Mục tiêu chung của luận văn là xem xét mức độ tác động phí kiểm toán ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng kiểm toán, từ đó gợi ý một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2NGHIÊN C ỨU MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA
PHÍ KI ỂM TOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH T ẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TP H Ồ CHÍ MINH
VÀ CÁC T ỈNH LÂN CẬN
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã s ố: 60340301 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS.TRẦN PHƯỚC
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn thạc sĩ kinh tế “Nghiên cứu mức độ tác
động của phí kiểm toán và các nhân tố liên quan đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận” là công trình nghiên cứu của tôi
Những thông tin sử dụng được chỉ rõ nguồn trích dẫn trong danh mục tài liệu tham khảo Kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước đến nay và hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực của
luận văn
Tp.HCM, ngày… tháng… năm 2015
Tác giả
Phạm Trường Quân
Trang 4M ỤC LỤC
TRANG PH Ụ BÌA
L ỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
PH ẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp mới của luận văn 3
6 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5
1.1 Các nghiên cứu công bố trên thế giới 5
1.2 Các nghiên c ứu công bố tại Việt Nam 10
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 16
2.1 Báo cáo tài chính 16
2.1.1 Khái niệm 16
2.1.2 Mục đích 17
2.1.3 Kiểm toán báo cáo tài chính 18
2.2 Chất lượng kiểm toán và phí kiểm toán 19
2.2.1 Khái niệm 19
2.2.2 Các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán 23
2.2.3 Các mô hình nghiên c ứu chất lượng kiểm toán và phí kiểm toán 24
2.3 Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và phí kiểm toán 39
2.3.1 Mô hình Hoitash và đồng sự (2007) 39
2.3.2 Mô hình Choi và đồng sự (2010) 41
2.3.3 Mô hình Asthana và Boone (2012) 42
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
Trang 53.1 Khung nghiên cứu 46
3.2 Giả thuyết nghiên cứu 47
3.3 Thi ết kế nghiên cứu 47
3.3.1 Mô hình nghiên cứu ban đầu 47
3.3.2 Nghiên c ứu sơ bộ 50
3.4 Nghiên cứu chính thức 55
3.4.1 Nghiên cứu định tính 56
3.4.2 Nghiên cứu định lượng 56
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 60
4.1 Th ực trạng phí kiểm toán ở Việt Nam giai đoạn 2012- 2014 60
4.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 62
4.2.1 Phân tích th ống kê mô tả 62
4.2.2 Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến 66
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, GỢI Ý GIẢI PHÁP VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 77
5.1 Kết luận 77
5.2 G ợi ý giải pháp 79
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 80
5.3.1 H ạn chế của nghiên cứu 80
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT PHẦN TIẾNG VIỆT
PHẦN TIẾNG NƯỚC NGOÀI
REM: Random Effects model
FEM: Fixed Effects model
DA: Discretionary Accruals
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Khung nghiên cứu của luận văn 46
B ẢNG BIỂU Bảng 3.1: Ý nghĩa các biến và dấu các hệ số tác động 55
Bảng 3.2: Bảng trình bày quá trình thu thập mẫu dữ liệu 56
Bảng 4.1: Tóm tắt tình hình kinh doanh của công ty kiểm toán giai đoạn 2012 - 2014 60
Bảng 4.2: phân loại công ty theo tỉnh 63
Bảng 4.3: phân loại công ty theo quy mô vốn chủ sở hữu và doanh thu 63
Bảng 4.4: thống kê mô tả các biến trong mô hình 64
Bảng 4.5: Tương quan các biến trong mô hình (1) 67
Bảng 4.6: Tương quan các biến trong mô hình (3) 70
Trang 8PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm toán là hoạt động đã xuất hiện từ buổi bình minh của xã hội loài người
Trải qua một quá trình lịch sử dài lâu với biết bao thăng trầm, kiểm toán ngày càng thay đổi để trở thành một ngành nghề không thể thiếu trong nền kinh tế Nhằm phù
hợp với những yêu cầu khác nhau của xã hội, nhiều loại hình kiểm toán đã ra đời, trong đó có loại hình kiểm toán độc lập
Kiểm toán độc lập gắn liền với nền kinh tế thị trường, nhằm tăng tính minh
bạch của thị trường, giảm thiểu thông tin bất cân xứng, đồng thời cũng cung cấp những ý kiến nhằm giúp đơn vị được kiểm toán hoàn thiện quy trình kinh doanh, nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ Các báo cáo tài chính được kiểm toán sẽ mang đến sự tin tưởng cao đối với những người sử dụng thông tin tài chính của doanh nghiệp như các nhà đầu tư, bên thứ ba Thông tin càng tin cậy, các nhà đầu tư càng tin tưởng tăng cường dòng vốn, các ngân hàng tăng cường cho vay với lãi suất thấp, những chủ nợ sẵn sàng tăng hạn mức tín dụng lên Kết quả là hoạt động của nền kinh tế diễn ra sôi động và tăng trưởng nhanh chóng
Tuy nhiên, không phải lúc nào kiểm toán độc lập cũng hoàn thành vai trò của mình Đã xảy ra nhiều bê bối lớn ở mức độ toàn cầu, điển hình như sự kiện Enron dẫn đến sự sụp đổ của công ty kiểm toán hàng đầu thế giới Arthur Andersen mà một trong những nguyên nhân chính là do Arthur Andersen thiếu tính độc lập (Nguyễn
Tấn Thu Vân, 2009) Ngay tại Việt Nam, sự kiện Bông Bạch Tuyết khiến một số công ty kiểm toán bị Bộ tài chính khiển trách do những sai sót trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính của công ty Bông Bạch Tuyết Vì lẽ đó, đảm bảo chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập là một yêu cầu cấp thiết nhằm lấy lại lòng tin của công chúng đối với nghề nghiệp kiểm toán
Trên thực tế, giới nghiên cứu và các nhà làm luật Việt Nam đã dành nhiều quan tâm cho vấn đề kiểm soát chất lượng kiểm toán Lần lượt các văn bản luật, các
Trang 9chuẩn mực kiểm toán ra đời nhằm đảm bảo chất lượng kiểm toán Nhiều nghiên cứu
tập trung vào chất lượng kiểm toán được tiến hành nhằm xác định các nhân tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán, đưa ra các phương hướng và giải pháp giá
trị nhằm nâng cao chất lượng Đối với từng nhân tố, đã có những nghiên cứu chuyên sâu để đánh giá mức độ tác động của riêng nhân tố đó với chất lượng kiểm toán Tuy nhiên, một nhân tố quan trọng tác động tới chất lượng kiểm toán là phí
kiểm toán thì vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu để xác định mức độ tác động
Vì lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu mức độ tác
động của phí kiểm toán và các nhân tố liên quan đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính t ại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận” để đóng góp hiểu biết về ảnh hưởng của phí kiểm toán đến chất lượng hoạt
động kiểm toán độc lập, giúp hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam ngày càng phát triển, đáp ứng yêu cầu không chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu chung của luận văn là xem xét mức độ tác động phí kiểm toán ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng kiểm toán, từ đó gợi ý một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam
Để đáp ứng được yêu cầu này, các mục tiêu cụ thể sẽ là:
- Tìm hi ểu các nghiên cứu trước đây với mục đích xem xét các mô hình nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến
phù hợp
lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam hiện nay Cụ thể là xem xét tác động của khoản phí kiểm toán bất thường và các nhân tố như quy
mô tổng tài sản, biến động doanh thu, hệ số nợ, dòng tiền từ hoạt động
tích tạo ra mức độ tác động mạnh hay yếu đến chất lượng kiểm toán
Trang 10- Căn cứ vào những phát hiện, tác giả gợi ý các giải pháp đối với phí kiểm
Dựa vào các mục tiêu cụ thể, tác giả đưa ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:
- C1: Phí ki ểm toán tác động như thế nào đến chất lượng kiểm toán?
- C2: Hi ện trạng giá phí hiện nay tác động đến chất lượng kiểm toán ở Việt Nam như thế nào?
