Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc CBTT PTBV của các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay sẽ giúp cho DN, các nhà nghiên cứu có định h
Trang 1TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2019
Trang 2TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60 34 03 01
Ngư ư ng ẫn o ọ : GS TS TRƯƠNG BÁ THANH
Đà Nẵng - Năm 2019
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa nghiên cứu của luận văn 3
7 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 4
8 Bố cục của đề tài 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN PTBV CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 9
1.1 KHÁT QUÁT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN DOANH NGHIỆP TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 9
1.1.1 Khái niệm công bố thông tin 9
1.1.2 Vai trò của công bố thông tin trên thị trường chứng khoán 10
1.1.3 Các nguyên tắc công bố thông tin của công ty đại chúng 11
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN PTBV 15
1.2.1 Khái niệm về công bố thông tin PTBV 15
1.2.2 Vai trò của việc công bố thông tin PTBV 17
1.2.3 Ý nghĩa của báo cáo PTBV của doanh nghiệp 17
1.2.4 Lý thuyết ảnh hưởng đến CBTT PTBV 18
1.3 QUY ĐỊNH CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ PTBV Ở VIỆT NAM 20
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN PTBV 22
1.4.1 Tổng hợp từ những nghiên cứu đi trước 22
1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin PTBV 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
Trang 4CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 31
2.1 CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 31
2.1.1 Mức độ độc lập của Hội đồng quản trị với công bố thông tin PTBV 31
2.1.2 Nhân tố sở hữu của người quản lý với công bố thông tin PTBV 32 2.1.3 Sở hữu nước ngoài với việc công bố thông tin PTBV 33
2.1.4 Nhân tố sở hữu nhà nước với công bố thông tin PTBV 33
2.1.5 Quy mô công ty với việc công bố thông tin PTBV 34
2.1.6 Nhân tố đòn bẩy tài chính với công bố thông tin PTBV 35
2.1.7 Khả năng sinh lời với việc công bố thông tin PTBV 36
2.1.8 Thời gian hoạt động đối với việc công bố thông tin PTBV 36
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 38
2.3 ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN 39
2.3.1 Đo lường các biến độc lập 39
2.3.2 Đo lường biến phụ thuộc 41
2.4 MẪU NGHIÊN CỨU 43
2.5 XỬ LÝ DỮ LIỆU 43
2.5.1 Kiểm định trung bình 2 mẫu độc lập (Independent Samples T-Test) 43 2.5.2 Kiểm định giả thuyết bằng phương trình hồi quy tuyến tính bội 44 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 46
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
3.1 THỰC TRẠNG CBTT PTBV CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM 47
3.2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ PTBV 48
3.2.1 Thống kê các thông tin cơ bản về các biến số trong mô hình hồi quy 48
Trang 53.2.2 Kiểm định giả thuyết về phân phối chuẩn của các biến trong mô
hình hồi quy 50
3.2.3 Phân tích mối quan hệ của từng biến độc lập với việc công bố thông tin PTBV 56
3.2.4 Phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình 62
3.2.5 Phân tích hồi quy tuyến tính bội 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 73
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 74
4.1 BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 74
4.1.1 Thực trạng việc CBTT PTBV của các DN thuộc lĩnh vực sản xuất niêm yết trên TTCK Việt Nam 74
4.1.2 Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn 74
4.1.3 Ảnh hưởng của các nhân tố thuộc quản trị DN đến mức độ CBTT PTBV của các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam 75
4.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 82
KẾT LUẬN 87 PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCTN : Báo cáo thường niên
CBTTTN : Công bố thông tin tự nguyện CSR : Trách nhiệm xã hội
DN : Doanh nghiệp DNNY : Doanh nghiệp niêm yết GRI : Sáng kiến báo cáo toàn cầu HĐQT : Hội đồng quản trị
PTBV : Phát triển bền vững
SD : Báo cáo phát triển bền vững SGDCK : Sở giao dịch chứng khoán
Trang 73.2 Thống kê các thông tin cơ bản về các biến số trong mô
3.3 Kiểm định giả thuyết về phân phối chuẩn của các biến
3.4
Kiểm định Independent Samples T-Test với hai nhóm tỷ
trọng thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều
hành
57
3.5 Kiểm định Independent Samples T-Test SDDI với sự tồn
3.6 Kiểm định Independent Samples T-Test SDDI với hai
3.7 Kiểm định Independent Samples T-Test SDDI với sự tồn
3.8 Kiểm định Independent Samples T-Test SDDI với sự tồn
tại của sở hữu nhà nước dưới 20% và trên 20% 60
3.9 Kiểm định Independent Samples T-Test SDDI với sự tồn
3.10 Kiểm định Independent Samples T-Test SDDI với sự tồn
tại của sở hữu nước ngoài dưới 20% và trên 20% 61
Trang 8Số hiệu
3.11 Ma trận tương quan Pearson giữa các yếu tố trong mô
3.12 Ma trận tương quan giữa các biến số trong mô hình hồi
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Số hiệu
3.1 Tỷ lệ CBTT PTBV của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực
nông nghiệp có niêm yết trên thị trường chứng khoán 47
3.2 Biểu đồ phân phối chuẩn của mức độ độc lập của
3.3 Biểu đồ phân phối chuẩn của sở hữu của nhà quản lý 52 3.4 Biểu đồ phân phối chuẩn của sở hữu của nhà nước 53 3.5 Biểu đồ phân phối chuẩn của sở hữu của Sở hữu nước ngoài 53 3.6 Biểu đồ phân phối chuẩn của biến Quy mô của công ty 54 3.7 Biểu đồ phân phối chuẩn của đòn bẩy tài chính 54
3.8 Biểu đồ phân phối chuẩn của Tỷ suất sinh lời trên tài
3.9 Biểu đồ phân phối chuẩn của Thời gian hoạt động 55
3.10 Biểu đồ phân phối chuẩn của Chỉ số công bố thông tin
3.11 Biểu đồ phần dư của phương trình hồi quy bội 72
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết củ đề tài
Phát triển bền vững (PTBV) là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp (DN) trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Hiện nay, PTBV được xem như là tiêu chí đầu tư quan trọng, qua đó các DN phải đáp ứng được các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị DN mới được nằm trong danh mục đầu tư của các quỹ Trước bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế quốc tế sâu rộng, vấn đề PTBV cũng đã được Việt Nam quan tâm và chú trọng triển khai Cụ thể, Quốc hội đã ban hành Luật Môi trường lần đầu vào năm 1993 và Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi vào năm 2005 Tiếp đó, ngày 15/11/2010, Luật Thuế bảo vệ môi trường (Luật số 57/2010/QH12) đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII Trên cơ sở đó, ngày 08/08/2011, Chính phủ ban hành Nghị định 67/2011/NĐ-CP quy định về đối tượng chịu thuế, căn
cứ tính thuế, khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường; Bộ Tài chính ban hành các thông tư: Thông tư 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn thi hành Nghị định 67/2011/NĐ-CP; Thông tư 159/2012/TT-BTC ngày 28/09/2012, sửa đổi, bổ sung Thông tư 152/2011/TT-BTC; Thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ
Cơ cấu ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam Trong bối cảnh hiện nay khi mà ý thức về môi trường và trách nhiệm xã hội của người tiêu dùng được nâng cao, cùng với sự cạnh tranh gây gắt giữa các DN gây áp lực cho các DN Ngành nông nghiệp là ngành có tác động rất lớn đến môi trường, là một ngành sử dụng một lực lượng lao động lớn Nếu những DN trong ngành nông nghiệp chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế ngắn hạn gây tác động xấu đến môi trường, ít chú trọng đến trách nhiệm xã hội ngoài
Trang 11việc chịu hình phạt theo quy định của pháp luật, DN đó còn đối diện với nguy
cơ bị người tiêu dùng và xã hội tẩy chay, quay lưng Do đó, việc PTBV trong ngành nông nghiệp có ảnh hưởng to lớn đến sự PTBV của chính DN và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế lâu dài của đất nước Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc CBTT PTBV của các DN thuộc lĩnh vực nông
nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay sẽ giúp cho DN, các
nhà nghiên cứu có định hướng rõ ràng hơn trong hướng đi của mình Đó là lý
do tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc công
bố thông tin phát triển bền vững của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là:
- Đánh giá thực trạng công bố thông tin PTBV của các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT PTBV của các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Đề xuất một số hàm ý nhằm nâng cao mức độ của việc công bố thông tin về PTBV của các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn cần làm rõ các câu hỏi như sau:
Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến CBTT PTBV của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nông nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam
Thực trạng CBTT PTBV của các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay như thế nào?
Các sàn giao dịch chứng khoán, cơ quan ban ngành cần làm gì để gia tăng mức độ CBTT PTBV của các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam?
Trang 124 Đố tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đố tượng ng ên ứu
Luận văn nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc CBTT PTBV của các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoánViệt Nam
4.2 P ạm v ng ên ứu
Công bố thông tin về PTBV trên báo thường niên, báo cáo tài chính năm
2016, 2017 của các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
5 P ương p áp ng ên ứu
- Tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp là các số liệu, mục, chỉ mục thông tin của các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp đã được công bố trên báo thường niên, báo cáo thông tin về môi trường trong hai năm 2016, 2017 Trên cơ sở
kế thừa các nghiên cứu trước đây và có điều chỉnh để xây dựng danh mục công bố thông tin môi trường phù hợp với giai đoạn hiện nay của Việt Nam
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Sử dụng thang đo không trọng số để phân tích; chỉ mục thông tin nào được công bố trong danh mục thông tin môi trường được đánh giá là 1, dữ liệu nào không được công bố đánh giá là 0, trên cơ sở đó
đo lường những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc công bố thông tin môi trường Trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội để xác định các nhân tố ảnh hưởng việc công bố thông tin môi trường của các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
6 Ý ng ĩ ng ên ứu ủ luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn vừa mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn như sau:
Góp phần làm sáng tỏ thêm khung lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến CBTT PTBV của DN
Trang 13Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng CBTT PTBV của các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Từ những kết quả nghiên cứu của luận văn, tác giả đề xuất một số kiến nghị cho các bên hữu quan nhằm giúp nâng cao hơn mức độ CBTT PTBV của các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam Kết quả nghiên cứu luận văn là tài liệu khảo có giá trị cho những nghiên cứu về CBTT PTBV của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng
7 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Công bố thông tin bền vững đã được nhiều nhà kinh tế quan tâm và nghiên cứu từ lâu trên thế giới Trong những năm gần đây, vấn đề PTBV đã thu hút khá nhiều mối quan tâm của cộng đồng cũng như các DN Việc cam kết thực hiện các hoạt động PTBV được xem như một chương trình quan trọng, luôn được quan tâm, chú ý, vì thực hiện theo những cam kết này không chỉ giúp doanh nghiệp PTBV mà còn tác động bền vững đến môi trường chúng ta đang sống và hoạt động Việc công bố thông tin của các DN trên thị trường chứng khoán bị chi phối bởi nhiều yếu tố như quy định pháp lý về công bố thông tin, sự đòi hỏi của nhà đầu tư hay chính sự chủ động của lãnh đạo doanh nghiệp Có rất nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin nói chung và thông tin PTBV nói riêng
Trên thế giới có những nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin nói chung và công bố thông tin PTBV như:
Nghiên cứu của Barako và cộng sự (2006) đã kiểm tra việc công bố thông tin tự nguyện (CBTTTN) của các DN niêm yết ở Kenya Kết quả cho thấy mức độ công bố thông tin tự nguyện bị ảnh hưởng bởi các thuộc tính về quản lý của DN, cơ cấu sở hữu, tỷ lệ giám đốc không điều hành trong HĐQT
Trang 14Công trình nghiên cứu này nghiên cứu về các doanh nghiệp nói chung, không phân biệt các lĩnh vực doanh nghiệp với nhau Hơn nữa, việc công bố thông tin cũng chưa nghiên cứu sâu vào nội dung các thông tin phát triển bền vững
Do đó, việc tham khảo công trình nghiên cứu này chỉ mang tính tương đối Lan, Wang & Zhang (2013) đã tiến hành nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến mức độ CBTTTN của các công ty niêm yết tại Trung Quốc Với quy
mô mẫu là 80% doanh nghiệp niêm yết trên sàn Thượng Hải và Thẩm Quyến
Dữ liệu được dùng cho nghiên cứu là báo cáo thường niên (BCTN) năm 2006 của các doanh nghiệp này Mức độ CBTTTN được đo lường bằng chỉ số CBTT với một danh sách 119 khoản mục Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô DN, đòn bẩy, tài sản cố định, lợi nhuận trên vốn và quyền sở hữu khuếch tán có tác động tích cực lên CBTTTN Loại kiểm toán viên và môi trường pháp lý có tác động tiêu cực đến mức độ CBTTTN Chi phí vốn chủ sở hữu không có mối quan hệ với mức độ CBTTTN Điểm mạnh của công trình nghiên cứu này là quy mô mẫu nghiên cứu lớn nên có kết quả có tính tin vậy cao Tuy nhiên, Lĩnh vực nghiên cứu của thông tin này chỉ gói gọn trong phạm vi là nghiên cứu thông tin tự nguyện với 119 khoản mục Theo quy định, các khoản mục công bố thông tin ở các quốc gia khác nhau cũng có sự khác nhau Hơn nữa công trình nghiên cứu cũng chưa đi sâu nghiên cứu vào lĩnh vực công bố thông tin phát triển bền vững
Nghiên cứu của tác giả Muttanachai Suttipun (2015) đã nghiên cứu 100
DN niêm yết trên sàn chứng khoán Thái Lan năm 2013 - 2014 và tìm ra 6 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT PTBV như: Quy mô doanh nghiệp, tình trạng sở hữu, loại hình công nghiệp, doanh nghiệp kiểm toán, xuất xứ doanh nghiệp, giải thưởng trách nhiệm xã hội Công trình này có đối tượng nghiên cứu là tất cả các doanh nghiệp ở các lĩnh vực khác nhau Với quy mô mẫu là
100 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Thái Lan năm
Trang 152013-2014 thì quy mô vậy là khá nhỏ Tuy nhiên, công trình nghiên cứu khá gần với phạm vi nghiên cứu của luận văn do cùng đối tượng nghiên cứu là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin phát triển bền vững Nghiên cứu của Tagesson và cộng sự (2009) đã kiểm tra mức độ và nội dung công bố thông tin trách nhiệm xã hội trên trang web chính thức của 169 doanh nghiệp trên Sở giao dịch chứng khoán Stockholm và tất cả các doanh nghiệp nhà nước năm 2007 Kết quả cho thấy mối liên quan giữa quy mô và lợi nhuận với nội dung công bố thông tin trách nhiệm xã hội Nghiên cứu này chỉ tập trung vào một lĩnh vực nhỏ của thông tin phát triển bền vững là thông tin về trách nhiệm xã hội
Tại Việt Nam, cũng có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Điển hình như:
Hà Xuân Thạch, Trịnh Thị Hợp (2017) “Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các DN trên sàn UPCOM”, đăng trên Tạp chí Công Thương Mục đích nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các
DN trên sàn UPCOM Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, khảo sát trên báo cáo thường niên của 135 doanh nghiệp trên sàn UPCOM năm 2015 Kết quả phân tích chỉ ra 4 nhân tố: (1) Quy mô doanh nghiệp; (2) Loại công ty kiểm toán; (3) Khả năng sinh lời; (4) Quyền sở hữu nước ngoài có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của các DN trên sàn UPCOM Tác giả cũng đưa ra các hàm ý chính sách nhằm nâng cao mức độ CBTTTN của các DN trên sàn UPCOM Phương pháp nghiên cứu của luận văn khá khoa học và chặt chẽ Tuy nhiên, phạm
vi nghiên cứu khá rộng
Kelly Bao Anh HuynhVu (2013) với đề tài “Determinants of Voluntary Disclosure for the Listed Firms” Nghiên cứu đã khảo sát ngẫu nhiên 200 doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên 02 sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội
Trang 16và Thành phố Hồ Chí Minh và tác giả đã xây dựng danh mục công bố thông tin CSR trong báo cáo PTBV như: Sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, mức
độ độc lập của hội đồng quản trị, quy mô DN, tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị
Nguyễn Thị Xuân Vy (2017) với bài báo “Mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến báo cáo PTBV”, đăng trên Tạp chí Công Thương Tổng hợp từ các nghiên cứu đi trước và tiến hành phân tích các nhân tố ảnh đến báo cáo PTBV trong môi trường ở Việt Nam Tác giả đã đề xuất mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến báo cáo PTBV bao gồm: Nhóm nhân tố về quản trị doanh nghiệp; nhóm nhân tố tầm nhìn, sứ mệnh, chiến lược; nhóm nhân tố thuộc tính các doanh nghiệp niêm yết; nhóm nhân tố về văn hóa, xã hội, pháp
lý khác, Hạn chế của bài báo là chưa nêu chi tiết các nhân tố cũng như mối quan hệ thuận chiều hay ngược chiều đối với công bố báo cáo bền vững Hơn nữa, cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu dựa trên dữ liệu tổng hợp và suy luận chủ quan Chưa có kết quả kiểm chứng thực tế thông qua ứng dụng khảo sát tại các DN có niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nguyễn Thị Tuyết Nga (2017), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc CBTT PTBV của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng Luận văn đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết gồm 7 nhân tố: Quy mô doanh nghiệp; mức độ độc lập của Hội đồng quản trị; sở hữu của người quản lý; sở hữu nước ngoài; sở hữu nhà nước; khả năng sinh lời; đòn bẩy tài chính là các biến độc lập ảnh hưởng đến công bố thông tin PTBV Qua kết quả phân tích hồi quy cho thấy chỉ có yếu tố quy mô, sở hữu nước ngoài, khả năng sinh lời và đòn bẩy tài chính
là có ảnh hưởng đến CBTT PTBV trên thị trường chứng khoán Việt Nam Ưu điểm của luận văn là phương pháp thực hiện có tính khoa học cao, mang tính khách quan khi sử dụng các nghiên cứu định lượng Tuy nhiên, luận văn mang
Trang 17đặc thù tính ngành nghề (nghiên cứu công ty thuộc lĩnh vực sản xuất)
Kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước, luận văn tiếp tục xem xét các nhân tố ảnh hưởng việc CBTT PTBV trên BCTN của các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam thông qua sử dụng các
mô hình, kết quả các nhân tố ảnh hưởng của các tác giả đã nghiên cứu trước đây như: Quy mô doanh nghiệp, sở hữu nước ngoài, sở hữu nhà nước, tỷ lệ cổ phần nắm giữ bởi người quản lý, khả năng sinh lời, hội đồng quản trị, đòn bẩy tài chính,… các nhân tố này được kiểm định thông qua khảo sát và những điều chỉnh để phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành
8 Bố cục củ đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin phát triển bền vững của các doanh nghiệp
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Bàn luận kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁT QUÁT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN DOANH NGHIỆP TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Khái niệm công bố thông tin
“Thị trường chứng khoán (TTCK) vốn được coi là một thị trường nhạy cảm với thông tin, những người sở hữu thông tin chính xác và phân tích thông tin tốt sẽ có quyết định đầu tư hiệu quả Thông tin trên TTCK có khi mang lại hiệu quả cho nhà đầu tư cũng có thể tác động xấu dẫn đến những thiệt hại không chỉ với doanh nghiệp mà còn cả niềm tin của nhà đầu tư Như vậy có thể nói việc CBTT trên TTCK là rất quan trọng đối với thị trường mà cụ thể
là những chủ thể tham gia thị trường Nếu như thông tin được công bố đầy đủ
và chính xác sẽ có những tác động tích cực tới sự phát triển của TTCK và ngược lại” (Tạ Thanh Bình, 2017)
Theo Healy và Palepu (2001), “Công bố thông tin là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ các nguồn lực của xã hội, bởi vì nó phát ra tín hiệu đầu vào đúng đắn để nhà đầu tư ra quyết định”
“Công khai thông tin là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của TTCK Nguyên tắc công khai thông tin được hiểu là các định chế, tổ chức khi tham gia thị trường phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực, kịp thời những thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của mình hoặc của thị trường cho công chúng đầu tư biết, nghĩa là phải thực hiện CBTT Nói cách khác CBTT là việc thông báo đến công chúng đầu tư mọi thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của các tổ chức phát hành chứng khoán, tổ chức niêm yết, công ty đại chúng các thông tin về thị trường” (Tạ Thanh Bình, 2017)
Trang 19Dựa vào tính pháp lý, công bố thông tin DN bao gồm hai loại là công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự nguyện
Công bố thông tin bắt buộc (Madatory disclosures): Công bố thông tin bắt buộc là công bố những thông tin được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ Những thông tin công bố này phải được trình bày theo những quy định của các văn bản pháp luật có liên quan như Luật DN, chuẩn mực và chế độ kế toán, quy chế công bố thông tin của Ủy ban chứng khoán
Công bố thông tin tự nguyện (Volumtary dislosures): Công bố thông tin
tự nguyện là công bố các thông tin bổ sung ngoài những thông tin bắt buộc phải công bố nhằm thỏa mãn nhu cầu của những người sử dụng thông tin bên ngoài DN như các nhà phân tích tài chính, các công ty tư vấn, các tổ chức đầu tư, Hiện nay các DN đang được khuyến khích công bố các thông tin tự nguyện vì các thông tin này đang nhận được nhiều sự quan tâm của những người sử dụng thông tin
1.1.2 Vai trò của công bố thông tin trên thị trư ng chứng khoán
Một trong những yếu tố quan trọng nhất của TTCK chính là các thông tin mà DNNY công bố cho công chúng Thông tin công bố là cơ sở cho các quyết định của nhà đầu tư Theo Wang và cộng sự (1998), chất lượng thông tin là thông tin phù hợp cho việc sử dụng của người sử dụng thông tin
“Công bố thông tin là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực của xã hội và giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa DN và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài DN” Thật vậy, một
số vấn đề liên quan đến thông tin và động cơ công bố thông tin đã cản trở việc phân bổ nguồn lực tối ưu trong thị trường vốn Đó chính là các vấn đề như vấn đề bất đối xứng thông tin, vấn đề đại diện, Vấn đề bất đối xứng thông tin nảy sinh từ sự khác biệt về mức độ và nội dung thông tin, từ sự khác biệt về
Trang 20động cơ giữa chủ DN, nhà quản trị DN với các nhà đầu tư Còn vấn đề đại diện phát sinh khi các cổ đông của DN, tức là các nhà đầu tư đã đầu tư vốn vào DN, bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý DN (người đại diện - agents), để thực hiện việc quản lý DN cho họ, trong đó bao gồm cả việc trao nhầm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của DN Nếu cả cổ đông và người quản lý DN đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì chắc chắn rằng người quản lý DN sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông và DN, mà trái lại họ luôn có xu hướng tìm kiếm lợi ích
cá nhân (lý thuyết đại diện)
Đồng thời, “công bố thông tin cũng được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của DN nhằm bảo vệ các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và kịp thời” (Nguyễn Thị Hồng Vân, 2013) Việc công bố thông tin đầy đủ chính xác và kịp thời trên TTCK có vai trò quan trọng không chỉ đối với DN, công chúng đầu tư mà còn đối với cơ quan quản lý
1.1.3 Các nguyên tắc công bố thông tin của công ty đại chúng
a Thông tin phải công bố đầy đủ và chính xác
Đây là nguyên tắc cơ bản đầu tiên của việc CBTT của các tổ chức thực hiện CBTT (cụ thể là công ty đại chúng) Điều này đòi hỏi trong việc tổ chức thực hiện CBTT của các công ty phải tôn trọng tính trung thực vốn có của thông tin cung cấp, không được xuyên tạc, bóp méo thông tin công bố, có những hành vi cố ý gây hiểu nhầm thông tin Các nguồn thông tin được công
bố từ công ty đại chúng, nhất là những công ty đại chúng niêm yết trên TTCK
là căn cứ của hành vi mua bán chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường, là một trong những vấn đề cơ bản đảm bảo sự công bằng trong việc hình thành giá cổ phiếu Ngược lại, các thông tin thuộc loại tin đồn sẽ có ảnh hưởng đến mức độ chính xác và độ tin cậy thấp nhất
Trang 21Nguyên tắc này được tuân thủ trên cơ sở một danh mục các thông tin được xem là đáng quan trọng và cần được cung cấp Hay nói cách khác, công
ty đại chúng có nghĩa vụ cần cung cấp tất cả các thông tin được xem là có thể ảnh hưởng đến nhận định, đánh giá của nhà đầu tư đối với giá trị và triển vọng của công ty Vì vậy, những thông tin và sự kiện như vậy bao giờ cũng được quy định chặt chẽ trong Luật chứng khoán đã ban hành
b Thông tin phải được công bố kịp thời và liên tục
Mục tiêu CBTT của các công ty truyền thông đại chúng là nhằm thúc đẩy hoạt động giao dịch chứng khoán diễn ra trôi chảy, đảm bảo quá trình hình thành giá cả một cách công bằng thông qua việc cung cấp những thông tin quan trọng, tức thời trên một hệ thống cung cấp thông tin hiện đại Nhờ những thông tin được công bố kịp thời và chính xác này, giá cổ phiếu có thể được xác định một cách có hiệu quả nhất
Các năm gần đây, nguyên tắc CBTT liên tục được chú trọng đặc biệt Chính vì vậy, thông tin được công bố trên cơ sở thời gian một cách liên tục, không ngừng, bao hàm cả những thông tin tức thời và thông tin định kỳ liên quan đến công ty đại chúng niêm yết trên TTCK Nói cách khác, CBTT phải đảm bảo được tính kịp thời và liên tục của thông tin được công bố Điều này
ty Chính vì vậy, các thông tin này cũng phải được công bố và tuân thủ về thời gian và không được để gián đoạn trong việc cung cấp thông tin
Trang 22Việc CBTT kịp thời sẽ giúp cho việc tránh được sự hiểu lầm cho các nhà đầu tư Cho nên các thông tin không được công bố kịp thời sẽ làm cho thị trường bị ảnh hưởng bởi tin đồn và điều này sẽ làm sai lệch sự hình thành giá
cổ phiếu và gây ra những thiệt hại không thể lường đối với nhà đầu tư Ngoài
ra, việc CBTT ngay lập tức nhằm giảm bớt các vi phạm về giao dịch nội gián
có thể xảy ra Vì vậy, việc CBTT đúng thời hạn đóng vai trò quan trọng, thể hiện sự khách quan trong việc CBTT
c Thông tin công bố cần được lập và công bố phù hợp với chuẩn mực
Muốn việc CBTT hữu ích cho người sử dụng thì khi trình bày các thông tin về kế toán cần phải thực hiện được các yêu cầu cơ bản của Luật kế toán và chuẩn mực kế toán, nghĩa là phải thỏa mãn ba điều kiện: Thông tin phải dễ hiểu, phải đáng tin cậy và phải đảm bảo có thể so sánh được
Ngoài việc phải đáp ứng được các tiêu chuẩn trong chuẩn mực kế toán Việt Nam thì việc lập và CBTT báo cáo tài chính cũng phải tiến dần đến việc tương thích với các thông lệ quốc tế Về lâu dài, khi ranh giới của các quan điểm về soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính trên thế giới ngày càng thu hẹp, khi nền kinh tế và sự quản lý kinh tế đất nước đã phát triển ở mức độ cao hơn thì sự hòa hợp với các thông lệ quốc tế về các chuẩn mực kế toán sẽ trở thành một yêu cầu mang tính thiết yếu, tạo ra tiếng nói chung về kế toán
Trang 23d Đảm bảo công bằng đối với các đối tượng nhận thông tin công bố
Việc CBTT phải được thực hiện theo những phương thức nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời Thông tin không được công bố cho một vài cổ đông đặc biệt hoặc một số cá nhân có lợi liên quan khác trước khi công bố ra công chúng
Nguyên tắc này được hiểu là thông tin được công bố theo nghĩa vụ là việc của CBTT phải được công bố rộng rãi cho công chúng đầu tư phải được tiếp cận như nhau về các thông tin về công ty đại chúng Tổ chức cung cấp thông tin phải đảm bảo rằng mọi thông tin được công bố sao cho mọi đối tượng có được khả năng cao nhất về mức độ tiếp cận đồng thời và như nhau đến thông tin công bố Các tổ chức CBTT không được cung cấp thông tin cho một số nhà đầu tư riêng biệt hoặc những bên có lợi ích khác trước khi công bố rộng rãi ra công chúng Trong trường hợp ngoại lệ chỉ được áp dụng khi cung cấp thông tin cho các nhà tư vấn hoặc có thể là bên đối tác mà công ty đang
có ý định hợp tác trong lĩnh vực đầu tư, sản xuất kinh doanh của mình Vì vậy, trong trường hợp này bên nhận thông tin đã được cung cấp cần phải có trách nhiệm bảo mật thông tin này
e Đối tượng công bố thông tin phải có trách nhiệm với thông tin công bố
Trách nhiệm được hiểu là việc tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin của
tổ chức cung cấp thông tin Việc các tổ chức thực hiện CBTT phải đảm bảo tôn trọng những nguyên tắc về CBTT như thông tin chính xác, trung thực, liên tục, kịp thời, có khả năng giải thích về các thông tin công bố, phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về thông tin do mình công bố Trách nhiệm trong việc CBTT và đảm bảo minh bạch được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật về quản trị công ty
Trách nhiệm đối với mọi vấn đề trong quản trị công ty của công ty đại
Trang 24chúng thuộc về các thành viên hội đồng quản trị công ty và ban giám đốc Do vậy, các thành viên này cũng chịu trách nhiệm trong việc CBTT minh bạch các vấn đề liên quan đến công ty đại chúng bao gồm:
- Đảm bảo hình thức và nội dung CBTT của công ty cũng như tính minh bạch của những thông tin này
- Chịu trách nhiệm về các báo cáo được công bố cho tất cả các cổ đông
và những người có quyền lợi liên quan đến công ty Các báo cáo đó gồm báo cáo thường niên của công ty và các báo cáo tài chính đi kèm Ngoài ra còn có các báo cáo định kỳ khác như báo cáo quý hay báo cáo 6 tháng Các báo cáo này là phương tiện CBTT chủ yếu
- CBTT nhằm thông báo cho sàn giao dịch chứng khoán về các sự kiện quan trọng hoặc diễn biến tình hình bất thường của Công ty
- Theo dõi để các thông tin công bố ra công chúng được lập và trình bày theo những chuẩn mực chuyên môn cao nhất và báo cáo tài chính được kiểm toán đúng theo các chuẩn mực tốt nhất tương ứng
- Đảm bảo tính hữu ích, tính kịp thời của việc CBTT, đơn giản và thuận lợi khi tiếp cận của các thông tin công bố
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.2.1 Khái niệm về công bố thông tin phát triển bền vững
Có nhiều quan điểm khác nhau về công bố thông tin PTBV, phổ biến nhất là các khái niệm dưới đây:
“Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của chính các DN ở hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng phát triển của các thế hệ tương lai” (Theo báo cáo của Brundtland, 1987) Quan điểm PTBV này là một trong những định nghĩa phổ biến nhất trong giai đoạn hiện nay
Trang 25Quan niệm về PTBV dần được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội và
có tính tất yếu Tư duy về PTBV bắt đầu từ việc nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tiếp đó là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất ổn trong đời sống xã hội
Nội hàm về PTBV được tái khẳng định ở Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất
về môi trường, phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992 và được
bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về PTBV tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: “Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường
“Về nguyên tắc, PTBV là quá trình vận hành đồng thời ba vấn đề phát triển: kinh tế tăng trưởng bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, ổn định, văn hoá đa dạng và môi trường được trong lành, tài nguyên được duy trì bền vững Do vậy, hệ thống hoàn chỉnh các nguyên tắc đạo đức cho PTBV bao gồm các nguyên tắc PTBV trong cả ba thế chân kiềng kinh tế - xã hội - môi trường” (Phạm Thị Thanh Bình, 2016)
“Phát triển bền vững là các nhà lãnh đạo DN cam kết PTBV để đạt được các nhu cầu ở hiện tại mà không ảnh hưởng đến lợi ích của thế hệ tương lai” của Hội đồng DN vì sự PTBV thế giới (World Business Council for Sustainable Development - WBCSD, 2000) Khái niệm của WBCSD khẳng định rằng, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường và hai vấn đề này có liên quan mật thiết với nhau
Doanh nghiệp là một chủ thể của xã hội Mục tiêu của việc thành lập DN
là hoạt động kinh doanh nhằm đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận (mục tiêu kinh tế) Tuy nhiên, ngoài đạt mục tiêu kinh tế hoạt động kinh doanh của DN còn tác động rất lớn đến môi trường và các phúc lợi xã hội Do đó, ngoài việc công bố các thông tin minh chứng về khả năng tài chính cho các bên hữu
Trang 26quan, DN cần phải có nghĩa vụ công bố các thông tin về môi trường và xã hội Như vậy có thể hiểu, Báo cáo PTBV là một khuôn khổ kế toán mà kết hợp ba khía cạnh của hoạt động DN: khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường Công bố thông tin về PTBV của một DN là việc cung cấp những thông tin tài chính và phi tài chính, bao gồm 3 khía cạnh chính trong PTBV Đó là khía cạnh về kinh tế (hay thành quả tài chính), trách nhiệm xã hội và môi trường liên quan đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của DN
1.2.2 Vai trò của việc công bố thông tin phát triển bền vững
Việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán là một công cụ quan trọng tác động lên lợi ích của các DN niêm yết và bảo vệ các nhà đầu tư tránh được những rủi ro Nhìn chung, việc tự nguyện CBTT PTBV cho phép các
DN huy động vốn từ bên ngoài thông qua giảm chi phí huy động vốn và giảm chi phí nợ, đồng thời tăng giá trị DN và cải thiện tính thanh khoản của thị trường, do đó có thể đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế Barako (2007) cho rằng: “Trong một nền kinh tế mới nổi, việc tăng cường công bố thông tin là cần thiết để hổ trợ cho sự tăng trưởng kinh tế Bởi việc tự nguyên CBTT PTBV tác động tích cực đến tính thanh khoản thị trường từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” Điều này là rất quan trọng trong một thị trường vốn mới nổi như Việt Nam
1.2.3 Ý ng ĩ ủa báo cáo phát triển bền vững của doanh nghiệp
Báo cáo phát triển bền vững của doanh nghiệp đang ngày được các quốc gia trên thế thời ngày càng quan tâm Người tiêu dùng, nhà đầu tư, các cơ quan quản lý ngày càng trông đợi vào quá trình giải quyết các tác động liên quan đến môi trường, xã hội của doanh nghiệp bên cạnh nhiệm vụ kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận của mình “Các khía cạnh này lại định hướng sản phẩm, dịch vụ và quy trình vận hành của DN Quá trình này bao gồm những vấn đề vượt ra ngoài tầm ảnh hưởng trực tiếp của DN, nhưng vẫn tác động tới thành
Trang 27công trung hạn và dài hạn và giấy phép hoạt động của DN Các nghiên cứu cho thấy DN nào quản lý tốt khía cạnh bền vững thì thường thành công về tài chính Do đó, việc CBTT PTBV ngày càng quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của DN (Phạm Thị Thanh Bình, 2016)
Quá trình báo cáo cũng thúc đẩy cải tiến nhiều mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, để hoạt động theo hướng PTBV các DN phải đánh giá toàn diện hơn về mọi mặt rủi ro và cơ hội kinh doanh mới, cân nhắc lợi ích giữa các bên liên quan Báo cáo PTBV cũng là một công cụ định lượng giá trị kinh doanh trong các dự án của doanh nghiệp
1.2.4 Lý thuyết ản ưởng đến công bố thông tin phát triển bền vững
a Lý thuyết ủy nhiệm
Nội dung của lý thuyết này đề cập đến mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm
và bên được ủy nhiệm thông qua hợp đồng Trong công ty cổ phần, chủ sở hữu hay là các cổ đông (bên ủy nhiệm) thuê nhà quản lý (bên được ủy nhiệm)
để họ thay mặt các cổ đông thực hiện việc đề ra các quyết định kinh tế nhằm tối đa hóa lợi ích cho các cổ đông Vì vậy, trong quá trình điều hành, nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định nhằm mang lại lợi ích cho bản thân hơn
là lợi ích cho các cổ đông Do vậy làm phát sinh chi phí ủy nhiệm Để giảm thiểu chi phí này, chủ sở hữu cần đưa ra nhiều biện pháp buộc nhà quản lý phải có trách nhiệm cao trong quản lý và công bố thông tin minh bạch tình hình hoạt động của doanh nghiệp như: tách biệt chức danh chủ tịch HĐQT và giám đốc, nâng tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành, tăng số lượng thành viên HĐQT…
b Lý thuyết tín hiệu
Lý thuyết tín hiệu cho rằng các quyết định tài chính của DN là các tín hiệu được gửi đi bởi các nhà quản lý cho các nhà đầu tư để xem xét những
Trang 28thông tin phản hồi và tín hiệu này là nền tảng cho chính sách truyền thông tài chính của DN Lý thuyết tín hiệu giả định rằng các DN có kết quả hoạt động tốt thường sử dụng thông tin tài chính như là một công cụ truyền tín hiệu đến thị trường Trong trường hợp DN muốn huy động vốn, việc công bố thông tin nhiều hơn sẽ giúp DN gây sự chú ý với nhà đầu tư làm cho việc huy động vốn
dễ dàng hơn Như vậy, nhà quản lý có thể công bố thông tin tự nguyện liên quan đến DN và cho những người sử dụng báo cáo tài chính, để người sử dụng từ đó có thể đánh giá tình hình hoạt động của DN một cách phù hợp
c Lý thuyết các bên liên quan
Lý thuyết các bên liên quan quan tâm về việc quản lý các mối quan hệ giữa các bên liên quan và trách nhiệm của DN với các bên liên quan Bởi vì việc quản lý hiệu quả mối quan hệ giữa các bên liên quan được chứng minh là quan trọng đối với hình ảnh DN và lợi thế cạnh tranh, nhiều nguồn lực được phân bổ cho việc quản lý các mối quan hệ như thế bao gồm cả việc cung cấp thêm thông tin cho dù thường dưới hình thức thuyết minh tự nguyện trong các báo cáo hàng năm
Lý giải việc này, Carrol & Bucholtz (2006) cho rằng các bên liên quan tiềm năng bao gồm các cổ đông, các chủ nợ, các nhà cung cấp, quản lý, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhân viên, gia đình của người lao động, các phương tiện truyền thông, cộng đồng địa phương, tổ chức từ thiện địa phương, và các thế hệ tương lai đều có ảnh hưởng đến việc tự nguyện công bố thông tin của
tổ chức Hiện nay, nhiều DN đang được giám sát chặt chẽ đối với các hành động của họ không chỉ bởi các cổ đông và nhà đầu tư mà còn của nhiều bên liên quan khác như: khách hàng, các chủ nợ, các nhà cung cấp, cộng đồng, các nhà hoạt động môi trường Điều này phản ánh nhu cầu gia tăng từ nhiều nhóm liên quan và tầm quan trọng của các vấn đề xã hội và môi trường liên quan với toàn cầu hóa
Trang 29d Lý thuyết chi phí sở hữu
Nội dung của lý thuyết xem xét lợi ích và chi phí của việc công bố thông tin hay không công bố thông tin Chi phí công bố thông tin không chỉ là chi phí của việc chuẩn bị và công bố các thông tin kế toán, mà còn bao gồm cả thiệt hại mà công ty gặp phải từ việc công bố thông tin Điển hình phải kể đến
là thông tin bị đối thủ cạnh tranh lợi dụng, khai thác gây bất lợi cho công ty Cũng vì thế nên thường các công ty nhỏ, khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi thấp rất nhạy cảm trong việc cung cấp thông tin
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã tìm thấy những bằng chứng thực nghiệm về chi phí sở hữu như là một trong những nhân tố quan trọng nhất khi
DN công bố các thông tin trách nhiệm xã hội
e Lý thuyết chi phí chính trị
Lý thuyết ảnh hưởng chính trị cho rằng các nhà quản lý như nhà nước, nghiệp đoàn hay các nhóm cộng đồng ra quyết định có liên quan đến lợi ích của DN (chẳng hạn chính sách thuế, hạn chế độc quyền, cạnh tranh ) dựa trên thông tin được công bố bởi các DN Các DN để tránh sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan chức năng thì họ sẽ công bố thông tin tự nguyện nhiều hơn
để hạn chế chi phí phát sinh khi bị thanh tra, kiểm tra Mặt khác, khi thông tin được tự nguyện công bố nhiều thì các nhà quản lý kỳ vọng các chính sách quản lý của cơ quan nhà nước sẽ nới lỏng hơn
1.3 QUY ĐỊNH CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
Phát triển bền vững đang trở thành một nhiệm vụ trọng tâm của nền kinh tế thế giới Đối với Việt Nam, PTBV là yêu cầu xuyên suốt có tính lâu dài, cần đảm bảo cân bằng hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường với phát triển xã hội Đây là trách nhiệm chung cần có sự phối hợp đồng bộ và cần nhiều nỗ lực từ các nhà hoạch định chính sách, các thành
Trang 30viên tham gia thị trường Để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu và nhiệm vụ này, Việt Nam đã ban hành các quy định cụ thể về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó có quy định công bố thông tin về PTBV mà đối tượng hướng đến là các bên tham gia vào thị trường chứng khoán như các công ty đại chúng, công ty chứng khoán, các sở giao dịch chứng khoán, các nhà đầu tư và các đối tượng khác có liên quan Một số quy định cụ thể có hiệu lực trong các năm gần đây như sau:
- Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Thông tư
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/06/2012 đến hết ngày 31/12/2015 Thông tư này quy định các công ty đại chúng phải lập và công bố báo cáo thường niên định kỳ hàng năm Trong nội dung hướng dẫn về lập báo cáo thường niên, các công ty đại chúng phải trình bày thông tin chung về DN mình, trong đó,
ở mục định hướng phát triển, các công ty cần nêu rõ các mục tiêu đối với môi trường, xã hội và cộng đồng của mình Có thể thấy rằng, quy định tính bắt buộc cũng như nội dung công bố thông tin về PTBV của các DN trên thị trường chứng khoán của Thông tư số 52/2012/TT-BTC chưa cao và chưa cụ thể
- Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, thay thế Thông
tư số 52/2012/TT-BTC Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 đến nay Một trong những điểm mới trong Thông tư số 155/2015/TT-BTC
là quy định công ty đại chúng phải công bố thông tin liên quan đến PTBV Quy định công bố thông tin về môi trường và xã hội trong Thông tư này đánh dấu một bước tiến quan trọng của Việt Nam nhằm hướng đến một thị trường tài chính bền vững, minh bạch Cụ thể, Thông tư số 155/2015/TT-BTC nêu rõ, về vấn đề môi trường, DN cần trao đổi các thông tin liên quan
Trang 31đến việc quản lý nguồn nguyên vật liệu, mức tiêu thụ năng lượng và tiêu thụ nước trong năm, từ đó chia sẻ các sáng kiến nhằm tiết kiệm năng lượng Về mặt xã hội, những vấn đề cốt lõi cũng được đề cập, bao gồm các chính sách liên quan đến phúc lợi, điều kiện làm việc, nhằm đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người lao động, trách nhiệm của DN đối với cộng
Bảng 1.1 Tổng hợp các nhân tố ản ưởng đến CBTT PTBV
Nhân tố
Barako
và cộng
sự (2006)
Lan, Wang, Zhang (2013)
Muttanachai (2015)
Tagesso (2013)
Kelly Bao Anh Huynh
Vu (2012)
Hà Xuân Thạch, Trịnh Thị Hợp (2017)
Nguyễn Thị Tuyết Nga (2017) Quy mô
Trang 32Nhân tố
Barako
và cộng
sự (2006)
Lan, Wang, Zhang (2013)
Muttanachai (2015)
Tagesso (2013)
Kelly Bao Anh Huynh
Vu (2012)
Hà Xuân Thạch, Trịnh Thị Hợp (2017)
Nguyễn Thị Tuyết Nga (2017)
Trang 33Từ bảng tổng hợp trên và một số công trình nghiên cứu của các tác giả như Ho & Taylor (2007), Haniffa và Cooke (2005), Zhang (2013), Jensen và Meckling (1976), Andrikopoulos (2012), có thể thấy các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT PTBV nói chung có thể kể đến là những nhân tố thuộc về quản trị doanh nghiệp như: mức độ độc lập của HĐQT, sở hữu của người quản lý, nhân tố kiểm toán doanh nghiệp Nhóm nhân tố thuộc về cơ cấu sở hữu như
Sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài Ngoài những yếu tố trên các công trình nghiên cứu cũng chứng mình một số yếu tố như quy mô doanh nghiệp, tài sản
cố định hay giải thưởng về SCR cũng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin PTBV của DN
Trong một số nghiên cứu khác như tác giả Cooke TE (1992) với công
trình nghiên cứu “The impact of size, stock market listing and industry type on disclosure in the annual reports of Japanese listed corporations” cũng đã
chứng minh nhân tố thời gian hoạt động cũng có ảnh hưởng đến mức độ CBTT của DN
1.4.2 Các nhân tố ản ưởng đến công bố thông tin phát triển bền vững
Từ kết quả tổng hợp từ các công trình nghiên cứu đi trước, các nhân tố ảnh hưởng đến việc CBTT PTBV của các nghiên cứu trước được xác định như sau:
a Nhân tố quy mô doanh nghiệp
Trong nhiều nghiên cứu đi trước nhân tố quy mô DN được xem là một trong những yếu tố quan trọng của việc công bố thông tin PTBV của DN Hầu hết các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một mối quan hệ thuận chiều giữa quy mô
DN và mức độ công bố thông tin phát triền bền vững Các nghiên cứu của Barako và cộng sự (2006); Lan, Wang, Zhang (2013);Muttanachai (2015); Tagesso (2013); Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012); Hà Xuân Thạch, Trịnh Thị Hợp (2017); Nguyễn Thị Tuyết Nga (2017) đã phát hiện ra rằng các DN lớn
Trang 34công bố thông tin nói chung và thông tin phát triển bền vững nói riêng nhiều hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ
Bên cạnh đó, lý thuyết chi phí chính trị giải thích rằng các DN có quy
mô lớn thường sẽ bị chú ý nhiều bởi các cơ quan quản lý, do đó các DN này thường sẽ tự nguyện công bố thông tin nhiều hơn nhằm tạo ra sự minh bạch trong thông tin tránh sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước Nghiên cứu của Barako và cộng sự (2006) cho rằng các DN có quy mô lớn thì mức độ công bố thông tin nhiều hơn các DN có quy mô nhỏ, có thể giải thích rằng
DN có quy mô lớn thì có các nhà đầu tư lớn quan tâm hơn DN có quy mô nhỏ Lý thuyết chi phí sở hữu giải thích rằng các DN có quy mô lớn sẽ có nguồn lực và kinh nghiệm chuyên môn cần thiết để thực hiện báo cáo tài chính một cách hoàn chỉnh hơn và do đó công bố thông tin nhiều hơn
b Nhân tố sở hữu nước ngoài
Sở hữu nước ngoài được đo bằng tỷ lệ cổ phần nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài/tổng số cổ phần Nhiều nghiên cứu trước đây điển hình như: Barako và cộng sự (2006); Muttanachai (2015); Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012); Hà Xuân Thạch, Trịnh Thị Hợp (2017); Nguyễn Thị Tuyết Nga (2017) cho rằng nhân tố sở hữu nước ngoài có liên quan đến việc tự nguyện công bố thông tin về kinh tế, xã hội, môi trường trong báo cáo PTBV, cụ thể các DN có tỷ lệ sở hữu nước ngoài cao có mức độ CBTT PTBV cao hơn Các nghiên cứu này cũng khẳng định rằng các cổ đông nước ngoài phải đối mặt với rủi ro cao hơn cổ đông trong nước Do đó, những DN có sở hữu nước ngoài có nhu cầu lớn hơn cho việc công bố thông tin PTBV, nó như một phương tiện để theo dõi hoạt động của chủ sở hữu đối với nhà quản lý Kết quả nghiên cứu kể trên cũng tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa tỷ lệ sở hữu nước ngoài và mức độ công bố thông tin tự nguyện của các DN Họ lập luận rằng các DN có vốn đầu tư nước ngoài càng cao thì có nhu cầu công bố
Trang 35thông tin càng nhiều Các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng các thông tin này như phương tiện để giám sát các hoạt động quản lý
c Nhân tố sở hữu nhà nước
Sở hữu nhà nước được đo bằng tỷ lệ số cổ phần nắm giữ bởi nhà nước/ tổng số cổ phần
Các nghiên cứu trước đây của Zhang và cộng sự (2013) cho rằng nhân
tố sở hữu nhà nước có ảnh hưởng đến việc công bố thông tin về PTBV của các DN Nghiên cứu của Kelly Bảo Anh Huynh Vu (2012), Zhang (2013) tìm thấy mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa sở hữu nhà nước và mức độ tự nguyện công bố thông tin phi tài chính Các nghiên cứu này có chung lập luận: Thứ nhất, sở hữu nhà nước chính là sở hữu toàn dân do đó sẽ không có chủ sở hữu thực, việc thiếu các quyền sở hữu thực sẽ làm mất quyền kiểm soát trực tiếp
từ chủ sở hữu dẫn đến tham nhũng và quản trị DN yếu kém, người quản lý sẽ hành động vì mục đích cá nhân hơn là lợi ích của cổ đông Do đó, mức độ tự nguyện công bố thông tin về PTBV thấp Thứ hai, các DN sở hữu nhà nước thường có ít động cơ để tối đa hóa lợi nhuận vì lợi nhuận và nguồn vốn tái đầu tư của DN được đảm bảo bởi nhà nước Do đó, DN không có động lực để
tự nguyện công bố thông tin ra bên ngoài để tăng giá trị DN và thu hút nguồn vốn đầu tư Tuy nhiên, nghiên cứu của Zhang và cộng sự (2013) nhận thấy một mối quan hệ tích cực giữa các mức độ sở hữu nhà nước và mức độ tự nguyên công bố thông tin
d Nhân tố sở hữu của người quản lý
Sở hữu của người quản lý được đo bằng tỷ lệ cổ phần được sở hữu bởi người quản lý/tổng số cổ phần Theo lý thuyết đại diện và nghiên cứu của Barako và cộng sự (2006); Lan, Wang, Zhang (2013); Muttanachai (2015);
Hà Xuân Thạch, Trịnh Thị Hợp (2017) lập luận rằng các DN có quyền sở hữu quản lý cao sẽ ít tự nguyện công bố thông tin cho các cổ đông hơn Nguyên
Trang 36nhân là do trong trường hợp này người quản lý vừa đóng vai trò là chủ sở hữu, vừa đóng vai trò điều hành hoạt động DN, các quyết định kinh tế của họ
sẽ tác động trực tiếp đáng kể đến lợi ích của họ Khi đó, mối quan hệ không còn là giữa nhà quản lý và cổ đông mà là giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu
số, các nhà quản lý có thể có động lực để hành động vì lợi ích của cổ đông lớn, hy sinh lợi ích của cổ đông thiểu số thông qua các quyết định của mình
Do đó, các nhà quản lý sẽ thao túng thông tin có lợi cho họ, hạn chế việc tự nguyện cung cấp các thông tin về PTBV cho cổ đông Khi có ít quyền quản
lý, việc tự nguyện công bố thông tin không bắt buộc có vẻ cao hơn và ngược lại
e Nhân tố lợi nhuận
Nhân tố lợi nhuận được đo bằng chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản
và được xem xét trong rất nhiều nghiên cứu của các tác giả trước đây, đa số các tác giả đều tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa lợi nhuận và việc tự nguyện công bố thông tin PTBV Lý thuyết chính trị cho rằng các DN có lợi nhuận sẽ cung cấp thêm thông tin chi tiết để hỗ trợ vị trí của họ
Các nghiên cứu của Barako và cộng sự (2006); Lan, Wang, Zhang (2013); Tagesso (2013); Kelly Bao Anh Huynh Vu (2012); Nguyễn Thị Tuyết Nga (2017) cho rằng có nhiều khả năng người quản lý của DN có lợi nhuận cao sẽ tự nguyện công bố thêm thông tin để nâng cao giá trị của DN cũng như giá trị về năng lực quản lý của họ trong một thị trường lao động cạnh tranh
Mặt khác, các DN có lợi nhuận lớn hơn thường chịu sự quan tâm nhiều hơn của các cơ quan nhà nước và dễ bị can thiệp pháp lí Do đó, các DN này
có thể phải công bố thông tin chi tiết hơn để giải thích cho các hoạt động tài chính và để giảm chi phí chính trị
f Nhân tố mức độ độc lập của hội đồng quản trị
Nhân tố này được đo bằng: Số thành viên hội đồng quản trị không tham
Trang 37gia điều hành/Tổng số thành viên hội đồng quản trị Trong quản trị DN, số lượng thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành thường được coi
là một trong những yếu tố quan trọng nhất để đại diện và bảo vệ lợi ích cổ đông Một cơ chế quản trị DN hiệu quả nên bao gồm nhiều thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành hơn thành viên tham gia điều hành Theo Barako và cộng sự (2006) thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành thường có kinh nghiệm có thể cung cấp cho DN các báo cáo về các lĩnh vực như chiến lược kinh doanh, tài chính, tiếp thị, hoạt động
và cơ cấu tổ chức Hơn nữa, một số lượng lớn thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành của DN giúp giám sát việc thực hiện hành vi của các nhà quản lý Các nghiên cứu trước ở các nước phát triển phương Tây và thị trường vốn mới nổi Châu Á đã tìm thấy rằng một cơ chế quản trị DN hiệu quả làm tăng mức độ công bố thông tin, đặc biệt là thông tin PTBV
g Nhân tố đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính được đo bằng nợ phải trả/tổng tài sản Một số nghiên cứu trước đây đã tìm thấy sự liên quan đáng kể giữa đòn bẩy tài chính và mức
độ tự nguyện công bố thông tin của các doanh nghiệp Branco và Rodrigues (2008) nhận thấy rằng đòn bẩy tài chính của các doanh nghiệp Bồ Đào Nha có mối quan hệ tiêu cực với mức độ thông tin CSR trên các trang web của các
DN này Ngoài ra, Lan, Wang, Zhang (2013); Muttanachai (2015); Tagesso (2013); Nguyễn Thị Tuyết Nga (2017) kết luận rằng mức độ công bố thông tin CSR là cao hơn đối với các DN thanh khoản thấp hơn
h Thời gian hoạt động của doanh nghiệp
Nhiều nghiên cứu đi trước đều chứng minh thời gian hoạt động có ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Điển hình như Camfferman và Cooke (2002) đã cho rằng: “Có mối quan hệ thuận chiều giữa thời gian hoạt động của DN với mức độ công bố thông tin
Trang 38Các DN có thời gian hoạt động càng lâu dài thì việc lập báo cáo và trình bày báo cáo tài chính của doanh nghiệp đó càng đƣợc cải thiện hơn vì chúng có nhiều điều kiện thực tế hơn cho quá trình báo cáo nhƣ bộ máy kế toán, việc ứng dụng công nghệ thông tin… Các doanh nghiệp có thời gian hoạt động lâu dài
có nhiều thành tựu để báo cáo nhằm tăng danh tiếng và tăng vị thế cạnh tranh”
i Chủ thể kiểm toán
Kiểm toán là một phần bắt buộc trong BCTC của các doanh nghiệp niêm yết “Kiểm toán đảm bảo cho các báo cáo của các DN phù hợp với các quy định của luật pháp Để giảm thiểu các xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và các nhà đầu tƣ, lý thuyết đại diện cho rằng kiểm toán độc lập đóng một vai trò rất quan trọng Doanh nghiệp kiểm toán lớn hoạt động nhƣ một cơ chế để làm giảm chi phí đại diện và phát huy nhiều hơn vai trò giám sát bằng cách hạn chế hành vi cơ hội của nhà quản lý” (Jensen và Meckling, 1976)
Muttanachai (2015) cho rằng “việc lựa chọn các doanh nghiệp kiểm toán lớn cũng là một cách để DN phát tín hiệu với các nhà đầu tƣ rằng nội dungcủa các thông tin mà họ cung cấp đảm bảo tính minh bạch, khách quan và trung thực”
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Có thể thấy rằng có nhiều lý thuyết cũng như thực tiễn nghiên cứu về CBTT nói chung và CBTT PTBV nói riêng Điều này chứng tỏ rằng việc CBTT PTBV đang được các DN và các bên liên quan ngày càng quan tâm và làm yếu tố nền tảng cho sự phát triển lâu dài của DN
Chương 1 của luận văn đã khái quát các lý thuyết về CBTT như khái niệm, vai trò, nguyên tắc trong CBTT Nội dung chính của luận văn là hệ thống các lý thuyết về CBTT PTBV trong đó có các nội dung căn bản như: Khái niệm CBTT PTBV, ý nghĩa, động lực thúc đẩy và các học thuyết có liên quan Luận văn cũng tổng hợp và phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến CBTT PTBV từ những nghiên cứu đi trước Các nội dung này là cơ sở quan trọng cho các chương tiếp theo
Trang 40CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 2.1 CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Qua phần tổng hợp về các nghiên cứu đi trước cho thấy có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc CBTT PTBV trên báo cáo thường niên của các DN trên thế giới cũng như Việt Nam Tuy nhiên, tại thời điểm nghiên cứu và đặc biệt đối với lĩnh vực nông nghiệp thì các nhân tố này cũng có thể có sự khác biệt
Dựa trên những nghiên cứu đi trước tác giả lựa chọn các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin phát triển bền vững đối với các DN thuộc lĩnh vực nông nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là mức
độ độc lập của hội đồng quản trị, sở hữu người quản lý, sở hữu nước ngoài, sở hữu nhà nước, quy mô doanh nghiệp, đoàn bẩy tài chính, khả năng sinh lời, thời gian hoạt động của DN Các giả thuyết được phát triển như sau:
2.1.1 Mứ độ độc lập của Hộ đồng quản trị v i công bố thông tin phát triển bền vững
Theo quan điểm của lý thuyết đại diện, Hội đồng quản trị có tính độc lập cao sẽ có hiệu quả hơn trong việc theo dõi và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp Do đó, được kỳ vọng sẽ thành công hơn trong việc nâng cao giá trị các hoạt động của doanh nghiệp một cách bền vững và tạo ra tính minh bạch cao Khi các thành viên HĐQT độc lập được tham gia ít hơn trong việc phát triển các chiến lược và chính sách kinh doanh của doanh nghiệp, họ được tin rằng sẽ có thể đánh giá hiệu quả quản lý một cách khách quan hơn các thành viên HĐQT còn lại Ngoài ra, thành viên HĐQT độc lập ít phụ thuộc vào ý chí của Chủ tịch HĐQT hơn so với các thành viên còn lại Do đó, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập của doanh nghiệp cao được kỳ vọng sẽ thực hiện việc giám sát và kiểm soát hoạt động quản lý tốt hơn
Một số nghiên cứu đi trước chứng minh các thành viên HĐQT độc lập