(NB) Giáo trình Quản lý sản xuất cung cấp cho người học các kiến thức: Tổng quan về Tổ chức sản xuất; Đặc điểm cơ bản Nhiệm vụ - Quyền hạn của doanh nghiệp công nghiệp nhà nước; Các yếu tố của quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp; Hệ thống tổ chức quản lý trong doanh nghiệp công nghiệp;...
Trang 1UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP HẢI PHÒNG
GIÁO TRÌNH
Môn học/ Mô đun: Quản lý sản xuất
NGHỀ:ĐIỆN CÔNG NGHIỆP TRÌNH ĐỘ LIÊN THÔNG
Hải Phòng, 2019
1
Trang 2TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể đƣợc phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Để thực hiện biên soạn giáo trình đào tạo nghề Điện công nghiệp ở trình
độ Cao Đẳng Nghề và Trung Cấp Nghề, giáo trình Tổ chức sản xuất là một trong những giáo trình môn học đào tạo chuyên ngành được biên soạn theo nội dung chương trình đào tạo trường Cao đẳng Công nghiệp Hải Phòng đã phê duyệt Nội dung biên soạn ngắn gọn, dễ hiểu, tích hợp kiến thức và kỹ năng chặt chẽ với nhau, logíc
Khi biên soạn, nhóm biên soạn đã cố gắng cập nhật những kiến thức mới
có liên quan đến nội dung chương trình đào tạo và phù hợp với mục tiêu đào tạo, nội dung lý thuyết và bài tập được biên soạn gắn với nhu cầu thực tế trong sản xuất đồng thời có tính thực tiển cao Nội dung giáo trình được biên soạn với dung lượng thời gian đào tạo
Trong quá trình sử dụng giáo trình, tuỳ theo yêu cầu cũng như khoa học
và công nghệ phát triển có thể điều chỉnh thời gian và bổ sung những kiên thức mới cho phù hợp Trong giáo trình, chúng tôi có đề ra nội dung thực tập của từng bài để người học cũng cố và áp dụng kiến thức phù hợp với kỹ năng
Tuy nhiên, tùy theo điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị, các trường
có thề sử dụng cho phù hợp Mặc dù đã cố gắng tổ chức biên soạn để đáp ứng được mục tiêu đào tạo nhưng không tránh được những khiếm khuyết Rất mong nhận được đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo, bạn đọc để nhóm biên soạn sẽ hiệu chỉnh hoàn thiện hơn
Tổ bộ môn
3
Trang 4MỤC LỤC
GIÁO TRÌNH 1
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN 2
LỜI GIỚI THIỆU 3
BÀI MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT 9
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN,NHIỆM VỤ,QUYỀN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NHÀ NƯỚC 42
1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước 42
2 Nhiệm vụ của doanh nghiệp nhà nước 47
3 Quyền hạn của doanh nghiệp nhà nước 51
CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ CỦA QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP 55
1 Các giai đoạn của quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng 55
2.Vốn của doanh nghiệp 61
3 Tập thể lao động trong doanh nghiệp 66
CHƯƠNG 3: HỆ THỐNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ TRONG DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP 71
1 Chế độ quản lý doanh nghiệp công nghiệp nhà nước 71
2 Cơ cấu tổ chức quản lý trong doanh nghiệp công nghiệp 77
3 Cơ cấu tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp công nghiệp 79
CHƯƠNG 4: CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HÓA TRONG DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP 82
1 Khái niệm, mục tiêu của kế hoạch kinh doanh 82
2 Các loại kế hoach trong doanh nghiệp 83
3 Nội dung của kế hoạch sản xuất – kỹ thuật – tài chính của doanh nghiệp 84
CHƯƠNG 5 : CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP 88
1 Năng suất lao động 88
2 Định mức lao động 90
3 Biện pháp sử dụng đầy đủ thời gian lao động trong ca sản xuất 98
4 Tăng cường kỷ luật lao động 102
CHƯƠNG 6: CÔNG TÁC QUẢN LÝ KỸ THUẬT TRONG DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP 109
1 Một số khái niệm ban đầu 109
2 Quản lýchất lượng sản phẩm 111
CHƯƠNG 7: GIÁ THÀNH SẢN PHAM VÀ BIỆN PHÁP HẠ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM DOANH NGHIỆP 114
1 Khái niệm vàphân loại 114
2 Những biện pháp chủ yếu phấn đấu hạ giáthành sản phẩm 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 5CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC TỔ CHỨC SẢN XUẤT Tên môn học: Tổ chức sản xuất
Mãmôn học: MH 12
Thời gian thực hiện môn học: 32 giờ;(Lý thuyết: 24 giờ; Thực hành, thí nghiệm,
thảo luận, bài tập:4 giờ; Kiểm tra: 4 giờ)
I Vị trí, tính chất của môn học:
- Vị trí: Môn học Tổ chức sản xuất học sau các môn học, mô đun trong chương trình, nên bố trí học trước khi sinh viên đi Thực tập tốt nghiệp
- Tính chất: Là môn học chuyên môn nghề
II Mục tiêu môn học:
III Nội dung môn học:
1 Nội dung tổng quát và ph n phối thời gian:
Thời gian ( giờ)
Trang 6xuất
1.Khái quát chung về tổ chức sản xuất
2.Công tác tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp
I Chương 1 : Đặc điểm cơ 3 3
II Chương 2 : Các yếu tố của 3 3
quá trình sản xuất - kinh
doanh của doanh nghiệp
III Chương 3 : Hệ thống tổ 4 4
chức quản lý trong doanh
nghiệp công nghiệp
1.Chế độ quản lý doanh nghiệp công nghiệp nhà
nước
2 Cơ cấu tổ chức quản lý
Trang 7trong doanh nghiệp công
nghiệp
3 Cơ cấu tổ chức sản xuất
trong doanh nghiệp công
nghiệp
IV Chương 4 : Công tác kế 3 3
hoạch hóa trong doanh
nghiệp công nghiệp
1 Các loại kế hoạch hóa
trong doanh nghiệp công
nghiệp
2 Nội dung của kế hoạch
sản xuất - kỹ thuật -tài chính
hàng năm của doanh nghiệp
VI Chương 6 : Công tác quản 4 4
lý kỹ thuật trong doanh
nghiệp công nghiệp
1.Một số khái niệm ban đầu
2 Quản chất lượng sản
phẩm
7
Trang 8VII Chương 7 : Giá thành sản 4 3 1
Trang 9BÀI MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT
1 Khái quát chung về tổ chức sản xuất
Đối tượng tiêu
Thị trường sản phẩm
Doanh dùng
1 Người sản xuất
nhân lực
Chu trình hoạt động kinh tế
9
Trang 10Từ sơ đồ ta thấy rằng để tăng doanh thu tiêu thụ hàng hóa, mỗi doanh
nghiệp phải luôn tìm mọi cách để người tiêu dùng chấp nhận sản phẩm
hàng hoá của mình.Muốn vậy, họ phải tạo ra khả năng tiêu dùng cao
nhất cho người tiêu dùng khi sử dụng hàng hóa của họ so với hàng hóa
của các đơn vị khác, thông qua đó doanh nghiệp mới có thể tăng lợi
nhuận hoạt động của mình.Như vậy việc đáp ứng thỏa mãn cao nhất lợi
ích tiêu dùng cho đối tượng tiêu dùng chỉ là phương tiện để doanh
nghiệp đạt được mục đích của mình là tối đa hóa lợi nhuận
1.1 Một số khái niệm về sản xuất
Khi nói đến sản xuất, nhiều người thường nghĩ tới những doanh nghiệp chế tạo, sản xuất các sản phẩm vật chất cụ thể như bàn, ghế, tủ, và gắn liền với hình ảnh của những nhà máy, xí nghiệp, d y chuyền sản xuất
- Trước đ y, quản trị sản xuất thường hiểu như là một quá trình sản xuất vật chất, sản phẩm của nó là hữu hình
- Trong những năm gần đ y, phạm vi của việc tổ chức điều hành sản xuất được
mở rộng, trong thực tế có những doanh nghiệp vừa sản xuất sản phẩm dưới dạng vật chất thuần túy, lại vừa có những hoạt động khác dưới dạng phi vật chất như vận chuyển sản phẩm đến cho khách hàng, cung cấp những dịch vụ sau bán hàng… Sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất ra không chỉ đáp ứng những yêu cầu của người tiêu dùng về mặt giá trị sử dụng vật chất mà cả về những yếu
tố tinh thần, văn hóa