- C3: C ần làm gì để tác động đến phí kiểm toán nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán tại Việt Nam?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập trong mối quan hệ với phí kiểm toán Do hạn chế về thời gian thực hiện và nguồn tài liệu có
thể tiếp cận được, nên phạm vi nghiên cứu của luận văn là chỉ thực hiện khảo sát trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, đồng thời tập trung vào hoạt động kiểm toán độc lập, không nghiên cứu các loại hình kiểm toán khác như
kiểm toán nội bộ và kiểm toán nhà nước
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp định lượng Trong
đó, tác giả tổng hợp kết quả của các nghiên cứu có liên quan từ đó xác định mô hình tác động giữa phí kiểm toán và chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập, sau đó sử dụng công cụ các kỹ thuật phân tích thống kê với sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft Excel và phần mềm thống kê STATA 12.0 để đưa ra được kết quả nghiên cứu bao
gồm: thống kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích hồi quy tuyến tính bội
5 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của tác giả với một số đóng góp khoa học cơ bản sau:
- Một là, tổng quan về các kết quả nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán trên thế giới cũng như tại Việt Nam
Trang 11- Hai là, giới thiệu về mô hình đánh giá chất lượng kiểm toán một cách gián
tiếp bằng phương pháp định lượng thông qua xem xét khả năng điều chỉnh lợi nhuận dồn tích (discretionary accruals) của nhà quản trị
- Ba là, kiểm định mô hình đánh giá mức độ tác động của phí kiểm toán đến
chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam
- Bốn là, gợi ý các giải pháp khả thi nhằm hạn chế tác động tiêu cực của phí
kiểm toán đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam
6 Kết cấu luận văn
Luận văn được tổ chức với kết cấu bao gồm 5 chương:
- Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận, gợi ý giải pháp và kiến nghị
Ngoài ra, luận văn còn có 4 phụ lục trình bày chi tiết các vấn đề nghiên cứu trong bài
Phụ lục 1.01: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan
Phụ lục 1.02: Danh sách các công ty trong mẫu nghiên cứu
Phụ lục 2: Trình bày kết quả nghiên cứu giai đoạn 1
Phụ lục 3: Trình bày kết quả nghiên cứu giai đoạn 2
Phụ lục 4: Trình bày kết quả nghiên cứu giai đoạn 3
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI
Phí kiểm toán ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng kiểm toán luôn là chủ
đề thu hút được nhiều sự quan tâm của giới học thuật trong và ngoài nước Trong chương này, tác giả tiến hành xem xét các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam, nhằm có cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu chủ đề này, từ đó xác định được khoảng trống nghiên cứu cho luận văn của mình
1.1 Các nghiên c ứu công bố trên thế giới
Nghiên cứu của DeAngelo, L E (1981), “Auditor independence, ‘low
balling’, and disclosure regulation” (Journal of Accounting and Economics,
Volume 3, Issue 2, Pages 113 – 127) phát triển một mô hình dùng để xác định phí kiểm toán qua nhiều thời kỳ khi công ty kiểm toán đương nhiệm có lợi thế về chi phí hơn đối thủ cạnh tranh đối với các cuộc kiểm toán trong tương lai của một khách hàng nhất định Những lợi thế này xảy ra do chi phí cho cuộc kiểm toán ban đầu khá cao và xuất hiện chi phí giao dịch khi chuyển đổi công ty kiểm toán Khi
kiểm toán viên đương nhiệm sở hữu những lợi thế này, họ có thể làm tăng chi phí kiểm toán trong tương lai nhằm bù đắp các chi phí có thể tránh được khi thực hiện
cuộc kiểm toán Sự mong đợi vào lợi ích kinh tế đối với một khách hàng cụ thể của công ty kiểm toán đương nhiệm có hai tác dụng Đầu tiên, nó ngụ ý rằng mức độ tối
ưu đối với tính độc lập của các kiểm toán viên dưới mức hoàn hảo Trong thực tế,
phần giảm phí kiểm toán ban đầu (low balling) đối với một khách hàng cụ thể sẽ làm thu hẹp tính độc lập Thứ hai, các công ty kiểm toán cạnh tranh nhằm đạt được quyền kiểm toán sẽ nỗ lực để giảm phí kiểm toán ban đầu trong giai đoạn đầu tiên Nhà quản lý và các hội nghề nghiệp đã cho rằng phần giảm phí kiểm toán ban đầu làm suy yếu tính độc lập của kiểm toán viên bởi vì nó tạo ra một lợi ích kinh tế trong tương lai đối với khách hàng Trái ngược với những nhận định, nghiên cứu này cho thấy rằng phần giảm phí kiểm toán ban đầu là một phản ứng cạnh tranh với
kỳ vọng vào lợi ích từ hợp đồng kiểm toán mang lại trong tương lai, và bản thân
Trang 13việc này không làm giảm đi tính độc lập của công ty kiểm toán Việc các nhà làm
luật cố gắng hạn chế phần giảm phí kiểm toán ban đầu được dự đoán là không có ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán
Nghiên cứu của Francis, J R., & Simon, D T (1987), “A Test of Audit
Pricing in the Small-Client Segment of the U.S Audit Market” (The Accounting
Review, Volume 62, Issue 1, Pages 113 – 127) tập trung vào xem xét hai nhận định trái chiều giữa Simunic (1980) và Palmrose (1986) Hai nghiên cứu này công bố kết
quả khác nhau về sự tồn tại của khoản phí kiểm toán tăng thêm của tám công ty kiểm toán lớn ở Hoa Kỳ (gọi là Big Eight) đối với phân khúc các khách hàng kiểm toán “nhỏ” Các tác giả đã khảo sát mẫu gồm 220 công ty niêm yết có doanh thu dưới 125 triệu đô la, dữ liệu thu thập từ các năm tài chính bắt kết thúc từ ngày 01/01/1984 đến ngày 30/06/1985 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tồn tại một khoản phí kiểm toán tăng thêm trong phân khúc các công ty niêm yết nhỏ Sự tồn
tại của một khoản phí kiểm toán tăng thêm hàm ý rằng có sự khác biệt trong việc cung cấp dịch vụ kiểm toán của Big 8, ít nhất là trong phân khúc thị trường các công ty niêm yết nhỏ Ngoài ra, các tác giả còn đưa ra các thử nghiệm cho thấy hợp đồng kiểm toán năm đầu tiên được định giá thấp hơn đáng kể hơn so với các hợp đồng kiểm toán các năm tiếp theo, tăng cường bằng chứng về hành vi cắt giảm phí
kiểm toán Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy không có mối quan hệ giữa tác động của việc cắt giảm phí kiểm toán với chất lượng kiểm toán
Nghiên cứu của Dye, Ronald A (1991), “Informationally motivated
auditor replacement” (Journal of Accounting and Economics, Volume 14 Issue 4,
Pages 347–374) cũng đồng tình với DeAngelo trong việc có thể xác định khoản
giảm phí kiểm toán ban đầu Tuy nhiên, Dye không tiếp cận theo hướng xem xét chuỗi phí kiểm toán ở nhiều thời kỳ, mà ông xem xét dưới góc độ hành vi chứng
nhận báo cáo tài chính của công ty kiểm toán Ông cho rằng khoản giảm phí kiểm toán ban đầu sẽ thúc đẩy kiểm toán viên thực hiện công việc chứng nhận báo cáo tài chính của công ty dễ dãi hơn thông thường Từ đó ông đưa ra kết luận khác với
Trang 14DeAngelo rằng, khoản giảm phí kiểm toán ban đầu sẽ được loại trừ nếu phí kiểm toán được công bố công khai
Nghiên cứu của Craswell, A T., & Francis, J R (1999), “Test Initial of
Audit Engagements: Theories Competing” (Accounting Review, Volume 74
Issue 2, pages 201–216) Mục đích của nghiên cứu này là để thử nghiệm hai lý thuyết khác nhau của DeAngelo (1981) và Dye (1991) và để xác định liệu khoản
giảm phí kiểm toán ban đầu có xảy ra ở những nơi chi phí kiểm toán được công bố công khai như ở Úc hay không? Sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 1.468 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Úc vào năm 1987, các tác giả không tìm thấy khoản chiết khấu phí kiểm toán nào ngoại trừ trường hợp hợp đồng kiểm toán năm đầu tiên khi chuyển từ các công ty không phải là Big 8 sang các công ty trong Big 8
Bằng chứng ở đây là phù hợp với lập luận của Dye (1991) rằng việc công khai phí
kiểm toán loại bỏ hầu hết sự ràng buộc về lợi ích kinh tế và khoản giảm phí kiểm toán năm đầu tiên Điều này hàm ý rằng, các vấn đề tiềm ẩn về tính độc lập của
kiểm toán viên liên quan đến lợi ích kinh tế và chiết khấu phí kiểm toán cũng được
loại bỏ bằng cách công bố công khai lệ phí kiểm toán Phát hiện của các tác giả, khi nhìn từ góc độ lý thuyết của Dye (1991), cho rằng việc công bố công khai lệ phí
kiểm toán tăng cường tính độc lập của kiểm toán viên
Nghiên cứu của Krishnan, G V (2003), “Audit quality and the pricing of
discretionary accruals” (Auditing, Volume 22 Issue 1, pages 109–126) xem xét
liệu có một mối liên hệ giữa chất lượng kiểm toán và việc tính giá các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được hay không Tác giả sử dụng mô hình quản trị lợi nhuận của Jones (1991) với mẫu lấy từ cơ sở dữ liệu Compustat phiên bản 2000, sử dụng
dữ liệu của 4.098 công ty trong vòng 10 năm từ năm 1989 đến năm 1998 Kết quả cho thấy các công ty do 6 hãng kiểm toán hàng đầu (Big 6) thực hiện kiểm toán đã báo cáo các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được ở mức thấp hơn các công ty được kiểm bởi các hãng không thuộc nhóm 6 hãng kiểm toán hàng đầu Ngoài ra, các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được của nhóm khách hàng do Big 6 kiểm toán có sự gắn kết lớn hơn với khả năng sinh lợi trong tương lai hơn là các khách
Trang 15hàng không do Big 6 kiểm toán Thêm nữa, thị trường chứng khóan nhận ra sự vượt
trội đối với các công ty do Big 6 kiểm toán so với các công ty khác chỉ đối với khoản dồn tích có thể điều chỉnh được Do đó, nghiên cứu kết luận rằng có thể đánh giá chất lượng kiểm toán thông qua các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được
Nghiên cứu của Hoitash, R., Markelevich, A., & Barragato, C a (2007),
Auditor fees and audit quality (Managerial Auditing Journal, Volume 22 Issue 8,
pages 761–786) xem xét mối quan hệ giữa phí kiểm toán và chất lượng kiểm toán trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2003 của các công ty trong danh sách của Standard and Poor Nghiên cứu sử dụng hai thước đo để đánh giá chất lượng kiểm toán: độ lệch chuẩn của phần dư từ phương trình hồi quy giữa các khoản dồn tích và dòng tiền và giá trị tuyệt đối của khoản dồn tích có thể điều chỉnh được Nghiên cứu
lấy số liệu thu thập gồm 13.860 quan sát trong các năm từ 2000 đến 2003 Các tác
giả đã chứng minh rằng có một mối liên hệ nghịch chiều với có ý nghĩa thống kê
giữa phí kiểm toán và cả hai biến đại diện cho chất lượng kiểm toán qua trong tất cả các năm nghiên cứu
Nghiên cứu của Choi, J H., Kim, J B., & Zang, Y (2010), Do abnormally
high audit fees impair audit quality? (Auditing, Volume 29 Issue 2, pages 115–
140) tìm hiểu liệu và làm thế nào chất lượng kiểm toán, thông qua biến đại diện là giá trị tuyệt đối của khoản dồn tích có thể điều chỉnh được, có quan hệ với phí kiểm toán bất thường (là sự khác biệt giữa chi phí kiểm toán thực tế và ước tính ở mức độ bình thường của chi phí kiểm toán) Sử dụng mẫu gồm 9.185 quan sát trong 4 năm
từ 2000 đến 2003 ở cơ sở dữ liệu phí kiểm toán Compustat, kết quả hồi quy đa biến cho thấy rằng sự kết hợp giữa phí kiểm toán bất thường và chất lượng kiểm toán là
bất cân xứng, tùy thuộc vào dấu của phí kiểm toán bất thường Đối với các quan sát với chi phí kiểm toán bất thường mang dấu âm, không có mối liên hệ đáng kể giữa
chất lượng kiểm toán và phí kiểm toán bất thường Ngược lại, phí kiểm toán bất thường có tương quan nghịch với chất lượng kiểm toán đối với các quan sát với chi phí kiểm toán bất thường mang dấu dương Các tác giả cho rằng mối liên hệ giữa
Trang 16phí kiểm toán bất thường và chất lượng kiểm toán là phi đối xứng và phi tuyến tính,
đó cũng là gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu của Asthana, S C., & Boone, J P (2012), Abnormal audit fee
and audit quality (Auditing, Volume 31 Issue 3, pages 1–22) nhận thấy những nghiên cứu trước đây dựa trên lý thuyết quan hệ kinh tế (economic bonding) tập trung vào việc phí kiểm toán bất thường dương (tăng lên) có mối quan hệ nghịch chiều với chất lượng kiểm toán, nhưng phí kiểm toán bất thường âm (giảm xuống) thì không nhận thấy rõ mối quan hệ với chất lượng kiểm toán Do đó, các tác giả đưa ra giả thuyết rằng phí kiểm toán dưới mức bình thường báo hiệu những sắc thái quan trọng trong việc cân bằng quyền thương thảo (bargaining power) giữa công ty kiểm toán và khách hàng, và quyền lực này có thể ảnh hưởng trọng yếu đến chất lượng kiểm toán Nghiên cứu sử dụng 14.796 quan sát (công ty/năm) từ cơ sở dữ
liệu Audit Analytics và Compustat Như giả thuyết, các tác giả thấy rằng chất lượng
kiểm toán giảm khi phí kiểm toán thực tế lệch ra khỏi mức phí bình thường, từ đó, nghiên cứu cho thấy sự phù hợp với các nghiên cứu trước về sự suy giảm chất lượng kiểm toán khi phí kiểm toán bất thường mang dấu dương (tăng lên) Nghiên cứu còn cho thấy chất lượng kiểm toán giảm khi phí kiểm toán giảm, đại diện cho quyền thương thảo của khách hàng tăng lên
Nghiên cứu của Ettredge, M., Fuerherm, E E., & Li, C (2014), Fee
pressure and audit quality (Accounting, Organizations and Society, Volume 39
Issue 4, pages 247–263) khảo sát sự kết hợp của áp lực chi phí kiểm toán với sự
giảm sút chất lượng kiểm toán thông qua đánh giá các sai sót trọng yếu trong dữ liệu đã được kiểm toán trong cuộc suy thoái năm 2008 Áp lực phí trong một năm được tính bằng chênh lệch giữa phí kiểm toán được đánh giá là “bình thường” và phí kiểm toán trên thực tế Sử dụng một mẫu nghiên cứu gồm 7.539 công ty đại chúng trong cả hai cơ sở dữ liệu Audit Analytics và Compustat năm 2008, các tác
giả tìm thấy áp lực phí có quan hệ thuận chiều và đáng kể liên quan đến sai sót kế toán trọng yếu trong năm 2008, đỉnh điểm của sự suy thoái kinh tế Kết quả của nghiên cứu còn cho thấy rằng các công ty kiểm toán có những nhượng bộ phí kiểm
Trang 17toán đối với một số khách hàng trong năm 2008, và rằng áp lực chi phí có liên quan
với giảm chất lượng kiểm toán trong năm
Nghiên cứu của Krauß, P., Quosigk, B M., & Zülch, H (2014) Effects of
initial audit fee discounts on audit quality: Evidence from Germany
(International Journal of Auditing, Volume 18 Issue 1, pages 40 – 56) khảo sát mối phụ thuộc kinh tế giữa công ty kiểm toán và khách hàng bằng cách xem xét mối quan hệ giữa việc định giá kiểm toán bất thường và chất lượng kiểm toán Các tác
giả phân tích hiện tượng này bằng thực nghiệm đối với các công ty Đức áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) bằng cách sử dụng một mẫu gồm 2.334 quan sát cho giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010 Kết quả thực nghiệm của nghiên cứu chứng minh rằng phí kiểm toán bất thường dương có quan hệ ngược chiều với
chất lượng kiểm toán và hàm ý rằng khoản chi phí kiểm toán tăng thêm (premium)
là một chỉ số quan trọng của thể hiện tính độc lập của kiểm toán viên bị tổn hại do quan hệ kinh tế giữa kiểm toán viên và khách hàng Ngược lại, việc giảm phí kiểm toán thường không làm giảm nỗ lực kiểm toán, hay nói cách khác, chất lượng kiểm toán không bị suy giảm khi khách hàng có quyền thương lượng giá mạnh Sự kết hợp của phí kiểm toán bất thường dương và chất lượng kiểm toán là mạnh mẽ dù sử
dụng các biến đại diện chất lượng kiểm toán khác nhau như phương pháp giá trị tuyệt đối của các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được, điều chỉnh lại báo cáo tài chính, và đáp ứng hay thất bại đối với dự đoán lợi nhận của các nhà phân tích tài chính
1.2 Các nghiên cứu công bố tại Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hương (2010), “Giải pháp nâng cao chất
lượng của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế
TP.HCM
Luận văn phản ánh thực trạng báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và những giải pháp nhằm
Trang 18nâng cao tính hữu ích của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Số liệu dùng để phân tích được thu thập từ báo cáo tài chính của các công ty hiện đang niêm yết trên Sàn chứng khoán TP.HCM (HoSE) và Hà Nội (HNX) trong hai năm 2007, 2008 và được tổng hợp vào phần mềm Excel, sau đó được phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS Kết quả nghiên cứu đã phản ánh đầy đủ thực trạng của báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính công ty niêm yết trên sàn TP.HCM và Hà nội trong 2 năm 2007 và 2008 Trên
cơ sở đó, tác giả đã đưa ra những kiến nghị, trong đó có kiến nghị về hạn chế cạnh tranh không lành mạnh bằng cách giảm phí kiểm toán và thỏa hiệp với công ty được
kiểm toán Tuy nhiên, tác giả chỉ lập luận mà không đưa ra được dẫn chứng cụ thể
về mối liên hệ giữa giảm phí kiểm toán và chất lượng kiểm toán
Nghiên cứu của Nguyễn Đình Hùng (2010), “Hệ thống kiểm soát sự minh
bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam”, luận
án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Luận án tiến hành tổng hợp và trình bày các lý thuyết liên quan đến quá trình
xử lý dữ liệu thành thông tin kế toán, các nghiên cứu về chuỗi cung ứng báo cáo tài chính, trình bày khái niệm và vai trò của sự minh bạch thông tin tài chính, tiến tới
lập luận và chứng minh về các thành phần, cơ chế hoạt động của hệ thống kiểm soát
và sự minh bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết Từ cơ sở lý luận đó, tác giả tiến hành phân tích thực trạng của hệ thống kiểm soát và sự minh
bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, làm nền tảng đề xuất mô hình hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công bố phù hợp với môi trường kinh doanh và pháp lý của Việt Nam Sử dụng mẫu khảo sát thông tin công bố trên báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 154 công ty và chứng chỉ quỹ có thời điểm niêm yết từ ngày 18/07/2000 đến ngày 22/12/2008, tác giả đã cho thấy hệ thống kiểm soát sự minh
bạch thông tin tài chính bao gồm sáu thành phần có mối quan hệ tương hỗ với nhau theo cơ chế phối hợp bên trong và bên ngoài Trong đó có hoạt động kiểm toán độc
Trang 19lập Tuy nhiên, các chỉ tiêu nhằm đánh giá tính minh bạch của hoạt động kiểm toán độc lập chưa được tác giả nêu ra cụ thể
Nghiên cứu của Trần Khánh Lâm (2011), “Xây dựng cơ chế kiểm soát chất
lượng cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam”, luận án tiến sĩ, Trường
Đại học Kinh tế TP.HCM
Luận án đã dựa trên việc nghiên cứu các lý thuyết cũng như tình huống trong
thực tiễn của các quốc gia trên thế giới, kết hợp với hiểu biết về thực trạng kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại Việt Nam nhằm đưa ra quan điểm xây dựng
cơ chế và giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại
Việt Nam cả trong ngắn lẫn dài hạn Nguồn dữ liệu của luận án được thu thập từ các báo cáo hoạt động thường niên của hơn 100 các công ty kiểm toán qua 3 năm từ
2007 đến 2009, các dữ liệu của các nghiên cứu trước và các báo cáo thường niên
của Vụ chế độ kế toán – kiểm toán (Bộ tài chính) và Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) Ngoài ra, tác giả còn khảo sát thông tin từ 69 công ty kiểm toán độc lập có quy mô và hình thức sở hữu khác nhau trong 2 năm từ 2008 đến
2009 Trong các quan điểm được nêu ra ở công trình nghiên cứu này, tác giả đưa ra một ý kiến về phí kiểm toán, trong đó cho rằng việc giảm phí kiểm toán sẽ làm giảm
chất lượng kiểm toán Từ đó đề xuất ra công thức tính phí kiểm toán bình quân
nhằm tránh việc cạnh tranh không lành mạnh từ phía các công ty kiểm toán nhỏ Tuy nhiên, việc đề xuất này chưa được kiểm nghiệm trong thực tiễn
Nghiên cứu của Phan Thanh Trúc (2013), “Giải pháp nâng cao chất lượng
hoạt động kiểm toán độc lập nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã hội
v ề chất lượng kiểm toán tại Việt Nam”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế
TP.HCM
Luận văn xem xét mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và khoảng cách mong đợi trong kiểm toán, từ đó liên hệ đến thực trạng về chất lượng kiểm toán và khoảng cách mong đợi đối với nghề nghiệp kiểm toán tại Việt Nam, làm cơ sở để đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán nhằm thu hẹp khoảng cách
Trang 20mong đợi trong hoạt động kiểm toán độc lập Số liệu trong luận văn được thu thập
bằng cách gửi bảng khảo sát đến nhiều đối tượng như kiểm toán viên, các nhà quản
lý và kế toán viên, nhân viên ngân hàng và chứng khoán, sinh viên với cỡ mẫu là
83 Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã nhận thấy rằng phí kiểm toán là một nhân
tố được đối tượng khảo sát đánh giá là kém quan trọng đối với chất lượng kiểm toán Từ đó, tác giả đưa ra đề xuất các công ty xây dựng khung phí kiểm toán nhằm
hạn chế cạnh tranh không lành mạnh từ việc thỏa thuận phí giữa công ty kiểm toán
với khách hàng, khiến chất lượng kiểm toán sụt giảm mà nguyên nhân chính là do khách hàng chưa ý thức được tầm quan trọng của phí kiểm toán ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán Tuy nhiên nhận định này của tác giả còn mang tính chủ quan, chưa có bằng chứng thực nghiệm
Nghiên cứu của Đinh Thanh Mai (2014), “Các nhân tố ảnh hưởng đến
ch ất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam – Khảo sát trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Luận văn xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán tại Việt Nam trên cơ sở hệ thống hóa lại lý thuyết liên quan đến chất lượng kiểm toán, giới thiệu khuôn mẫu chất lượng kiểm toán được ban hành bởi IAASB vào năm 2014, từ
đó đưa ra mô hình nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam trong xu thế hội nhập thế giới hiện nay Số liệu luận văn được thu thập thông qua việc khảo sát đối tượng là các nhân viên chuyên nghiệp đang làm việc tại các vị trí khác nhau như chủ phần hùn/giám đốc, chủ nhiệm kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán và trợ lý kiểm toán tại các doanh nghiệp kiểm toán tại thành phố Hồ Chí Minh với kích thước mẫu là 102 quan sát Ngoài ra, các báo cáo kiểm tra, tổng kết trong 3 năm từ 2010 đến 2012 từ VACPA cũng được tác giả sử dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 nhóm nhân tố tác động đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam bao gồm: Quy mô doanh nghiệp, Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài và Đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên Trong đó, yếu tố phí kiểm toán thuộc nhóm kiểm soát chất lượng từ bên ngoài Do tác giả nhóm chung phí kiểm toán với kiểm soát chất lượng từ bên ngoài,
Trang 21nên không đánh giá được riêng mức độ tác động của phí kiểm toán đến chất lượng
kiểm toán, do đó giải pháp đề ra không tập trung vào phí kiểm toán
Như vậy, sau khi xem xét một số nghiên cứu được công bố trong nước cũng như trên thế giới liên quan đến chủ đề luận văn dự kiến thực hiện, tác giả nhận thấy còn những khoảng trống mà căn cứ vào đó để tiến hành nghiên cứu Cụ thể:
- Đối với các nghiên cứu công bố trên thế giới, các học giả ngày càng nhận
ra ảnh hưởng của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán Theo thời gian, quan điểm của các nhà nghiên cứu đã thay đổi từ việc không tìm thấy mối quan hệ giữa phí kiểm toán bất thường đến chất lượng kiểm toán sang nhận ra ảnh hưởng của phí kiểm toán bất thường dương (tăng lên) hay âm (giảm xuống) đều có mối quan hệ đến chất lượng kiểm toán Tuy nhiên, các nghiên cứu này đều thực hiện ở các nước phát triển, nơi phí kiểm toán được công khai trên các cơ sở dữ liệu thông tin doanh nghiệp Những nghiên cứu tương tự áp dụng cho các nước đang phát triển, các nước không công khai phí kiểm toán vẫn chưa có nghiên cứu nào công bố trên các tạp chí chuyên ngành uy tín Các bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam cũng chưa được công bố trên thế giới
- Đối với các nghiên cứu công bố tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu mới
dừng lại ở việc nhận xét xem xét phí kiểm toán như một nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán thông qua các nhận định mang tính chủ quan, chưa được chứng minh bằng thực nghiệm Có nghiên cứu của Đinh Thanh Mai khảo sát mức độ tác động của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức sơ bộ, xem xét ảnh hưởng chung thông qua nhóm nhân tố kiểm soát chất lượng bên ngoài nên chưa làm rõ ảnh hưởng của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán Ngoài ra, các nghiên cứu tại Việt Nam chỉ cho rằng phí kiểm toán giảm sẽ làm giảm
chất lượng kiểm toán, mà không xem xét yếu tố phí kiểm toán tăng lên sẽ ảnh hưởng thế nào đến chất lượng kiểm toán
Trang 22Từ những nhận xét trên, tác giả nhận diện được khoảng trống nghiên cứu và
lựa chọn đề tài nghiên cứu với nội dung: “Nghiên cứu mức độ tác động của phí
kiểm toán và các nhân tố liên quan đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính
t ại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận” với
mục tiêu tăng cường hiểu biết về mức độ tác động của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán, từ đó gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán tại
Việt Nam
Tóm tắt chương 1
Chương 1 trình bày tóm lược một số nghiên cứu chính đã công bố trong nước cũng như trên thế giới mà liên quan đến đề tài nghiên cứu Nội dung của các nghiên cứu này được tác giả trình bày tóm tắt lại thông qua phụ lục 1.01 Dựa vào
hiểu biết về tình hình nghiên cứu hiện nay, tác giả phát hiện được khoảng trống nghiên cứu để làm căn cứ xác định tính cần thiết của đề tài
Đề tài nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá mức độ tác động của phí
kiểm toán đến chất lượng kiểm toán, làm căn cứ để đưa ra các biện pháp nhằm tăng cường chất lượng kiểm toán tại Việt Nam Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam tập trung nghiên cứu mức độ tác động của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán
bằng phương pháp nghiên cứu định lượng
Trang 23CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Báo cáo tài chính
và quy định trong và ngoài nước Chuẩn mực kế toán quốc tế số 1- Trình bày các
báo cáo tài chính đưa ra khái niệm “Báo cáo tài chính là các báo cáo dùng để đáp
ứng nhu cầu cho những người sử dụng không có quyền yêu cầu đơn vị báo cáo cung
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 1 – Chuẩn mực chung thì “báo cáo
tài chính phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách tổng hợp các
Bảng cân đối kế toán là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu Các yếu tố liên
hoạt động kinh doanh là Doanh thu, thu nhập khác, Chi phí và Kết quả kinh doanh” (Bộ Tài chính, 2002)
Khái niệm về báo cáo tài chính được trình bày rõ hơn trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 - Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, theo đó báo cáo
tài chính “là s ự trình bày một cách hệ thống về các thông tin tài chính quá khứ, bao gồm các thuyết minh có liên quan, với mục đích công bố thông tin về tình hình tài chính và các nghĩa vụ của đơn vị tại một thời điểm hoặc những thay đổi trong một
minh liên quan thông thường là phần tóm tắt các chính sách kế toán quan trọng và
Trang 24bộ báo cáo tài chính (đầy đủ) theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng Thuật ngữ “báo cáo tài chính riêng lẻ” được sử dụng để chỉ một báo cáo trong bộ báo cáo tài chính (đầy đủ)” (Bộ Tài chính, 2012)
Như vậy, khái niệm về báo cáo tài chính được trình bày trong chuẩn mực
kiểm toán Việt Nam số 200 là tương đối rõ ràng và bao quát, do đó tác giả sử dụng làm khái niệm chính trong nghiên cứu này
là chấp nhận chính sách bán hàng trả chậm và các hình thức cấp tín dụng khác”
(IASB, 2010)
Chuẩn mực kế toán quốc tế số 1 – Trình bày báo cáo tài chính cho rằng mục
đích của báo cáo tài chính là: “cung cấp thông tin về tình hình tài chính, hiệu quả
tài chính và các dòng tiền của một đơn vị Những thông tin này hữu ích với số đông người sử dụng trong việc ra các quyết định kinh tế Các báo cáo tài chính còn thể hiện kết quả quản lý của nhà quản trị đối với những nguồn lực thuộc thẩm quyền được giao Để đạt mục đích này báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin
• Tài s ản;
• Thu nh ập và chi phí, bao gồm các khoản lãi/lỗ;
• Góp v ốn và phân phối thu nhập của người chủ sở hữu; và
• Các dòng ti ền
Trang 25Các thông tin này cùng với các thông tin khác trong Bản thuyết minh báo
luồng tiền trong tương lai và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra chúng”
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 – Trình bày báo cáo tài chính trình bày mục đích của báo cáo tài chính là “cung cấp các thông tin về tình hình tài chính,
ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Để đạt mục đích này báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh
báo cáo tài chính giúp người sử dụng dự đoán được các luồng tiền trong tương lai
và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các luồng tiền và các khoản tương đương tiền.” (Bộ Tài chính, 2003)
Tóm lại, từ các quan điểm trên, ta có thể nhận ra được mục đích báo cáo tài chính ch ủ yếu là cung cấp thông tin tài chính hữu ích của đơn vị báo cáo cho
số đông người sử dụng, đặc biệt là những người cần thông tin trong việc ra quyết định cung cấp nguồn lực tài chính cho đơn vị, thông qua việc trình bày tình hình tài chính, kết quả hoạt động trong kỳ, các luồng tiền và những thông tin cần chú
ý của đơn vị
2.1.3 Kiểm toán báo cáo tài chính
Trang 26Theo luật kiểm toán độc lập thì: “Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm
nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán” (Quốc hội, 2011)
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 - Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán
Việt Nam, đưa ra mục đích của một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính “là làm tăng
độ tin cậy của người sử dụng đối với báo cáo tài chính, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không Đối với hầu hết các khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài
tài chính có được lập và trình bày trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay
chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan sẽ giúp kiểm toán
Có thể thấy, kiểm toán báo cáo tài chính là một hoạt động hết sức cần thiết trong nền kinh tế thị trường để tăng cường tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có niêm yết trên sàn giao
dịch chứng khoán Cũng vì lẽ đó, việc đảm bảo chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính cũng là một yêu cầu cần được chú trọng
2.2 Ch ất lượng kiểm toán và phí kiểm toán
2.2.1 Khái niệm
2.2.1.1 Ch ất lượng kiểm toán
Chất lượng kiểm toán là một khái niệm phức tạp Dưới những góc độ khác nhau, ta có những yêu cầu khác nhau về chất lượng kiểm toán.Người sử dụng, công
Trang 27ty kiểm toán, nhà làm luật và xã hội - những người có liên quan trong quá trình sử
dụng báo cáo tài chính - có thể có quan điểm rất khác nhau về các yếu tố tạo nên chất lượng kiểm toán, điều này ảnh hưởng đến các loại chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng kiểm toán Những người sử dụng các báo cáo tài chính có thể tin rằng chất lượng kiểm toán cao có nghĩa là không có sai sót trọng yếu Các kiểm toán viên tiến hành kiểm toán có thể xác định chất lượng kiểm toán cao đồng nghĩa
với việc hoàn thành thỏa đáng tất cả các nhiệm vụ được giao và tuân thủ theo phương pháp kiểm toán do công ty kiểm toán quy định Các công ty kiểm toán có thể đánh giá một cuộc kiểm toán có chất lượng cao là cuộc kiểm toán tránh được các rủi ro về thanh tra hoặc kiện tụng Các nhà làm luật có thể xem một cuộc kiểm tra chất lượng cao là một cuộc kiểm toán được tiến hành phù hợp với các quy định của pháp luật và các tiêu chuẩn nghề nghiệp Cuối cùng, xã hội mong đợi một cuộc
kiểm toán đạt chất lượng cao là một công cụ giúp các doanh nghiệp hoặc thậm chí
là giúp cho thị trường tránh được các vấn đề rủi ro về kinh tế Kết luận lại, ta thấy
rằng đối với các quan điểm khác nhau, phương pháp đo lường chất lượng kiểm toán
sẽ khác nhau
Trong nghiên cứu lý thuyết, khái niệm về chất lượng kiểm toán cũng không
thống nhất Một hướng nghiên cứu, điển hình là DeAngelo, cho rằng: chất lượng
cố sau đây xảy ra:
Kh ả năng phát hiện ra sai sót tồn tại trong hệ thống kế toán của đơn
vị Khả năng này phụ thuộc vào các yếu tố như năng lực kỹ thuật của công ty kiểm toán, cách triển khai các thủ tục kiểm toán đối với một
Khi phát hi ện ra sai sót, khả năng kiểm toán viên sẽ công bố các sai sót này trong báo cáo kiểm toán Đây là một thước đo nhằm đánh giá tính độc lập của kiểm toán viên đối với những khách hàng riêng biệt (DeAngelo, 1981)
Trang 28Một hướng nghiên cứu khác, điển hình là Palmrose, xem chất lượng kiểm
cung cấp cho người sử dụng một sự đảm bảo đối với các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Do đó, chất lượng kiểm toán được phản ánh qua xác suất các báo
dựa trên kết quả của cuộc kiểm toán, tức là một báo cáo tài chính đáng tin cậy sẽ
Dưới dạng các báo cáo của các hiệp hội nghề nghiệp quy định, văn phòng Kiểm toán Chính phủ của Mỹ (GAO) (2003) đề xuất khái niệm chất lượng kiểm
toán như sau: Một cuộc kiểm toán có chất lượng là cuộc kiểm toán được thực hiện
“tuân thủ với các chuẩn mực kế toán (GAAP) nhằm cung cấp sự đảm bảo tin cậy rằng báo cáo tài chính được kiểm toán và các thông tin có liên quan sẽ:
- Không ch ứa đựng những sai lệch trọng yếu.”
Còn theo khuôn mẫu chất lượng kiểm toán được ban hành bởi IAASB (2014)
thì m ột cuộc kiểm toán có chất lượng là khả năng kiểm toán viên đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính dựa trên những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp có được bởi một đội ngũ tham gia có:
- Đạo đức nghề nghiệp
- Có đầy đủ hiểu biết, kinh nghiệm, và thời gian để thực hiện công tác kiểm toán
- Áp dụng một quy trình kiểm toán chặt chẽ và thủ tục kiểm soát chất lượng
- Cung cấp báo cáo có giá trị và kịp thời
Trong nghiên cứu của Phan Thanh Trúc (2012), tác giả đã cho thấy có sự khác biệt giữa mong đợi của xã hội và nhận thức của kiểm toán viên đối với chất lượng kiểm toán là không đồng nhất Mặc dù tất cả đều đồng ý với nhau rằng “kiểm
Trang 29toán viên chỉ chịu trách nhiệm về tính trung thực và hợp lý trên báo cáo tài chính được kiểm toán” (Phan Thanh Trúc, 2012, trang 52) Tuy nhiên, những đối tượng bên ngoài còn mong đợi kiểm toán viên sẽ đảm bảo tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ và có thể cảnh báo về bất kỳ sự hoạt động kém hiệu quả nào của ban giám đốc công ty được kiểm toán Ngược lại, các kiểm toán viên chưa đồng tình với
ý kiến trên vì cho rằng hệ thống kiểm soát nội bộ ít hiệu quả do bộ phận này vẫn còn phụ thuộc vào ban giám đốc của công ty
Tóm lại, trong phạm vi bài nghiên cứu này, tác giả đồng tình khái niệm chất
lượng kiểm toán của De Angelo (1981) bởi vì khái niệm này chú trọng đến kết quả
cuối cùng của cuộc kiểm toán, đó là tính trung thực, hợp lý của các thông tin trên báo cáo tài chính Qua đó, người sử dụng có thể đánh giá chất lượng kiểm toán dựa trên chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính và xây dựng các mô hình định lượng chất lượng kiểm toán một cách gián tiếp dựa trên độ tin cậy của thông tin tài chính
2.2.1.2 Phí kiểm toán
Phí kiểm toán được xác định bằng tổng số tiền được một đơn vị trả cho công
ty kiểm toán để tiến hành thực hiện việc kiểm toán các báo cáo tài chính, hoặc thực
hiện việc soát xét báo cáo tài chính định kỳ
Phí kiểm toán được chia làm hai thành phần:
+ Phí kiểm toán thông thường: là phí kiểm toán được xác lập căn cứ vào
các tiêu chí cụ thể của công ty kiểm toán, ví dụ như: số giờ làm việc, số lượng kiểm toán viên, quy mô khách hàng, đánh giá rủi ro khách hàng, danh tiếng công ty kiểm toán… Phí kiểm toán thông thường được đo lường thông qua các mô hình ước tính phí kiểm toán
+ Phí kiểm toán bất thường: là phần phí kiểm toán vượt quá hoặc thấp hơn
mức phí kiểm toán thông thường Các nghiên cứu của DeAngelo (1981), Dye (1991), Choi (2010), Ettredge và đồng sự (2014) đều xác định được khoản phí kiểm toán bất thường này Khoản phí kiểm toán bất thường có thể là do công ty kiểm
Trang 30toán đương nhiệm có lợi thế hơn các công ty kiểm toán khác trong việc duy trì khách hàng, nên họ giảm giá phí kiểm toán Hoặc do khách hàng có quyền thương thảo hợp đồng nên phí kiểm toán bị giảm thiểu, cũng có thể là do áp lực tài chính
dẫn đến phải giảm phí kiểm toán
Như vậy, phí kiểm toán được xác định thông qua phương trình sau:
Phí kiểm toán = phần phí kiểm toán thông thường + phần phí kiểm toán
bất thường 2.2.2 Các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán
Như đã trình bày ở trên, chúng ta nhận thấy các học giả không thể đưa ra một định nghĩa tổng quát về chất lượng kiểm toán là do kiểm toán là một dịch vụ, sản
phẩm của kiểm toán không thể quan sát, xem xét một cách trực quan, dẫn đến việc
đo lường chất lượng kiểm toán trực tiếp gặp nhiều khó khăn, và vì vậy, các nhà nghiên cứu đã đánh giá chất lượng kiểm toán thông qua các biến đại diện khác nhau Xem xét các nghiên cứu trên thế giới, ta có thể phân loại các nhân tố đánh giá
chất lượng kiểm toán thành hai loại: trực tiếp và gián tiếp
Các nhân tố trực tiếp có thể kể đến như: mức độ tuân thủ chuẩn mực kế toán
của báo cáo tài chính, xem xét việc kiểm soát chất lượng kiểm toán (quality control review), khả năng phá sản của doanh nghiệp, nghiên cứu tài liệu (desk review) được
sử dụng như một thước đo chất lượng kiểm toán Ngoài các nhân tố trực tiếp, các nhà nghiên cứu còn sử dụng các nhân tố gián tiếp để đánh giá chất lượng kiểm toán như: quy mô công ty kiểm toán, nhiệm kỳ kiểm toán viên, đặc điểm của ngành nghề, phí kiểm toán, mức độ phụ thuộc kinh tế giữa khách hàng và công ty kiểm toán, uy tín công ty kiểm toán và chi phí sử dụng vốn
Các nghiên cứu trong nước về chất lượng kiểm toán cũng đưa ra nhiều nhân
tố liên quan đến chất lượng kiểm toán Trong luận án tiến sĩ của mình vào năm
2011, Trần Khánh Lâm đã đúc kết được các nhân tố chính được dùng để đánh giá chất lượng kiểm toán, bao gồm:
Trang 31 Quy mô công ty kiểm toán
Mức độ chuyên sâu của từng lĩnh vực kiểm toán (chuyên ngành)
Nhiệm kỳ của kiểm toán viên
Phí kiểm toán
Phạm vi của dịch vụ phi kiểm toán cung cấp
Phương pháp luận kiểm toán và tính cách của kiểm toán viên
Kiểm soát chất lượng dịch vụ cung cấp
Lâm Huỳnh Phương vào năm 2013 đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của việc luân chuyển kiểm toán viên đến chất lượng hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam Từ mô hình phân tích định lượng, tác giả tìm thấy bằng chứng chứng minh việc luân chuyển kiểm toán viên có mối tương quan với chất lượng
kiểm toán, đồng thời đưa ra nhiều kiến nghị nhằm tăng cường chất lượng kiểm toán nhưng vẫn đảm bảo tính hợp lý trong việc luân chuyển kiểm toán viên
Để cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về mức độ tác động của từng nhân tố đến chất lượng kiểm toán, luận văn này tiến hành nghiên cứu mức độ tác động của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán nhằm đánh giá mối liên hệ giữa nhân tố này với chất lượng kiểm toán, qua đó bổ sung thêm hiểu biết khoa học đối
Tính độc lập của kiểm toán viên (Barkess & Urquhart, 2002)
Khả năng phát hành lại (restatement) báo cáo tài chính sau kiểm toán (Agrawal & Chadha, 2005; Alan I Blankley, David N Hurtt, và Jason
E MacGregor, 2012)
Trang 32 Giá trị các khoản dồn tích bất thường (Antle et al 2006)
Giá trị các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được (Gopal V Krishnan, 2003; Choi, 2010; Sharad C Asthana và Jeff P Boone, 2012; Ettredge
và cộng sự, 2014) Trong phạm vi của nghiên cứu này, tác giả sử dụng các khoản dồn tích có thể điều chỉnh (discretionary accruals) được để đánh giá về mặt định lượng mức độ ảnh hưởng của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán Việc lựa chọn biến đại diện là các khoản dồn tích có thể điều chỉnh làm đại diện cho chất lượng kiểm toán, từ đó tiến hành đánh giá mức độ tác động của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán thông qua biến đại diện này được sử dụng khá phổ biến trên thế giới
Các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được là thước đo đánh giá khả năng điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị Schipper (1989) đưa ra định nghĩa hành vi
quản trị lợi nhuận chính là “can thiệp có chủ ý vào quá trình cung cấp báo cáo tài chính ra bên ngoài với mục đích đạt được lợi ích cá nhân” Tương tự như vậy, Healy & Wahlen (1999) cho rằng "hành vi quản trị lợi nhuận xảy ra khi nhà quản lý
sử dụng các xét đoán trong quá trình lập báo cáo tài chính và trong xử lý các giao dịch để thay đổi báo cáo tài chính nhằm tạo ra hiểu biết sai lệch của các bên liên quan về các hoạt động kinh tế cơ bản của công ty hoặc gây ảnh hưởng đến kết quả
của hợp đồng phụ thuộc vào số liệu trong báo cáo kế toán” Tuy nhiên, dù sử dụng định nghĩa nào thì hành vi quản trị lợi nhuận thật ra không quan sát được Vì vậy, các nhà nghiên cứu đánh giá chất lượng lợi nhuận thông qua các biến đại diện như: tính ổn định của lợi nhuận (persistent), mức độ các khoản dồn tích, phần dư của các khoản dồn tích (residuals from accrual models), sự dàn đều lợi nhuận (smoothness)… Có nhiều nghiên cứu đã cho thấy việc sử dụng các khoản dồn tích
có thể điều chỉnh hoặc các khoản dồn tích bất thường như các biến đại diện cho hành vi quản trị lợi nhuận có nhiều ưu điểm Việc sử dụng các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được là thước đo chất lượng lợi nhuận xuất phát từ việc kế toán ghi nhận biến động các đối tượng kế toán theo cơ sở dồn tích chứ không phải theo cơ sở dòng
tiền Tức là mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản,
Trang 33nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào
thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền Theo đó, báo cáo tài chính của doanh nghiệp phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai (Theo VAS 14) Do đó, sử dụng các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được sẽ giúp chúng ta xem xét hành vi quản trị lợi nhuận một cách thuận lợi, thông qua đó đánh giá được
chất lượng kiểm toán
Để đo lường các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được, các nhà nghiên cứu
đã đưa ra nhiều mô hình để lượng hóa Một số mô hình phổ biến có thể kể đến như
mô hình của Jones (1991), mô hình Jones hiệu chỉnh (do Dechow và cộng sự đưa ra năm 1995), mô hình Dechow và Dichev (2002), mô hình Jones cải tiến (do Kothari đưa ra năm 2005), mô hình sai số trong ước tính khoản dồn tích có thể điều chỉnh được (Francis và các đồng sự 2005) (theo Dechow và đồng sự, 2010, trang 359)
Cụ thể hơn, các tác giả chia tổng các khoản dồn tích thành hai thành phần: các khoản dồn tích không thể điều chỉnh được và các khoản dồn tích điều chỉnh được Phần có thể điều chỉnh được trong tổng các khoản dồn tích được sử dụng để ghi nhận hành vi quản trị lợi nhuận sẽ tốt hơn xem xét phần có thể điều chỉnh được trong từng khoản mục dồn tích cụ thể do nó thể hiện hành vi quản trị dưới góc nhìn
tổng thể Có nhiều phương pháp để xác định tổng khoản dồn tích như:
+ Tổng các khoản dồn tích được đo lường bằng cách lấy biến động trong vốn lưu động không bằng tiền trước thuế thu nhập phải nộp trừ đi tổng chi phí khấu hao Công thức như sau:
Trang 34+ Tổng các khoản dồn tích được đo lường bằng lợi nhuận trước thuế trừ đi dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh Theo đó, công thức xác định tổng các khoản dồn tích sẽ là:
𝑇𝐴𝑡 = 𝐿𝑁𝑇𝑇𝑡− 𝐶𝐹𝑂𝑡Trong đó: LNTTt: lợi nhuận trước thuế năm thứ t
CFOt: dòng tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm thứ t Sau khi xác định được tổng khoản dồn tích, các nhà nghiên cứu tiến hành sử
dụng một trong các phương pháp phổ biến sau đây để xác định khoản dồn tích có thể điều chỉnh được
a Mô hình Jones (1991)
Nghiên cứu này tập trung vào tổng các khoản dồn tích, xem nó là nguồn gốc của hành vi quản trị lợi nhuận Xuất phát từ những hạn chế của mô hình DeAngelo (1986) là coi các khoản dồn tích không thể điều chỉnh là hằng số qua các giai đoạn, giáo sư Jones đã đề xuất mô hình định lượng để xác định các khoản dồn tích có thể điều chỉnh, nhằm kiểm soát các thay đổi về tình hình kinh doanh của đơn vị Mô hình của bà gồm hai bước, đầu tiên là tính kỳ vọng (trung bình) của tổng các khoản dồn tích thông qua phương trình tuyến tính:
Trong đó: TAit = tổng khoản dồn tích trong năm t của công ty i
Ait-1 = Tổng tài sản năm thứ t - 1 của công ty i
∆REV = doanh thu năm t – doanh thu năm t-1 của công ty i PPEit = Nguyên giá tài sản cố định năm t của công ty i Ɛit = phần sai số trong năm t của công ty i
i = 1, …, n: số thứ tự công ty
t = 1, …, Ti: số thứ tự năm cho các năm trong giai đoạn ước tính
Trang 35của công ty t
Tiến hành sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu để có được các giá trị ước tính riêng biệt a1, b1i, b2i của α1, β1i, β2i Với giả định mối liên hệ giữa khoản dồn tích không điều chỉnh được và các biến giải thích là ổn định, tác giả xác định sai số dự đoán được cho bởi phương trình:
Trong đó: p = số thứ tự năm cho các năm trong giai đoạn dự đoán
uip = đại diện cho mức độ các khoản dồn tích có thể điều chỉnh ở năm thứ p
Tuy nhiên, theo đánh giá của Dechow (2010) thì mô hình này khả năng giải thích các biến động của các khoản dồn tích thấp, chỉ vào khoản 10%, nhưng khả năng giải thích biến động của các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được cao, khoản 80% Cho nên mô hình hình này dễ xảy ra sai sót phân loại nhầm một khoản dồn tích không thể điều chỉnh được thành một khoản dồn tích có thể điều chỉnh được
b Mô hình Jones hi ệu chỉnh (1995)
Trong mô hình gốc của Jones, khoản mục doanh thu được xem như là một khoản mục dồn tích không điều chỉnh được Tuy nhiên, Dechow và cộng sự (1995) cho rằng nên điều chỉnh lại mô hình của giáo sư Jones năm 1991 vì doanh thu bán chịu sẽ là một khoản mục giúp các nhà quản lý dễ dàng hơn trong việc quản trị lợi nhuận Do đó các tác giả này đề xuất một điều chỉnh bằng cách loại bỏ biến động khoản phải thu ra khỏi biến động doanh thu trong kỳ dự đoán khi ước tính khoản dồn tích không thể điều chỉnh được Mô hình lúc này sẽ gồm:
Tính trung bình của tổng các khoản dồn tích thông qua phương trình tuyến tính:
Trang 36Trong đó: TAit = tổng khoản dồn tích trong năm t của công ty i
Ait-1 = Tổng tài sản năm thứ t - 1 của công ty i
∆REV = doanh thu năm t – doanh thu năm t-1 của công ty i
∆REC = khoản phải thu năm t – khoản phải thu năm t-1 của công ty PPEit = Nguyên giá tài sản cố định năm t của công ty i
Ɛit = phần sai số trong năm t của công ty i
Trong đó: p = số thứ tự năm cho các năm trong giai đoạn dự đoán
uip = đại diện cho mức độ các khoản dồn tích có thể điều chỉnh ở năm thứ p
c Mô hình Dechow và Dichev (2002)
Dechow và Dichev vào năm 2002 giới thiệu một phương pháp khác nhằm đánh giá chất lượng các khoản dồn tích, thông qua đó đánh giá chất lượng lợi nhuận, đó là dựa vào dòng tiền trong quá khứ, hiện tại và tương lai Các khoản dồn tích có một vai trò khá quan trọng là thay đổi hoặc điều chỉnh việc ghi nhận dòng
tiền theo thời gian để những số liệu sau khi hiệu chỉnh thể hiện một thành quả tốt hơn trong quá trình kinh doanh của đơn vị
Trang 37Các tác giả sử dụng mô hình hồi quy chuỗi thời gian ở cấp độ công ty để đo lường chất lượng khoản dồn tích trong vốn lưu động:
∆𝑊𝐶𝑡 = 𝑏0+ 𝑏1𝑥𝐶𝐹𝑂𝑡−1+ 𝑏2𝑥𝐶𝐹𝑂𝑡 + 𝑏3𝑥𝐶𝐹𝑂𝑡+1+ 𝜀𝑡
Trong đó: ∆WC t = biến động trong vốn lưu động
CFO t = dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh năm t
Ɛ t = phần sai số trong năm t
Trong phương trình hồi quy trên, thước đo các khoản dồn tích là khoản biến động trong vốn lưu động, và biến đại diện cho các dòng tiền có mối liên hệ với các khoản dồn tích là dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (CFO) Phần dư từ phương trình hồi quy phản ánh các khoản dồn tích không liên quan đến các dòng
tiền đã thực hiện Độ lệch chuẩn của phần dư này là một thước đo chất lượng các khoản dồn tích, với độ lệch chuẩn càng cao thì chất lượng càng thấp
Mô hình này có một giới hạn khá quan trọng, đó là nó không thể sử dụng để xác định các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được trong dài hạn, trong khi các xử
lý về tài sản cố định có thể là công cụ để phản ánh tình trạng quản trị lợi nhuận của nhà quản lý
d Mô hình so sánh hi ệu quả hoạt động (2005)
Kothari và các đồng sự (2005) cho rằng cần phải xem xét mối tương quan
giữa hiệu quả hoạt động và khoản dồn tích có thể điều chỉnh được thu được từ hai
mô hình Jones (1991) và mô hình Jones hiệu chỉnh (1995) Ngoài ra, một hằng số δ được các tác giả thêm vào với nhiều lý do như: thêm một sự kiểm soát không làm
giảm bớt phương sai của sai số thay đổi do sử dụng tổng tài sản làm mẫu số hạ bậc, hay phương trình hồi quy nếu không có hằng số sẽ ít cân xứng hơn Các tác giả đề xuất thêm biến kiểm soát hiệu quả hoạt động ROA vào hai mô hình, sau đó tiến hành so sánh các cặp công ty có ROA tương đương nhau nhất để xem xét mức độ điều chỉnh các khoản dồn tích Mô hình đề xuất như sau:
Trang 38Trong đó: TAit = tổng khoản dồn tích trong năm t của công ty i
Ait-1 = Tổng tài sản năm thứ t - 1 của công ty i
∆REV = doanh thu năm t – doanh thu năm t-1 của công ty i PPEit = Nguyên giá tài sản cố định năm t của công ty i ROAit = Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản năm thứ t của công ty i
vit = phần sai số trong năm t của công ty i
loại ngành theo tiêu chuẩn) có giá trị ROA gần nhau nhất trong năm hiện hành
Tóm lại, do mô hình Jones hiệu chỉnh được sử dụng khá phổ biến trong các
nghiên cứu trên thế giới, đồng thời do đặc điểm về thời gian nghiên cứu và khả năng thu thập dữ liệu nghiên cứu nên tác giả sử dụng mô hình Jones hiệu chỉnh để đánh giá các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được trong luận văn của mình để giải quyết mục tiêu nghiên cứu
2.2.3.2 Mô hình ước tính phí kiểm toán
Phí kiểm toán là một đề tài nghiên cứu phổ biến trong lĩnh vực kiểm toán Tác động của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán cũng được đề cập đến trong rất nhiều bài báo khoa học Các nghiên cứu trước đây không tìm thấy ảnh hưởng
của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán DeAngelo (1981) cho thấy các công ty
có giảm phí kiểm toán năm đầu tiên cho các khách hàng Nhưng bằng chứng thực nghiệm cho thấy không có mối tương quan giữa khoản giảm phí kiểm toán với chất
Trang 39lượng kiểm toán Điều này được khẳng định lại trong nghiên cứu của Francis và Simon (1987) Các nghiên cứu sau này bắt đầu phát hiện mối liên hệ giữa phí kiểm toán và chất lượng kiểm toán Tuy nhiên, hiện nay giới nghiên cứu vẫn chia ra làm hai quan điểm chính đối với tác động của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán Quan điểm thứ nhất cho rằng phí kiểm toán cao sẽ tạo ra sự phụ thuộc lợi ích kinh
tế của công ty kiểm toán vào khách hàng, khiến cho chất lượng kiểm toán giảm
xuống thông qua việc giảm đi tính độc lập của kiểm toán viên biểu hiện bằng nhiều hình thức, ví dụ như sự tăng lên của các khoản dồn tích có thể điều chỉnh được Các nghiên cứu của Kinney và Libby (2002), Krishnan (2003), Hoitash và các đồng sự (2007), Choi (2010), Asthana and Boone (2012) ủng hộ cho quan điểm này Quan điểm thứ hai cho rằng phí kiểm toán cao đồng nghĩa với doanh nghiệp kiểm toán sẽ dành nhiều thời gian, tăng khối lượng công việc và sử dụng nhiều kiểm toán viên hơn để hoàn thành công việc kiểm toán, và do đó, chất lượng cuộc kiểm toán tăng lên Hơn nữa, những công ty kiểm toán lớn, có quy trình kiểm toán tốt, có cơ sở vật
chất hiện đại, có danh tiếng cao trong lĩnh vực kiểm toán mới có khả năng đề nghị
mức phí kiểm toán cao Do đó, các nhà nghiên cứu theo quan điểm này cho rằng nếu doanh nghiệp kiểm toán đưa ra mức phí kiểm toán thấp đồng nghĩa với việc họ
phải cắt giảm khối lượng công việc kiểm toán để có thể bù đắp được chi phí, và do
vậy, chất lượng kiểm toán đương nhiên sẽ bị giảm Có thể kể một số nghiên cứu dựa trên quan điểm này như Francis and Krishnan (1999), Krauß và các đồng sự (2014)
Ở Việt Nam, Bộ Tài Chính đã ban hành chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán vào ngày 08 tháng 05 năm 2015, trong đó quy định về phí kiểm toán ở chương 240 đoạn số 1 với nội dung chính là: “việc đưa ra giá phí là quyền đàm phán của kế toán viên, kiểm toán viên Trong trường hợp kế toán viên, kiểm toán viên đưa ra giá phí thấp hơn những người khác, điều đó không có nghĩa họ đã
vi phạm đạo đức, tuy nhiên, điều này có thể ảnh hưởng đến việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức cơ bản Ví dụ có thể phát sinh nguy cơ do tư lợi làm ảnh hưởng
tới năng lực chuyên môn cũng như tính thận trọng nếu mức phí đưa ra là quá thấp
Trang 40và kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề khó có thể thực hiện hợp đồng dịch vụ
đó tuân thủ theo đúng quy định của chuẩn mực nghề nghiệp và kỹ thuật phù hợp”
(Bộ Tài Chính, 2015) Với tinh thần nêu trong chuẩn mực này, Bộ Tài Chính đã cho
rằng phí kiểm toán giảm sẽ dẫn đến chất lượng kiểm toán giảm theo Từ đó, các nhà làm luật đưa ra biện pháp bảo vệ cho kiểm toán viên, đó là đảm bảo cho khách hàng hiểu rõ về các điều khoản hợp đồng, trong đó có cơ sở tính phí, nội dung và phạm vi công việc tương ứng với mức phí đó
Như vậy, để đánh giá tác động của phí kiểm toán đến chất lượng kiểm toán,
ta đánh giá thông qua khoản phí kiểm toán bất thường, tức là khoản phí được công
ty kiểm toán chiết khấu hoặc khoản phí công ty kiểm toán thu tăng thêm so với một khoản phí “chuẩn” Để có thể xác định được khoản phí chuẩn cho một doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều mô hình để xác định phí kiểm toán
a Mô hình Simunic (1980)
Mô hình xác định phí kiểm toán được Simunic đưa ra vào năm 1980 dựa vào phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến Ông đã xác định được các nhân tố cần thiết trong mô hình gồm: quy mô tài sản, quy mô chi nhánh, quy mô ngành nghề kinh doanh, khoản phải thu và hàng tồn kho, khoản lỗ trong ít nhất ba năm tài chính cuối cùng, ý kiển kiểm toán viên và danh tiếng công ty kiểm toán (công ty có thuộc nhóm BIG 8 hay không) Trong đó quy mô tài sản của công ty được kiểm toán là nhân tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng lớn nhất đến phí kiểm toán Để xác định tính tương quan giữa các biến trong mô hình, tác giả đưa ra 3 phương pháp để hạ bậc các
biến có giá trị lớn như tổng tài sản, phi kiểm toán bằng cách: sử dụng logarit tự nhiên, căn bậc hai và căn bậc ba Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đề xuất sử
dụng mô hình căn bậc hai để hạ bậc các biến theo phương trình sau: