Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của hệ thống ngân hàng thương mại Việ
Trang 1NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng – Năm 2019
Trang 2NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 8.34.03.01
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRƯƠNG BÁ THANH
Đà Nẵng – Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học Viên
Huỳnh Ngọc Huy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của luận văn 3
6 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 11
1.1 KHÁT QUÁT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 11
1.1.1 Khái niệm về công bố thông tin 11
1.1.2 Vai trò của CBTT 12
1.1.3 Các yêu cầu về CBTT 13
1.2 CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO THƯƠNG NIÊN 14
1.2.1 Yêu cầu chung về công bố thông tin trên Báo cáo thường niên 15
1.2.2 Nội dung của Báo cáo thường niên 15
1.2.3 Công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên 19
1.3 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN 18
1.3.1 Lý thuyết đại diện (Principal – Agent Theory) 18
1.3.2 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary Cost Theory) 21
1.3.3 Lý thuyết chi phí chính trị (Political Theory) 22
1.3.2 Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory) 22
1.3.3 Lý thuyết tính hợp pháp (Legitimacy Theory) 21
1.3.4 Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) 22
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN TRONG BCTN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 22
1.4.1 Nhân tố Quy mô 23
Trang 51.4.2 Nhân tố thành phần HĐQT 26
1.4.3 Nhân tố kiểm toán 27
1.4.4 Nhân tố sở hữu nhà nước 29
1.4.5 Nhân tố sở hữu nước ngoài 31
1.4.6 Nhân tố lợi nhuận 32
1.4.7 Nhân tố Số năm hoạt động 34
1.4.8 Nhân tố Tình trạng niêm yết 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 38
2.1 XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 38
2.1.1 Nhân tố “Quy mô doanh nghiệp” 38
2.1.2 Nhân tố “Thành phần hội đồng quản trị” 38
2.1.3 Nhân tố “ Kiểm toán” 39
2.1.4 Nhân tố “Sở hữu nhà nước” 40
2.1.5 Nhân tố “Sở hữu nước ngoài” 41
2.1.6 Nhân tố “Lợi nhuận” 41
2.1.7 Nhân tố “Số năm hoạt động” 42
2.1.8 Nhân tố “Tình trạng niêm yết” 42
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 43
2.3 ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN 44
2.3.1 Đo lường biến phụ thuộc 44
2.3.2 Đo lường các biến độc lập 45
2.4 MẪU NGHIÊN CỨU 47
2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ DỮ LIỆU 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 49
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
3.1 THỐNG KÊ CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 50
Trang 63.1.1 Thống kê mô tả các biến độc lập 50
51
3.1.2 Thực trạng công bố thông tin tự nguyện trên CBTN của các NHTM 52
3.3 KIỂM TRA PHÂN PHỐI CHUẨN CỦA DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 55
3.4 KIỂM TRA MA TRẬN TƯƠNG QUAN CỦA DỮ LIỆU 59
3.5 PHÂN TÍCH HỒI QUY TUYẾN TÍNH 60
3.5.1 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 61
3.5.2 Ước lượng hồi quy OLS 62
3.5.3 Ước lượng với mô hình FEM (Fix Effect Model) 67
3.5.4 Ước lượng với mô hình REM (Random Effect Model) 70
3.5.5 Kiểm định Hausman 73
3.5.6 Kiểm định phương sai thay đổi bằng kiểm định nhân tử Lagrange và tìm mô hình hồi quy tối ưu 74
3.6 BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 79
3.6.1 Kết quả nghiên cứu chính 81
3.5.5 Bàn luận kết quả nghiên cứu 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 88
4.1 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 90
4.2 TÍNH MỚI CỦA NGHIÊN CỨU 90
4.3.1 So với nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài 92
4.3.2 So với các nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt nam 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 95
KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ABBank Ngân hàng TMCP An Bình
AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (ASEAN FREE
TRADE AREA) ANOVA Phân tích phương sai (Analysis Of Variance)
BacABank Ngân hàng TMCP Bắc Á
BASEL Ủy ban giám sát về ngân hàng (Basel Committee on
Banking supervision) BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
CEO Giám đốc điều hành (Chief Executive Officer ) EBIT Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
EximBank Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu
FEM Mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model)
HD Bank Ngân hàng TMCP Phát triển Tp.Hồ Chí Minh
HĐQT Hội đồng quản trị
KienLongBank Ngân hàng TMCP Kiên Long
LienVietPostBank Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt
NamABank Ngân hàng TMCP Nam Á
TPBank Ngân hàng TMCP Tiên Phong
OLS Bình phương tối thiểu (Ordinary Least Square) OTC Chứng khoán phi tập trung (Over The Counter) PGBank Ngân hàng TMCP Xăng Dầu Petrolomex
