp hơn Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra các công ty có tỷ lệ các giám đốc bên ngoài trong hội đồng quản trị liên quan với việc công bố tự nguyện thấp hơn

Trong một nghiên cứu tại Ả Rập Saudi, Alsaeed (2006) kiểm tra tác động của một số đặc điểm của công ty đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trong các báo cáo thường niên của một mẫu gồm 40 công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Ả Rập năm 2003 Một danh sách công bố bao gồm 20 mục thông tin được sử dụng như một thước đo để đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện trong các báo cáo thường niên Mối liên hệ giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện và các đặc điểm đã được kiểm tra bằng cách sử dụng phân tích hồi quy đa tuyến tính Các kết quả được tìm ra bởi Alsaeed (2006) cho thấy rằng có một liên kết tích cực đáng kể giữa quy mô doanh nghiệp và mức độ công bố tự nguyện

Ở Trung Quốc, Huafang and Jianguo (2007) kiểm tra tác động của cơ cấu sở hữu (gồm sở hữu nhóm, quyền sở hữu quản lý, sở hữu nhà nước, quyền sở hữu pháp nhân, và sở hữu nước ngoài) và thành phần hội đồng quản trị (đo bằng tỷ lệ các giám đốc độc lập và kiêm nhiệm vị trí của CEO) đến công bố thông tin tự nguyện của 559 công ty niêm yết tại Trung Quốc Chỉ số công bố chính thức gồm 30 mục thông tin được phát triển để đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện của công

ty trong các báo cáo thường niên năm 2002 Các kết quả thống kê phân tích cho thấy hai khía cạnh của quyền sở hữu, cụ thể là sở hữu nhóm và sở hữu nước ngoài

có mối quan hệ ý nghĩa với mức độ công bố tự nguyện Tuy nhiên, ba khía cạnh khác là quyền sở hữu quản lý, sở hữu nhà nước và sở hữu pháp nhân không có ý nghĩa liên quan đến công bố tự nguyện Kết quả cũng cho thấy rằng các biến thành phần hội đồng quản trị liên quan đáng kể đến mức độ công bố thông tin tự nguyện

Trang 24

Agca và Önder (2007) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các biến độc lập nhất định và mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ niêm yết trên Giao dịch chứng khoán Istanbul vào năm 2003 Mẫu nghiên cứu gồm

51 doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác nhau Các ngân hàng và công ty bảo hiểm

đã được loại ra khỏi mẫu Các biến độc lập là: quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, công

ty kiểm toán, cơ cấu sở hữu, lợi nhuận và công ty đa quốc gia Một danh sách kiểm tra công bố tự nguyện gồm 87 mục điểm đã được sử dụng để đánh giá mức độ công

bố thông tin tự nguyện Các nhà nghiên cứu áp dụng mô hình hồi quy và kết quả tiết lộ rằng các biến công ty kiểm toán, lợi nhuận, và quy mô công ty là có ý nghĩa đối với mức độ công bố tổng thể

Yuen et al (2009) đã điều tra tác động của các đặc điểm về sở hữu, cơ chế quản trị doanh nghiệp, và đặc điểm công ty cụ thể đến công bố tự nguyện của 200 công ty công nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán Thượng Hải ở Trung Quốc Các đặc điểm cơ cấu sở hữu và cơ chế quản trị công ty bao gồm: mức

độ tập trung sở hữu, quyền sở hữu của nhà nước và các tổ chức nhà nước có liên quan, quyền sở hữu cá nhân, các giám đốc điều hành CEO cũng là Chủ tịch Hội đồng quản trị, sự độc lập của hội đồng quản trị, và sự tồn tại của ủy ban kiểm toán Các đặc điểm công ty cụ thể là: quy mô doanh nghiệp, đòn bảy, lợi nhuận, và loại ngành công nghiệp Để đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện, một chỉ số công bố đã được phát triển gồm 34 mục thông tin Mô hình hồi quy được sử dụng

để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến độc lập và mức độ công bố thông tin tự nguyện Kết quả hồi quy cho thấy quyền sở hữu cá nhân, sự tồn tại của ủy ban kiểm toán, quy mô doanh nghiệp, và đòn bảy có liên quan đáng kể đến mức độ công bố thông tin tự nguyện

Jiang và Habib (2009) đã đánh giá tác động của các loại hình tập trung quyền

sở hữu đến thực hành công bố thông tự nguyện của 116 công ty phi tài chính đã niêm yết trên sàn chứng khoán New Zealand từ năm 2001 đến năm 2005 Các tổ chức tài chính và các công ty nước ngoài niêm yết trên thị trường chứng khoán New Zealand bị loại khỏi mẫu Một chỉ số công bố không trọng gồm 39 mục thông tin

Trang 25

được xây dựng dựa trên các chỉ số công bố thông tin đã được sử dụng trong các nghiên cứu trước đó Các mục thông tin được kiểm tra đối chiếu với các yêu cầu bắt buộc về công bố báo cáo thường niên tại New Zealand để chắc chắn rằng chỉ số công bố phản ánh các thông tin tự nguyện Các mô hình hồi quy được thiết kế để đánh giá ảnh hưởng của sự tập trung quyền sở hữu đến mức độ công bố tự nguyện Kết quả cho thấy rằng mối quan hệ giữa biến độc lập và công bố thông tin có xu hướng phi tuyến tính

Nghiên cứu của Akhtaruddin et al (2009) đã tìm hiểu mối quan hệ giữa năm biến quản trị doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin tự nguyện của 105 công ty phi tài chính niêm yết tại Malaysia Các biến quản trị doanh nghiệp được khảo sát là kích thước hội đồng quản trị, tỷ lệ các giám đốc độc lập không điều hành, sở hữu cổ phần bên ngoài, kiểm soát của gia đình, và tỷ lệ phần các thành viên ủy ban kiểm toán trong tổng số thành viên hội đồng quản trị Để đo mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp trong mẫu Một danh sách công bố tự nguyện chứa 74 mục thông tin đã được phát triển dưới sự tham khảo các danh sách kiểm tra đã được

sử dụng bởi các nghiên cứu tương tự Cách tiếp cận tiết lộ không trọng số được áp dụng Các tác giả đã áp dụng mô hình hồi quy để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến giải thích và mức độ công bố thông tin tự nguyện Kết quả tìm thấy mối liên kết tích cực giữa kích thước hội đồng quản trị, tỷ lệ giám đốc độc lập không điều hành, sở hữu cổ phần bên ngoài và mức độ công bố thông tin tự nguyện Mặt khác, những phát hiện cũng cho thấy mức độ công bố thông tin tự nguyện có liên quan tiêu cực với kiểm soát của gia đình và tỷ lệ các thành viên ủy ban kiểm toán

Trong một nghiên cứu gần đây ở một nước đang phát triển, Rouf (2010) điều tra thực nghiệm mối quan hệ giữa đặc điểm công ty, các thuộc tính quản trị doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin tự nguyện trong các báo cáo hàng năm của 120 công ty niêm yết phi tài chính tại Bangladesh Các đặc điểm công ty là quy mô doanh nghiệp và lợi nhuận, các thuộc tính quản trị doanh nghiệp gồm giám đốc không điều hành, ủy ban kiểm toán, cơ cấu lãnh đạo của hội đồng quản trị, kích thước hội đồng quản trị, và cơ cấu sở hữu Chỉ số công bố tự nguyện gồm 68 mục

Trang 26

thông tin đã được phát triển Các nhà nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy OLS để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến độc lập và mức độ công bố thông tin tự nguyện Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng có một mối liên quan giữa kích thước hội đồng quản trị, cơ cấu ban lãnh đạo, ủy ban kiểm toán và mức độ công bố thông tin tự nguyện Ngược lại, mức độ công bố thông tin tự nguyện đã được tìm thấy có quan

hệ tiêu cực với tỷ lệ giám đốc không điều hành, cơ cấu sở hữu và lợi nhuận Các kết quả cũng cho thấy mức độ công bố thông tin tự nguyện trung bình trong mẫu nghiên cứu là 47,74%, số điểm cao nhất đạt được là 72% và số điểm thấp nhất là 18%

Tại Iran, Khodadadi et al (2010) đánh giá thực nghiệm mối quan hệ giữa một

số thuộc tính quản trị doanh nghiệp và mức độ công bố tự nguyện của 106 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran trong giai đoạn 2001-2005 Các thuộc tính quản trị doanh nghiệp được khảo sát là: tỷ lệ giám đốc độc lập trong hội đồng quản trị, sự tồn tại của các cá nhân chi phối (kiêm nhiệm chức vụ CEO và Chủ tịch hội đồng quản trị) và tỷ lệ các nhà đầu tư tổ chức Trong nghiên cứu này, quy

mô doanh nghiệp và các loại hình kiểm toán được sử dụng như là các biến kiểm soát Để đo lường mức độ công bố tự nguyện, một danh sách công bố không trọng

số chứa 31 mục thông tin được phát triển dựa trên các mục công bố tự nguyện đã được sử dụng trong các nghiên cứu tương tự trước đây Phân tích hồi quy được áp dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến độc lập và mức độ công bố thông tin tự nguyện Kết quả cho thấy rằng không có mối liên quan giữa tỷ lệ phần các giám đốc độc lập, kiêm nhiệm vị trí CEO/Chủ tịch hội đồng quản trị và mức độ công bố thông tin tự nguyện Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu cho thấy một mối liên quan đáng kể giữa tỷ lệ đầu tư tổ chức và mức độ công bố thông tin tự nguyện

