HCMKHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ------MÔN HỌC: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN TIỂU LUẬN QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ VẬT CHẤT, PHƯƠNG THỨC VÀ HÌNH THỨC TỒN TẠI... Cơ sở lý luận về quan
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
- -MÔN HỌC: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
TIỂU LUẬN QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ VẬT CHẤT, PHƯƠNG THỨC VÀ HÌNH THỨC TỒN TẠI
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
1 Dương Thị Ngọc
Tìm kiếm, soạn nội dung phần 2:
Cơ sở thực tiễn Hoàn thành
2 Lâm Duy Huy 19145389 Tìm kiếm, soạn nội dung phần 2:
Cơ sở thực tiễn Hoàn thành
3 Dương Quốc Lợi 19134078 Tìm kiếm, chỉnh sửa và tổng hợp
4 Hoàng Ngọc
Thiên Nam 19146361
Tìm kiếm, soạn nội dung phần 1:
Cơ sở lý luận Hoàn thành
5 Trần Kim Nguyên 19136053
So
ạn nội dung phần mở đầu, kếtthúc bài tiểu luận Hoàn thành
6 Lê Thị Thu 19136080 Tổng hợp, chỉnh sửa, hoàn thiện
bài tiểu luận Hoàn thành
Trang 3Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
Chương 1 Cơ sở lý luận về quan điểm của triết học Mác – Lênin về vật chất, phương thức và hình thức tồn tại của vật chất 3
1 Quan điểm của triết học Mác – Lênin về vật chất 3
1.1 Quan điểm của Ph.Ăngghen 3
1.2 Quan điểm của V.I Lênin 3
2 Các hình thức tồn tại của vật chất 4
2.1 Vận động 4
2.3 Không gian và thời gian 6
3 Ý nghĩa phương pháp luận 7
Chương 2 Cơ sở thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam 2016 - 2020 8
1 Kinh tế Việt Nam 2016 - 2017: Ổn định, tạo động lực phát triển mới 8
2 Kinh tế Việt Nam năm 2017 : tăng trưởng mạnh mẽ trên nền tảng vững chắc 11
3 Kinh tế Việt Nam năm 2018: "Bứt tốc thần kỳ" 13
4 Kinh tế Việt Nam năm 2019 – 2020 là năm “bứt phá” 15
5 Kết luận 18
PHẦN KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn xưa, con người Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, với kỳvọng được đáp ứng nhu cầu về nhận thức và hoạt động thực tiễn của mình đã sáng tạo
ra những luận thuyết chung nhất, có tính hệ thống phản ánh thế giới xung quanh vàthế giới của chính con người và đó là lý do triết học ra đời, hay nói cách khác, triếthọc chỉ ra đời khi xã hội loài người đã đạt đến một trình độ tương đối cao của sảnxuất xã hội, phân công lao động xã hội hình thành, của cải tương đối thừa dư, tư hữuhóa tư liệu sản xuất được luật định, giai cấp phân hóa rõ và mạnh, nhà nước ra đời.Trải qua nhiều thời kì với nhiều nền triết học khác nhau thì có thể nói rằng triết họcMác - Lênin là triết học kinh điển nhất Triết học nói chung và triết học Mác - Lêninnói riêng luôn giúp con người chúng ta lý giải về thế giới một cách tường tận nhất.Triết học cho con người chúng ta ở hiện tại biết rất nhiều điều và đó như là la bànđịnh hướng con người trong các hoạt động, các lĩnh vực thực tiễn của cuộc sống.Cũng vậy, trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, cái giúp cho con người vượt quanhững khó khăn, thử thách, giải thoát con người khỏi những thách đố và vướng mắccủa cuộc sống, đáp ứng nhu cầu thường nhật và lâu dài của nhân loại không chỉ làkinh tế, kỹ thuật hiện đại và công nghệ cao, mà còn là triết học Triết học giúp chocon người tìm ra lời giải không chỉ cho những thách đố muôn thuở, mà còn chonhững vấn đề hoàn toàn mới do quá trình toàn cầu hoá đặt ra Triết học không chỉgiúp con người nhận thức rõ địa vị của mình, lối sống xứng đáng với con người, màcòn giúp họ xác định mục tiêu và lý tưởng sống để từ đó, góp phần biến đổi hiện thựcnhằm phục vụ cho chính mình Không chỉ thế, trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay,triết học còn giúp cho con người có được sự định hướng đúng đắn trong hành động và
Trang 5củng cố quyết tâm hành động, đánh giá đúng những biến động đang diễn ra, gợi mởcách đi, hướng giải quyết các vấn đề mà cuộc sống đang đặt ra Trong công cuộc đổimới ở nước ta hiện nay, triết học cũng đang thực hiện chính những vai trò to lớn đó.Biết được những vai trò to lớn mà triết học nói chung và triết học Mác - Lênin nóiriêng mang lại cho chúng ta trong quá khứ cũng như hiện tại, thì việc hiểu biết mộtcách tường tận các khía cạnh, các đặc trưng cơ bản của triết học là một vấn đề cực kìquan trọng và cấp thiết nhằm có một cái nhìn tổng quan nhất về thế giới, nhằm traudồi thêm những tư duy mới mẻ, từ đó phát triển bản thân hơn nữa và giúp giải quyếtcũng như giải thích các vấn đề về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong giai đoạnphát triển mạnh mẽ của toàn thế giới Có thể nói rằng, “Vật chất” chính là một vấn đề,một khía cạnh cơ bản nhất của triết học Và đó là lý do nhóm chọn đề tài “Quan điểmcủa triết học Mác - Lênin về vật chất, phương thức và hình thức tồn tại của vật chất”làm công trình nghiên cứu đối với môn Triết học Mác - Lênin.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Thực hiện đề tài nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ: quan điểm của triết họcMác - Lênin về vật chất, về phương thức và hình thức tồn tại tất yếu và vốn có của vậtchất, nắm bắt được ý nghĩa phương pháp luận về định nghĩa vật chất theo quan điểmtriết học Mác - Lênin đối với các quan niệm khác, cũng như hiểu được định nghĩa đó
có vai trò to lớn cho việc phát triển triết học về xã hội và lịch sử loài người Từ đó,vận dụng những kiến thức cơ bản trên để lý giải vấn đề kinh tế của Việt Nam nhằmhiểu được xu hướng vận động của nền kinh tế và tránh được sự chủ quan cũng nhưnhững sự cố khác trong các hoạt động thực tiễn của cuộc sống
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ VẬT CHẤT, PHƯƠNG THỨC VÀ HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT
1 Quan điểm của triết học Mác – Lênin về vật chất
1.1 Quan điểm của Ph.Ăngghen
Để có một quan niệm đúng đắn về vật chất, cần phải có sự phân biệt rõ ràng giữavật chất với tính cách là một phạm trù triết học, một sáng tạo, một công trình trí óccủa tư duy con người trong quá trình phản ánh hiện thực chứ không phải sản phẩmchủ quan của tư duy
Các sự vật, hiện tượng của thế giới, dù rất phong phú, muôn vẻ nhưng chúng vẫn
có một đặc tính chung, thống nhất đó là tính vật chất – tính tồn tại, độc lập không lệthuộc vào ý thức
1.2 Quan điểm của V.I Lênin
Kế thừa những tư tưởng thiên tài của Ph.Ăngghen về vật chất, V.I Lênin đã tiếnhành tổng kết toàn diện những thành tựu mới nhất của khoa học, đấu tranh chống mọibiểu hiện của chủ nghĩa hoài nghi, duy tâm (đang lầm lẫn hoặc xuyên tạc những thànhtựu mới trong nhận thức cụ thể của con người về vật chất, mưu toan bác bỏ chủ nghĩaduy vật), qua đó bảo vệ và phát triển quan niệm duy vật biện chứng về phạm trù nềntảng này của chủ nghĩa duy vật và ông có định nghĩa về vật chất như sau: "Vật chất làmột phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con ngườitrong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tạikhông lệ thuộc vào cảm giác" Với định nghĩa này, vật chất được hiểu như sau:
- “Vật chất chỉ thực tại khách quan” cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý thức và không
lệ thuộc vào ý thức Khi nói vật chất là một phạm trù triết học là muốn nói phạm trù
này là sản phẩm của sự trừu tượng hoá, không có sự tồn tại cảm tính V.I Lênin nhấn
Trang 7mạnh rằng, phạm trù triết học này dùng để chỉ cái “Đặc tính duy nhất của vật chất màchủ nghĩa duy vật triết học gắn liền với việc thừa nhận đặc tính này - là cái đặc tínhtồn tại với tư cách là hiện thực khách quan, tồn tại ở ngoài ý thức chúng ta” Nói cáchkhác, tính trừu tượng của phạm trù vật chất bắt nguồn từ cơ sở hiện thực, do đó,không tách rời tính hiện thực cụ thể của nó Theo V.I Lênin, trong đời sống xã hội thì
“khách quan không phải theo ý nghĩa là một xã hội những sinh vật có ý thức, nhữngcon người, có thể tồn tại và phát triển không phụ thuộc vào sự tồn tại của những sinhvật có ý thức, mà khách quan theo ý nghĩa là tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ýthức xã hội của con người”
- Vật chất “được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng tachép lại, chụp lại, phản ánh ” nghĩa là sự vật, hiện tượng vật chất tác động lên cácgiác quan, nhờ đó con người nhận biết về chúng Như vậy, con người có thể nhậnthức được vật chất Ở đây mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học đã được giải
quyết theo lập trường của triết học duy vật biện chứng
vô cơ đến giới hữu cơ, từ hiện tượng tự nhiên đến hiện tượng xã hội, tất cả đều ởtrạng thái không ngừng vận động, biến đổi
+ Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất nghĩa là vật chất bao giờ cũng ở trạngthái vận động vì bất cứ sự vật, hiện tượng vật chất nào cũng là một vật thể thống nhất
Trang 8có kết cấu nhất định Kết cấu đó không có gì khác là sự cùng tồn tại và ảnh hưởng lẫnnhau giữa các bộ phận, các nhân tố, các xu hướng khác nhau, đối lập nhau Sự ảnhhưởng qua lại đó gây ra những biến đổi nói chung, tức vận động Nói cách khác:Nguồn gốc vận động nằm trong mâu thuẫn nội tại của bản thân sự vật Vận động củavật chất là tự thân vận động
- Các hình thức vận động cơ bản:
+ Vận động cơ học là sự dịch chuyển vị trí của các vật thể trong không gian
+ Vận động vật lý là sự vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện
tử, các quá trình nhiệt, điện
+ Vận động hóa học là quá trình hóa hợp và phân giải các chất, vận động của cácnguyên tử
+ Vận động sinh học là sự trao đổi chất giữa cơ thể sống với môi trường
+ Vận động xã hội là sự biến đổi của lịch sử và xã hội, sự thay đổi, thay thế cácquá trình xã hội này bằng các quá trình xã hội khác
- Các hình thức vận động tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời nhau Giữa haihình thức vận động cao và thấp có thể có hình thức vận động trung gian, đó là nhữngmắt khâu chuyển tiếp trong quá trình chuyển hoá lẫn nhau của các hình thức vậnđộng
2.2 Đứng im
Đứng im là trạng thái bảo tồn những thuộc tính vốn có của vật chất và được xácđịnh trong một giới hạn thời gian mà ở đó sự vật chưa thay đổi thành sự vật khác.Đứng im có tính tương đối và tạm thời (còn vận động là tuyệt đối) bởi vì đứng imchỉ diễn ra trong một hình thức vận động nhất định, trong một quan hệ nhất định vàtrong một thời gian nhất định mà thôi Như vậy, đứng im chẳng qua chỉ là một trạng
thái đặc biệt của vận động của vật chất Nói cách khác, đứng im là một dạng của vận
động, trong đó sự vật chưa thay đổi căn bản về chất, nó còn là nó chứ chưa chuyểnhoá thành cái khác
Trang 9Đứng im cũng là hình thức “chứng thực” sự tồn tại thực sự của vật chất, là điềukiện cho sự vận động chuyển hoá của vật chất Không có đứng im thì không có sự ổnđịnh của sự vật, và con người cũng không bao giờ nhận thức được chúng Không cóđứng im thì sự vật, hiện tượng cũng không thể thực hiện được sự vận động chuyển
hoá tiếp theo
2.3 Không gian và thời gian
Các thuộc tính:
- Không gian: Bất kỳ một khách thể vật chất nào cũng đều chiếm một vị trí nhấtđịnh, ở vào một khung cảnh nhất định trong tương quan về mặt kích thước (hình thứckết cấu, độ dài ngắn, cao thấp ) so với các khách thể khác Các hình thức tồn tại như
vậy của vật thể được gọi là không gian
- Thời gian: Sự tồn tại của các khách thể vật chất bên cạnh các quan hệ không gian,còn được biểu hiện ở mức độ tồn tại lâu dài hay nhanh chóng của hiện tượng, ở sự kếtiếp trước sau của các giai đoạn vận động Những thuộc tính này của sự vật được đặctrưng bằng phạm trù thời gian
- Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất vận động, đượccon người khái quát khi nhận thức thế giới Không có không gian và thời gian thuầntuý tách rời vật chất vận động V.I Lênin viết: “Trong thế giới không có gì ngoài vậtchất đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài khônggian và thời gian” Không gian và thời gian là hai thuộc tính, hai hình thức tồn tạikhác nhau của vật chất vận động, nhưng chúng không tách rời nhau Không có sự vật,hiện tượng nào tồn tại trong không gian mà lại không có một quá trình diễn biến của
nó Vì thế không gian và thời gian, về thực chất là một thể thống nhất không- thời
gian Vật chất có ba chiều không gian và một chiều thời gian Không gian và thời giancủa một sự vật, hiện tượng cụ thể là có tận cùng và hữu hạn
Trang 103 Ý nghĩa phương pháp luận
Ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm vật chất của Triết học Mác – Lênin:
- Định nghĩa vật chất của V.I Lênin đã giải quyết hai mặt vấn đề cơ bản của triếthọc trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng Nó còn cung cấp nguyên tắcthế giới quan và phương pháp luận khoa học để đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm,thuyết không thể biết, chủ nghĩa duy vật siêu hình và mọi biểu hiện của chúng trongtriết học tư sản hiện đại về phạm trù này Trong nhận thức và thực tiễn, đòi hỏi conngười phải quán triệt nguyên tắc khách quan - xuất phát từ hiện thực khách quan, tôntrọng khách quan, nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan
- Định nghĩa vật chất của V.I Lênin là cơ sở khoa học cho việc xác định vật chấttrong lĩnh vực xã hội - đó là các điều kiện sinh hoạt vật chất và các quan hệ vật chất
xã hội Nó còn tạo sự liên kết giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vậtlịch sử thành một hệ thống lý luận thống nhất, góp phần tạo ra nền tảng lý luận khoahọc cho việc phân tích một cách duy vật biện chứng các vấn đề của chủ nghĩa duy vậtlịch sử, trước hết là các vấn đề về sự vận động và phát triển của phương thức sản xuấtvật chất, về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về mối quan hệ giữa
giữa quy luật khách quan của lịch sử và hoạt động có ý thức của con người
Trang 11Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 2016 - 2020
Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động Kinh tế Việt Namđang trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu Chính bởi Đảng và nhà nước ta đã
kế thừa và phát triển được những tư tưởng của Triết học Mác – Lênin, vận dụng vàophép biện chứng duy vật vào xậy dựng và phát triển đất nước đặc biệt là phát triểnnền kinh tế của Việt Nam Việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm(2016 – 2020) để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng bền vững Ngày 12 – 4 – 2016, tại kỳhọp thứ 11, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Nghị quyết số 142/2016/QH13 về Mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020 Mục tiêu của kế hoạch:
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm 6,5 – 7%/năm
- GDP bình quân đầu người năm 2020 khoảng 3.200 – 3.500 USD
- Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP năm 2020 khoảng 85%
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm khoảng 32 – 34% GDP
- Bội chi ngân sách nhà nước năm 2020 dưới 4% GDP
- Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng khoảng 30 – 35%
- Năng suất lao động xã hội bình quân tăng khoảng 5%/năm
- Tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm 1 – 1,5%/năm
- Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2020 đạt 38 – 40%
1 Kinh tế Việt Nam 2016 - 2017: Ổn định, tạo động lực phát triển mới
Dựa vào nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin mở rộng nhận thức của vai trò quan
hệ quốc tế Năm 2016 cũng là năm Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng hơn vàonền kinh tế thế giới thông qua hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA) songphương và đa phương, trong đó đáng chú ý là FTA Việt Nam – EU, FTA liên minhkinh tế Á - Âu: Nga, Belarus, Kazaskhtan, FTA Việt Nam – Hàn Quốc, Cộng đồngkinh tế ASEAN (AEC) nhằm tăng trưởng mạnh mẽ kinh tế trong nước
Trang 12Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2016 ước tính tăng 6,21% so với năm
2015, thấp hơn mức tăng 6,68% của năm 2015 và không đạt mục tiêu tăng trưởng6,7% đề ra Tình hình thời tiết không thuận lợi, hạn hán lũ lụt hoành hành bên cạnh
đó, sự cố môi trường biển nghiêm trọng tại một số tỉnh miền Trung cũng như các biến
động kinh tế toàn cầu đã có những tác động đáng kể đến hoạt động sản xuất
Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,36%, thấp nhất kể từ năm
2011 trở lại đây; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,57%, thấp hơn mức tăng9,64% của năm trước; khu vực dịch vụ tăng 6,98%, cao hơn mức tăng 6,33% của năm2015
Việc vận dụng các phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố quan trọngnhất với các công cụ lao động ngày càng hiện đại dã nói lên được sự tiến bộ về nênsản xuất của Việt Nam
Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản năm 2016 gặp nhiều khó khănnhưng đã có sự chuyển biến tích cực trong những tháng cuối năm Giá trị sản xuấtnông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2016 theo giá so sánh 2010 ước tính tăng 1,44% sovới năm 2015, bao gồm: nông nghiệp tăng 0,79%; lâm nghiệp tăng 6,17%; thủy sảntăng 2,91%
Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2016 tăng 7,5% so với cùng kỳ, thấp hơn nhiều
so với mức tăng 9,8% của năm 2015, chủ yếu do sự sụt giảm của ngành công nghiệpkhai khoáng (giảm 5,9%) Tuy nhiên, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo lại có mứctăng 11,2%, cao hơn so với mức tăng của cùng kỳ năm trước (tăng 10,5%) Điều nàycho thấy ngành công nghiệp trong nước đang có xu hướng chuyển dịch sang lĩnh vực
chế biến, chế tạo, giảm sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, khoáng sản
Khu vực dịch vụ tiếp tục tăng trưởng cao và đạt mức 6,98%, chủ yếu nhờ tốc độtăng tích cực của một số ngành có tỷ trọng lớn như: bán lẻ hàng hóa tăng 10,2%; dịch
vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,7%, ; lượng khách quốc tế tăng 26% so với năm trước
(đạt 10 triệu lượt - gấp 2 lần lượng khách đến nước ta năm 2010)