Thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự,viện kiểm sát thực hiện việc truy tố, buộc tội người có hành vi phạm tội trước tòa án, cùng HĐXX tham gia vào quá trình xét hỏi, thực hiện việc luận tội, tranh luận tại phiên tòa nhằm làm rõ tội phạm và người phạm tội, các tình tiết khác có liên quan đến vụ án. Ngoài ra, kiểm sát viên cũng cần phải đảm bảo những kỹ năng trong việc xây dựng đề cương xét hỏi, góp phần vào việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
Trang 1Lớp : K5C
Họ tên: Nguyễn Anh Tuấn
Môn: Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự
MỞ ĐẦU
Thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án
hình sự,viện kiểm sát thực hiện việc truy tố, buộc tội người có hành vi phạm tội trước tòa án, cùng HĐXX tham gia vào quá trình xét hỏi, thực hiện việc luận tội, tranh luận tại phiên tòa nhằm làm rõ tội phạm và người phạm tội, các tình tiết khác có liên quan đến vụ án Ngoài ra, kiểm sát viên cũng cần phải đảm bảo những kỹ năng trong việc xây dựng đề cương xét hỏi, góp phần vào việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
I.Một số vấn đề lý luận liên quan
1 Tội tràng trữ trái phép chất ma túy
Chủ thể: Đối với Tội tàng trữ trái phép chất ma túy thì người phạm tội chỉ
bị truy cứu hình sự khi từ đủ 14 tuổi trở lên có hành vi vi phạm Nhưng đối với đối tượng phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì chỉ bị truy cứu khi phạm tội cố ý và mang tính chất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
Về mặt khách quan: Người phạm tội tàng trữ dưới các hình thức như: cất,
giữ, giấu, lưu giữ ma túy một cách bất hợp pháp ở các địa điểm sau: trong người, túi, vali, nhà, vườn, xe… Mục đích chủ yếu của người phạm tội về tội này
là tàng trữ để sử dụng ma túy chứ không phải với mục đích mua hoặc bán hoặc vận chuyển hoặc sản xuất trái phép chất ma túy để thu lợi bất chính
Về mặt Khách thể: Người phạm tội đang tàng trữ trái phép chất ma túy là
hành vi xâm phạm quy định Luật phòng chống ma túy sửa đổi, bổ sung năm
2008
Mặt chủ quan: Được đánh giá là thực hiện hành vi có yếu tố lỗi Người
tham gia vào tội tàng trữ trái phép ma túy thực hiện hành vi có lỗi cố ý Bằng ý
Trang 2thức của người phạm tội thì đương nhiên họ biết được hành vi của mình sẽ gây
ra hậu quả nghiêm trọng cho người khác nhưng họ bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.
2 Giới thiệu chung về kỹ năng xây dựng đề cương xét hỏi
Trước khi tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên phải xây dựng dự thảo đề cương xét hỏi bằng văn bản theo mẫu của VKSNDTC để xét hỏi tại phiên tòa nhằm làm rõ nội dung vụ án hoặc những mâu thuẫn còn tồn tại như: về hành vi phạm tội, thời gian, địa điểm, động cơ, mục đích, hậu quả, công cụ, phương tiện
Trong quá trình THQCT và KSĐT, Kiểm sát viên phải kiểm tra, đánh giá toàn bộ vụ án, nghiên cứu nắm chắc hồ sơ của vụ án, thái độ khai báo của bị cáo, người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, nghiên cứu các thông tin phản ánh từ dư luận xã hội, báo chí, luật sư, khiếu nại, tố cáo trong quá trình giải quyết vụ án để dự kiến các câu hỏi thật chu đáo, kỹ lưỡng đầy đủ, toàn diện các tình huống xảy ra tại phiên tòa Kiểm sát viên cần dự báo trước bị cáo và những người tham gia tố tụng sẽ khai báo như thế nào để chuẩn bị các câu hỏi, trong đó KSV cần hết sức chú ý dự báo những tình huống, có thể bị cáo chối tội, phản cung như thế nào, thái độ tâm
lý của bị cáo, khả năng thay đổi lời khai của những người tham gia tố tụng? Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự sẽ tập trung xét hỏi những vấn đề gì để gỡ tội cho bị cáo, những tình tiết mới có thể được người bào chữa đưa ra Dự kiến những tài liệu, chứng cứ đưa ra để đấu tranh với bị cáo, đề nghị HĐXX công bố lời khai của bị cáo tại CQĐT, VKS; dự kiến đối chất tại phiên tòa để giải quyết các mâu thuẫn…Từ đó đặt ra câu hỏi sát với tình hình phiên tòa để tránh bị động, lúng túng và đặc biệt phải đánh giá thận trọng các tài liệu chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập không được quá tin tưởng vào các tài liệu đó
Thực tiễn cho thấy, có nhiều vụ án do nắm chắc nội dung vụ án nắm chắc
dư luận, thông tin báo chí, các khiếu nại của bị cáo, bị hại về vụ án nên KSV đã
dự kiến tốt các tình huống xảy ra tại phiên tòa (như bị cáo sẽ phản cung, chối tội như thế nào, luật sư sẽ đưa ra quan điểm để phản bác luận tội ra sao, người làm
Trang 3chứng thay đổi lời khai tại phiên tòa như thế nào ) từ đó dự thảo đề cương xét hỏi để đặt ra các câu hỏi sát với tình hình diễn biến tại phiên tòa.
II Kỹ năng xây dựng đề cương xét hỏi tại phiên tòa vụ án hình sự của Kiểm sát viên về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
1 Kỹ năng nghiên cứu trước khi xây dựng đề cương xét hỏi
Yêu cầu của việc chuẩn bị đề cương xét hỏi là phải sát với các tình tiết của
vụ án, câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng và để trả lời không hỏi chung chung, không nên đặt câu hỏi không gắn với các tình tiết có liên quan trong vụ án Bản đề cương xét hỏi của Kiểm sát viên cần được xây dựng tỷ mỷ, toàn diện nội dung vụ án phù hợp với từng vụ án đơn giản hay vụ án phức tạp Kiểm sát viên phải tự đặt câu hỏi và trả lời: Xét hỏi vấn đề gì? dự kiến câu hỏi đặt ra như thế nào? nếu vụ
án có nhiều bị can, các bị can khai mâu thuẫn với nhau thì xét hỏi bị can nào trước, xét hỏi bị can nào sau? Dự kiến người được hỏi sẽ trả lời như thế nào? Trong trường hợp người trả lời khác với nội dung trước đây thì cần đưa ra tài liệu nào để đấu tranh với người được hỏi Trong trường hợp hỏi ai trước, ai sau Kiểm sát viên cần trao đổi, thống nhất với chủ tọa phiên tòa trước khi xét xử Đối với những vụ án phức tạp cần thiết KSV phải báo cáo trình lãnh đạo viện cho ý kiến chỉ đạo đối với đề cương xét hỏi.
Trong quá trình xét hỏi kết hợp với việc xem xét, công bố tài liệu, vật chứng kiểm sát viên có thể sử dụng công nghệ thông tin để trình chiếu các tài liệu, chứng cứ đã được số hóa trên màn hình tại phiên tòa phục vụ cho hoạt động xét hỏi tại phiên tòa đạt hiệu quả cao hơn.
2 Kỹ năng xây dựng đề cương xét hỏi đối với bị cáo
Dự thảo đề cương xét hỏi tập trung nhiều nhất vào việc xét hỏi bị cáo bởi
vì bị cáo là người thực hiện hành vi phạm tội, biết rõ nhiều nhất các tình tiết, nội dung liên quan đến vụ án Đồng thời, bị cáo là người mà kiểm sát viên phải đấu tranh để vạch trần hành vi, âm mưu, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội.
Thông qua việc xét hỏi bị cáo, kiểm sát viên làm rõ, đánh giá đúng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Câu hỏi đối với bị cáo cần làm rõ hành vi phạm tội, động cơ mục đích của việc phạm tội, hậu quả đã gây ra, các tình tiết về nhân thân bị cáo, nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội, nhận thức của
Trang 4bị cáo về hành vo phạm tội của mình, thái độ ăn năn hối cải của bị cáo cũng như các tình tiết có liên quan đến việc gỡ tội cho bị cáo.
Việc xây dựng đề cương xét hỏi đối với bị cáo tại phiên toà là một trong những nội dung quan trọng nhất Bởi lẽ, bị cáo là đối tượng chính của việc xét
xử, là người thực hiện hành vi phạm tội, biết rõ nhất những nội dung, các tình tiết liên quan đến vụ án và phải chịu hình phạt Vì vậy, KSV cần chú trọng xét hỏi bị cáo để đạt được mục đích buộc tội của mình Trên cơ sở đề cương xét hỏi
mà KSV đã chuẩn bị trước, tại phiên tòa, KSV phải chú ý lắng nghe, theo dõi, đối chiếu với những câu hỏi của thành viên HĐXX, nếu họ hỏi trùng với câu hỏi của KSV đã dự thảo trong đề cương và bị cáo đã trả lời rõ đáp ứng đầy đủ yêu cầu của câu hỏi thì KSV phải đánh dấu (hoặc gạch bỏ) để không hỏi nữa, nếu các thành viên trong HĐXX hỏi trùng với câu hỏi mà KSV dự kiến hỏi nhưng bị cáo trả lời chưa đầy đủ, rõ ràng thì KSV cũng đánh dấu lại với ký hiệu khác để hỏi lại cho rõ thêm Nếu người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đặt những câu hỏi không liên quan đến việc giải quyết vụ án thì KSV phải lưu ý HĐXX yêu cầu họ tập trung đặt câu hỏi đối với bị cáo (từng bị cáo) sau khi đã được sự đồng ý của HĐXX, hoặc được HĐXX yêu cầu hỏi.
Kiểm sát viên cần đặt câu hỏi bị cáo về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội và những tình tiết khác của vụ án (khoản 2 Điều 309 BLTTHS năm 2015) để có cơ sở bổ sung, đề xuất trong phần luận tội (đề xuất về tội danh, hình phạt và các quyết định khác có liên quan…) trừ những câu hỏi mà các thành viên HĐXX đã hỏi và bị cáo đã trả lời rõ Khi hỏi, KSV phải đặt câu hỏi trực tiếp liên quan đến việc làm sáng tỏ các tình tiết, nội dung của vụ án, tránh các câu hỏi dài dòng, khó hiểu và nặng về giải thích.
Trường hợp khi hỏi bị cáo im lặng không khai báo hoặc thay đổi lời khai tại Cơ quan điều tra thì KSV phải giải thích, thuyết phục để bị cáo suy nghĩ trả lời Nếu bị cáo vẫn thể hiện thái độ cố tình không khai báo thì KSV căn cứ vào các tình huống đã dự kiến trong đề cương xét hỏi để nêu câu hỏi có tính sắc bén, từng bước đấu tranh làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo hoặc chuyển sang hỏi bị
Trang 5cáo khác, không được mớm cung, tỏ thái độ cáu gắt, dọa dẫm, KSV chỉ được công bố những lời khai tại Cơ quan điều tra khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 308 BLTTHS năm 2015 Đồng thời, chỉ cần công bố
những lời khai có ý nghĩa chứng minh về các tình tiết của vụ án Nếu lời khai của bị cáo mâu thuẫn với lời khai tại Cơ quan điều tra thì yêu cầu bị cáo khai rõ lý do có sự mâu thuẫn đó để làm cơ sở cho việc xem xét, đánh giá tính trung thực, khách quan trong lời khai của bị cáo Việc xét hỏi đối với bị cáo mà trước đó đã bị cách ly được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 309 BLTTHS năm 2015
3.Kỹ năng xây dựng đề cương xét hỏi đối với những người tham gia tố tụng khác
Kiểm sát viên cần chú ý đến việc chuẩn bị những câu hỏi đối với người làm chứng, bị hại, người giám định và những người tham gia tố tụng khác Dự kiến đầy đủ nội dung cần hỏi đối với từng đối tượng
Ví dụ: Đối với bị hại cần phải hỏi kỹ về thiệt hại đã xảy ra, tình trạng, nguồn gốc của tài sản bị thiệt hại, việc bồi thường đến trước khi diễn ra phiên tòa, yêu cầu bồi thường thiệt hại tiếp theo, yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo và các tình tiết khác của vụ án mà họ có thể biết được.
Đối với người làm chứng, cần chú ý hỏi về những tình tiết của vụ án mà họ chứng kiến, về quan hệ của họ với bị can, bị cáo, về sự cam đoan khai đúng sự thật của họ
Đối với người giám định, chủ yếu nêu những câu hỏi về căn cứ khoa học khi ban hành kết luận định giá tài sản và kết luận giám định Đồng thời, dự kiến những vấn đề mà người bào chữa hoặc bị cáo quan tâm để đặt ra những câu hỏi làm sáng tỏ,
có tính thuyết phục…Nội dung các câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn không mang tính chất mớm cung, dụ cung hoặc áp đặt
Ngoài ra, kiểm sát viên phải dự kiến trình tự xét hỏi, như hỏi bị cáo, người làm chứng nào trước, hỏi người nào sau để có thể đem lại hiệu quả xét hỏi cao nhất
4.Kỹ năng đặt câu hỏi khi xây dựng đề cương xét hỏi
4.1 Đặt câu hỏi phải ngắn gọn, dễ hiểu.
Trang 6Đặt câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu sẽ làm cho người được hỏi dễ tiếp thu và trả lời đúng vào nội dung câu hỏi Kiểm sát viên tránh việc xét hỏi quá phức tạp hoặc mang tính giải thích dài dòng, không cần thiết Khoản 4 Điều 24 Quy chế Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự, Ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định: “Khi xét hỏi, Kiểm sát viên phải đặt câu hỏi khách quan, rõ ràng, dễ hiểu, tránh giải thích, kết luận ngay” Thực tiễn có Kiểm sát viên khi xét hỏi đã đặt câu hỏi phức tạp, làm cho người được hỏi không hiểu nên
giải thích và trả lời dài dòng Cũng có trường hợp Kiểm sát viên nặng về tuyên truyền, giáo dục, giải thích cho bị cáo hoặc những người tham gia tố tụng khác quá nhiều, làm mất thời gian phiên tòa và không đúng với chủ định của câu hỏi đặt ra Khi đặt câu hỏi, Kiểm sát viên cũng cần chú ý giữa các câu hỏi và giữa những người được xét hỏi phải có mối liên hệ với nhau, nhằm làm rõ hành vi, thủ đoạn, hậu quả của tội phạm và những vấn đề có liên quan.4.2 Đặt câu hỏi dạng yêu cầu tường thuật.
Thứ nhất, nhằm yêu cầu người được hỏi kể lại, tường thuật lại những gì
mà họ đã biết, đã chứng kiến, đã được nghe về các tình tiết có liên quan đến vụ
án Thứ hai, nhằm làm cho những người được hỏi kể lại, tường thuật lại những
gì mà họ đã trực tiếp thực hiện bằng hành động, lời nói Ví dụ: Hỏi bị cáo về quá trình thực hiện hành vi phạm tội ra sao; hỏi người làm chứng nhìn thấy sự việc phạm tội diễn ra trong thực tế ra sao… Muốn cho dạng câu hỏi này được trả lời đúng, thì Kiểm sát viên cần nắm chắc kết quả điều tra, các chứng cứ đã thu thập được, diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo, để nếu thấy có người tra lời không chính xác, không logic hoặc trả lời dài dòng, quanh co, thì Kiểm sát viên kịp thời lưu ý, chấn chỉnh, không để việc xét hỏi bị cuốn theo các câu trả lời không chính xác, làm giảm hiệu quả đấu tranh và mất thời gian phiên tòa.
4.3 Đặt câu hỏi gợi mở
Là câu hỏi nhằm làm cho người được hỏi ngoài trả lời ngay, họ còn tập trung, suy nghĩ, trả lời về những nội dung họ đã biết, nhưng vì thời gian lâu nên
có thể họ không còn nhớ Thông thường câu hỏi gợi mở này làm cho người được hỏi tập trung nhớ lại những sự việc đã xảy ra trước đây về hoàn cảnh lúc sự việc
Trang 7phạm tội xảy ra: không gian, thời gian, địa điểm, thời tiết, ánh sáng, môi trường xung quanh…
4.4 Câu hỏi phản bác việc khai báo không đúng sự thật.
Trong thực tiễn xét xử, tuy chiếm tỷ lệ không cao, nhưng vẫn có những phiên tòa người được xét hỏi khai không đúng sự thật hoặc khai không đúng với lời khai mà họ đã khai trong quá trình điều tra Các trường hợp này thường là bị cáo sợ phải chịu hình phạt, nhưng cũng có trường hợp vì những lý do khác nhau
mà người bị hại, người làm chứng cố tình khai không đúng sự thật Trong các trường hợp này, Kiểm sát viên phải nắm chắc hồ sơ, nắm chắc các chứng cứ đã
có, để từ đó đặt ra những câu hỏi làm cho người được hỏi buộc phải trả lời đúng
sự thật Bên cạnh đó, Kiểm sát viên cần linh hoạt khi đặt câu hỏi đối với nhiều người khác nhau, để dùng nội dung trả lời của người này bác bỏ nội dung khai báo không đúng sự thật của người kia.
5.Kỹ năng trau dồi năng lực phẩm chất
Ngoài một số kỹ năng nêu trên, muốn nâng cao năng lực xây dựng đề cươngxét hỏi tại phiên tòa hình sự, trước hết mỗi KSV phải tích cực nghiên cứu, học tập để nắm vững các quy định của pháp luật, nhất là pháp luật về hình sự và
tố tụng hình sự, các văn bản luật có liên quan, các hướng dẫn áp dụng pháp luật; thường xuyên rèn luyện các kỹ năng nghiệp vụ về tham gia phiên tòa sơ thẩm hình sự như: Kỹ năng diễn đạt, kỹ năng xét hỏi, kỹ năng trình bày bản luận tội,
kỹ năng đối đáp, khả năng phản xạ linh hoạt trước các nội dung mới phát sinh tại phiên tòa Đồng thời, KSV cần thể hiện sự ứng xử có văn hóa trong thái độ, cách xưng hô tại phiên tòa, bảo đảm tôn trọng sự điều hành của chủ tọa phiên tòa và những người tham gia tố tụng, nhất là những người tham gia tranh luận với mình, làm tốt những vấn đề nêu trên là trực tiếp nâng cao vị thế của chính KSV tại phiên tòa và cũng là góp phần nâng cao vai trò, vị thế của ngành Kiểm sát nhân dân
III Xây dựng đề cương xét hỏi về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Theo quy định tại các điểm 3.1, 3.2 và 3.3 khoản 3 mục II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an – Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao – Bộ Tư
Trang 8pháp Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về
ma túy”:
“3.1 “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất
ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất dấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này.”
Do đó, trong nội dung đề cương xét hỏi, cần làm rõ:
Kiểm sát viên khi xây dựng đề cương xét hỏi, cần làm rõ một số vấn đề sau:
Có vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra hay không?
Thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội?
Diễn biến hành vi phạm tội của bị can ở các khâu ra sao?
Động cơ, mục đích thực hiện hành vi phạm tội là gì?
Những công cụ, phương tiện, vũ khí mà đối tượng phạm tội sử dụng trong quá trình gây án (nếu có)?
Những tài sản, tiền bạc và những giá trị vật chất khác do bị cáo phạm tội mà có?
Các đối tượng gây án, vai trò, vị trí của từng bị can trong tổ chức phạm tội?
Số lượng, loại chất ma túy được tàng trữ?
Mục đích tàng trữ?
Nguồn gốc chất ma túy
Những ai tham gia tàng trữ, vai trò của từng người?
Những hậu quả cụ thể của tội phạm tàng trữ?
Những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm?
Những đối tượng còn lại trong đường dây tàng trữ trái phép chất ma túy?
Trong vụ án này, bị cáo cũng có tiền án về tội trộm cắp tài sản Kiểm sát viên
có thể xây dựng câu hỏi để từ đó xác định được động cơ mục đích thực hiện hành vi:
Cuộc sống bị cáo có ổn định không, có xảy ra nợ nần gì không?
Bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản khi nào?
Trang 9Tại sao bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản, nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy?
KẾT LUẬN
Thực tiễn cho thấy, có nhiều vụ án do nắm chắc nội dung vụ án nắm chắc dư luận, thông tin báo chí, các khiếu nại của bị cáo, bị hại về vụ án nên KSV đã dự kiến tốt các tình huống xảy ra tại phiên tòa (như bị cáo sẽ phản cung, chối tội như thế nào, luật sư sẽ đưa ra quan điểm để phản bác luận tội ra sao, người làm chứng thay đổi lời khai tại phiên tòa như thế nào ) từ đó dự thảo đề cương xét hỏi để đặt ra các câu hỏi sát với tình hình diễn biến tại phiên tòa