Hiện nay, khi nói đến sản phẩm người ta không chỉ nghĩ đến những thuộc tính cótính chất hữu hình mà còn cả những yếu tố khác có tính chất vô hình Sản phẩm được hình thành từ các thuộc tính vật chất hữu hình và vô hình Thuộc tính hữu hình phản ánh giá trị sử dụng khác nhau như công năng, công dụng, đặc tính kinh tế – kỹ thuật của sản phẩm Những thuộc tính vô hình bao gồm các yếu tố như thông tin hay các dịch vụ đi kèm để đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách tốt hơn
Theo quan niệm phổ biến hiện nay thì sản xuất được hiểu là quá trình tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ Sản xuất là một trong những ph n hệ chính có ý nghĩa quyết
Trang 11định đến việc tạo ra sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho xã hội Quản lý hệ thống sản xuất sản phẩm, dịch vụ là chức năng, nhiệm vụ cơ bản của từng doanh nghiệp
Hình thành, phát triển và tổ chức điều hành tốt hoạt động sản xuất là cơ sở và yêu cầu thiết yếu để mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trên thị trường
Khái niệm sản xuất làquátrình biến đổi những yếu tố đầu vào thành đầu ra Mục
đích của quá trình chuyển hóa này là tạo giá trị gia tăng để cung cấp cho khách hàng Đầu vào của quá trình chuyển đổi bao gồm nguồn nh n lực, vốn, kỹ thuật, nguyên vật liệu, đất, năng lượng, thông tin…Đầu ra của quá trình chuyển đổi là sản phẩm, dịch vụ, tiền lương, những ảnh hưởng đối với môi trường
Hiện nay theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì sản xuất (Production) được
hiểu là một quá trình (Process) tạo ra sản phẩm (Goods) hoặc dịch vụ (Services) Sản phẩm của quá trình sản xuất bao gồm hai loại chính Thứ nhất, sản phẩm hữu hình là kết quả của quá trình sản xuất thoả mãn nhu cầu của con người và tồn tại dưới dạng vật thể Thứ hai, sản phẩm vô hình là kết quả của quá trình sản xuất thoả mãn nhu cầu của con người nhưng không tồn tại dưới dạng vật thể (thường gọi là dịch vụ)
Quan niệm cũ cho rằng chỉ có những doanh nghiệp chế tạo sản xuất các sản phẩm vật chất có hình thái cụ thể như vật liệu máy móc thiết bị, mới gọi là đơn vị sản xuất Những đơn vị còn lại, nếu không sản xuất các sản phẩm vật chất thì đều bị xếp vào loại các đơn vị phi sản xuất Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, quan niệm như vậy không còn phù hợp nữa
Như vậy, về thực chất, sản xuất chính là quá trình chuyển hoá các yếu tố đầu vào, biến chúng thành các đầu ra dưới dạng sản phẩm hoặc dịch vụ
Tổ chức sản xuất là sự bố trí các công đoạn các khâu trong cả dây chuyền nhằm thực hiện chu trình kinh doanh tõ “đầu vào” đến “đầu ra”
Mục tiêu của tổ chức sản xuất là sù bố trí các công đoạn, các kh u nhằm tạo ra năng suất, chất lượng cao hơn, nhịp độ sản xuất nhanh hơn, tận dụng và huy động tối đa các nguồn lực vật chất vào sản xuất, giảm chi phí sản xuất một đơn
11
Trang 12vị đầu ra tới mức thấp nhất, rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp
dịch vụ Do đó quyết định lựa chọn tổ chức sản xuất theo d y chuyền, tổ chức
sản xuất theo nhóm hay tổ chức sản xuất đơn chiếc là tuỳ thuộc vào quy mô sản
xuất, chủng loại hay kết cấu sản phẩm của doanh nghiệp Dưới đ y chúng ta sẽ
tìm hiểu kỹ từng hình thức tổ chức sản xuất để giúp người quản lý có lựa chọn
hợp lý
Chức năng sản xuất là mọi hoạt động liên quan đến việc tạo ra sản phẩm và
cung cấp dịch vụ Nó không chỉ tồn tại trong hệ thống sản xuất chế tạo mà còn
tồn tại trong lĩnh vực dịch vụ như hệ thống y tế, vận tải, khách sạn, nhà hàng…
Là các hệ thống sản xuất không tạo ra sản phẩm có hình dạng cụ thể mà tạo ra
các sản phẩm vôhình, các dịch vụ như: khách sạn, ng n hàng, nàh hàng, bảo
hiểm, kiểm toán,…Hệ thống sản xuất dịch vụ có những đặc trưng sau:
- Sản phẩm không tồn kho được
- Quá trình sản xuất đi đôi với tiêu thụ và sử dụng
- Chất lượng sản phẩm của hệ thống sản xuất này chỉ được xác định sau khi
đã sử dụng xong sản phẩm đó
- Tuy nhiên, ngày nay có những hệ thống sản xuất vừa tạo ra sản phẩm
hữu hình vừa tạo ra sản phẩm vô hình
Trang 13-Tiền vốn
-(Khoa học & nghệ thuật quản trị)
Hình 1.1: Quá trình sản xuất
Ta có thể hình dung quá trình này như trong hình 1.1
Theo nghĩa rộng, sản xuất bao hàm bất kỳ hoạt động nào nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người Nó có thể ph n thành: sản xuất bậc 1; sản xuất bậc 2 và sản xuất bậc 3
- Sản xuất bậc 1 (sản xuất sơ chế): là hình thức sản xuất dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc là những hoạt động sử dụng các nguồn tài nguyên
có sẵn, còn ở dạng tự nhiên như khai thác quặng mỏ, khai thác l m sản, đánh bắt hải sản, trồng trọt,
- Sản xuất bậc 2 (công nghiệp chế biến): là hình thức sản xuất, chế tạo, chế biến các loại nguyên liệu thô hay tài nguyên thiên nhiên biến thành hàng hóa như gỗ chế biếnthành bàn ghế, quặng mỏ biến thành sắt thép Sản xuất bậc 2 bao gồm cả việc chế tạo các bộ phận cấu thành được dùng để lắp ráp thành sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm công nghiệp
- Sản xuất bậc 3 (công nghiệp dịch vụ): Cung cấp hệ thống các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của con người Trong nền sản xuất bậc 3, dịch
vụ được sản xuất ra nhiều hơn các hàng hóa hữu hình Các nhà sản xuất công nghiệp được cung cấp những điều kiện thuận lợi và dịch vụ trong phạm vi rộng lớn Các công ty vận tải chuyên chở sản phẩm của các nhà sản xuất từ nhà máy đến các nhà bán lẻ Các nhà bán buôn và nhà bán lẻ cung cấp các dịch vụ đến
13
Trang 14người tiêu dùng cuối cùng Ngoài ra còn nhiều loại dịch vụ khác như: bốc dỡ hàng hóa, bưu điện, viễn thông, ng n hàng, tài chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, nhà hàng, khách sạn,
Phân tích
Quá trình sản xuất là hoạt động có Ých của con người trên cơ sở sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, thiết bị máy móc, các phương pháp quản lý và công cụ lao động khác tác động lên các yếu tố như nguyên vật liệu, bán thành phẩm (đối tượng lao động) và biến các yếu tố đầu vào thành sản phẩm hoặc dịch vụ phù hợp với nhu cầu của xã hội
Trong các yếu tố lao động, nguyên võt liệu, bán thành phẩm thiết bị máy móc, nhà xưởng, đất đai, vốn, quản lý, thì lao động và quản lý là các yếu tố quan trọng nhất, chịu nhiều tác động nhất
Quá trình sản xuất là tập hợp quá trình lao động và quá trình tự nhiên cần thiết + Quá trình lao động là quá trình biến đổi các yếu tố đầu vào dưới tác động trực tiếp của người lao động, của thiết bị máy móc dưới sự điều khiển của người lao động
+ Quá trình tự nhiên là quá trình làm thay đổi các tính chất cơ, lý, hoá của đối tượng lao động dưới tác động của các điều kiện tự nhiên như độ ẩm, nhiệt độ, ánh sỏng… Ví dụ như quá trình lên men trong sản xuất bia, quá trình tự nhiên trong trồng trọt và chăn nuôi, quá trình thường hoá vật đúc trong ngành cơ khí, các sản phẩm sơn xong được để khô tự nhiên, ngành x y dựng để bê tông cứng
tự nhiên tõ 2 đến 3 tuần … Khoa học và công nghệ phát triển, người ta càng làm chủ và điều khiển được quá trình tự nhiên, đẩy nhanh quá trình tự nhiên bằng cách tác động vào các điều kiện hoặc chất xúc tác, biến các quá trình tự nhiên thành quá trình có thể đieưốu khiển được phục vụ cho lợi Ých của xã hội như trong công nghệ sinh học
Trước khi tổ chức sản xuất doanh nghiệp thực hiện các bước:
+ X y dựng chiến lược sản xuất kinh doanh: Công việc này nhằm xác định thị trường mục tiêu, ph n đoạn thị trường, lựa chọn mặt hàng xuất khẩu, kiểu dáng sản phẩm – màu sắc, bao bì nhẵn hiệu Doanh nghiệp cần xác định chất lượng