Ngoài các nghiên cứu về mức độ công bố thông tin tự nguyện ở các công ty phi tài chính, một số nhà khoa học bắt đầu tâm đến công bố thông tin trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Yêu cầu về tính minh bạch và công bố thông tin là một trong

“ba trụ cột” của Basel II Xemxét tính minh bạch là một yếu tố quan trọng của một

hệ thống giám sát ngân hàng có hiệu quả và an toàn

Trang 27

Basel II khuyến cáo các ngân hàng trong báo cáo tài chính và các thông tin khác công bố cho công chúng phải cung cấp thông tin kịp thời, tạo điều kiện đánh giá việc tham gia thị trường của các ngân hàng Tuân thủ các yêu cầu về minh bạch thông tin sẽ mang lại những giá trị nhất định cho tất cả cổ đông, khách hàng, đối tác

và nội bộ của các các ngân hàng

Nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên đo lường mức độ công bố thông tin của các NHTM được thực hiện bởi Kahl and Belkaoui (1981) Bằng việc điều tra mức độ công bố thông tin của 70 NHTM tại 18 quốc gia, nghiên cứu cung cấp một số bằng chứng thực nghiệm liên quan đến tính đầy đủ của thông tin công bố thông qua việc điều tra chỉ số công bố thông tin có trọng số chứa 30 mục điểm được lựa chọn dựa trên các tài liệu tài chính kế toán và đã chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa mức độ thông tin công bố với kích thước (đo bằng tổng tài sản) của các NHTM Bên cạnh

đó, kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên của các NHTM có sự khác biệt giữa các quốc gia

Hossain (2001) đã điều tra thực nghiệm mức độ công bố thông tin của 25 ngân hàng ở Bangladesh Tác giả đã đưa vào chỉ số công bố thông tin 61 mục điểm để điều tra tác động của quy mô, lợi nhuận và công ty kiểm toán đến mức độ công bố thông tin, cả tự nguyện và bắt buộc Kết quả chỉ ra rằng biến quy mô và lợi nhuận

có ý nghĩa thống kê trong việc xác định mức độ công bố thông tin của các NHTM tại Bangladesh Tuy nhiên, biến công ty kiểm toán không có ý nghĩa trong mô hình Nghiên cứu của Chipalkatti (2002) thực hiện tại 17 ngân hàng ở Ấn Độ để tìm hiểu tính minh bạch của thông tin công bố trên báo cáo thường niên Dựa trên việc xây dựng bảng điểm đo lường tính minh bạch ngân hàng với 90 mục thông tin theo các khuyến nghị của Ủy ban Basel và IAS 30, nghiên cứu của Chipalkatti, N cho thấy các ngân hàng lớn hơn và có sử dụng đòn bẩy thấp hơn có điểm công bố thông tin cao hơn đáng kể, tức là cung cấp thông tin minh bạch hơn Trong khi đó, kết quả cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt đáng kể trong điểm công bố thông tin của các ngân hàng dựa trên mức lợi nhuận

Trang 28

Để cải thiện khả năng của các bên tham gia thị trường trong việc đánh giá giá

trị của các ngân hàng, nghiên cứu của Baumann and Nier (2003) đã giải quyết các

vấn đề phát triển một tập hợp các yêu cầu về công bố theo Basel II Bằng cách sử dụng một bộ dữ liệu trên gần 600 ngân hàng tại 31 quốc gia trong giai đoạn 1993-

2000, phát hiện của các tác giả xác nhận giả thuyết rằng việc công bố thông tin sẽ giảm biến động giá cổ phiếu, tăng giá trị thị trường và tăng tính hữu ích trong việc đánh giá các dự đoán

Abdul Hamid (2004) điều tra thực nghiệm mối quan hệ giữa các đặc tính công

ty, gồm kích thước, kết quả hoạt động tài chính (đo lường bởi ROE và ROA), số năm hoạt động, tình trạng niêm yết, tiểu sử công ty và mức độ công bố các thông tin

xã hội của 48 ngân hàng và công ty tài chính ở Malaysia Để đo lường tác động của mỗi biến độc lập đến mức độ công bố thông tin, mô hình hồi quy được sử dụng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ công bố các thông tin xã hội có mối quan hệ đáng kể và tích cực với kích thước, tình trạng niêm yết và số năm hoạt động Ngoài

ra, nghiên cứu cho thấy không có sự liên hệ giữa các biến lợi nhuận và mức độ công

bố Cuối cùng, đối với biến tiểu sử công ty, kết quả tiết lộ mối quan hệ không đáng

kể và tiêu cực

Một nghiên cứu khác của tác giả Nier and Baumann (2006) điều tra thực nghiệm mức độ công bố thông tin tự nguyện của 729 ngân hàng tại 32 quốc gia Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ công bố thông tin tự nguyện yêu cầu các ngân hàng giảm thiểu các hoạt động rủi ro và gia tăng sự đảm bảo cho các rủi ro này bằng vốn chủ sở hữu

Hooi (2007) điều tra thực nghiệm tác động của văn hóa quốc gia đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên năm 2004 của 37 NHTM niêm yết Mẫu các NHTM được lựa chọn từ 17 quốc gia, bao gồm các nước phát triển và đang phát triển Việc lựa chọn các quốc gia được quyết định dựa trên sự sẵn có về dữ liệu của

5 giá trị văn hóa là chủ nghĩa cá nhân, sự xem trọng nam giới, khoảng cách về quyền lực, trốn thuế đáng nghi ngờ và định hướng dài hạn Để đo lường mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên của NHTM, tác giả sử dụng danh sách

Trang 29

kiểm tra khảo sát của Basel 2001, gồm 104 mục thông tin công bố tự nguyện và bắt buộc Sử dụng phân tích hồi quy đa biến, nghiên cứu tìm thấy chỉ có duy nhất một yếu tố văn hóa có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ công bố thông tin của hệ thống NHTM là hoạt động trốn thuế Tác giả cũng chỉ ra rằng công bố thông tin tại tất cả các quốc gia là ở mức trung bình 48%

Cũng trong thời gian này, Hoissan and Taylor (2007) đã điều tra thực nghiệm mối quan hệ giữa các đặc điểm của NHTM và mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của 20 ngân hàng tư nhân nội địa tại Bangladesh Các đặc điểm được kiểm tra là kích thước NHTM (đo bằng logarit của tài sản), công ty kiểm toán và khả năng sinh lợi Để lựa chọn các mục thông tin tự nguyện công bố, tác giả xem xét các nghiên cứu đã sử dụng mục lục công bố như phương pháp luận, công

bố thông tin đối với các tổ chức tín dụng được yêu cầu bởi IAS 30 và các mục thông tin được quan tâm bởi các nhóm người sử dụng tiềm năng (cổ đông, nhà phân tích tài chính, quan chức chính phủ và các kế toán viên chuyên nghiệp) Một danh mục thông tin 45 điểm được mong đợi sẽ tự nguyện công bố trên báo cáo thường niên của các NHTM tại Bangladesh Kết quả nghiên cứu tiết lộ rằng kích thước ngân hàng và công ty kiểm toán là các biến ảnh hưởng đáng kể quyết định mức độ công bố thông tin của các ngân hàng Ngược lại, không có mối quan hệ rõ ràng giữa mức độ công bố thông tin tự nguyện và biến lợi nhuận

Trong một nghiên cứu thực nghiệm khác, Hoissain and Reaz (2007) đã điều tra mức độ công bố thông tin tự nguyện của 38 ngân hàng niêm yết tại Ấn Độ và 6 biến đặc điểm ngân hàng, bao gồm: kích thước (đo bằng logarit của tổng tài sản), số năm hoạt động, tình trạng niêm yết, sự phức tạp trong hoạt động kinh doanh, thành phần hội đồng quản trị và tài sản hiện hữu Danh mục công bố được xây dựng chứa

65 mục điểm thông tin tự nguyện Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng Ấn

Độ công bố một số lượng đáng kể các thông tin tự nguyện Ngoài ra, nghiên cứu chỉ

ra rằng biến kích thước ngân hàng và tài sản hiện hữu có ý nghĩa trong việc giải thích mức độ công bố thông tin, trong khi các biến số năm hoạt động, thành phần hội đồng quản trị, tình trạng niêm yết và sự phức tạp trong kinh doanh được tìm

Trang 30

thấy không có quan hệ đáng kể với mức độ công bố tự nguyện trong báo cáo thường niên Người nghiên cứu cũng nhận thấy các ngân hàng ở khu vực nhà nước công bố nhiều thông tin tự nguyện hơn so với các ngân hàng tư nhân

Tiếp tục một nghiên cứu về công bố thông tin tại hệ thống ngân hàng, Hossain (2008) điều tra thực nghiệm mức độ công bố thông tin cả bắt buộc và tự nguyện trên báo cáo thường niên của mẫu gồm 38 ngân hàng niêm yết ở Ấn Độ Tác giả cũng kiểm tra mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin và các đặc điểm, bao gồm số năm hoạt động, kích thước, lợi nhuận, sự phức tạp trong kinh doanh, tài sản hiện hữu, thành phần hội đồng quản trị và kỷ luật thị trường Danh mục công bố được sử dụng có 184 mục điểm chứa 101 mục công bố bắt buộc và 83 mục công bố

tự nguyện Việc lựa chọn các mục điểm công bố bắt buộc dựa theo các quy định của pháp luật, trong khi công bố tự nguyện dựa vào các nghiên cứu trước đó và Ủy ban Basel Những phát hiện chỉ ra rằng biến kích thước, lợi nhuận, thành phần hội đồng quản trị và kỷ luật thị trường có tác động đáng kể đến việc giải thích mức độ công

bố thông tin Kết quả cũng chỉ ra rằng các ngân hàng tại Ấn Độ rất tuân thủ các quy định liên quan đến công bố thông tin bắt buộc nhưng công bố tự nguyện còn nhiều hạn chế

Maingot and Zeghal (2008) điều tra thực tiễn công bố thông tin về quản trị công ty tại 8 ngân hàng Canada Một bảng điểm gồm 54 mục thông tin được phát triển để đo lường công bố về quản trị công ty trên báo cáo thường niên năm 2003 của các ngân hàng Danh mục thông tin công bố này được lựa chọn dựa trên các nghiên cứu trước đó và hướng dẫn về quản trị công ty của sàn giao dịch Toronto Nghiên cứu kiểm tra tác động của kích thước ngân hàng (đo bằng tổng tài sản) đến công bố thông tin quản trị công ty và kết quả cho tác động tích cực

Ở Kenya, Barako and Brown (2008) điều tra thực nghiệm ảnh hưởng của 3 đặc điểm quản trị công ty đến mức độ công bố thông tin xã hội trên báo cáo thường niên của 40 ngân hàng Các biến quản trị công ty được kiểm tra trong nghiên cứu này là: thành phần hội đồng quản trị (sự độc lập của hội đồng quản trị), giới tính của các thành viên trong hội đồng quản trị và người nước ngoài trong hội đồng quản trị

Trang 31

Để đo lường mức độ công bố thông tin tư nguyện, một chỉ số công bố gồm 22 mục thông tin xã hội được phát triển Danh mục này được tạo nên dựa trên các nghiên cứu trước đó về công bố thông tin xã hội Kết quả nghiên cứu của phân tích hồi quy cho thấy biến thành phần hội đồng quản trị có liên hệ đáng kể với mức độ công bố thông tin xã hội trên báo cáo thường niên Thêm vào đó, tỷ lệ người nước ngoài trong thành phần hội đồng quản trị được tìm thấy là không có ý nghĩa đáng kể với mức độ công bố tự nguyện Nhìn chung, mức độ công bố về xã hội của các ngân hàng Kenya rất thấp, chỉ ở mức 15% Cụ thể, các ngân hàng không tiết lộ các thông tin quan trọng liên quan đến tuyển dụng, các nhóm làm việc đặc biệt, hỗ trợ người lao động nghỉ hưu, năng suất nhân viên và doanh thu Ngoài ra, rất ít ngân hàng công bố thông tin về chính sách môi trường và hoạt động môi trường đã tham gia, trong khi chỉ có 3 ngân hàng đóng góp cho chiến dịch AIDS quốc gia

Kribat (2009) đã tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm để đo lường mức độ công bố thông tin chung của các ngân hàng ở Libya trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2006 Quá trình phân tích để kiểm tra mối quan hệ giữa bốn đặc điểm của các ngân hàng (kích thước, số năm hoạt động, lợi nhuận và cấu trúc sở hữu) và mức độ công bố thông tin tổng hợp Để đo lường mức độ công bố, nghiên cứu này phát triển một danh sách kiểm tra gồm 126 mục thông tin cả tự nguyện và bắt buộc trong báo cáo thường niên của một mẫu 11 ngân hàng tư nhân và sở hữu nhà nước Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng cả lợi nhuận và số năm hoạt động có một ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin tài chính chung trong khi kích thước ngân hàng

có tác động tiêu cực Các biến tương tự được kiểm tra bởi các nhà nghiên cứu trước

để điều tra ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các ngân hàng đều nhận thấy kích thước ngân hàng có tác động tích cực đến mức độ công bố trong khi số năm hoạt động không có ý nghĩa đáng kể trong việc giải thích mức độ công bố (Ví dụ: Hossain and Taylor, 2007; Hossain and Reaz, 2007; Hossain, 2008) Cuối cùng,

sự đáng tin cậy trong kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Kribat (2009) vẫn không chắc chắn bởi vì không có yêu cầu về công bố thông tin nào áp dụng cho các NHTM ở Lybia tại thời điểm nghiên cứu và số lượng báo cáo thường niên thu thập

từ các ngân hàng là không đồng nhất

Trang 32

Một nghiên cứu thực nghiệm khác thực hiện bởi Menassa (2010) nỗ lực điều tra mức độ công bố thông tin xã hội của 24 NHTM tại Lebanon và kiểm tra mối quan hệ với các đặc điểm ngân hàng, bao gồm kích thước, kết quả hoạt động tài chính, tình trạng niêm yết và sự hiện diện ở nước ngoài Nghiên cứu này sử dụng việc đếm số câu như thành phần phân tích chính để xác định và phân tích loại và số lượng thông tin xã hội công bố trên báo cáo thường niên trong năm 2006 Kết quả cung cấp bằng chứng của việc sử dụng phổ biến hiện tượng này bởi các ngân hàng như một phương tiện để giao tiếp với cổ đông Thêm vào đó, nghiên cứu tiết lộ rằng các ngân hàng xem trọng hơn các công bố về nguồn lực con người, sản phẩm và khách hàng, trong khi sự hiện diện và mức độ công bố thông tin về môi trường vẫn còn rất yếu Một mối liên hệ rõ ràng đã được tìm thấy giữa mức độ công bố thông tin xã hội với các biến kích thước và kết quả hoạt động tài chính Ngược lại, không tìm được quan hệ thống kê có ý nghĩa với số năm hoạt động Cuối cùng, nghiên cứu này đề xuất không có sự khác biệt trong hành vi công bố thông tin xã hội giữa ngân hàng niêm yết và không niêm yết, ngân hàng có sự hiện diện ở nước ngoài và ngân hàng chỉ hoạt động trên lãnh thổ Lebanon

Agyei-Mensah (2012) thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm điều tra ảnh hưởng của các đặc điểm (như kích thước, lợi nhuận, tỷ số nợ trên vốn, khả năng thanh khoản và kích thước công ty kiểm toán) đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên năm 2009 của 21 ngân hàng thuộc vùng nông thôn Ashanti của nước Ghana Để đánh giá mức độ công bố thông tin tự nguyện, người nghiên cứu đã áp dụng 27 mục thông tin từ danh sách kiểm tra được phát triển bới các nhà nghiên cứu khác Bằng phân tích hồi quy để kiểm tra mối quan hệ giữa các đặc điểm của các ngân hàng đươc lựa chọn và mức độ công bố tự nguyện, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng lợi nhuận có mối liên hệ tích cực với mức độ công

bố, trong khi đó tỷ số nợ trên vốn, tính thanh khoản, kích thước ngân hàng và kích thước công ty kiểm toán không có ảnh hưởng đáng kể đến công bố thông tin tự nguyện

Trang 33

Nghiên cứu của Raoudha and Chokri (2013) kiểm tra các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin tự nguyện trên một mẫu gồm 10 ngân hàng niêm yết tại Tunisia trong giai đoạn 2000-2011 Kết quả cho thấy kích thước hội đồng quản trị lớn hơn, sở hữu nhóm và sở hữu nhà nước làm giảm mức độ công bố thông tin Tuy nhiên, tỷ lệ giám đốc độc lập, kiêm nhiệm của giám đốc điều hành CEO và danh tiếng của công ty kiểm toán không có liên hệ với mức độ công bố tự nguyện của các ngân hàng Ngoài ra, sự gia tăng trong sở hữu nước ngoài và kết quả hoạt động làm cải thiện mức độ công bố thông tin Nghiên cứu cũng tìm ra rằng các ngân hàng lớn hơn công bố nhiều thông tin tự nguyện hơn

1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện được thực hiện Tuy nhiên, vẫn có một số công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam được công bố trên các tạp chí uy tín

Nghiên cứu của Vu et al (2011) về tác động của tỷ lệ giám đốc độc lập và cấu trúc sở hữu đến mức độ công bố thông tin tự nguyện dựa trên báo cáo thường niên của 45 công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2008 Kết quả chỉ ra rằng mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết tại Việt Nam tương đối thấp (khoảng 24%) Sở hữu nhà nước được tìm thấy là có mối quan hệ tiêu cực với mức độ công bố thông tin tự nguyện Bên cạnh đó, các công ty lớn cũng công bố nhiều thông tin tự nguyện hơn

Binh (2012) nghiên cứu về khoảng cách giữa những người có nhu cầu sử dụng thông tin (các nhà phân tích tài chính) và những nhà cung cấp thông tin (những nhà quản lý tài chính) trên một mẫu 199 các công ty phi tài chính niêm yết năm 2009 Bài nghiên cứu xây dựng danh mục các thông tin tự nguyện và khảo sát xem các mục thông tin tự nguyện nào là quan trọng đối với người sử dụng thông tin

và người cung cấp thông tin Từ đó, bài nghiên cứu chỉ ra các thông tin tự nguyện

mà doanh nghiệp cần cung cấp để thu hẹp khoảng cách với người sử dụng thông tin

Trang 34

Nghiên cứu của Binh (2014a) đóng góp thiết thực vào các tài liệu về công bố

tự nguyện và quản trị doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập ở Việt Nam thông qua điều tra các báo cáo thường niên Tác giả đã báo cáo mức độ ảnh hưởng khác nhau của các biến độc lập trên tất cả các nhóm thông tin công bố Nghĩa là, mỗi biến độc lập có liên quan đáng kể với một hoặc nhiều nhóm thông tin này, nhưng không phải với nhóm thông tin khác Cuối cùng nghiên cứu này khuyến cáo các doanh nghiệp

để tăng cường kiểm tra giám sát việc thực hiện công bố thông tin và cần phải nâng cao chất lượng, nội dung cũng như đa dạng hóa các phương tiện công bố thông tin

Tiếp tục một nghiên cứu nữa của tác giả Binh (2014b) liên quan đến công bố thông tin tự nguyện Nghiên cứu này thông qua các dữ liệu thực tế của các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin cũng như các tác động của mức độ công

bố thông tin này vào các hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết đã khẳng định rằng, bằng cách tăng công bố thông tin tự nguyện, doanh nghiệp có thể giảm chi phí vốn, làm tăng giá thị trường của công ty, đạt được sự tin tưởng, khích lệ sự yên tâm về một môi trường đầu tư minh bạch và tạo ra một sân chơi công bằng cho

cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài

1.1.3 Vấn đề nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu

Có thể thấy cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về mức độ công bố thông tin tự nguyện được thực hiện Các nghiên cứu về cả định tính và định lượng tại nhiều nước trên thế giới đều chỉ ra tầm quan trọng của việc công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên Và mặc dù công bố thông tin không phải là vấn

đề mới nhưng các nghiên cứu phần nhiều vẫn được thực hiện ở các công ty phi tài chính, nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng không nhiều Các nghiên cứu định lượng vẫn tập trung vào các ngân hàng tại các quốc gia phát triển, nơi đã vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế và có các quy định nghiêm ngặt về công bố thông tin Trong khi đó nghiên cứu thực nghiệm về công bố tự nguyện trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam vẫn chưa được thực hiện

Trang 35

Do đó, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các NHTM tại một quốc gia Đông Nam Á đang phát triển như Việt Nam là việc cần thiết thực hiện

Trang 36

Kết luận chương 1:

Trong chương 1 người nghiên cứu đã liệt kê và tóm tắt những điểm quan trọng của các công trình nghiên cứu trước đây về đề tài công bố thông tin tự nguyện trong các công ty phi ngân hàng và lĩnh vực ngân hàng ở cả Việt Nam và các nước trên thế giới Qua đó cho thấy tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các NHTM tại Việt Nam

Trang 37

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Những vấn đề cơ bản về hệ thống Ngân hàng thương mại tại Việt Nam 2.1.1 Khái quát về hệ thống NHTM tại Việt Nam

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền

tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan (Luật các

Tổ chức tín dụng)

NHTM là cầu nối thu hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan hiếm Hoạt động của NHTM phục vụ cho nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, NHTM thực sự đóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho dòng vốn của nền kinh tế được lưu thông, do đó góp phần bôi trơn cho hoạt động của nền kinh tế thị trường

Hệ thống NHTM được hình thành tử năm 1951 bắt đầu từ sự ra đời của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam Đây được xem là bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển hệ thống tiền tệ - ngân hàng Việt Nam Hoạt động của Ngân hàng Quốc gia trong thời kỳ này đã góp phần rất quan trọng củng cố hệ thống tiền tệ độc lập, tự chủ của đất nước, phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng cường lực lượng kinh tế quốc doanh, phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp

Cùng với quá trình phát triển, đổi mới và hội nhập kinh tế, hệ thống NHTM Việt Nam đã có nhiều thay đổi quan trọng Cho đến nay, hệ thống các tổ chức tín dụng của Việt Nam bao gồm NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần, các ngân hàng chính sách, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng hợp tác

Trang 38

Trong đó, các NHTM khẳng định là một kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế, đóng góp vào quá trình đổi mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá

2.1.2 Các giai đoạn phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Giai đoạn 1945 - 1954

Để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế kháng chiến, ngày 3/2/1947, Nha tín dụng sản xuất, tổ chức tín dụng đầu tiên ở nước ta được thành lập Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 15-SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam gồm Ngân hàng trung ương, Ngân hàng liên khu và ngân hàng tỉnh, thành phố

Giai đoạn 1955 - 1964

Mạng lưới ngân hàng được mở rộng tới các huyện, quận, thị xã Ngày 26/10/1961, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Cũng trong giai đoạn này, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động

Giai đoạn 1965 – 1975

Ngân hàng Nhà nước đã thành lập các đơn vị đặc biệt với nhiệm vụ nhận và vận chuyển các khoản viện trợ của bè bạn trên thế giới từ miền Bắc vào miền Nam, phục vụ cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Giai đoạn 1976 – 1980

Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội sau chiến tranh Để thống nhất tiền tệ trên cả nước, ngày 1/4/1978, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 08/NQ-TW về việc phát hành tiền ngân hàng mới, thu hồi tiền cũ ở cả hai miền

Trang 39

Giai đoạn 1980 – 1985

Trong thời kỳ này, hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu thông phân phối gặp rất nhiều khó khăn, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, chế độ nghiệp vụ, mở ra nhiều hình thức cho vay mới nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và tiền mặt, góp phần thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế, hỗ trợ ngành thương nghiệp quốc doanh thu mua nắm nguồn hàng phục vụ đời sống nhân dân và ổn định giá

Giai đoạn 1986 – 1989

Hệ thống Ngân hàng cũng từng bước đổi mới và phát triển, hoàn thiện về mô hình tổ chức, thể chế pháp lý, công nghệ và dịch vụ ngân hàng Theo đó, bốn ngân hàng chuyên doanh được thành lập trên cơ sở chuyển và tách ra từ Ngân hàng Nhà nước, gồm: Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nông nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Giai đoạn 1990 - 1996

Mô hình ngân hàng một cấp chuyển thành mô hình ngân hàng hai cấp, tách bạch dần chức năng quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước với chức năng kinh doanh tiền tệ tín dụng của các TCTD Từ năm 1991, NHTM cổ phần được phép đi vào hoạt động và các ngân hàng nước ngoài được phép tham gia vào thị trường Việt Nam Cũng trong thời kỳ này, Việt Nam bình thường hóa quan hệ tín dụng với các

tổ chức tín dụng quốc tế (IMF, WB, ADB)

Giai đoạn 1997 – 2007

Năm 1997, Quốc hội thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng, tạo nền tảng pháp lý căn bản và mạnh mẽ hơn cho hệ thống ngân hàng tiếp tục đổi mới hoạt động phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế

Kể từ 01/04/2007, ngoài các hình thức văn phòng đại diện, ngân hàng hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các TCTD nước ngoài được phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Điều này đã làm thay đổi đáng kể môi trường kinh doanh của hệ thống NHTM tại Việt Nam

Trang 40

Giai đoạn 2008 đến nay

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 tác động rất tiêu cực đến kinh tế nước ta Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động và linh hoạt, từ

ưu tiên kiềm chế lạm phát cao năm 2008 sang tập trung ngăn chặn suy giảm kinh tế năm 2009, khôi phục đà tăng trưởng năm 2010

Từ 01/01/2011, Luật mới về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật về các tổ chức tín dụng bắt đầu có hiệu lực Theo đó, NHNN là một cơ quan ngang bộ của Chính phủ và hoạt động như một ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Như vậy, trong suốt hai thập kỷ kể từ lần cải cách đầu tiên, ngành ngân hàng Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, ít nhất là ở số lượng các ngân hàng Từ hệ thống một ngân hàng độc nhất – với NHNN đồng thời kiêm cả chức năng của NHTM và ngân hàng trung ương, hệ thống ngân hàng đã trở nên đông đảo Sự phát triển tập trung vào hai giai đoạn và hai nhóm ngân hàng thập niên 90 là thời đại của các NHTM cổ phần và giai đoạn đầu những năm 2000 đánh dấu thời điểm tham gia của các ngân hàng nước ngoài

Số lượng các NHTM nhà nước vẫn ổn định, từ bốn NHTM nhà nước được thành lập ban đầu, chỉ có một ngân hàng Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long được thành lập thêm vào năm 1997 Trong khi đó, số lượng các NHTM cổ phần tăng mạnh trong những năm 1990, lên đỉnh điểm với 51 ngân hàng trong năm 1996, nhưng đã giảm dần từ đó xuống còn 38 ngân hàng do các quy định liên quan tới vốn điều lệ tối thiểu và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, dẫn đến việc sáp nhập và hợp nhất của một loạt các ngân hàng nhỏ và yếu kém

Ngày đăng: 08/06/2021, 04:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm