1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu thi môn khí tượng hải duong

33 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Thi Môn Khí Tượng Hải Dương
Trường học Trường Đại Học Khí Tượng Thủy Văn
Chuyên ngành Khí Tượng
Thể loại Tài Liệu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 3,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu thi môn khí tượng hải duong dành cho sinh viên đại học giao thông vận tải HCM chuyên ngành khoa học hàng hải Tài liệu thi môn khí tượng hải duong dành cho sinh viên đại học giao thông vận tải HCM chuyên ngành khoa học hàng hải

Trang 1

1.Trình bày những đặc điểm và phạm vi của tầng đối lưu.

- Khí quyển được phân chia thành từng lớp theo độ cao tính từ mặt đất Hai lớp quan trọng nhất

là tầng đối lưu và tầng bình lưu Lên cao hơn nữa là tầng điện ly

- Tầng đối lưu bắt đầu từ bề mặt Trái Đất mở rộng ra đến cao độ 20 km (12 dặm) ở các vùng nhiệt đới, giảm tới khoảng 11 km ở các vĩ độ trung bình, ít hơn 7 km (4 dặm) ở các vùng cực về mùa hè còn trong mùa đông là không rõ ràng.Tầng đối lưu nằm ngay phía dưới tầng bình lưu

- Tầng đối lưu là tầng tiếp xúc với bề mặt trái đất, có độ dày trung bình khoảng 11km tính từ mặt đất Hơn 3/4 lượng không khí của khí quyển tập trung ở tầng này Đây chính là nơi các hiện tượng thời tiết như mưa, bão, tuyết, diễn ra

- Đặc điểm của tầng đối lưu:

+ Nhiệt độ giảm trung bình 0, 6 °C khi độ cao tăng 10m

+ Không khí tuần hoàn theo cả phương ngang và phương thẳng đứng Do đó tầng này được gọi

là tầng đối lưu

+ Độ dày trung bình là 11km, nhưng thay đội từ 16km tại xích đạo đến 8km tại hai cực của trái đất

+ Áp suất giảm theo độ cao

Tầng đối lưu(Troposphere):0-18km, không khí chuyển động đối lưu và hỗn loạn,nơi diễn ra các

hoạt động thời tiết, nhiệt độ hạ theo độ cao, cỡ 6-7˚C trên 1 km độ cao áp suất không khí ở tầng đối lưu cũng giảm mạnh theo độ cao, ở độ cao 5 km áp suất còn ½, ở độ cao 10 km là ¼ so với mặt đất

Do sự trao đổi nhiệt khác nhau theo vĩ độ, lục địa,đại dương,hải lưu nóng, lạnh nên xuất hiện cáckhối không khí nóng, lạnh Không khí di chuyển theo chiều thẳng đứng, cuộn,xoáy,trượt dọc theo Front

2 Định nghĩa các thuật ngữ sau: hơi nước, độ ẩm tương đối, nhiệt độ điểm sương, không khí bão hòa, không khí khô, sự ngưng tụ hơi nước, sự đối lưu.

-Lưu ý không nên lẫn lộn mây, sương mù và hơi nước, bởi vì chúng là nhưng hạt nước li ti và có thể nhìn thấy được và ở dạng lỏng

Trang 2

3 Nhiệt độ điểm sương:

- Là nhiệt độ mà tại đó sự ngưng tụ của hơi nước bắt đầu xảy ra Nếu nhiệt độ điểm sương cao hơn điểm đông lạnh, thì hơi nước sẽ ngưng tụ dưới dạng hạt nước, còn nếu ngược lại sẽ tạo thànhtinh thể băng

- Khi hơi nước ngưng tụ trên những vật nhân tạo, chúng thường được gọi là mồ hôi Điều này xảy ra khi bề mặt của vật đó có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ điểm sương của không khí

- Việc xác định chính xác nhiệt độ điểm sương của ko khí sẽ xác định việc có nên thông gió hầm hàng hay không khi tàu chạy qua các vùng có nhiệt độ khác nhau

4 Không khí bão hòa: Là trạng thái mà hơi nước trong không khí đã đạt tối đa và không thể bay

hơi thêm vào đó được Nếu bay hơi thêm vào bao nhiêu thì có bấy nhiêu hơi ẩm ngưng tụ lạ

5

Không khí khô: Không khí không chứa hơi nước gọi là không khí khô Trong thực tế không cókhông khí khô hoàn toàn, mà không khí luôn luôn có chứa một lượng hơi nước nhất định Đối với không khí khô khi tính toán thường người ta coi là khí lý tưởng Khi nhìn vào bảng trong sách giáo khoa khí tượng học, sẽ nhận thấy rằng đối với thành phần khí trong bầu khí quyển, thường có một bảng cho thấy sự phong phú của mỗi loại khí chính trong không khí khô Điều này được thực hiện vì hơi nước là một loại khí thay đổi (từ 1% đến khoảng 4%) Lượng hơi nướctrong không khí tùy thuộc vào điểm sương của không khí Khi hơi nước được bỏ qua, những gì còn lại là một tỷ lệ khá cố định của phần trăm theo thể tích của oxy, Nitơ và Argon Tuy nhiên, không khí sẽ không hoàn toàn khô vì ngay cả trong không khí rất lạnh sẽ vẫn có một dấu hiệu hơi nước

6 Ngưng tụ hơi nước: là hiện tượng nước chuyển từ dạng hơi sang trạng thái lỏng, khi nhiệt độ

hạ xuống dưới điểm sương

7 Sự đối lưu: Đối lưu là lưu động của các bộ phận bên trong tướng lỏng hoặc tướng khí Đối

lưu mà do chênh lệch nồng độ hoặc chênh lệch nhiệt độ đưa đến biến hoá mật độ nên sản sinh gọi là đối lưu tự nhiên; đối lưu mà bởi vì sự thúc đẩy của ngoại lực (giống như quấy trộn) cho nên sản sinh gọi là đối lưu cưỡng bách.

3 Sự hình thành mây Kể tên và mô tả năm chế độ chuyển động đi lên của không khí.

- Định nghĩa: Mây là tập hợp của các hạt nước nhỏ li ti, các tinh thể băng hay hỗn hợp giữa

chúng, được hình thành do sự ngưng tụ hơi nước trong khí quyển

- Có 4 quá trình hình thành mây chủ yếu như sau :

+ Đi lên do địa hình núi , tạo thành mây đỉnh núi : Khi không khí ẩm di chuyển theo mặt phẳng nằm ngang gặp một ngọn núi chặn lại , nó sẽ bị thổi theo sườn núi lên cao dần và nhiệt độ sẽ từ

từ giảm xuống dưới nhiệt độ điểm sương , lúc đó mây sẽ hình thành ( Đây là lý do giải thích tại sao các vùng núi cao hay có sương mù và mây bao phủ ) Mây hình thành theo kiểu này thường

là một tấm phẳng

+ Do sự dối lưu ( gọi là mây đối lưu ) : Tiêu biểu là mây tích ( Cumulus ) Mây này chỉ hình thành trên đất liền và ở những vùng biển có nhiều dảo Mây hình thành là do nhiệt độ mặt đất cao , vì bị Mặt trời đốt nóng , sẽ làm lớp không khí sát bề mặt nóng lên , trở nên nhẹ đi và chúng

Trang 3

dần dần bay lên cao , Càng lên cao , nhiệt độ càng giảm đi và đến khi nhiệt độ xuống dưới điểm sương thì hơi nước bắt đầu ngưng tụ và mây hình thành Mây tích hình thành thảo kiểu này có chân mây là một mặt phẳng , đó chính là độ cao , mà tại đó hơi nước bị làm lạnh tới điểm sương+Do sự trượt lên nhau của các khối không khí có nhiệt độ khác nhau : Khi gặp nhau , các khối không khí có nhiệt độ khác nhau không trộn lẫn vào nhau mà dòng không khí nào nóng hơn , nhẹhơn sẽ trượt lên trên dòng kia mà đi lên cao , bị làm lạnh và hình thành mây

+ Do sự rối loạn , cuộn xoáy của gió : Khi gió thổi trên bề mặt đất , đặc biệt ở những vùng có địahình không bằng phẳng , chúng gây ra những dòng không khi lên cao và xuống thấp ở độ cao

500 - 800 mét , đôi khi cao hơn Nếu không khí chứa nhiều hơi nước , thì sự mất nhiệt của chúngkhi lên cao có thể làm nhiệt độ giảm xuống dưới điểm sương và mây được hình thành , thường làcác loại cây thấp

- 5 chế độ chuyển động đi lên của kk: Đi lên do địa hình núi tạo thành mây đỉnh núi ,đi lên do sự đối lưu,do sự trượt lên nhau của các khối không khí có nhiệt độ khác nhau ,do rối cuộn xoáy

4 Kể tên 10 loại mây cơ bản và tên viết tắt của chúng Độ cao giới hạn của của các loại mây thấp, trung bình và cao là bao nhiêu.

-10 loại mây:

Ci Mây ti (Cirrus)

Cc Mây ti-tích (Cirro-cumulus)

Cs Mây ti tầng (Cirro-stratus)

Ac Mây trung tích (Alto-cumulus)

As Mây trung tầng (Alto-stratus)

-Độ cao giới hạn của các loại mây

+Mây cao : Là những loại cây có chiều cao trung bình từ 6 000 m - 11 000 m , chủ yếu là tập hợpcủa các tinh thể băng Gồm có 2 loại là : mây ti (Ci) và mấy ti tầng (Cs)

+ Mây vừa (Mây trung) : Có độ cao trung bình từ 2 000 - 6 000 m Chúng là tập hợp trên quy

mô lớn của các hạt nước nhỏ , mặc dù một số loại mây cao hơn có khuynh hướng chuyển thành các tỉnh thể băng Gồm có 3 loại là : mây ti tích ( cc ) , mây trung tầng ( As ) và mây trung tích (Ac)

+ Mây thấp : Có độ cao trung bình nhỏ hơn 2 000 m Những loại mây này hoàn toàn là tập hợp của các hạt nước nhỏ Gồm có 5 loại : mây tầng (St) , mây vũ tầng (Ns) , mây tích tầng (Sc) , mây tích (Cu) , mây tích vị (Cb) ,

5 Những điều kiện cần thiết cho sự hình thành sương mù, Mô tả những điều kiện thuận lợi nhất cho sự hình thành mù bức xạ.

-Sương mù là tập hợp các giọt nước hoặc các tinh thể băng rất nhỏ ở lớp không khí sát mặt đất.-Điều kiện hình thành sương mù: Độ ẩm tương đối của không khí cao Nhiệt độ không khí tương đối thấp Tốc độ gió yếu ,lặng gió

- Sương mù hình thành do sự bốc hơi:sự bốc hơi xảy ra ở lớp không khí bên dưới,do tác động

Trang 4

loạn lưu di chuyển lên trên,gặp nhiệt độ thấp sẽ ngưng kết.

- Mù bức xạ : Hình thành do sự lạnh đi của mặt đất vào ban đêm xuống dưới nhiệt độ điểm sương của lớp không khí bên trên Mặt đất lạnh đi sẽ tạo ra , một lớp nghịch nhiệt mỏng ở sát bềmặt với MIN Ở mặt đất Do đó nhiệt độ điểm sương sẽ đạt tới đầu tiên trên mặt đất và lúc đó cáchạt sương sẽ hình thành cùng với một lớp mù mỏng Nếu có gió thì lớp không khí lạnh ở sát mặtđất sẽ được đưa lên cao đến độ cao khoảng 150 mét và mù sẽ hình thành dày hơn , nhưng nếu gióquá mạnh thì không khí lạnh sẽ được đưa lên khá cao và mà không hình thành được

- Do vậy , mù bức xạ thường hình thành ở những khu vực Có sự chênh lệch nhiệt độ lớn giữa ngày và đêm và có gió thổi ở bề mặt

- Mù bức xạ thường dày đặc nhất vào khi Mặt trời mọc ( nhiệt độ mặt đất thấp nhất ) rồi sau đó bay dần lên cao và thường tan hết vào giữa trưa

6 Định nghĩa mù bình lưu? Những điều kiện cần thiết cho việc hình thành mù bình lưu là gì?

- Mù là hiện tượng tập hợp các hạt bụi, khói lơ lửng trong không khí, làm giảm tầm nhìn ngang

Mù mạnh có thể làm giảm tầm nhìn ngang xuống vài trăm mét, thậm chí hàng chục mét như sương mù mạnh Mù thường do nguyên nhân địa phương như cháy rừng, môi trường ô nhiễm

- Mù bình lưu : Hình thành khi không khí nóng , ẩm di chuyển ngang trên một bề mặt lạnh hơn nhiệt độ điểm sương của nó Loại mù này xuất hiện cả ở trên đất liền và trên biển Thường gặp

ở những khu vực có dòng hải lưu lạnh đi qua , Mù bình lưu thường rất dày và tồn tại trong một thời gian dài , gây ảnh hưởng rất lớn đến tầm nhìn xa trong hàng hải

7 Định nghĩa gió địa chuyển và gió gradient.

*Gió địa chuyển

-Khi không khí di chuyển ngang trong một khu vực nằm giữa hai vùng áp cao và áp thấp , và ma sát không đáng kể , thì lực tác dụng lên dòng không khi đó chỉ là lực Gradient khí áp và lực Coriolis Nếu độ lớn của hai lực này bằng ngau và ngược hướng thì chúng sẽ triệt tiêu nhau và gió sẽ thổi song song với các đường đằng áp thẳng theo một tốc độ V không đổi , gió này được gọi là gió địa chuyển Trong thực tế , gió địa chuyển thổi dọc theo một cung vòng lớn

- Ở mỗi vĩ độ khác nhau , sẽ có một tốc độ gió xác định , mà ở tốc độ đó lực Coriolis sẽ cân bằngvới lực Gradient khí áp Tốc độ này gọi là tốc độ gió địa chuyển ,

- Gió địa chuyển không thể xác định tốc độ tại Xích đạo , vì lực Coriolis = 0 ,

- Lực Coriolis tại các vĩ độ thấp thường rất bé , vì vậy gió địa chuyển ít khi xuất hiện trong khu vực nằm giữa hai vĩ tuyến 15 ° N và 15 ° S

*Gió gradient

-Ta lại xem xét sự di chuyển ngang của không khí với tốc độ không đổi ở tầng khí quyển tự do ( nơi mà lự ma sát có thể bỏ qua ) Giả sử trong trường hợp này lực Gradient khí áp và lực Coriolis không cân bằng nhau , do đó hướng chuyển động của gió sẽ bị bẻ cong sang phải hoặc sang trái , và được gọi là gió Gradient

-Điểm khác nhau chủ yếu giữa giỏ Gradient và gió địa chuyển là : gió địa chuyển thổi song song với các đường đẳng áp thẳng ( hay độ cong rất bé ) còn gió Gradient thổi song song với các đường dằng áp cong

- Nếu lực Gradient khí áp lớn hơn lực Coriolis thì gió sẽ thổi vòng xung quanh một khu vực áp thấp , ở Bắc Bán Cầu sẽ ngược chiều kim đồng hồ , còn ở Nam Bán Cầu sẽ cùng chiều kim đồng

Trang 5

hồ Trong trường hợp này , tốc độ gió Gradient sẽ nhỏ hơn tốc độ gió địa chuyển ở Cùng vĩ độ

- Ở vùng nhiệt đới , lực Coriolis thường rất bé , do đó lực Gradient khí áp luôn luôn lớn hơn lực Coriolis Điều này là một trong những lý do giải thích tại sao xoáy thuận và bão nhiệt đới thường chỉ xảy ra ở vùng nhiệt đới

- Nếu lực Gradient khí áp nhỏ hơn lực Coriolis thì gió sẽ thổi vòng xung quanh một khu vực áp cao , cùng 1 chiều kim đồng hồ ở Bắc Bán Cầu và ngược chiều kim đồng hồ ở Nam Bán Cầu Trong trường hợp này , tốc độ gió Gradient sẽ lớn hơn tốc độ gió địa chuyển

- Khi vĩ độ tăng thì lực Coriolis cũng tăng theo , do đó ở những vĩ độ trung bình hay cao , lực Coriolis thường lớn hơn lực Gradient khí áp , vì vậy xoáy nghịch thường xảy ra ở khu vực này còn bảo nhiệt đới rất ít khi xảy ra

8 Định nghĩa những thuật ngữ sau liên quan đến sóng biển: bước sóng, chu kì, độ cao, tốc độ,hướng

Bước sóng(λ): Là khoảng cách tính bằng m đo theo chiều ngang giữa hai đầu sóng hoặc hai chânsóng kế tiếp

Chu kỳ sóng (τ): Là khoảng thời gian (s) giữa 2 đầu sóng liên tiếp cùng qua một điểm nhất định nào đó trên mặt biển

Độ cao sóng (H): Là khoảng cách đo bằng mét theo chiều thẳng đứng từ đỉnh sóng đến chân sóng

Tốc độ sóng (c): Là khoảng cách mà một đầu dịch chuyển trong một giây theo hướng truyền sóng

Hướng truyền sóng: Là góc được tính từ điểm Bắc (N) về phía Đông đến hướng mà từ đó sóng đitới (hoặc là một trong 8 hướng thật mà từ đó sóng đi tới)

Đỉnh sóng ( hay đầu sóng): Là điểm cao nhất của ngọn sóng, chân sóng là điểm thấp nhất của bụng sóng

Ngọn sóng là phần sóng nằm trên mực nước cân bằng, bụng sóng là phần nằm dưới mực nước cân bằng

Độ dốc sóng (k = h/λ): Là tỉ số giữa độ cao và bước sóng

9 Kể tên 7 đặc trưng của hình thái khí áp.

1 Áp thấp (xoáy thuận) -Depression or Low

Là một khu vực không khí có đường đẳng áp khép kín, có hình dáng hơi tròn hoặc ovan mà ở trung tâm có khí áp thấp hơn khí áp ở xung quanh Trong khu vực xoáy thuận, gió sẽ thổi ngược chiều kim đồng hồ ở Bắc Bán Cầu và thuận chiều kim đồng hồ ở Nam Bán Cầu

Thời tiết trong vùng xoáy thuận thường xấu: nhiều mây, mưa và gió mạnh, đặc biệt là gần trung tâm Ở vùng nhiệt đới, xoáy thuận có thể phát triển thành bão nhiệt đới

2 Áp thấp phụ (Secondary Depression)

Là vùng áp thấp hình thành bên trong một xoáy thuận Thời tiết bên trong vùng áp thấp phụ xấu hơn thời tiết bên trong vùng áp thấp chính

3 Áp cao (xoáy nghịch) –Anticyclone-H

Xoáy nghịch là một khu vực áp cao được bao quanh bởi một khu vực có áp suất nhỏ (áp suất tăng từ ngoài vào tâm)

Trong khu vực xoáy nghịch, gió sẽ thổi thuận chiều kim đồng hồ ở Bắc Bán Cầu và ngược chiều kim đồng hồ ở Nam Bán Cầu

Trang 6

Thời tiết trong xoáy nghịch thường tốt hơn thời tiết trong xoáy thuận Đặc biệt là vùng áp cao ở tâm thường có tầm nhìn xa tốt, gió nhẹ.

4.Áp cao phụ(Secondary High)

5.Rãnh áp thấp ( Trough of low pressure )

Là phần kéo dài của áp thấp trong khu vực áp thấp Trên bản đồ thời tiết có dạng một hệ thống các đường đẳng áp hình tròn hay ovan, nhưng có một chỗ bị lõm dọc theo một đường gọi là rãnh (phần lõm hướng về tâm áp thấp)

6.Lưỡi áp cao (Ridge of high pressure)

Là phần kéo dài của áp cao có dạng hình nêm, nằm giữa hai khu vực áp thấp Thời tiết đi kèm thường tốt, gió nhẹ

7.Vùng khí áp yên ngựa (Col)

Là khu vực giữa hai áp cao và hai áp thấp phân bố đối diện giao nhau Dải áp thấp,dải áp cao Giữa các trung tâm áp là các dải áp.Dải áp thấp ở khu vực xích đạo,khu vực có vĩ độ 50 N/S.Dải

áp cao ở khu vực vĩ độ 30 N/S,khu vực 2 cực

10 Trình bày điều kiện thời tiết trong front nóng.

Hướng của gió ở đây là cho Front nóng ở bắc bán cầu, còn ở nam bán cầu thì ngược lại

Nếu nhiệt độ kk đủ thấp thì tuyết sẽ rơi thay vì mưa

Trang 7

11 Trình bày điều kiện thời tiết trong front lạnh.

Hướng thay đổi gió ở đây là cho Front lạnh ở bắc bán cầu, còn ở nam bán cầu thì ngược lạiNếu nhiệt độ kk đủ thấp thì tuyết sẽ rơi thay vì mưa

12 Vẽ những ký hiệu quốc tế dùng trên bản đồ thời tiết synop, cho một front nóng, một front lạnh, một front tù Từ những ký hiệu đó, làm sao bạn biết được front đang di chuyển theo hướng nào?

Trang 8

13 Vẽ một sơ đồ chú giải một cơn bão nhiệt đới ở bắc bán cầu chỉ ra các đường đẳng áp, mũi tên chỉ hướng gió, mắt bão, bán vòng bên trái và bán vòng bên phải, giải thích tại sao lại đặt tên là bán vòng nguy hiểm và bán vòng hàng hải? bán vòng nào là bán vòng nguy hiểm của bão nhiệt đới ở nam bán cầu.

Trang 9

-Bán vòng nguy hiểm : Nằm bên phải qui đạo di chuyển của bão Nó được coi là nguy hiểm vì : Tốc độ gió lớn hơn ( bị tăng lên do sự di chuyển về phía trước của bão ) và tác động của sóng gió

có xu hướng đẩy tàu vào gần đường đi của bão ( ở phần tư phía trước )

-Bán vòng hàng hải : Nằm bên trái đường đi của bão Trong khu vực này , gió giảm đi do sự di chuyển tới của bão và gió thổi tàu ra xa quĩ đạo bão Do tốc độ gió thấp hơn , nên ở bán vòng hàng hải sống thấp hơn ở bán vòng nguy hiểm

14 Liệt kê những dấu hiệu cho thấy sự tiến sát của bão nhiệt đới.

-Bản tin thời tiết : Thông thường đây là công cụ hữa hiệu nhất ( Nội dung của bản tin xem phần trên ) Dựa vào toạ độ tâm bảo và hướng di chuyển dự đoán của bão , thao tác trên tổng độ của khu vực đó ta có thể xác định được quĩ đạo di chuyển của bão Lưu ý rằng đôi khi bản tin cũng

có những sai số và sẽ làm tăng nguy hiểm đối với tàu khi điều động tàu theo những thông tin sai lệch đó Một lưu ý nữa là sự chậm trễ của bản tin so với tình hình thực tế trên biển

- Sóng :Sự xuất hiện một cách bất thường của những cơn sóng lừng da là dấu hiệu đầu tiên của một cơn bão Nhiệt đới Ở vùng nước sâu , thông thường hướng đến của sóng lừng cũng chính là hướng di chuyển của bão Tuy nhiên , ở vùng nước cạn thì điều này kém chính xác hơn Do sự phản xạ , va đập với đáy biển nên hướng sóng gần như song song với đường ở đáy biển

- Mây : Khi mây tỉ đi xuất hiện , thì điểm hội tụ của các giải mây hướng về phía tâm bão Nếu như bão di chuyển theo hướng bên cạnh hướng tàu chạy thì ta có thể thấy điểm hội tụ của mây cũng di chuyển theo , còn nếu bão hướng đến tàu thì điểm hội tụ mây giữ nguyên hướng Khi bức tường mắt bão Có thể nhìn thấy được , thì phần tối nhất trong đám mây này là hướng của tâm bão Nếu bão vượt qua ở bên cạnh con tàu thì ta có thể nhìn thấy phấn tối này di chuyển chậm dọc theo đường chân trời , còn nếu bão hướng đến vị trí tàu thì nó cố định Ngay cả khi đã

ở trong khu vực mây thấp , dày đặc thì Cũng có thể quan sát sự di chuyển của chúng , vì chúng

Trang 10

chuyển động gần như dọc theo đường đằng áp và tâm bão sẽ lệch so với đường di chuyển của máy 90 ° về bên trái nếu như ở Bắc Bán Cầu và bên phải nếu như ở Nam Bán Cầu

- Gió : Thông thường đây là phương pháp có độ tin cậy cao hơn cả Theo nguyên lý của định luật Buy ballot , người ta rút ra qui luật thực tế như sau : - Nếu hướng gió xoay dần sang bên phải ( ở Bắc Bán Cầu ) và sang trái ( ở Nam Bán Cầu ) thì có nhiều khả năng tàu đang ở trong bán vòng nguy hiểm của bão , Còn nếu như hướng gió xoay dần sang trái ( ở Bắc Bắn Cầu ) và sang phải ( ở Nam Bản Cầu ) thì tàu đang ở trong bán vòng hàng hải

- Radar : Khổ tâm bão nằm trong tầm tác dụng của sóng Radar , nó có thể hiển thị lên màn ảnh Tuy nhiên , do ảnh hưởng của mưa ảnh không rõ ràng và dễ bị nhầm lẫn khi phán đoán , đánh giákết quả Vì vậy phương pháp này không nên áp dụng một mình

15 Trình bày các công cụ phục vụ công tác khí tượng trên tàu và các nghiệp vụ liên quan đến các công cụ đó?

Dụng cụ phục vụ công tác khí tượng trên tau:

Nhiệt kế, Ẩm kế, khí áp kế, máy đo gió

Các ấn phẩm hàng hải: NP 283, 284, Routeing Chart, Nhật ký hàng hải…

Các trang thiết bị kỹ thuật: Máy thu Navtex, Faximile, EGC

Nghiệp vụ liên quan

Quan trắc nhiệt độ

Quan trắc khí áp và hiệu chỉnh khí áp

Quan trắc gió và tính toán các yếu tố cơ bản của gió

Thu các thông tin khí tượng

Tham khảo các thông tin khí tượng, thủy văn đặc trung theo từng khu vực, theo các thời điểm trong năm

-Cấu trúc: bao gồm 23 nhóm chữ cái để ký hiệu cho các yếu tố khí tượng và hải dương, thông

tin nhận dạng và dữ liệu vị trí tàu

-Phân đoạn theo công dụng: Bảng mã Synoptic sử dụng cho tàu gồm 3 phân đoạn

thông tin chính như sau:

- Phân đoạn 0: bao gồm 5 nhóm ký tự đầu tiên chứa các thông tin nhận dạng tàu (

Trang 11

Hô hiệu, số nhận dạng, ngày tháng, vị trí), và đơn vị sử dụng để chỉ tốc độ gió.

Dữ liệu trong phân đoạn 0 bắt buộc phải được cung cấp đầy đủ Nếu không thì

bức điện báo cáo sẽ bị bỏ qua

- Phân đoạn 1: bao gồm nhóm ký tự từ 6 - 14 tiếp theo, chứa hầu hết các thông tin

liên quan đến khí tượng (lượng mây, loại mây, hướng và tôc độ gió, tầm nhìn

xa….) Hai nhóm ký tự đầu tiên của phân đoạn này là bắt buộc

- Phân đoạn 2: bao gồm nhóm ký tự từ 15-23 tiếp theo, chứa hầu hết các thông tin

liên quan đến sự di chuyển của tàu (hướng đi, tốc độ….), dữ liệu về hải dương

(nhiệt độ nước biển, chu kỳ và độ cao sóng biển, sóng lừng…), và dữ liệu về băng

biển và nhóm thông tin về nhiệt độ

17 Trình bày về công tác quan trắc mây trên tàu?

Quan trắc tổng lượng mây

Định nghĩa: Tổng lượng mây là mức độ che phủ tất cả các phần bầu trời tại vị trí quan sát của

tất cả các loại mây

Đơn vị: bao phủ phần tám bầu trời (a/8)

Phương pháp đo/ quan trắc: Quan sát bằng mắt đe ước lượng xem có bao nhiêu phần bầu trời

bị che phủ bởi mây, nếu chỉ có 2/8 bầu trời bị bao phủ bởi mây thì điều kiện đó được coi là ít mây, nếu 6/8 bầu trời bị bao phủ bởi mây thì điều kiện đó được gọi là nhiều mây

Ký tự mã hóa: N

Giải thích: N – là mức độ bao phủ của mây trên 8 phần bầu trời

Quan trắc tổng lượng mây: Quan sát bằng mắt để ước lượng xem có bao nhiêu phần bầu trời bị

che phủ bởi mây, nếu chỉ có 2/8 bầu trời bị bao phủ bởi mây thì điều kiện đó được coi là ít mây, nếu 6/8 bầu trời bị bao phủ bởi mây thì điều kiện đó được gọi là nhiều mây

Cách mã hóa trong báo cáo (theo synoptic code): N nhận các giá trị theo bảng sau

Trang 12

Quan trắc chiều cao mây

Định nghĩa: Chiều cao mây là độ cao tính từ mặt nước biển của chân mây quan sát.

Đơn vị: Feet hoặc meters.

Phương phám đo: Quan sát bằng mắt để ước lượng Đầu tiên là xác định loại mây quan sát sau

đó tham khảo bảng độ cao của các loại mây, riêng đối với Mây Cu ta có thể xác định theo công thức thức như trên

Nhóm ký tự: h

Giải thích: h – là giá chị độ cao chân mây tính từ mực nước biển đến chân mây quan sát

Cách mã hóa trong báo cáo (theo synoptic code):

- h nhận các giá trị từ 0-7 cho các loại mây: Mây tích/Cumulus (Cu), Mây tích

Trang 13

tầng/Stratocumulus (Sc), Mây tầng/Stratus (St), Mây vũ tầng/Nimbostratus (Ns), Mây vũ tích / Cumulonimbus (Cb

- h nhận các giá trị từ 8 hoặc 9 cho các loại mây: Mây trung tích/Altostratus (As), Mây Trung

Định nghĩa: Là việc xác định các loại mây tầng thấp và mức độ che phủ bầu trời.

Mây tầng thấp có các loại: Mây tích/Cumulus (Cu), Mây tích tầng/Stratocumulus (Sc), Mây

tầng/Stratus (St), Mây vũ tích / Cumulonimbus (Cb)

Phương pháp quan trắc: Quan sát bằng mắt thường, so sánh các loại ảnh, thư viện mẫu để nhận

dạng đúng loại mây

Ký hiệu mã hóa: CL

Các mã hóa trong báo cáo (theo synoptic code): CL nhận các giá trị theo bảng sau

Trang 14

-Quan trắc mây tầng trung: Định nghĩa: Là việc xác định các loại mây tầng trung và mức độ

đang che bầu trời

Mây tầng trung có các loại: Mây trung tích/Altostratus (As) , Mây Trung tầng/Altocumulus

(Ac), Ns Mây vũ tầng (Nimbostratus)

Phương pháp đo/ quan trắc: quan sát bằng mắt thường

Ký hiệu mã hóa: CM

Cách mã hóa vào báo cáo (theo synoptic code): CM nhận các giá trị theo bảng sau

Trang 15

-Quan trắc các loại mây tầng cao: Định nghĩa: Là việc xác loại mây tầng cao và mức độ che

phủ của bầu trời

Mây tầng cao có các loại: Mây ti/ Cirrus (Ci), Mây ti-tích/Cirrostratus (Cs), Mây ti

Trang 16

18 Trình bày công tác quan trắc tầm nhìn xa trên tàu?

Định nghĩa: tầm nhìn xa khí tượng là khoảng cách lớn nhất mà một vật thể còn có thể được nhìn

thấy và nhận dạng được

Đơn vị: Feet, Nautical Mile, Meters

Phương pháp quan trắc: Thông thường được quan sát bằng mắt để ước lượng, có thể sử dụng

Radar để hỗ trợ Báo cáo tầm nhìn xa cực đại trên các phương chính

Ký tự mã hóa: VV

Ngày đăng: 07/06/2021, 17:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w