Trang 15sản phẩm và các dịch vụ kèm theo, giá cả hàng hoá và dịch vụ là những vũ khí cạnh tranh sắc bén khi x y dựng chiến lược Nếu doanh nghiệp không xác định được sản phẩm sản xuất ra không phù hợp với nhu cầu thị trường về kiểu dáng, giá cả… thì sản phẩm đó sẽ không bán được
+ dự báo thị trường: X y dựng các phương pháp và mô hình dự báo, sử dụng các phần mềm và hệ thống máy tính trong dự báo phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Thiết kế sản phẩm và qui trình công nghệ chế tạo sản phẩm
+ X y dựng kết cấu sản xuất, xác định năng lực sản suất và c n đối năng lực sản xuất
+ Lập kế hoạch sản xuất và kế hoạch tác nghiệp:
Sau khi thực hiện các bước trên doanh nghiệp sẽ tiến hành tổ chức sản xuất: khi
đó các kh u của quá trình sản xuất sẽ được giao cho các bộ phận có chức năng phù hợp, tổ chức sắp xếp nguồn lực con người một cách hợp lý và có hiệu quả Việc tổ chức sản xuất có nhiều hình thức Đối với loại hình sản xuất số lượng sản phẩm còn tương đối nhiều, chủng loại sản phẩm còn tương đối nhiều, sản xuất có tính lặp lại thì tổ chức sản xuất theo chuyên môn hoá công nghệ
Đối với loại hình sản xuất có số lượng sản phẩm rất lớn, chủng loại sản phẩm rất Ýt, sản xuất ổn định, nhịp nhàng và tương đối đều đặn thì tổ chức theo d y chuyền
Đi đôi với tổ chức sản xuất là tổ chức công tác sửa chữa thiết bị, tổ chức cung ứng vật tư, năng lực cho sản xuất và quản lý dự trữ, quản lý chất lượng: sản phẩm được sản xuất ra phải có chất lượng đảm bảo đúng quy trình
Tổ chức quản lý là sự thiết lập và vận hành hệ thống cơ quan quản lý điều hành
ở từng tổ chức sản xuất và trong cả doanh nghiệp
Nhiệm vụ đặt ra cho các nhà tổ chức là phải xác định đúng đắn các chức năng quản lý để từ đó lựa chọn một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý Đ y là tiền đề cần thiết và khách quan để quản lý doanh nghiệp đạt hiệu quả cao về các mặt kỹ thuật- sản xuất và kinh tế – xã hội Hơn nữa, muốn tổ chức hệ thống cơ quan quản lý hợp lý và có hiệu lực không thể không ph n tích sự phù hợp giữa cơ cấu
15
Trang 16tổ chức với các chức năng quản lý; bảo đảm quá trình quản lý trọn vẹn (không
bỏ sót chức năng quản lý), tạo điều kiện nghiên cứu tỷ mỷ khối lượng công việc quản lý và xác định chính xác số lượng cán bộ và nh n viên quản lý
Khi thiết lập và vận hành hệ thống cơ quan quản lý người quản lý cần tu n thủ các nguyên tắc chung và nguyên tắc riêng cho tổ chức
Tổ chức quản lý gồm ba yếu tố tạo thành: chức năng, cơ cấu và cơ chế vận hành Chức năng là lý do hình thành và tồn tại của tổ chức được khái quát từ các nhiệm vụ chính phải làm thường xuyên để thực hiện mục tiêu của tổ chức Cơ cấu là phương tiện để thực hiện chức năng, bao gồm các bộ phận hợp thành tổ chức Cơ chế là phương thức vận hành để cơ cấu hoạt động đúng chức năng
Do tính cấp thiết của việc xác định nên tổ chức bộ máy quản lý của công ty như thế nào cho có hiệu quả do đó trong khuôn khổ bài tiểu luận này tôi chỉ đề cập đến một vấn đề là giúp doanh nghiệp hệ thống lại các kiểu tổ chức quản lý để doanh nghiệp từ vị thế của mình lựa chọn một phương thức quản lý phù hợp nhất
Phân tích
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhưng nhìn chung có thể hiểu: Quản
lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đặt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường Quản lý có phạm vi hoạt động vô cùng rộng lớn, được chi làm ba dạng chính: quản lý giới
vô sinh, quản lý giới sinh vật, quản lý xã hội loài người
Để quản lý được phải tồn tại một hệ quản lý bao gồm hai ph n hệ: chủ thể quản
lý và đối tượng quản lý Chủ thể quản lý là tác nh n tạo ra các tác động quản lý nhằm d n dắt đối tượng quản lý đi đến mục tiêu Chủ thể có thể là một người, mét bộ máy quản lý gồm nhiều người, một thiết bị Đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý
Phải có một hoặc một tập hợp mục đích thống nhất cho cả chủ thể và đối tượng quản lý Đạt mục đích theo cách tốt nhất trong hoàn cảnh môi trường luôn biến
Trang 17động và nguồn lực hạn chế và lý do tồn tại của quản lý Đó cũng chính là căn cứ quan trọng để chủ thể tiến hành các tác động quản lý
Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin nhiều chiều Quản lý
là một quá trình thông tin Chủ thể quản lý phải liên tục thu thập dữ liệu về môi trường và hệ thống, tiến hành chọn lọc thông tin, xử lý thông tin, bảo quản thông tin, truyền tin và ra các quyết định – mét dạng thông tin đặc biệt nhằm tác động lên các đối tượng quản lý Còn đối tượng quản lý phải tiếp nhận các tác động quản lý của chủ thể cùng các đảm bảo vật chất khác để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình
Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi Đứng trước những thay đổi của đối tượng quản lý cũng như môi trường cả về quy mô và mức độ phức tạp, chủ thể quản lý không chịu bó tay mà v n có thể tiếp tục quản lý có hiệu quả thông qua việc điều chỉnh, đổi mới cơ cấu, phương pháp, công cụ và hoạt động của mình
Tổ chức quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích của tổ chức với kết quả và hiệu quả cao trong điều kiện môi trường luôn biến động
Chẳng hạn trong mỗi doanh nghiệp các bộ phận quản lý lãnh đạo của công ty là chủ thể quản lý Còn các bộ phận tác nghiệp là đối tượng quản lý Do đó đối với
bộ phận quản lý thì chúng ta phải tổ chức ph n cấp quản lý làm sao có hiệu quả nhất, tránh sự chồng chéo
Trong các doanh nghiệp hiện nay chúng ta thấy rất rõ sự thể hiện của khái niệm
“tổ chức quản lý” va “tổ chức sản xuất”
Đối với doanh nghiệp công nghiệp với hoạt động sản xuất hàng hoá chúng ta thấy rõ việc họ tổ chức sản xuất việc tổ chức quản lý Chẳng hạn mét doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc Sản phẩm của các doanh nghiệp may mặc công nghiệp là rất lớn với chủng loại hàng hoá Ýt, thông thường họ tổ chức sản xuất theo d y chuyền Cách thức tổ chức một d y chuyền là: ph n chia thành các bộ phận nhá nh bộ phận thiết kế, bộ phận căt, bộ phận đó đòi hỏi các doanh nghiệp
17
Trang 18cần phải được tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất phải thật tốt để đem lại hiệu quả cao Việc tổ chức quản lý tốt sẽ phối
1.2 Đặc điểm của sản xuất hiện đại
- Quản trị sản xuất ngày càng được các nhà quản trị cấp cao quan t m, coi đó như là một vũ khí cạnh tranh sắc bén Sự thành công chiến lược của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào sự đánh giá, tạo dựng, phát triển các nguồn lực
từ chức năng sản xuất Sản xuất hiện đại có những đặc điểm:
- Thứ nhất, sản xuất hiện đại yêu cầu phải có kế hoạch hợp lý khoa học, có đội
ngũ kỹ sư giỏi, công nh n được đào tạo tốt và thiết bị hiện đại
- Thứ hai, quan t m ngày càng nhiều đến thương hiệu và chất lượng sản phẩm
Đ y là một tất yếu khách quan khi mà tiến bộ kỹ thuật ngày càng phát triển với mức độ cao và yêu cầu của cuộc sống ngày càng n ng cao
- Thứ ba, càng nhận thức rõ con người là tài sản quí nhất của công ty Yêu cầu
ngày càng cao của quá trình sản xuất, cùng với sự phát triển của máy móc thiết
bị, vai trò năng động của con người trở nên chiếm vị trí quyết định cho sự thành công trong các hệ thống sản xuất
- Thứ tư, sản xuất hiện đại ngày càng quan t m đến vấn đề kiểm soát chi phí
Việc kiểm soát chi phí được quan t m thường xuyên hơn trong từng chức năng, trong mỗi giai đoạn quản lý
- Thứ năm, sản xuất hiện đại dựa trên nền tảng tập trung và chuyên môn hóa
cao Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã làm cho các công ty thấy rằng không thể tham gia vào mọi lĩnh vực, mà cần phải tập trung vào lĩnh vực nào mình có thế mạnh để giành vị thế cạnh tranh
- Thứ sáu, sản xuất hiện đại cũng thừa nhận yêu cầu về tính mềm dẻo của hệ
thống sản xuất Sản xuất hàng loạt, qui mô lớn đã từng chiếm ưu thế làm giảm chi phí sản xuất Nhưng khi nhu cầu ngày càng đa dạng, biến đổi càng nhanh thì các đơn vị vừa và nhỏ, độc lập mềm dẻo có vị trí thích đáng
- Thứ bảy, sự phát triển của cơ khí hoá trong sản xuất từ chỗ thay thế cho lao
động nặng nhọc, đến nay đã ứng dụng nhiều hệ thống sản xuất tự động điều khiển bằng chương trình
Trang 19- Thứ tám, ngày càng ứng dụng nhiều thành tựu của công nghệ tin học, máy
tính trợ giúp đắc lực cho các công việc quản lý hệ thống sản xuất
- Thứ chín, mô phỏng các mô hình toán học được sử dụng rộng rãi để hỗ trợ
cho việc ra quyết định sản xuất – kinh doanh
Trong thực tiễn có rất nhiều kiểu, dạng sản xuất khác nhau Sự khác biệt về kiểu, dạng sản xuất có thể do sự khác biệt về trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ
tổ chức sản xuất, về tính chất sản phẩm
Mỗi kiểu, dạng sản xuất đòi hỏi phải áp dụng một phương pháp quản trị thích hợp Do đó ph n loại sản xuất là một yếu tố quan trọng, là cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn phương pháp quản trị sản xuất phù hợp Cũng vì lý do trên, việc ph n loại này phải được tiến hành trước khi thực hiện một dự án quản trị sản xuất Sản xuất của một doanh nghiệp được đặc trưng trước hết bởi sản phẩm của nó Tuy nhiên người ta có thể thực hiện ph n loại sản xuất theo các đặc trưng sau đ y:
Số lượng sản phẩm sản xuất
Tổ chức các dòng sản xuất Mối quan hệ với khách hàng Kết cấu sản phẩm
Khả năng tự chủ trong việc sản xuất sản phẩm
Phân loại theo số lượng sản xuất và tính chất lặp lại
Ph n loại theo số lượng sản xuất và tính chất lặp lại là một cách ph n loại có tính chất giao nhau Theo cách ph n loại này ta có :
19
Trang 20Sản xuất đơn chiếc Sản xuất hàng khối Sản xuất hàng loạt
Ở đ y cần chú ý số lượng lớn hay nhỏ có tính chất tương đối, chúng tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng loại sản phẩm Với một số lượng sản phẩm nào đó người ta còn phải kể đến tính chất lặp lại của quá trình sản xuất, như đã chỉ ra trong bảng dưới
MỐI QUAN HỆ GIỮA LOẠI HÌNH SẢN XUẤT VÀ TÍNH CHẤT LẶP LẠI
Loại hình sản xuất Quá trình đưa vào sản Quá trình đưa vào
có tính chất lặp tính chất lặp lại lại
+ Động cơ tên lửa + Công trình công Sản xuất đơn chiếc + Bom nguyên tử cộng
+ Khuôn dập Loại vừa và nhỏ + Dụng cụ + Sản phẩm cơ khí,
+ Máy công cụ điện tử chuyên dùng Loại lớn + Đồ điện d n dụng + Báo, tạp chí
+ Sản phẩm mốt
Sản xuất đơn chiếc
Đ y là loại hình sản xuất diễn ra trong các doanh nghiệp có số chủng loại sản phẩm được sản xuất ra rất nhiều nhưng sản lượng mỗi loại được sản xuất rất nhỏ Thường mỗi loại sản phẩm người ta chỉ sản xuất một chiếc hoặc vài
Trang 21chiếc Quá trình sản xuất không lặp lại, thường được tiến hành một lần nên chúng có một số đặc điểm cơ bản sau:
Kh u chuẩn bị kỹ thuật sản xuất và kh u sản xuất thường không được tách rời Không có sự chế tạo, thử nghiệm sản phẩm trước khi đưa vào sản xuất như ở trong các loại hình sản xuất cao hơn
Quy trình công nghệ thường được lập ra một cách sơ sài, trong nhiều trường hợp chúng cần được chính xác hoá nhờ kinh nghiệm của người công nhâ
Trình độ nghề nghiệp của người công nh n cao vì họ phải làm nhiều loại công việc khác nhau Nhưng do không được chuyên môn hoá nên năng suất lao động thường thấp
Máy móc thiết bị của doanh nghiệp chủ yếu là các thiết bị vạn năng được sắp xếp theo từng loại máy có cùng tính năng, tác dụng phù hợp với những công việc khác nhau và thay đổi luôn luôn
Đầu tư ban đầu nhỏ và tính linh hoạt của hệ thống sản xuất cao Đ y là
ưu điểm chủ yếu của loại hình sản xuất này
Sản xuất đơn chiếc là loại hình sản xuất thuộc sản xuất gián đoạn Trong sản xuất đơn chiếc, các nơi làm việc thực hiện chế biến nhiều loại chi tiết khác nhau, nhiều bước công việc khác nhau trong quá trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Mỗi loại chi tiết được chế biến với khối lượng rất ít, thậm chí có khi chỉ một chiếc Các nơi làm việc không chuyên môn hóa, được bố trí theo nguyê tác công nghệ Máy móc thiết bị vạn năng thường sử dụng trên các nơi làm việc
Loại hình sản xuất đơn chiếc có tính linh hoạt cao
21
Trang 22Sản xuất hàng khối
Đ y là loại hình sản xuất đối lập với loại hình sản xuất đơn chiếc, diễn ra trong cá doanh nghiệp có số chủng loại sản phẩm được sản xuất ra ít thường chỉ có một vài loại sản phẩm với khối lượng sản xuất hàng năm rất lớn Quá trình sản xuất rất ổn định, ít khi có sự thay đổi về kết cấu sản phẩm, yêu cầu
kỹ thuật gia công sản phẩm cũng như nhu cầu sản phẩm trên thị trường Sản xuất thép, sản xuất giấy, sản xuất điện, xi măng là những ví dụ tương đối điển hình về loại hình sản xuất này Các doanh nghiệp có loại hình sản xuất này thường có những đặc điểm chính sau:
Vì gia công chế biến ít loại sản phẩm với khối lượng lớn nên thiết bị máy móc thường là các loại thiết bị chuyên dùng hoặc các thiết bị tự động, được sắp xếp thành các d y chuyền khép kín cho từng loại sản phẩm
Kh u chuẩn bị kỹ thuật sản xuất như thiết kế sản phẩm, chế tạo các m u thử sản phẩm và quy trình công nghệ gia công sản phẩm được chuẩn bị rất chu đáo trước khi đưa vào sản xuẩt đồng loại Như vậy kh u chuẩn bị kỹ thuật sản xuất
và kh u sản xuất là hai giai đoạn tách rời
Do tổ chức sản xuất theo kiểu d y chuyền nên trình độ chuyên môn hoá người lao động cao, mỗi người công nh n thường chỉ thực hiện một nguyên công sản xuất ổn định trong khoảng thời gian tương đối dài nên trình độ nghề nghiệp của người lao động không cao nhưng năng suất lao động thì rất cao
Chất lượng sản phẩm ổn định, giá thành hạ Đ y là những ưu điểm lớn nhất của loại hình sản xuất này
Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu vào các thiết bị chuyên dùng rất lớn Đ y là
nhược điểm lớn nhất của loại hình sản xuất này, khi nhu cầu thị trường thay đổi,
Trang 23doanh nghiệp rất khó khăn trong việc chuyển đổi sản phẩm Do vậy, chúng thường chỉ được áp dụng đối với các sản phẩm thông dụng có nhu cầu lớn và ổn định
Đặc điểm của loại hình sản xuất khối lượng lớn là nơi làm việc chỉ tiến hành chế biến chi tiết của sản phẩm hay một bước công việc của quy trình công nghệ chế biến sản phẩm, nhưng với khối lượng rất lớn
Với loại hình sản xuất này, người ta sử dụng máy móc thiết bị và dụng cụ chuyên dùng Các nơi làm việc được bố trí theo nguyên tắc đối tượng Công nh
n được chuyên môn hóa cao Đường đi của sản phẩm ngắn, ít quanh co, sản phẩm dở dang ít Kết quả sản xuất được hạch toán đơn giản và khá chính xác
Sản xuất hàng loạt (Sản xuất loại nhỏ và loại trung bình) - Batch
Sản xuất hàng loạt là loại hình sản xuất trung gian giữa sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng khối, thường áp dụng đối với các doanh nghiệp có số chủng loại sản phẩm được sản xuất ra tương đối nhiều nhưng khối lượng sản xuất hàng năm mỗi loại sản phẩm chưa đủ lớn để mỗi loại sản phẩm có thể được hình thành một dây chuyền sản xuất độc lập Mỗi bộ phận sản xuất phải gia công chế biến nhiều loại sản phẩm được lặp đi lặp lại theo chu kỳ Với mỗi loại sản phẩm người ta thường đưa vào sản xuất theo từng "loạt" nên chúng mang tên "sản xuất hàng loạt" Loại hình sản xuất này rất phổ biến trong ngành công nghiệp cơ khí dụng cụ, máy công cụ, dệt may, điện d n dụng, đồ gỗ nội thất với những đặc trưng chủ yếu sau:
Máy móc thiết bị chủ yếu là thiết bị vạn năng được sắp xếp bố trí thành những ph n xưởng chuyên môn hoá công nghệ Mỗi ph n xưởng đảm nhận một giai đoạn công nghệ nhất định của quá trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện một phương pháp công nghệ nhất định
23
Trang 24Chuyên môn hoá sản xuất không cao nhưng quá trình sản xuất lặp đi lặp lại một cách tương đối ổn định nên năng suất lao động tương đối cao
Vì mỗi bộ phận sản xuất gia công nhiều loại sản phẩm khác nhau về yêu cầu
kỹ thuật và quy trình công nghệ nên tổ chức sản xuất thường rất phức tạp Thời gian gián đoạn trong sản xuất lớn, chu kỳ sản xuất dài, sản phẩm tồn kho trong nội bộ quá trình sản xuất lớn Đó là những vấn đề lớn nhất trong quản lý sản xuất loại hình này
Đồng bộ hoá sản xuất giữa các bộ phận sản xuất là một thách thức lớn khi x
y dựng một phương án sản xuất cho loại hình sản xuất này
Vì là một loại hình trung gian của hai loại hình trên nên nó cũng có những đặc điểm trung gian của sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng khối
Trong loại hình sản xuất hàng loạt, nơi làm việc được ph n công chế biến một
số loại chi tiết, bước công việc khác nhau Các chi tiết, bước công việc này thay nhau lần lượt chế biến theo định kỳ
Phân loại theo hình thức tổ chức sản xuất:
Theo cách ph n loại này chúng ta có ba dạng sản xuất chủ yếu sau đ y:
Sản xuất liên tục Sản xuất gián đoạn Sản xuất theo dự án
Trong thực tế còn có thể có các dạng sản xuất trung gian
Sản xuất liên tục (Flow shop)
Sản xuất liên tục là một quá trình sản xuất mà ở đó người ta sản xuất và xử lý một khối lượng lớn một loại sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm nào đó Thiết
bị được lắp đặt theo d y chuyền sản xuất làm cho dòng di chuyển của sản phẩm
Trang 25có tính chất thẳng dòng Vì các xưởng được sắp xếp thẳng dòng nên tiếng Anh gọi là Flow shop
Trong dạng sản xuất này, máy móc thiết bị và các tổ hợp sản xuất được trang bị chỉ để sản xuất một loại sản phẩm vì vậy hệ thống sản xuất không có tính linh hoạt Để hạn chế sự tồn ứ chế phẩm và khơi thông dòng chuyển sản phẩm trong nội bộ quá trình sản xuất, c n bằng năng suất trên các thiết bị và các công đoạn sản xuất phải được tiến hành một cách thận trọng và chu đáo
Dạng sản xuất liên tục thường đi cùng với tự động hoá quá trình vận chuyển nội bộ bằng hệ thống vận chuyển hàng hoá tự động Tự động hoá nhằm đạt được một giá thành sản phẩm thấp, một mức chất lượng cao và ổn định, mức tồn đọng chế phẩm thấp và dòng lu n chuyển sản phẩm nhanh
Trong các doanh nghiệp dạng sản xuất liên tục bắt buộc phải thực hiện phương pháp sửa chữa dự phòng máy móc thiết bị (sửa chữa trước khi máy hỏng) để tránh sự gián đoạn hoàn toàn của quá trình sản xuất
Sản xuất gián đoạn (Job shop)
Sản xuất gián đoạn là một hình thức tổ chức sản xuất ở đó người ta xử lý, gia công, chế biến một số lượng tương đối nhỏ sản phẩm mỗi loại, song số loại sản phẩm thì nhiều, đa dạng Quá trình sản xuất được thực hiện nhờ các thiết bị vạn năng (máy tiện, máy phay) Việc lắp đặt thiết bị được thực hiện theo các bộ phận chuyên môn hoá chức năng Bộ phận chuyên môn hoá chức năng là bộ phận ở đó tập hợp tất cả các máy móc, thiết bị có cùng chức năng, cùng nhiệm vụ (máy tiện, máy phay, ) dòng di chuyển của sản phẩm phụ thuộc vào thứ tự các nguyên công cần thực hiện Trong dạng sản xuất này người ta bố trí các bộ phận theo nhiệm vụ (Job shop), máy móc thiết bị có khả năng thực hiện nhiều công việc khác nhau, nó không phải là để chuyên môn hoá cho một loại sản phẩm vì vậy tính linh hoạt của
hệ thống sản xuất cao Ngược lại rất khó c n bằng các nhiệm vụ trong một quá trình sản xuất gián đoạn Năng suất của các máy không bằng nhau làm cho mức tồn đọng chế phẩm trong quá trình sản xuất tăng lên
25
Trang 26Công nghiệp cơ khí và công nghiệp may mặc là những ví dụ điển hình về dạng sản xuất này
Sản xuất theo dự án
Sản xuất theo dự án là một loại hình sản xuất mà ở đó sản phẩm là độc nhất (Ví dụ: đóng một bộ phim, đóng một con tàu, viết một cuốn sách, ) và vì lẽ đó quá trình sản xuất cũng là duy nhất, không lặp lại
Nguyên tắc của tổ chức sản xuất theo dự án là tổ chức thực hiện các công việc
và phối hợp chúng sao cho giảm thời gian gián đoạn, đảm bảo kết thúc dự án và giao nộp sản phẩm đúng thời hạn
Trong dạng sản xuất này quá trình sản xuất không ổn định, cơ cấu tổ chức bị xáo trộn rất lớn do chuyển từ dự án này sang dự án khác, tổ chức sản xuất phải đảm bảo tính chất linh hoạt cao để có thể thực hiện đồng thời nhiều dự án sản xuất cùng một lúc Sản xuất theo dự án có thể coi như một dạng đặc biệt của sản xuất gián đoạn
Sản xuất dự án cũng là một loại sản xuất gián đoạn, nhưng các nơi làm việc tồn taị trong khoảng thời gian ngắn theo quá trình công nghệ sản xuất của một loại sản phẩm hay đơn hàng nào đó Sự tồn tại của nơi làm việc ngắn, nên máy móc thiết bị, công nh n thường phải ph n công theo công việc, khi công việc kết thúc cóthể giải tán lực lượng lao động này hoặc di chuyển đến các công việc khác
Phân loại theo mối quan hệ với khách hàng
Theo cách ph n loại này chúng ta ph n biệt hai dạng sản xuất chính sau:
Sản xuất để dự trữ Sản xuất khi có yêu cầu ( đặt
hàng) a Sản xuất để dự trữ
Sản xuất để dự trữ sản phẩm cuối cùng của một doanh nghiệp xảy ra khi:
Trang 27Chu kỳ sản xuất lớn hơn chu kỳ thương mại mà khách hàng yêu cầu Chu kỳ sản xuất sản phẩm là khoảng thời gian kể từ khi đưa sản phẩm vào gia công cho tới khi sản phẩm hoàn thành và có thể giao cho khách hàng Chu kỳ thương mại
đó là khoảng thời gian kể từ khi khách hàng có yêu cầu cho đến khi yêu cầu đó được phục vụ (thoả mãn), nói một cách khác, từ khi khách hàng hỏi mua đến khi nhận được sản phẩm Khi chu kỳ sản xuất dài hơn chu kỳ thương mại, cần phải sản xuất trước (dựa trên kết quả của quá trình dự báo nhu cầu) để thoả mãn nhu cầu của khách hàng nhanh nhất ngay khi xuất hiện một yêu cầu
Các nhà sản xuất muốn sản xuất một khối lượng lớn để giảm giá thành
Nhu cầu về các loại sản phẩm có tính chất thời vụ, trong các giai đoạn nhu cầu sản phẩm trên thị trường thấp, sản phẩm không tiêu thụ được, các nhà sản xuất không muốn ngừng quá trình sản xuất, sa thải công nh n, vì vậy họ quyết định sản xuất để dự trữ rồi tiêu thụ cho các kỳ sau, khi nhu cầu trên thị trường tăng lên
Sản xuất theo yêu cầu
Theo hình thức này quá trình sản xuất chỉ được tiến hành khi xuất hiện những yêu cầu cụ thể của khách hàng về sản phẩm Vì vậy nó tránh được sự tồn đọng của sản phẩm cuối cùng chờ tiêu thụ Dạng sản xuất này hiện nay được ưa chuộng và sử dụng nhiều hơn dạng sản xuất để dự trữ bởi vì nó giảm được khối lượng dự trữ, giảm các chi phí tài chính nhờ đó mà giảm được giá thành sản phẩm, n ng cao lợi nhuận Vì vậy hãy lựa chọn hình thức sản xuất này khi có thể
Trong thực tế, hình thức tổ chức sản xuất hỗn hợp tồn tại khá nhiều, ở đó người
ta tận dụng thời hạn chấp nhận được của khách hàng để lắp ráp hoặc thực hiện
kh u cuối cùng của quá trình sản xuất sản phẩm, hoặc để cá biệt hoá tính chất 27
Trang 28của sản phẩm (phần này được thực hiện theo những yêu cầu của khách hàng); giai đoạn đầu được thực hiện theo phương pháp sản xuất để dự trữ
Hình 1.2: Hình thức tổ chức sản xuất hỗn
hợp Phân loại theo quá trình hình thành sản phẩm
Quá trình hình thành sản phẩm cũng được coi là một trong những căn cứ để ph
n loại sản xuất của doanh nghiệp Theo cách ph n loại này người ta ph n biệt bốn quá trình hình thành sản phẩm trong sản xuất sau đ y:
Quá trình sản xuất hội tụ: Trong trường hợp này một sản phẩm được ghép nối
từ nhiều cụm, nhiều bộ phận, tính đa dạng của sản phẩm cuối cùng nói chung là nhỏ, nhưng các cụm, các bộ phận thì rất nhiều Số mức kết cấu có thể thay đổi
từ một đến hàng chục, ví dụ sản xuất các sản phẩm đồ điện d n dụng và sản phẩm cơ khí,
SP cuối cùng
Hình 1.3: Quá trình sản xuất hội tụ
Quá trình sản xuất phân kỳ: Đó là trường hợp mà các doanh nghiệp xuất phát từ
một hoặc một vài loại nguyên vật liệu nhưng lại cho ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau Ví dụ trong công nghiệp sữa, từ một loại nguyên liệu là sữa sản
Trang 29phẩm cuối cùng bao gồm nhiều loại với những quy cách và bao bì khác nhau như pho mát, sữa chua, bơ,
Sản phẩm
Hình 1.4: Quá trình sản xuất ph n kỳ
QTSX phân kỳ có điểm hội tụ: Đó là trường hợp các doanh nghiệp xuất phát từ
nhiều các bộ phận, các cụm, các chi tiết tiêu chuẩn hoá hình thành một điểm hội
tụ rồi xuất phát từ điểm hội tụ đó sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp lại rất nhiều loại và đa dạng thậm chí cũng nhiều loại như các yếu tố đầu vào.VD: Công nghệ sản xuất ô tô
Thông thường để quản lý loại doanh nghiệp này ta có thể áp dụng các phương pháp khác nhau đối với các phần khác nhau Ví dụ: Quản lý sản xuất để dự trữ đối với các phần hội tụ, quản lý sản xuất theo đơn hàng đối với các phần ph n
kỳ Kết cấu loại này thường gặp trong công nghệ sản xuất ô tô, Từ các chi tiết
bộ phận tiêu chuẩn hoá người ta hình thành nhiều kiểu truyền động khác nhau (hộp số) và nhiều loại mui xe, kính chắn giá khác nhau,
Hình 1.5: Quá trình sản xuất ph n kỳ có điểm hội tụ
Quá trình sản xuất song song: Các doanh nghiệp có ít loại sản phẩm, ít loại
nguyên liệu, các thành phẩm cuối cùng được tập hợp từ rất ít các yếu tố, thậm
29
Trang 30chí từ một yếu tố Công nghiệp bao bì là một ví dụ điển hình về loại cấu trúc này Một yếu tố đầu vào có 1 hoặc 1 số yếu tố đầu ra
Hình 1.6: Quá trình sản xuất song song
Phân loại theo tính tự chủ
Nhà thiết kế chế tạo
Doanh nghiệp tự thiết kế các sản phẩm của mình, tự sản xuất và tiêu thụ Doanh nghiệp loại này cần một hệ thống quản lý sản xuất hoàn chỉnh có tính thích ứng cao bởi vì đó chính là điều kiện để có khả năng cạnh tranh trên thị trường
Nhà thầu
Đó là các doanh nghiệp chỉ thực hiện một bộ phận các công việc sản xuất của người cấp thầu (người cho thầu) Tuy nhiên doanh nghiệp nhận thầu có thể tự chủ trong việc mua sắm nguyên vật liệu và các trang thiết bị cần thiết và có thể lựa chọn một phương pháp sản xuất phù hợp để thoả mãn yêu cầu đặt ra của người cho thầu về sản phẩm và dịch vụ
Người gia công
Cũng giống như người nhận thầu, người gia công chỉ thực hiện một phần công việc sản xuất của người giao việc (doanh nghiệp chủ) Tuy nhiên họ không có quyền tự chủ trong việc mua bán nguyên vật liệu Tất cả cái đó được cung cấp bởi doanh nghiệp chủ, thậm chí cả máy móc thiết bị sản xuất cũng có thể được cấp bởi doanh nghiệp chủ
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế hoạt động trong cơ chế thị trường, bằng nguồn lực, các phương tiện vật chất và tài chính của mình có thể thoả mãn những nhu cầu của khách hàng bằng cách sản xuất sản phẩm và cung cấp các dịch vụ Hay nói cách khác doanh nghiệp là một hệ thống chuyển hoá các đầu vào thành đầu ra dưới dạng sản phẩm và dịch vụ
Trang 31Mỗi doanh nghiệp là một hệ thống có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường bên ngoài và có cấu trúc bên trong gồm nhiều ph n hệ khác nhau Để thực hiện mục tiêu của mình, mỗi doanh nghiệp phải tổ chức tốt các bộ phận cấu thành nhằm thực hiện những chức năng cơ bản
Sản xuất là một trong những ph n hệ chính có ý nghĩa quyết định đến việc tạo ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho xã hội Quản lý hệ thống sản xuất sản phẩm, dịch vụ là chức năng, nhiệm vụ cơ bản của từng doanh nghiệp Hình thành, phát triển và tổ chức điều hành tốt hoạt động sản xuất là cơ sở và yêu cầu thiết yếu để mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trên thị trường
Quản trị sản xuất chính là quá trình thiết kế, hoạch định, tổ chức điều hành và
kiểm tra theo dõi hệ thống sản xuất nhằm thực hiện những mục tiêu sản xuất đã
đề ra
Hay nói cách khác, quản trị sản xuất là tổng hợp các hoạt động x y dựng hệ thống sản xuất và quản trị quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào tạo thành các sản phẩm, dịch vụ ở đầu ra theo yêu cầu của khách hàng nhằm thực hiện các mục tiêu đã xác định
Cũng giống như các ph n hệ khác, hệ thống sản xuất bao gồm nhiều yếu tố cấu thành có mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ với nhau Ph n hệ sản xuất được biểu
sau
Hình 1.7: Sơ đồ hệ thống sản xuất
31
Trang 32Yếu tố trung t m của quản lý sản xuất là quá trình biến đổi Đó là quá trình chế biến, chuyển hoá các yếu tố đầu vào hình thành hàng hoá hoặc dịch vụ mong muốn, đáp ứng nhu cầu của xã hội Kết quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc thiết kế, tổ chức và quản lý quá trình biến đổi này
Các yếu tố đầu vào rất đa dạng gồm có nguồn tài nguyên thiên nhiên, con người, công nghệ, kỹ năng quản lý và nguồn thông tin Chúng là điều kiện cần thiết cho bất kỳ quá trình sản xuất hoặc dịch vụ nào Muốn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả cần phải tổ chức, khai thác sử dụng các yếu tố đầu vào hợp lý, tiết kiệm nhất
Đầu ra chủ yếu gồm hai loại là sản phẩm và dịch vụ Ngoài những sản phẩm và dịch vụ được tạo ra, sau mỗi quá trình sản xuất, còn có các loại phụ phẩm khác
có thể có lợi hoặc không có lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đôi khi đòi hỏi phải có chi phí rất lớn cho việc xử lý, giải quyết chúng, như phế phẩm, chất thải,
Thông tin phản hồi là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống sản xuất của doanh nghiệp Đó là những thông tin cho biết tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất trong thực tế của doanh nghiệp
Các đột biến ng u nhiên có thể làm rối loạn hoạt động của toàn bộ hệ thống sản xuất d n đến không thực hiện được những mục tiêu dự kiến ban đầu Chẳng hạn thiên tai, hạn hán, lũ lụt, chiến tranh, hoả hoạn,
Nhiệm vụ của quản trị sản xuất là thiết kế và tổ chức hệ thống sản xuất nhằm biến đổi đầu vào thành các yếu tố đầu ra sau mỗi quá trình biến đổi, nhưng với một lượng lớn hơn số lượng đầu tư ban đầu Giá trị gia tăng là yếu tố quan trọng nhất, là động cơ hoạt động của các doanh nghiệp và mọi tổ chức cá nh n có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Giá trị gia tăng là nguồn gốc của sự tăng của cải và mức sống của toàn xã hội; tạo ra nguồn thu nhập cho tất cả các đối tượng có tham gia đóng góp vào hoạt động của doanh nghiệp như những người lao động, chủ sở hữu, cán bộ quản lý và là nguồn tái đầu tư sản xuất mở rộng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển l u dài của doanh nghiệp
Trang 33Mục tiêu của quản trị sản xuất
Sản xuất là một trong những chức năng chính của doanh nghiệp, cho nên quản trị sản xuất bị chi phối bởi mục đích của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp kinh doanh mục đích là lợi nhuận, đối với doanh nghiệp công ích mục đích là phục vụ
Quản trị sản xuất với tư cách là tổ chức quản lý sử dụng các yếu tố đầu vào và cung cấp đầu ra phục vụ nhu cầu của thị trường, mục tiêu tổng quát đặt ra là đảm bảo thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng trên cơ sở sử dụng hiệu quả nhất các yếu tố sản xuất Nhằm thực hiện mục tiêu này, quản trị sản xuất có các mục tiêu cụ thể sau:
Bảo đảm chất lượng sản phẩm và dịch vụ theo đúng yêu cầu của khách hàng; Giảm chi phí sản xuất tới mức thấp nhất để tạo ra một đơn vị đầu ra;
Rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ;
X y dựng hệ thống sản xuất của doanh nghiệp có độ linh hoạt cao;
Cần chú ý rằng các mục tiêu trên thường m u thu n với nhau Vấn đề đặt ra là phải biết xác định thứ tự ưu tiên của các mục tiêu tạo ra thế c n bằng động, đó là
sự c n bằng tối ưu giữa chất lượng, tính linh hoạt của sản xuất, tốc độ cung cấp
và hiệu quả phù hợp với hoàn cảnh môi trường trong từng thời kỳ cụ thể để tạo
ra sức mạnh tổng hợp, n ng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Vai trò và mối quan hệ của quản trị sản xuất với các chức năng quản trị chính khác
Doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất bao gồm ba ph n hệ cơ bản là quản trị tài chính, quản trị sản xuất và quản trị Marketing Trong các hoạt động trên, sản xuất được coi là kh u quyết định tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ, và giá trị gia tăng Chỉ có hoạt động sản xuất hay dịch vụ mới là nguồn gốc của mọi sản phẩm
và dịch vụ được tạo ra trong doanh nghiệp Sự phát triển sản xuất là cơ sở làm tăng giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, tăng trưởng kinh tế cho nền kinh tế quốc
d n tạo cơ sở vật chất thúc đẩy xã hội phát triển Quá trình sản xuất được quản
lý tốt góp phần tiết kiệm được các nguồn lực cần thiết trong sản xuất, giảm giá
33
Trang 34thành, tăng năng suất và hiệu quả của doanh nghiệp nói chung Chất lượng sản phẩm hay dịch vụ do kh u sản xuất hay cung ứng dịch vụ tạo ra Hoàn thiện quản trị sản xuất tạo tiềm năng to lớn cho việc n ng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
Tuy nhiên, đánh giá vai trò quyết định của quản trị sản xuất trong việc tạo ra và cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho xã hội không có nghĩa là xem xét nó một cách biệt lập tách rời các chức năng khác trong doanh nghiệp Các chức năng quản trị được hình thành nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định và có quan hệ chặt chẽ với nhau Quản trị sản xuất có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ với các chức năng chính như quản trị tài chính, quản trị marketing và với các chức năng hỗ trợ khác trong doanh nghiệp Mối quan hệ này vừa thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy nhau cùng phát triển, lại vừa m u thu n nhau
Sự thống nhất, phối hợp cùng phát triển dựa trên cơ sở chung là thực hiện mục tiêu tổng quát của doanh nghiệp Các ph n hệ trong hệ thống doanh nghiệp được hình thành và tổ chức các hoạt động sao cho đảm bảo thực hiện tốt nhất mục tiêu tổng quát của toàn hệ thống đã đề ra Marketing cung cấp thông tin về thị trường cho hoạch định sản xuất và tác nghiệp, tạo điều kiện đáp ứng tốt nhất nhu cầu trên thị trường với chi phí thấp nhất Ngược lại sản xuất là cơ sở duy nhất tạo ra hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho chức năng Marketing Sự phối hợp giữa quản trị sản xuất và marketing sẽ tạo ra hiệu quả cao trong quá trình hoạt động, giảm lãng phí về nguồn lực và thời gian
Chức năng tài chính đầu tư đảm bảo đầy đủ, kịp thời tài chính cần thiết cho hoạt động sản xuất và tác nghiệp; ph n tích đánh giá phương án đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, công nghệ mới; cung cấp các số liệu về chi phí cho hoạt động tác nghiệp Kết quả của quản trị sản xuất tạo ra, làm tăng nguồn và đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp đề ra
Tuy nhiên, giữa các ph n hệ trên có những m u thu n với nhau Chẳng hạn, chức năng sản xuất và marketing có những mục tiêu m u thu n với nhau về thời gian,
về chất lượng, về giá cả Trong khi các cán bộ marketing đòi hỏi sản phẩm chất lượng cao, giá thành hạ và thời gian giao hàng nhanh thì quá trình sản xuất
Trang 35lại có những giới hạn về công nghệ, chu kỳ sản xuất, khả năng tiết kiệm chi phí nhất định Cũng do những giới hạn trên mà không phải lúc nào sản xuất cũng đảm bảo thực hiện đúng những chỉ tiêu tài chính đặt ra và ngược lại nhiều khi những nhu cầu về đầu tư đổi mới công nghệ hoặc tổ chức thiết kế, sắp xếp lại sản xuất không được bộ phận tài chính cung cấp kịp thời
Những m u thu n đôi khi là khách quan, song cũng có khi do những yếu tố chủ quan g y ra Vì vậy, nhiệm vụ cơ bản là phải tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động của các chức năng trên nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp đề ra
2 Công tác tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp
2.1 Nội dung và yêu cầu của tổ chức quá trình sản xuất trong doanh nghiệp 2.1.1 Nội dung của quá trình sản xuất
tổ chức sản xuất là sự phối, kết hợp chặt chẽ giữa sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ sản xuất, quy
mô sản xuất và công nghệ sản xuất đã xác định nhằm sản xuất ra sản phẩm với chất lượng cao trên cơ sở quán triệt 3 vấn đề cơ bản của thị trường:
Sản xuất cái gì Sản xuất như thế nào Sản xuất cho ai
Việc tổ chức sản xuất hợp lý đem lại hiệu quả cao về nhiều mặt:
- Cho phép hoặc góp phần quan trọng vào việc sử dụng có hiệu quả
nguyên, nhiên vật liệu, thiết bị máy móc và sức lao động trong doanh nghiệp
- Góp phần to lớn vào việc n ng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thực hiện được mục tiêu kinh tế tổng hợp của doanh nghiệp, tức làm ăn có lãi
- Có tác dụng tốt đối với việc bảo vệ môi trường của các doanh
nghiệp(không g y ô nhiễm, không g y độc hại)
Khi xem xét có thể đứng trên hai góc độ:
35
Trang 36- Theo nghĩa rộng: Quá trình sản xuất bắt đầu từ khi xác định phương án sản phẩm, chuẩn bị các điều kiện cho sản xuất để sản xuất ra sản phẩm và đưa sản phẩm đó tiêu thụ trên thị trường
- Theo nghĩa hẹp: Quá trình sản xuất là quá trình khai thác hoặc chế biến một loại sản phẩm nào đó nhờ kết hợp một cách chặt chẽ 3 yếu tố của quá trình sản xuất
Quá trình sản xuất trong doanh nghiệp luôn luôn có hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau, đó là mặt vật chất- kỹ thuật của sản xuất và mặt kinh tế- xã hội của sản xuất Mặt vật chất- kỹ thuật của sản xuất bao gồm sự tác động của sức lao động lên đối tượng lao động bằng các công cụ lao động cần thiết để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Mặt kinh tế –xã hội của sản xuất cho thấy, quá trình sản xuất trong doanh nghiệp còn là quá trình củng cố mối quan hệ sản xuất, quá trình lao động sáng tạo và hiệp tác của người lao động
Với khái niệm trên, nội dung chủ yếu của quá trình sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm quá trình công nghệ, quá trình kiểm tra và quá trình vận chuyển, trong
đó quá trình công nghệ có vai trò quan trọng hơn cả
Tuỳ theo phương pháp chế biến hay gia công được áp dụng trong doanh nghiệp
mà quá trình công nghệ được chia thành nhiều hay Ýt giai đoạn công nghệ khác nhau và mỗi giai đoạn công nghệ lại được chia thành nhiều bước công việc (còn gọi là nguyên công) khác nhau
Bước công việc được gọi là đơn vị cơ bản của quá trình sản xuất Đó là một phần việc của quá trình sản xuất, được thực hiện trên một nơi làm việc, do một công nh n hoặc một nhóm công nh n cùng tiến hành trên một đối tượng lao động nhất định Khi xem xét bước công việc phải căn cứ vào 3 nh n tố: nơi làm việc, công nh n, đối tượng lao động, nếu một trong 3 nh n tố này thay đổi thì bước công việc cũng thay đổi
Việc ph n chia bước công việc càng nhỏ, càng có ý nghĩa to lớn đối với việc n
ng cao trình độ chuyên môn hoá công nh n, n ng cao năng suất và chất lượng sản phẩm và sử dụng hợp lý công suất của thiết bị, máy móc.Tuy nhiên, thời gian gián đoạn trong sản xuất lại tăng lên trong một mức độ nhất định vì phải 36
Trang 37dừng lại ở nhiều nơi làm việc và phải chuyển nhiều lần từ nơi làm việc này đến nơi làm việc khác Nói chung, việc chia thành nhiều bước công việc nhỏ chỉ phù hợp với trình độ sản xuất thủ công cũng như ở giai đoạn đầu của sản xuất cơ khí hoá Cùng với việc phát triển của các loại máy móc, công nghệ tiên tiến, một xu hướng chung là gộp các bước công việc nhỏ thành những bước công việc lớn
Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp hợp lý các yếu tố sản xuất để cung cấp
các sản phẩm, dịch vụ cần thiết cho xã hội
Nội dung cơ bản của quá trình sản xuất là quá trình lao động sáng tạo tích
cực của con người
Trong sản xuất người ta thường chia quá trình sản xuất thành hai dạng quá
trình:
lý, hóa học, sinh học mà không cần có sự tác động của lao động, hoặc chỉ cầntác động ở một mức độ nhất định
đó chính là quá trình làm thay đổi hình dáng, kích thước, tính chất vật lý, hóahọc của đối tượng chế biến
Quá trình công nghệ lại được ph n chia thành nhiều giai đoạn công nghệ khác nhau, căn cứ vào các phương pháp chế biến khác nhau, sử dụng máy móc thiết
bị khác nhau
2.2 Yêu cầu của tổ chức quá trình sản xuất
Các nhân tố ảnh hưởng đến loại hình sản xuất
- Trình độ chuyên môn hóa của xí nghiệp
- Mức độ phức tạp của kết cấu sản phẩm
- Quy mô sản xuất của xí nghiệp
37
Trang 38Trong bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào công tác tổ chức sản xuất đều phải quán triệt 4 yêu cầu sau:
a Tổ chức sản xuất phát triển theo hướng chuyên môn hoá kết hợp với kinh doanh tổng hợp
Chuyên môn hoá là hình thức ph n công lao động xã hội nhằm làm cho doanh nghiệp nói chung, các bộ phận sản xuất và các nơi làm việc nói riêng có nhiệm
vụ chỉ chế tạo một( hoặc một số rất Ýt) loại sản phẩm, chi tiết của sản phẩm hoặc chỉ tiến hành một (hoặc một số rất ít) bước công việc
Sản xuất chuyên môn hoá được coi là nh n tố rất quan trọng để n ng cao loại hình sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tiêu chuẩn hoá, thống nhất hoá, ứng dụng kỹ thuật tiên tiến hiện đại, tổ chức mua sắm vật tư, tổ chức lao động khoa học, tổ chức tiêu thụ sản phẩm và công tác quản trị doanh nghiệp Kinh doanh tổng hợp là những hoạt động kinh tế mang tính chất bao chùm nhiều lĩnh vực khác nhau, từ sản xuất công nghiệp đến sản xuất phi công nghiệp,
từ sản xuất đến lưu thông ph n phối và dịch vụ
Chuyên môn hoá và kinh doanh tổng hợp là hai vấn đề khác nhau, giữa chúng
có sự tác động kiềm chế l n nhau Nếu doanh nghiệp mở rộng kinh doanh tổng hợp thì chuyên môn hoá bị co hẹp lại, do đó vấn đề đặt ra là phải khéo kết hợp với quan điểm trên góc độ toàn doanh nghiệp để xem xét thì thấy tuy mức độ chuyên môn hoácógiảm, song v n cần phải n ng cao trình độ chuyên môn hoá của từng bộ phận sản xuất và từng nơi làm việc Chỉ như thế mới phù hợp với
xu thế hiện nay là mỗi doanh nghiệp vừa thực hiện chuyên môn hoá vừa thực hiện đa dạng hoá sản phẩm và kinh doanh tổng hợp trên cơ sở lấy hiệu quả kinh
Trang 39mối quan hệ này là nhằm đảm bảo sản xuất đồng bộ với hiệu quả cao và đ y chính là một trong những chỉ tiêu chủ yếu của tổ chức sản xuất hợp lý
Ngày nay với tiến bộ của khoa học hiện đại, nhờ đó ngày càng tạo ra công nghệ mới, thiết bị máy móc mới Kết quả của sự thay đổi này đã tạo ra điều kiện thuận lợi để xác lập và duy trì sản xuất c n đối trong doanh nghiệp
c Đảm bảo tính nhịp nhàng, sản xuất nhịp nhàng có nghĩa là số lượng sản phẩm sản xuất ra trong từng thời gian quy định (giờ, ca, ngày ) phải bằng hoặc xấp xỉ nhau
Sự nhịp nhàng của sản xuất chịu sự tác động của nhiều nh n tố như công tác chuẩn bị kỹ thuật cho sản xuất, kế hoạch hoá sản xuất, kế hoạch bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị máy móc, kế hoạch cung ứng vật tư kỹ thuật, việc bố trí ca làm việc, trình độ thao tác của công nh n Nếu mỗi doanh nghiệp có biện pháp thích hợp để thực hiện phối kết hợp chặt chẽ các nh n tố này, bảo đảm sản xuất nhịp nhàng nó sẽ đem lại ý nghĩa to lớn:
- Thực hiện có hiệu quả các hợp đồng đã ký kết, bảo đảm việc cung ứng sản phẩm cho nhu cầu của thị trường và xã hội một cách đều đặn
- Khắc phục được tình trạng sản xuất khi thì thong thả, cầm chõng, khi thì vội
vã khẩn trương, g y nên những lãng phí về sức người, sức của
- Bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ và mối quan hệ hiệp tác, liên kết với các đơn vị khác
d Phải tiến hành sản xuất một cách liên tục, không bị gián đoạn do những nguyê nhân chủ quan gây nên như: sản xuất không cân đối, thiếu nguyên nhiên vật liệu, thiếu việc làm, thiết bị máy móc háng đột xuất
Sản xuất liên tục thể hiện trình độ liên tục của đối tượng lao động trong quá trình vận động từ nơi làm việc này đến nơi làm việc khác, từ khi còn là nguyên vật liệu đến lúc trở thành sản phẩm Bảo đảm sản xuất liên tục sẽ đem lại những
ý nghĩa to lớn:
- Tiết kiệm thời gian lao động trong sản xuất
- Sử dụng hợp lý công suất và thời gian hoạt động của thiết bị máy móc
- Góp phần bảo đảm sản xuất c n đối và nhịp nhàng
39
Trang 40- Bảo đảm hoàn thành kế hoạch sản xuất với hiệu quả cao
Bốn yêu cầu này quan hệ mật thiết với nhau, yêu cầu trước tạo cơ sở cho yêu cầu sau
Tổ chức sản xuất ph n tán đó là tổ chức sản xuất diễn ra trên các chỗ làm việc, tổ chức ph n tán này là để thực hiện tổ chức sản xuất tập trung
Tổ chức quá trình sản xuất là nhằm thực hiện ba chức năng chủ yếu sau:
Chức năng kế hoạch hóa tác nghiệp: kế hoach hóa là những công việc khác nhau cần thực hiện trong một thời kì nhất định(chương trình sản xuất sản phẩm) Kế hoạch hóa các phương tiện vật chất và lao động để thực hiện chương trình sản xuất
Chức năng thực hiện: Thực hiện các nguyên công sản xuất khác nhau và theo dõi quátrình thực hiện đó
Chức năng kiểm tra: So sánh giữa kế hoạch và thực hiện, tính toán mức chênh lệch và ph n tích các chênh lệch đó, đưa ra các biện pháp nhằm khắc phục sự chênh lệch đó
Tổ chức sản xuất là sác định một chương trình sản xuất tối ưu nhằm sử dụng một cách có hiệu quả các phương tiện sản xuất, nhằm thỏa mãn tốt các nhu cầu của khách hàng Ở đ y cần nhấn mạnh rằng: Tổ chức quá trình sản xuất phải đảm bảo cho các phương tiện vật chất và con người được sử dụng một cách tốt nhất, nhưng đồng thời phải tôn trọng những đòi hỏi về chất lượng và thời gian của khách hàng
Khi x y dựng chương trình sản xuất, cần chú ý một số yêu cầu cơ bản sau: