Vì vậy, chúng ta cần có các chỉ tiêu mà có thể tính được tốc độ tăng trưởng của Quốc gia và phải loại trừ phần thiệt hại tài nguyên, khấu trừ những chi phí để phục hồi môi trường.. EDP E
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 9
1 Nguyễn Thị Ngọc Bích
2 Nguyễn Thị Hảo
3 Nguyễn Quang Huy
4 Nguyễn Thị Mai Hương
5 Ngô Thị Tâm
6 Vũ Thanh Sơn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
I CHỈ SỐ EDP (Environmentally Adjusted Net Domestic Product) 4
1.1 Khái niệm 4
1.2 Ý nghĩa của chỉ số EDP 5
1.3.Công thức tính chỉ số EDP 5
1.4 So sánh chỉ số EDP với GDP xanh 6
II THỰC TRẠNG CHỈ SỐ TỔNG SỐ SẢN PHẨM QUỐC NỘI ĐIỀU CHỈNH THEO MÔI TRƯỜNG (EDP) CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 8
2.1 Thực trạng ở Việt Nam 8
2.2 Thực trạng ở một số nước trên thế giới 16
2.3 Bài tập ví dụ 21
III ĐÁNH GIÁ THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ KHẲ NĂNG ĐẠT ĐƯỢC MỤC TIÊU VỀ CHỈ SỐ ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG TƯƠNG LAI 22
3.1 Khả năng xây dựng chỉ số này tại Việt Nam 22
3.2 Khả năng đạt được mục tiêu chỉ số này tại Việt Nam 23
IV KIẾN NGHỊ 25
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 4MỞ ĐẦU
Theo thông lệ quốc tế, hiện nay, GDP được tính toàn bộ kết quả đã làm ra không loại trừ phần tài nguyên mà con người đã khai thác và không loại trừ chi phí cần thiết để khôi phục lại môi trường Ví như khi khai thác dầu khí sẽ làm tăng GDP nhưng chính nó lại làm mất đi nguồn tài nguyên quý giá mà con người
đã sử dụng (khai thác) Thậm chí nếu như trong quá trình khai thác, vận chuyển, chế biến…bị sự cố làm tràn dầu, làm ô nhiễm môi trường nước, không khí… thì người ta còn phải chi phí thêm để khắc phục hậu quả đó Song những chi phí này lại làm tăng GDP
Vì vậy, chúng ta cần có các chỉ tiêu mà có thể tính được tốc độ tăng trưởng của Quốc gia và phải loại trừ phần thiệt hại tài nguyên, khấu trừ những chi phí để phục hồi môi trường Những chỉ tiêu này sẽ cung cấp cho ta cái nhìn chính xác hơn về lợi nhuận khi sản xuất và tốc độ tăng trưởng
EDP (Environmentally Adjusted Net Domestic Product) - chỉ số sản phẩm quốc nội điều chỉnh theo môi trường là một chỉ số tổng hợp trong kế toán môi trường là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá thực sự tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế
Dưới đây là phần trình bày của Nhóm về những gì đã tìm hiểu, nghiên cứu
và thu thập các tài liệu về chỉ số EDP Do điều kiện cũng như khả năng tìm kiếm tài liệu bị giới hạn, mong nhận được sự góp ý của thầy giáo và các bạn để nhóm
có thể hoàn chỉnh bài báo cáo tốt hơn
Trang 5I CHỈ SỐ EDP (Environmentally Adjusted Net Domestic Product)
1.1 Khái niệm
EDP (Environmentally Adjusted Net Domestic Product) được gọi là chỉ số sản phẩm quốc nội điều chỉnh theo môi trường là một chỉ số tổng hợp trong kế toán môi trường Chỉ số này được tính toán bằng cách trừ đi các chi phí do sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy thoái môi trường từ tổng sản phẩm quốc nội ròng (NDP) Tương ứng với giá trị gia tăng (VA) trong NDP thì ta có giá trị gia tăng điều chỉnh theo môi trường (EVA) Có hai loại chỉ số EDP, EDP I, tính toán theo giá thị trường chỉ trừ đi chi phí suy kiệt tài nguyên, và EDP II, được tính toán theo giá trị chi phí duy trì thì bao gồm cả chi phí suy thoái môi trường
Chi phí do sự cạn kiệt tài nguyên
- Các nước mà có nền kinh tế phụ thuộc vào nguồn lực tài nguyên thiên nhiên như gỗ, cá, các sản phẩm nông nghiệp khoáng sản và du lịch cần phải thực hiện tính toán chi phí sử dụng tài nguyên cẩn thận Chỉ tính toán những giá trị lợi ích của việc khai thác tài nguyên mà không tính đến những mất mát vĩnh viễn từ nguồn lợi này là một sai lầm cơ bản trong phân tích tài chính kinh tế, mà hậu quả của nó có thể ảnh hưởng lớn đến kinh tế của quốc gia sau này Do đó, nên coi tài nguyên như một loại vốn để tính toán chi phí
Chi phí suy thoái môi trường
- Việc tính toán phí tổn của ô nhiễm hay sự suy thoái môi trường không dễ dàng do chúng không thể định lượng giá trị trên thị trường như các hoạt động kinh tế Chúng ta chỉ có thể cảm nhận được ảnh hưởng tiêu cực của nó đến sức khỏe con người và xã hội Do đó yêu cầu đặt ra với các nhà làm chính sách đó là làm rõ những ảnh hưởng của các yếu tố này đến các hoạt động kinh tế Ví dụ như tính toán chi phí tài nguyên thiên nhiên gắn với sự suy thoái môi trường và đưa vào các hạng mục kế toán phù hợp
Việc đánh giá đúng các chi phí trên có thể giúp các nhà quản lý thay đổi chính sách phát triển kinh tế dựa trên tải trọng môi trường một các hợp lý hơn, nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế một cách bền vững
Trang 61.2 Ý nghĩa của chỉ số EDP
Chỉ số EDP vốn là một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá sự tăng trưởng của một nền kinh tế, tuy nhiên chỉ số này thường bỏ qua các tác động gây tổn thấy tới môi trường của các hoạt động kinh tế từ đó cho ta thấy một bức tranh sai lệch về hoạt động sản xuất và tiêu thụ Tổng thu nhập quốc dân vì thế không thể là một chỉ số thể hiện sự phát triển bền vững của nền kinh tế nếu không có sự điều chỉnh lại Bên cạnh đó, sự suy thoái môi trường có thể coi là một khoản chi phí trong tổng thu nhập mà có thể thay đổi đáng kẻ giữa hai quốc gia và không thể có tiêu chuẩn để so sánh theo thời gian hay địa lý Do đó, cần tính toán chi phí suy thoái môi trường như một loại vốn từ nhiên bên cạnh vốn sản xuất và vào tổng thu nhập quốc dân
Những điều chỉnh này sẽ cung cấp cho ta cái nhìn chính xác hơn về lợi nhuận khi sản xuất, và dĩ nhiên, tốc độ tăng của những chi phí này đang tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng kinh tế, và EDP sẽ thấp hơn GDP Và từ đó, nếu tại khu vực nào xảy ra tình trạng suy thoái môi trường thì chỉ số này là chỉ số hợp lý hơn chỉ số GDP cho việc đánh giá các chỉ tiêu bền vững
Tuy nhiên chỉ số EDP cũng có những nhược điểm
- Chỉ số này chỉ cho thấy về mức độ suy giảm của môi trường hay là sự thiếu bền vững chứ không thể chứng minh được như là một bằng chứng về sự phát triển bền vững
- Thứ hai, chỉ số này được tính toán theo giá trị quy ra của tài nguyên thiên nhiên Giá trị của tài nguyên thiên nhiên thường thay đổi hàng năm dựa theo tình hình thế giới chứ không phụ thuộc vào độ quý hiếm của tài nguyên, do
đó sẽ có khả năng xảy ra là dù khai thác với số lượng lớn nhưng giá lại giảm nên
do đó chi phí tài nguyên tính toán được lại giảm, đưa ra cái nhìn sai lệch Vì vậy, cần phải tính toán dựa trên cả số lượng tài nguyên suy giảm và giá trị thị trường
1.3.Công thức tính chỉ số EDP
EDP = ∑EVAi - ECh
= NDP - EC = C + CF - CC - EC + X – M
Trang 7Trong đó:
EVAi: giá trị gia tăng của công nghiệp điều chỉnh theo môi trường
ECh: chi phí suy kiệt tài nguyên và suy giảm môi
EC: Chi phí môi trường
X: giá trị kim ngạch xuất khẩu
M: Giá trị kim ngạch nhập khẩu
Tùy theo cách tính toán thì chỉ số EDPi chỉ trừ đi chi phí suy kiệt tài nguyên còn EDP2 bao gồm cả chi phí suy thoái môi trường
1.4 So sánh chỉ số EDP với GDP xanh
1.4.1 GDP xanh là gì
Để đo lường kết quả tổng hợp của quá trình hoạt động sản xuất của một địa phương hoặc toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong một khoảng thời gian nào đó: 1 tháng, một quý hoặc 1 năm người ta thường dùng chỉ tiêu GDP Hiện nay, một số nhà kinh tế còn nhắc tới chỉ tiêu GDP xanh (Green GDP) Vậy Green GDP là gì? Quả thực, đến nay chưa có một khái niệm chính thức về chỉ tiêu này
và các nhà thống kê cũng chưa xây dựng nội dung và phương pháp tính chỉ tiêu một cách cụ thể
Xuất phát từ tên gọi của chỉ tiêu, chúng tôi cho rằng, GDP xanh là phần GDP còn lại sau khi khấu trừ một phần chi phí cần thiết để phục hồi môi trường
do hậu quả của quá trình tái sản xuất gây ra
Trang 8GDP xanh = GDP - Chi phí để phục hồi lại môi trường như đầu kì kế toán (nói cách khác là toàn bộ các khoản chi phí nhằm tái tạo môi trường như trước khi bước vào chu kì sản xuất diễn ra)
Sự xuống cấp của môi trường do 2 nhóm nguyên nhân:
Một là nhóm các nguyên nhân do kết quả của quá trình phát triển sản xuất:
để tái sản xuất mở rộng người ta cần huy động các nguồn lực vào sản xuất nhiều hơn; phải thải ra môi trường nhiều chất thải hơn ở tất cả các dạng: Thể rắn, thể lỏng, thể khí…
Hai là nhóm các nguyên nhân do sinh hoạt của dân cư tạo ra: Đó là các chất thải sinh hoạt hàng ngày Nó cũng có cả chất thải rắn, khí và nước
Chỉ tiêu GDP xanh chỉ liên quan đến những chi phí để phục hồi môi trường do sản xuất gây ra Những chi phí để làm sạch môi trường do sinh hoạt của dân cư gây ra, theo chúng tôi, nó là phần trong kết quả hoạt động của lĩnh vực dịch vụ vệ sinh môi trường
Như chúng ta đã biết, EDP được tính toán bằng cách trừ đi các chi phí do
sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy thoái môi trường từ tổng sản phẩm quốc nội ròng (NDP) còn GDP xanh là phần GDP còn lại sau khi khấu trừ một phần chi phí cần thiết để phục hồi môi trường do hậu quả của quá trình tái sản xuất gây ra NDP hay sản lượng ròng, là một đo lường quan trọng về lượng sản lượng có thể được tiêu dùng, không đụng đến hay giữ nguyên trữ lượng vốn và NDP = GDP – khấu hao Đây chính là điều khác nhau cơ bản giữa EDP và GDP xanh
Nếu khấu hao vốn là rất lớn trên bình diện toàn nền kinh tế, thì ngay cả
Trang 9những mức đầu tư gộp lớn cũng có thể không đủ để hỗ trợ tăng trưởng nhanh trong dài hạn Đó là lý do mà các sinh viên kinh tế phát triển thường chú ý nhiều hơn vào sản phẩm quốc nội ròng (net domestic product – NDP)
Trong thực tế, GDP được sử dụng thường xuyên hơn nhiều so NDP Như
Bộ Thương mại đã giải thích từ năm 1947, sản phẩm ròng là ”sự ưa thích về mặt
lý thuyết Tuy nhiên, nó gặp một trở ngại nghiêm trọng là không có một định nghĩa vận hành thỏa đáng về tiêu dùng vốn cố định”.1
Quyết định như vậy là vì khó mà đo lường chính xác khấu hao, Bộ Thương mại đã chọn sản phẩm gộp hơn là sản phẩm ròng, và đã thực hiện điều này từ đó (cũng như hầu hết các quốc gia khác đã thực hiện)
Tuy nhiên, chỉ số này vẫn là một chỉ số quan trọng để các nước định hướng chính sách kinh tế một cách hiệu quả, đặc biệt là với các nước đang phát triển, với nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào việc khai thác tài nguyên khoáng sản, đất đai và các nguồn tài nguyên khác
II THỰC TRẠNG CHỈ SỐ TỔNG SỐ SẢN PHẨM QUỐC NỘI ĐIỀU CHỈNH THEO MÔI TRƯỜNG (EDP) CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.1 Thực trạng ở Việt Nam
Từ các tài liệu mà nhóm đã nghiên cứu cho thấy, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã đồng nhất EDP và GDP xanh theo công thức:
GDPxanh = GDPtruyền thống – Thất thoát của tài nguyên thiên nhiên – Chi phí
ô nhiễm/Biến đổi khí hậu
Trong đó:
- Thất thoát tài nguyên thiên nhiên: giảm sản phẩm/chất lượng và diện tích rừng, đất sản xuất, đất dự trữ, hệ động vật và hệ thực vật, nguồn gen, hệ sinh thái, và tài nguyên khoáng sản…
- Chi phí ô nhiễm/biến đổi khí hậu: sức khỏe cộng đồng, cung cấp nước, trồng trọt, thủy sản, hạn hán, thiên tai… do kết quả của suy thoái môi trường
Trang 10Việt Nam đã đưa vào tính toán thử nghiệm GDP xanh và được thực hiện đối với tài khoản năng lượng và tài khoản ô nhiễm không khí (đối với CO2) dựa trên cơ sở dữ liệu thống kê Việt Nam đến năm 2010 Do Việt Nam chưa có
số liệu về ma trận hệ số chất thải trực tiếp nên các nhà nghiên cứu đã áp dụng những số liệu đó cho CO2 từ một dự án của Viện Tài nguyên Thế giới gọi là Khuynh hướng Thế giới (EarthTrend) Để việc tính toán được ổn đinh, nền kinh tế Việt Nam cũng được chia thành 6 ngành như phân tích trong dự án của WRI Các ngành bao gồm Điện, năng lượng khác, công nghiệp và xây dựng, giao thông, quản lý nhà nước và các ngành “khác”
Từ bảng Input – Output năm 2007, nền kinh tế Việt Nam được tập hợp thành 6 ngành kể trên và như vậy một bảng Input – Output mới đã được thiết lập Các tài nguyên thiên nhiên năng lượng bao gồm than, dầu thô và khí đốt đã được tính toán trực tiếp từ bảng Input – Output Đối với các năm khác (2008 -2011), các tài khoản đã được tính toán bằng cách điều chỉnh nhu cầu cuối cùng
đã tăng lên tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng của các cấu thành nhu cầu cuối cùng riêng lẻ Hai ma trận hệ số của tài nguyên năng lượng tự nhiên và ô nhiễm không khí đã được thiết lập cho việc tính toán
2.1.1 Đối với tài nguyên năng lượng
Những kết quả tính toán đối với các giá trị tài nguyên năng lượng có thể thấy trong bảng 1 sau:
Bảng 1: Giá trị sử dụng các tài nguyên năng lượng phát sinh do nhu cầu
cuối cùng, 2007 – 2011 (Đơn vị: tỷ VND, giá năm 2007)
Điện
Năng lượng khác
Công nghiệp
và xây dựng
Giao thông
Quản
lý nhà nước
Các ngành khác
Tổng
2007
Tiêu thụ 2.950,0 2.141,6 7.690,8 137,6 0,6 790,0 13.710,5 Tích lũy 1.061,9 295,0 7.180,6 62,1 0,0 361,5 8.961,1
Trang 11khẩu 1.523,0 2.807,6 9.652,4 88,9 0,0 522,3 14.594,2
Tổng 5.737,2 5.386,3 25.095,6 298,1 0,6 1.728,8 38.246,6
2009
Tiêu thụ 3.487,3 2.531,7 9.091,7 162,7 0,7 933,8 16.207,9 Tích lũy 1.162,8 323,0 7.863,1 68,0 0,0 395,9 9.812,8 Xuất
khẩu 1.523,0 2.807,6 9.652,4 88,9 0,0 522,3 14.594,2 Tổng 6.173,1 5.662,3 26.607,2 319,5 0,7 1.852,1 40.614,9
2010
Tiêu thụ 3.931,9 2.854,5 10.250,9 183,4 0,8 1.052,9 18.274,4 Tích lũy 1.225,0 340,3 8.283,8 71,6 0,0 417,1 10.337,8 Xuất
khẩu 1.732,4 3.193,7 10.979,6 101,1 0,0 594,2 16.600,9 Tổng 6.889,3 6.388,4 29.514,3 356,1 0,8 2.064,2 45.213,1
2011
Tiêu thụ 4.116,7 2.988,6 10.732,7 192,0 0,8 1.102,4 19.133,3 Tích lũy 1.225,0 340,3 8.283,8 71,6 0,0 417,1 10.337,8 Xuất
khẩu 1.926,4 3.551,4 12.209,3 112,4 0,0 660,7 18.460,2 Tổng 7.268,2 6.880,3 31.225,8 376,1 0,8 2.180,2 47.931,3
Nguồn: Vũ Xuân Nguyệt Hồng và nnk, 2012
Các kết quả tính toán cho thấy giá trị to lớn của tài nguyên đã bị giảm đi
Trang 12do sử dụng than, dầu, khí đốt trong nền kinh tế Việt Nam Năm 2007 là 36.371 tỷ
đồng trong khi con số tương ứng năm 2010 và 2011 là 45.213 tỷ đồng và 47.931
tỷ đồng Chỉ trong 4 năm cuối, giá trị tiêu dùng tài nguyên năng lượng đã tăng
32%
Hình 1 So sánh tăng trưởng GDP và tăng trưởng sử dụng năng
lượng (%)
Từ hình 1 có thể thấy mức tăng sử dụng năng lượng dường như có khuynh
hướng vượt mức tăng GDP tương ứng Tất nhiên, cần lưu ý rằng những tài
nguyên năng lượng không tái tạo này bao gồm toàn bộ tổng năng lượng đã sử
dụng trong nền kinh tế Nguyên nhân là do Việt Nam cũng nhập khẩu nhiên liệu
từ các nước khác trên thế giới
2.1.2 Đối với ô nhiễm CO 2
Các kết quả phát thải khí CO2 được ước lượng từ phần phần mềm và
chúng được thể hiện trong bảng 2:
(Đơn vị: triệu tấn)
Điện
Năng lượng khác
Công nghiệp
và xây
Giao thông
Quản
lý nhà nước
Các ngành khác
Tổng
Trang 13dựng
2007
Tiêu thụ 15,8 0,3 15,3 17,2 0,0 8,0 56,5 Tích lũy 5,7 0,0 14,2 7,7 0,0 3,7 31,2 Xuất khẩu 7,8 0,4 18,0 10,5 0,0 5,0 41,6 Tổng 29,2 0,7 47,4 35,3 0,0 16,7 129,3
2008
Tiêu thụ 17,3 0,3 16,7 18,7 0,0 8,8 61,7 Tích lũy 6,0 0,1 15,0 8,1 0,0 3,9 33,0 Xuất khẩu 10,0 0,5 23,2 13,5 0,0 6,4 53,6
Tổng 33,3 0,8 54,8 40,4 0,0 19,1 148,4
2009
Tiêu thụ 17,9 0,3 17,2 19,4 0,0 9,1 63,9 Tích lũy 6,2 0,1 15,5 8,5 0,0 4,0 34,3 Xuất khẩu 9,1 0,4 21,1 12,3 0,0 5,9 48,9 Tổng 33,2 0,8 53,9 40,2 0,0 18,9 147,0
2010
Tiêu thụ 19,7 0,4 19,0 21,4 0,0 10,0 70,4 Tích lũy 6,8 0,1 17,0 9,3 0,0 4,4 37,5 Xuất khẩu 11,5 0,5 26,7 15,6 0,0 7,4 61,8
Tổng 38,1 1,0 62,7 46,2 0,0 21,8 169,7
2011
Tiêu thụ 19,7 0,4 19,0 21,4 0,0 10,0 70,4 Tích lũy 6,8 0,1 17,0 9,3 0,0 4,4 37,5 Xuất khẩu 11,5 0,5 26,7 15,6 0,0 7,4 61,8 Tổng 38,1 1,0 62,7 46,2 0,0 21,8 169,7
Nguồn: Vũ Xuân Nguyệt Hồng và nnk, 2012
Bảng này cho thấy phát thải khí CO2 năm 2007 được tính toán ở mức
129,3 tấn Năm 2011, con số tương ứng tăng lên mức 169,7 triệu tấn, tăng 31,2%
Trang 14chỉ trong giai đoạn 4 năm Điều này phản ánh kinh tế Việt Nam ngày càng phụ
thuộc vào năng lượng khai khác trong nước và phát thải năng lượng đã tăng khá
nhanh Phát thải khí CO2 tăng là do xuất khẩu tài nguyên năng lượng thô như dầu
thô cũng tăng đáng kể, đạt 41,6 triệu tấn trong năm 2007; 48,9 triệu tấn trong
năm 2009; 61,8 triệu tấn năm 2011
kinh tế Việt Nam 2007 – 2011 (%)
Tỷ lệ cấu thành
ngành Điện
Năng lượng khác
Công nghiệp
và xây dựng
Giao thông
Quản
lý nhà nước
Các ngành khác
Tổng
2007
Tiêu thụ 27,97 0,52 26,98 30,35 0,00 14,18 100 Tích lũy 18,12 0,13 45,37 24,68 0,00 11,71 100 Xuất khẩu 18,69 0,86 43,25 25,18 0,00 12,01 100
Tổng 22,61 0,54 36,65 27,32 0,00 12,89 100
2008
Tiêu thụ 27,97 0,52 26,98 30,35 0,00 14,18 100 Tích lũy 18,14 0,15 45,33 24,67 0,00 11,71 100 Xuất khẩu 18,69 0,86 43,25 25,19 0,00 12,01 100 Tổng 22,43 0,56 36,95 27,22 0,00 12,84 100
2009
Tiêu thụ 27,97 0,52 26,98 30,35 0,00 14,18 100 Tích lũy 18,15 0,17 45,3 24,67 0,00 11,7 100 Xuất khẩu 18,69 0,87 43,25 25,18 0,00 12,01 100
Tổng 22,59 0,55 36,66 27,31 0,00 12,88 100
2010
Tiêu thụ 27,97 0,52 26,98 30,35 0,00 14,18 100 Tích lũy 18,18 0,21 45,25 24,67 0,00 11,69 100