SacomBank Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thường Tín
SaigonBank Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương
Trang 8SCB Ngân hàng TMCP Sài Gòn SHB Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội REM Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects
Model) TechcomBank Ngân hàng TMCP Kỹ Thương VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam (Vietnam Accounting
Standards)
VietBank Ngân hàng TMCP Viet Nam Thương Tín VietA Bank Ngân hàng TMCP Việt Á
VietcomBank Ngân hàng TMCP Ngoại Thương VietinBank Ngân hàng TMCP Công Thương VIF Hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation
Factor) VPBank Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng WTO Tổ chức Thương Mại Thế Giới (World Trade
Organization)
Trang 103.9 Bảng kết quả hồi quy mô hình Pooled OLS phương
3.19 Bảng kết quả ước lượng OLS của hồi quy mô hình 1
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Số hiệu
3.1 Thống kê chủ thể kiểm toán trong các BCTN của
3.2 Tình trạng niêm yết của BCTN trong mẫu nghiên cứu 53 3.3 Tỷ lệ CBTTTN của các NHTM từ năm 2015 – 2018 55 3.4 Các biểu đồ đường cong chuông của các biến trong mô
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới làm thay đổi mọi mặt trong đời sống kinh tế - xã hội Việc gia nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới như WTO, AFTA, đã tác động mạnh đến tất cả các ngành, nghề của Việt Nam trong đó có ngành ngân hàng Sự cạnh tranh trong ngành ngân hàng ngày càng gây gắt hơn và đã đi vào giai đoạn bão hòa buộc Ngân hàng nhà nước Việt Nam phải tái cấu trúc lại hệ thống ngành ngân hàng để gia tăng lợi thế cạnh tranh Với lộ trình gia nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới Hệ thống ngân hàng Việt Nam không còn độc quyền trên thị trường tài chính nữa mà phải mở rộng cửa cho các ngân hàng và nhà đầu tư nước ngoài gia nhập thị trường Hiện nay, trên thị trường Việt Nam có 4 ngân hàng do nhà nước sở hữu, 31 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTM), 2 ngân hàng liên doanh, 61 ngân hàng có 100% vốn nước ngoài, chi nhánh, văn phòng tại Việt Nam Có thể nói thị trường tài chính của Việt Nam đang trở nên sôi động hơn bao giờ hết
Cùng với các tổ chức tín dụng khác, hệ thống NHTM có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế của quốc gia Là nơi cấp vốn, thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển, thông qua hệ thống NHTM nhà nước có thể điều tiết vĩ mô nền kinh tế, hơn nữa hệ thống NHTM là cầu nối cho nền kinh tế quốc gia với nền tài chính thế giới Việc có một hệ thống NHTM vững mạnh, có năng lực cạnh tranh cao là mục tiêu của bất kỳ quốc gia nào cũng muốn hướng tới Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các ngân hàng cần nâng cao năng lực nội tại của mình bằng việc đổi mới hoạt động quản lý, thu hút đầu tư, tạo lòng tin cho khách hàng Do đó, việc công bố thông tin kế toán đóng vai trò vô cùng quan trọng giai đoạn hiện nay Ngoài việc, các ngân hàng thương mại phải
Trang 14công bố thông tin bắc buộc theo quy định của Nhà nước, các ngân hàng còn chủ động tự nguyện cung cấp các thông tin nhằm làm rõ năng lực cũng như xây dựng hình ảnh cho ngân hàng trước các bên hữu quan Việc cung cấp các thông tin phong phú, hợp lý, trung thực góp phần cải thiện quá trình quản trị công ty và dễ dàng cho các đơn vị quản lý
Kênh thông tin hiệu quả để các nhà đầu tư, người gửi tiền và các bên liên quan khác tìm hiểu các thông tin về một ngân hàng là thông qua các báo cáo tài chính(BCTC), báo cáo thường niên (BCTN) của ngân hàng đó Trong quá trình hội nhập như hiện nay, việc minh bạch hóa thông tin trong hệ thống NHTM ngày càng khắc khe hơn, đòi hỏi phải phù hợp với chuẩn mực kế toán trong nước và quốc tế Số lượng và chất lượng của thông tin công bố trên BCTN là thước đo quan trọng đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý và trách nhiệm của ngân hàng đối với xã hội Tuy nhiên, việc công bố thông tin tự nguyện (CBTTTN) của các ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, mỗi ngân hàng khác nhau có cách CBTT cũng khác nhau Việc tìm hiểu các nhân
tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN trong BCTN có vai trò vô cùng quan trọng nhằm giúp các ngân hàng, các cơ quan nhà nước quản lý tốt hơn quá trình CBTT trong ngành ngân hàng Từ đó hướng tới mục tiêu minh bạch hóa thông tin, nâng cao hơn năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố
ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo thường niên của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam” làm luận văn tốt
nghiệp thạc sỹ
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng mức độ CBTTTN trong BCTN tại các NHTM của Việt Nam
Trang 15- Xác định các nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN trong các NHTM tại Việt Nam
- Đề xuất một số khuyến nghị đến các cơ quan quản lý nhằm mục tiêu minh bạch hóa thông tin trong ngành ngân hàng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN trong BCTN của các NHTM tại Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này chỉ giới hạn trong đối tượng là đánh giá về CBTTTN của các NHTM tại Việt Nam Dữ liệu tìm hiểu về CBTTTN trong các BCTN
từ năm 2015 – 2018
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để hệ thống cơ
sở lý luận về CBTT trong ngành ngân hàng Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, kế thừa thang đo để đề xuất các biến trong mô hình có điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm của hệ thống NHTM tại Việt Nam hiện nay
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, kiểm định phi tham số, kiểm định tham số, hồi quy tuyến tính, phân tích tương quan để xử lý dữ liệu trong đề tài
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách
Trang 166 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Minh bạch hóa thông tin trong các BCTC, BCTN là vấn đề quan tâm của nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước Do đó, có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Trong phạm vi đề tài, tác giả giới thiệu các công trình nghiên cứu gần nhất và trong lĩnh vực ngân hàng
6.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Có rất nhiều công trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự CBTT Trong lĩnh vực ngân hàng, cũng có nhiều công trình nghiên cứu nổi bật về vấn
đề này Điển hình là một số nghiên cứu sau:
Nghiên cứu Hoissan and Taylor (2007) trên BCTN của 20 ngân hàng tư nhân tại Banladesh Nghiên cứu kiểm chứng mối quan hệ giữa đặc điểm các ngân hàng với mức độ CBTTTN trên BCTN Các nhân tố được xác định là quy mô ngân hàng, loại hình công ty kiểm toán và khả năng sinh lời Số mục CBTT TN được nhóm tác giả lựa chọn 45 điểm mục Bằng phương pháp phân tích hồi quy, nhóm tác giả đưa ra nhận định có mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và loại hình công ty kiểm toán với mức độ CBTTTN trên BCTN của ngân hàng tư nhân tại Banladesh Biến lợi nhuận không có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN này
Hoissain and Reaz (2007) với nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN trên BCTN của 38 ngân hàng tại Ấn Độ Nhóm tác giả xây dựng 65 điểm mục thông tin tự nguyện Kết quả thực nghiệm cho thấy quy
mô ngân hàng, tài sản hiện hữu có mối quan hệ với mức độ CBTTTN trên BCTN của ngân hàng Các biến thành phần hội đồng quản trị, số năm hoạt động, tình trạng niêm yết, sự phức tạp trong kinh doanh không tìm thấy có mối quan hệ tới mức độ CBTTTN Nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra các ngân hàng Ấn Độ có tỉ lệ CBTTTN đáng kể, các ngân hàng ở khu vực nhà nước CBTTTN nhiều hơn ngân hàng tư nhân
Trang 17Hossain (2008) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trên BCTN tại các ngân hàng Ấn Độ Nghiên cứu này kiểm chứng mối quan hệ giữa số năm hoạt động, quy mô, lợi nhuận, sự phức tạp trong kinh doanh, tài sản hiện hữu, thành phần hội đồng quản trị, kỷ luật thị trường tới mức độ CBTT cả bắt buộc và tự nguyện trên 38 ngân hàng có niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Ấn Độ Bằng phương pháp phân tích hồi quy, kết quả cho thấy quy mô ngân hàng, thành phần hội đồng quản trị, kỷ luật thị trường có ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các ngân hàng niêm yết Số năm hoạt động, lợi nhận, sự phức tạp trong kinh doanh, tài sản hiện hữu được tìm thấy ít có mối quan hệ tới mức độ CBTT của các ngân hàng tại thời điểm nghiên cứu Mức độ CBTT bắt buộc cũng cao hơn so với mức độ CBTT tự nguyện
Kribat (2009) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT chung (cả bắt buộc và tự nguyện) của 11 ngân hàng tại Libya từ năm 2000 –
2006 Các nhân tố tác giả mối kiểm chứng gồm quy mô, số năm hoạt động, lợi nhuận và cấu trúc sở hữu Có 126 điểm mục thông tin tự nguyện và bắt buộc được thành lập để đo lường mức độ CBTT Kết quả phân tích cho thấy lợi nhuận và số năm hoạt động có ảnh hưởng dương đên mức độ CBTT của các ngân hàng tại Libya Trong khi đó, quy mô ngân hàng có tác động tiêu cực Số năm hoạt động được tìm thấy không có tác động đáng kể đến mức độ CBTT của các ngân hàng
Menassa (2010) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT
xã hội trên BCTN của 24 ngân hàng tại Lebnon Các nhân tố được đưa vào kiểm chứng là quy mô ngân hàng, tình trạng niêm yết, lợi nhuận, sở hữu nước ngoài, số năm hoạt động Tác giả đã sử dụng phương pháp không trọng số để xác định mức độ CBTT xã hội trên BCTN các các ngân hàng Kết quả thực nghiệm cho thấy quy mô ngân hàng và lợi nhuận có ảnh hưởng đến mức độ CBTT xã hội trên BCTN của ngân hàng Các biến tình trạng niêm yết, sở hữu
Trang 18nước ngoài, số năm hoạt động không có ý nghĩa về mặt thống kê
Nghiên cứu nhóm tác giả Agyei-Mensah (2012) Nghiên cứu này được thực hiện để điều tra ảnh hưởng các đặc điểm cụ thể của doanh nghiệp bao gồm quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, thanh khoản và quy mô công ty kiểm toán đối với mức độ công bố tự nguyện của các ngân hàng nông thôn ở khu vực Ashanti của Ghana Nghiên cứu được thực hiện thông qua phân tích chi tiết về công bố báo cáo tài chính của 21 ngân hàng nông thôn trong năm 2009 Phân tích mô tả được thực hiện để cung cấp số liệu thống kê cơ bản về các biến được kiểm tra Tiếp theo là phân tích hồi quy tạo thành phân tích dữ liệu chính Kết quả chỉ ra rằng lợi nhuận được biểu thị bằng Tỷ lệ hoàn vốn sử dụng vốn (ROCE) có liên quan tích cực đến mức độ công bố, trong khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu nợ, thanh khoản, quy mô doanh nghiệp và quy mô công ty kiểm toán có liên quan không đáng kể đến mức độ công bố
Nghiên cứu của Raoudha and Chokri (2013) được tiến hành trên 10 ngân hàng có niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Tunisia từ năm 2000 – 2011 nhằm kiểm chứng các nhân tố ảnh hưởng đến CBTTTN trên BCTN Kết quả cho thấy quy mô hội đồng quản trị, sở hữu nhóm, sở hữu nhà nước có ảnh hưởng âm đến mức độ CBTTTN trên BCTN của các ngân hàng Kết quả cũng tìm thấy có mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng, sở hữu nước ngoài, lợi nhuận ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN Tỷ lệ độc lập của HĐQT, chủ thể kiểm toán không có ý nghĩa về mặt thống kê nên không có ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất ít đến mức độ CBTTTN
6.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, có không nhiều công trình nghiên cứu CBTTN trong lĩnh vực ngân hàng Tuy nhiên,vẫn có một số công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam ở lĩnh vực ngân hàng và các lĩnh vực khác được công bố trên
Trang 19các tạp chí uy tín
Nghiên cứu của Vũ và cộng sự (2011) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Số lượng công ty tác giả khảo sát là 45 Kết quả thực nghiệm của các giả cho thấy tại thời điểm nghiên cứu, mức độ CBTTTN của các công ty Việt Nam tương đối thấp chỉ 24% Nghiên cứu tìm thấy mối quan
hệ giữa yếu tố quy mô và sở hữu nhà nước đến mức độ CBTT Nhìn chung các công ty có tỉ lệ sở hữu nhà nước càng cao, mức độ CBTTTN càng thấp Các công ty có quy mô lớn có mức độ CBTTTN nhiều hơn các công ty nhỏ Nguyễn Hữu Anh Hào (2015) “Mức độ công bố thông tin tự nguyện của các ngân hàng Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng” Nghiên cứu tổng hợp báo cáo thường niên của 20 ngân hàng Việt Nam từ năm 2009 – 2011 Kết quả nghiên cứu chỉ ra mức độ CBTTTN của các ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn này có mức trung bình là 49.62% Kết quả phân tích hồi quy cho thấy đòn bảy tài chính, tình trạng niêm yết, quy mô ngân hàng có ý nghĩa tích cực đến mức độ công bố thông tin Các biến lợi nhuận, tỉ lệ an toàn vốn lại có mối quan hệ nghịch biến với mức độ CBTT tự nguyện của các ngân hàng Đối với biến kiểm soát thì biến công ty kiểm toán có mối tương quan dương còn biến quy mô HĐQT thì không có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu thực nghiệm của tác giả
Bùi Ngọc Ly (2015), “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam” Tác giả thu thập BCTN của 25 NHTM tại Việt Nam trong 2 năm
2012, 2013 Mức CBTTTN trên BCTN của các NHTM trong giai đoạn này là 45.5% Từ 9 nhân tố xác định ở mô hình nghiên cứu là kích thước HĐQT, thành phần HĐQT, Công ty kiểm toán, sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, lợi nhuận, quy mô, số năm hoạt động, tình trạng niêm yết Kết quả thực
Trang 20nghiệm của tác giả cho thấy có 3 biến Công ty kiểm toán, số năm hoạt động, tình trạng niêm yết có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN trên BCTN của các NHTM trong giai đoạn 2012, 2013
Nguyễn Thị Thu Hảo (2015), “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE” Tác giả đã khảo sát
106 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE để tìm mối quan hệ giữa các nhân tố Quy mô, loại hình sở hữu có yếu tố nước ngoài, lợi nhuận, đòn bảy tài chính, hội đồng quản trị, thành viên không điều hành trong hội đồng quản trị đến mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy Quy
mô, loại hình sở hữu có yếu tố nước ngoài, lợi nhuận có mối quan hệ tích cực đến mức độ CBTTTN của doanh nghiệp
Nguyễn Thị Hà My (2016), “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức
độ CBTT trong báo cáo thường niên của các NHTM cổ phần ở Việt Nam” Tác giả nghiên cứu báo cáo thường niên của 33 ngân hàng trong giai đoạn
2012 – 2014 Đề tài nghiên cứu việc công bố ở cả hai loại thông tin là thông tin bắt buộc gồm 79 chỉ mục và 71 mục thông tin tự nguyện Đề tài xác định 7 giả thuyết là thời gian hoạt động của ngân hàng, quy mô ngân hàng, khả năng sinh lời, tính phức tạp trong cấu trúc của ngân hàng, tài sản cố định hữu hình, quản trị ngân hàng, kỷ luật thị trường có ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTN Kết quả thực nghiệm chứng minh chỉ có 2 biến là quy mô ngân hàng
và thời gian hoạt động có ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong BCTN của các NHTM Hai biến này tham gia giải thích được 41% tỉ lệ CBTT trong BCTN của NHTM cổ phần tại Việt Nam
Nguyễn Công Phương, Nguyễn Thị Hà My (2016), “Cơ cấu hội đồng quản trị, kỷ luật thị trường có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên? Bằng chứng từ các ngân hàng thương mại Việt Nam” Nghiên cứu thực hiện thu thập thông tin trên báo cáo thường niên của 33 ngân
Trang 21hàng tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2012 đến 2014 Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, mục tiêu của nghiên cứu nhằm kiểm chứng ảnh hưởng của cơ cấu hội đồng quản trị và kỷ luật thị trường đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại Việt Nam Thông qua phân tích hồi quy cho thấy yếu tố cơ cấu hội đồng quản trị và kỷ luật thị trường không ảnh hưởng đến mức công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các ngân hàng Mức công bố thông tin trong báo cáo thường niên của ngân hàng cũng không cao
Hà Xuân Trạch, Trịnh Thị Hợp (2017) “Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các DN trên sàn UPCOM”, đăng trên Tạp chí Công Thương Mục đích nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của các DN trên sàn UPCOM Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, khảo sát trên báo cáo thường niên của 135 DN trên sàn UPCOM năm 2015 Kết quả phân tích chỉ ra 4 nhân tố: (1) Quy mô DN; (2) Loại công ty kiểm toán; (3) Khả năng sinh lời; (4) Quyền sở hữu nước ngoài có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của các DN trên sàn UPCOM Bài viết đưa ra phương pháp nghiên cứu khá khoa học cũng với lập luận chặt chẽ và tác giả cũng có đề xuất các kiến nghị trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã tìm được nhằm nâng cao mức đọ CBTTTN của các DN trên sàn UPCOM
6.3 Vấn đề nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
Qua phần phân tích ở tổng quan có thể thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến CBTTTN trên BCTN trong ngành ngân hàng tại các nước trên thế giới Tại Việt Nam, Có các công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến CBTTTN trên BCTN của các ngân hàng như Nguyễn Hữu Anh Hào (2015) nghiên cứu 20 ngân hàng trong giai đoạn 2009 – 2011 Bùi Ngọc Ly nghiên cứu 25 ngân hàng trong hai năm 2012, 2013
Trang 22Năm 2016 Nguyễn Công Phương, Nguyễn Thị Hà My cũng nghiên cứu trên
33 ngân hàng và chứng minh được cơ cấu hội đồng quản trị, kỷ luật thị trường không ảnh hưởng đến mức công bố thông tin trong báo cáo thường niên Giai đoạn 2011- 2015 là kết thúc tái cấu trúc ngành ngân hàng giai đoạn 1 Sau giai đoạn này hệ thống ngân hàng có những thay đổi quan trọng trong quá trình mua bán, sáp nhập, hợp nhất Trong giai đoạn 2016-2020, Chính phủ đặt
ra mục tiêu “tái cơ cấu hệ thống ngân hàng: Thực hiện bước chuyển biến mạnh mẽ trong hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ, quản lý ngoại hối, năng lực và hiệu quả hoạt động thanh tra giám sát, đổi mới công tác điều hòa lưu thông tiền mặt Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng tiếp tục đổi mới quản trị
DN theo thông lệ quốc tế, tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động và quy mô về vốn, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong chất lượng dịch vụ, sản phẩm dịch vụ
và năng lực cạnh tranh và cấu trúc hệ thống các tổ chức tín dụng” (Tạp chí tài chính) Do đó, từ năm 2015 – 2018 hệ thống ngân hàng có nhiều thay đổi quan trọng Hơn nữa, từ năm 2016 các công ty cổ phần nói chung, NHTM nói riêng phải thực hiện báo cáo thường niên được soạn thảo theo quy định tại Mẫu Báo cáo Thường niên ban hành kèm theo Thông tư số 155//2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Trước tình hình đó, mức
độ CBTTTN tại các NHTM cũng có nhiều thay đổi Việc nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN trên BCTN của các NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn này là vô cùng cần thiết
Trang 23CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 KHÁT QUÁT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.1.1 Khái niệm về công bố thông tin
Tùy vào góc nhìn của mỗi nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý mà khái niệm về CBTT cũng khác nhau, điển hình như:
Theo Healy và Palepu (2001), “Công bố thông tin là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ các nguồn lực của xã hội, bởi vì nó phát ra tín hiệu đầu vào đúng đắn để nhà đầu tư ra quyết định”
“Công bố thông tin là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của công ty nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời” (Nguyễn Thị Hồng Vân, 2013)
“Công khai thông tin là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của TTCK Nguyên tắc công khai thông tin được hiểu là các định chế, tổ chức khi tham thị trường phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực, kịp thời những thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của mình hoặc của thị trường cho công chúng đầu tư biết, nghĩa là phải thực hiện CBTT Nói cách khác CBTT là việc thông báo đến công chúng đầu tư mọi thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của các tổ chức phát hành chứng khoán, tổ chức niêm yết, công ty đại chúng các thông tin về thị trường” (Tạ Thanh Bình, 2017) Theo quan điểm của Bộ Tài chính, “công bố thông tin được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời”
Như vậy: CBTT có thể hiểu là quá trình thông báo đến các bên hữu quan các thông tin về tình hình hoạt động trong doanh nghiệp cũng như các thông liên quan về thị trường, khách hàng,… theo các chuẩn mực kế toán quy định
Trang 24Việc CBTT là quá trình thực hiện minh bạch của doanh nghiệp đối với các cổ đông, các nhà đầu tư, khách hàng, công chúng, cơ quan quản lý
Các loại CBTT
- CBTT bắt buộc: Là những thông tin được công bố theo yêu cầu của pháp luật được quy định bởi một quốc gia Thông thường, những thông tin này được công bố theo yêu cầu của luật doanh nghiệp, chế độ và chuẩn mực
kế toán, quy chế CBTT của ủy ban chứng khoán
- CBTT tự nguyện: Là những thông tin nhằm thỏa mãn như cầu của các bên hữu quan như nhà đầu tư, khách hàng, đối tác, cơ quan quản lý,… bên cạnh những thông tin bắc buộc Những thông tin tự nguyện thông thường nhận được nhiều sự quan tâm của những người sử dụng thông tin nên rất được khuyến khích trong giai đoạn hiện nay
1.1.2 Vai trò của CBTT
Thông tin mà các doanh nghiệp công bố là cơ sở quan trọng cho các quyết định của nhà đầu tư cũng như xây dựng cách nhìn cho khách hàng đối với chính bản thân doanh nghiệp đó Thông qua các thông tin mà doanh nghiệp công bố, cơ quan quản lý dễ dàng hơn trong việc đưa ra chính sách quản lý, điều tiết thị trường Theo Wang và cộng sự (2008), “Công bố thông tin là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực của xã hội và giả thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa DN và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài DN, chất lượng thông tin là thông tin phù hợp cho việc sử dụng của người sử dụng thông tin”
Đồng thời, “công bố thông tin cũng được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của DN nhằm bảo vệ các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và kịp thời” (Nguyễn Thị Hồng Vân, 2013) Việc công bố thông tin đầy đủ chính xác và kịp thời trong các công ty cổ phần có vai trò quan trọng không chỉ đối với DN, công chúng
Trang 25đầu tư mà còn đối với cơ quan quản lý
1.1.3 Các yêu cầu về thông tin công bố
Để các thông tin có ý nghĩa và có giá trị thì các thông tin cần phải tuân theo các yêu cầu, nguyên tắc nhất định
- Công bố thông tin phải chính xác, đầy đủ, khách quan: Thông tin công
bố phải trung thực, không được xuyên tạc, bóp méo Các thông tin công bố phải cung cấp thêm cơ sở, bằng chứng khách quan, đầy đủ Thông tin cung cấp phải đúng với thực tại, hiện trạng của doanh nghiệp, thể hiện đúng bản chất và giá trị của nghiệp vụ kinh tế kèm minh chứng rõ ràng
- Thông tin công bố phải đảm bảo tính kịp thời và liên tục: Việc công bố thông tin kịp thời vô cùng quan trọng, giúp cho các nhà đầu tư đánh giá đúng tình hình biến động của thị trường, tránh hiểu lầm cho các nhà đầu tư, tránh được những thiệt hại do tin đồn không chính xác hoặc giảm bớt các vi phạm
do các gián điệp thương mại gây ra Việc CBTT kịp thời là động lực cho thị trường tài chính, thị trường chứng khoán diễn ra trôi chảy Việc CBTT kịp thời thể hiện thông tin được công bố ngay lập tức, càng sớm càng tốt, đúng hạn, trước thời hạn quy định Tính liên tục của thông tin thể hiện thông tin công bố qua các thời kỳ, không bị gián đoạn Ví dụ như BCTC, BCTN được thông báo hằng năm, báo cáo tài chính theo quý,…
- Các thông tin công bố phải dễ hiểu, có thể so sánh được: Thông tin công bố phải được trình bày dễ hiểu đối với người sử dụng, các số liệu phải được trình bày một cách rõ ràng Các thông tin phải được trình bày một cách nhất quán giữa các kỳ thống kê để giúp cho người sử dụng dễ so sánh, theo dõi Trường hợp có thay đổi phải được giải trình rõ ràng
- Các thông tin công bố cần phải phù hợp với chuẩn mực kế toán: Các doanh nghiệp thông thường CBTT qua BCTC, BCTN Các thông tin trên hai báo cáo này thể hiện chi tiết tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của
Trang 26doanh nghiệp Để lập hai báo cáo này, doanh nghiệp phải tuân theo yêu cầu
cơ bản của luật kế toán và chuẩn mực kế toán Đặc biệt, trong giai đoạn thị trường tài chính Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập như hiện nay thì các báo cáo này còn phải phù hơp với thông lệ quốc tế
- Việc công bố thông tin còn phải có tính công bằng giữa các đối tượng nhận thông tin Các thông tin mà doanh nghiệp công bố thường nhắm đến nhiều đối tượng sử dụng khác nhau như cổ đông, công chúng đầu tư, khách hàng, cơ quan quản lý Việc đảm bảo tính công bằng trong công bố thông tin được hiểu là việc nhận tin giữa các đối tượng phải như nhau về chất lượng thông tin cũng như cách tiếp cận Tránh trường hợp tổ chức công bố thông tin riêng biệt hoặc công bố cho những bên có lợi ích trước khi công bố rộng rãi ra công chúng Cũng có những hợp ngoại lệ như cung cấp thông tin cho các nhà
tư vấn hoặc công ty định mức tín nhiệm, hoặc có thể là bên đối tác mà công ty đang có ý định hợp tác trong lĩnh vực đầu tư, sản xuất kinh doanh của mình Trong trường hợp này bên nhận thông tin phải có trách nhiệm bảo mật thông tin đó
1.2 CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO THƯƠNG NIÊN
Báo cáo thường niên là một tài liệu quan trọng, được các công ty cổ phần
sử dụng để báo cáo trước đại hội đồng cổ đông Đây được xem như một cuốn
sổ tay ghi chép lại hành trình phát triển của doanh nghiệp và là một tài liệu quảng bá thương hiệu cho doanh nghiệp
BCTN là kênh thông tin giới thiệu cho các bên hữu quan các thông tin về tình hình tài chính và hoạt động trọng yếu của doanh nghiệp cả quá khứ, hiện tại, kế hoạch phát triển tương lai Thị trường kinh doanh biến động không ngừng, nên BCTN là một kênh quan trọng giúp các nhà đầu tư tiếp cận thông tin một cách chính thức và đầy đủ nhất Doanh nghiệp làm tốt BCTN cũng là một cách thể hiện sự coi trọng vai trò của các cổ đông, các đối tác của doanh
Trang 27nghiệp
1.2.1 Yêu cầu chung về công bố thông tin trên Báo cáo thường niên
Việc CBTT trên báo cáo thường niên phải tuân thủ các quy định của Bộ Tài chính Văn bản mới nhất trong việc yêu cầu các công ty đại chúng trong CBTT là Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015
Theo quy định, Công ty đại chúng phải lập Báo cáo thường niên và công
bố thông tin về Báo cáo thường niên chậm nhất là hai mươi ngày sau khi công
bố Báo cáo tài chính năm được kiểm toán., nhưng không được vượt quá 120 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính
Việc công bố thông tin phải được thực hiện trên các ấn phẩm, trang thông tin điện tử của công ty đại chúng, phương tiện công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch Chứng khoán và lưu trữ bằng văn bản và dữ liệu điện tử ít nhất mười năm tiếp theo tại trụ sở chính của công ty
để nhà đầu tư tham khảo
Thông tin tài chính trong Báo cáo thường niên phải phù hợp với Báo cáo tài chính năm được kiểm toán
1.2.2 Nội dung của Báo cáo thường niên
Báo cáo thường niên được soạn thảo theo quy định tại Mẫu Báo cáo Thường niên ban hành kèm theo Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Nội dung cơ bản bao gồm những thông tin chính sau đây:
“I Thông tin chung
1 Thông tin khái quát
- Tên giao dịch, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số; Vốn điều lệ;
Vốn đầu tư của chủ sở hữu; Địa chỉ; Số điện thoại; Số fax; Website; Mã cổ
phiếu (nếu có)
- Các thông tin về quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp
Trang 28- Các sự kiện khác
2 Ngành nghề và địa bàn kinh doanh
Ngành nghề và địa bàn kinh doanh chiếm 10% trên tổng doanh thu trong hai năm gần nhất
3 Thông tin về mô hình quản trị, tổ chức kinh doanh và bộ máy quản lý
4 Định hướng phát triển
5 Các rủi ro
II Tình hình hoạt động trong năm/ Yearly Operations
1 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
2 Tổ chức và nhân sự
3 Tình hình đầu tư, tình hình thực hiện các dự án/Investment activities, project implementation
4 Tình hình tài chính/ Financial situation
5 Cơ cấu cổ đông, thay đổi vốn đầu tư của chủ sở hữu/
6 Báo cáo tác động liên quan đến môi trường và xã hội của công ty
III Báo cáo và đánh giá của Ban Giám đốc
1 Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
2 Tình hình tài chính/ Financial Situation
3 Những cải tiến về cơ cấu tổ chức, chính sách, quản lý
4 Kế hoạch phát triển trong tương lai
5 Giải trình của Ban Giám đốc đối với ý kiến kiểm toán (nếu có) –
6 Báo cáo đánh giá liên quan đến trách nhiệm về môi trường và xã hội của công ty
IV Đánh giá của Hội đồng quản trị về hoạt động của Công ty (đối với công ty cổ phần
1 Đánh giá của Hội đồng quản trị về các mặt hoạt động của Công ty, trong đó có đánh giá liên quan đến trách nhiệm môi trường và xã hội
Trang 292 Đánh giá của Hội đồng quản trị về hoạt động của Ban Giám đốc công
ty
3 Các kế hoạch, định hướng của Hội đồng quản trị
V Quản trị công ty
1 Hội đồng quản trị
2 Ban Kiểm soát
3 Các giao dịch, thù lao và các khoản lợi ích của Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và Ban kiểm soát
VI Báo cáo tài chính
1 Ý kiến kiểm toán
2 Báo cáo tài chính được kiểm toán”
Nội dung chi tiết của từng mục công bố thông tin trên báo cáo thường niên theo Thông tư số 155/2015/TTBTC được trình bày cụ thể tại Phụ lục 1
1.2.3 Mức độ công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên
Công bố thông tin tự nguyện (Volumtary dislosures): Công bố thông tin
tự nguyện là công bố các thông tin bổ sung ngoài những thông tin bắt buộc Mức độ công bố thông tin tự nguyện là sự lượng hóa nội dung công bố thông tin theo các điểm mục được xác định Việc xác định các nội dung điểm mục CBTTTN trên BCTN của các NHTM có vai trò quan trọng trong việc đo lường mức độ CBTTTN Tuy nhiên, tùy mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, nghiên cứu được thực hiện trong không gian và thời gian khác nhau thì danh mục các điểm mục để đo lường mức độ CBTTTN cũng có sự thay đổi
Nội dung các thông tin công bố tự nguyện thường rất đa dạng nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin của các nhà phân tích tài chính, nhà đầu tư, đối tác kinh doanh, cơ quan quản lý Và thường tập trung vào các nội dung như nhóm thông tin chung về quản trị công ty, thông tin về môi trường kinh doanh, định hướng tương lai, trách nhiệm về xã hội và môi trường, chính sách về người
Trang 30lao động… Nội dung của từng nhóm thông tin phụ thuộc vào chỉ mục đo lường Luận văn đo lường mức độ CBTTTN trên báo cáo thường niên của NHTM trên cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài và trong nước trước đó Có xem xét sự phù hợp điểm mục này với các văn bản mới hướng dẫn về nội dung BCTN trong giai đoạn 2015 - 2018
1.3 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.3.1 Lý thuyết đại diện (Principal – Agent Theory)
“Lý thuyết đại diện tập trung vào việc khái quát những vấn đề liên quan đến hợp đồng đại diện Lý thuyết đại diện đầu tiên do Ross (1973) đề xuất và sau này được Jensen and Meckling (1976) phát triển thêm Lý thuyết này giả định rằng lợi ích giữa người sở hữu vốn và một bên là người quản lý, đóng vai trò là người đại diện không phải lúc nào cũng như nhau Người quản lý được trả lương để đảm bảo cho công ty hoạt động thành công, mang đến khả năng sinh lời cho chủ sở hữu Khi lợi ích của người sở hữu và người quản lý mâu thuẫn sẽ khiến cho hoạt động của doanh nghiệp không được tối ưu”
“Lý thuyết đại diện khẳng định rằng, trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư
và nhà quản lý, cả hai đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình Nhà đầu tư muốn tối đa hóa lợi ích của mình thông qua việc tăng giá trị doanh nghiệp, còn lợi ích của nhà quản lý thường gắn với mức thu nhập nhận được”.(Jensen and Meckling, 1976) Khi đó, để phân định rõ ràng quyền sở hữu và quyền quản
lý đã xuất hiện chi phí đại diện Theo Jensen and Meckling (1976): “Chi phí
đại diện bao gồm tổng các chi phí giám sát của người ủy quyền, chi phí của việc ràng buộc người đại diện nhằm thực hiện các nhiệm vụ tương thích với các mục tiêu hoạt động của người ủy quyền hay thực thể kinh tế, và của các tổn thất còn lại mà có thể quy cho sự chệch hướng trong các quyết yếu tối ưu được thực hiện bởi người đại diện ngược lại với các quyết định mà lẽ ra đã được người ủy quyền thực hiện nếu như họ có liên quan trực tiếp đến các
Trang 31quyết định” Như vậy, chi phí đại diện là tổng của chi phí giám sát, chi phí
ràng buộc và mất mát phụ trội Chi phí giám sát bao gồm chi phí kiểm tra, giám sát, kiểm toán và các khoản phí liên quan nhằm hạn chế những hành động sai lệch của người quản lý, làm tổn hại đến người chủ sở hữu Người quản lý thực hiện các hành động theo hợp đồng vì mục tiêu mang lại tối đa hóa lợi nhuận cho người đầu tư cần khoản chi phí thiết lập và đảm bảo doanh nghiệp hoạt động bền vững, đây gọi là chi phí ràng buộc “Mất mát phụ trội
có thể hiểu là sự mất mát tài sản mà người chủ sở hữu phải gánh chịu do sự bất đồng lợi ích, do người quản lý chỉ nỗ lực trong một phạm vi nhất định Việc thực hiện kiểm tra, kiểm toán nội bộ hay đưa ra những điều khoản ràng buộc về quyền hạn và trách nhiệm của ban điều hành với hoạt động của công
ty trong các quy định của pháp luật có thể giúp giảm chi phí đại diện Bên cạnh đó, việc cung cấp các ưu đãi phù hợp với người đại diện cũng sẽ giúp gắn kết lợi ích giữa hai bên Khi doanh nghiệp có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý sẽ dẫn đến các mâu thuẫn lợi ích do người quản lý điều hành tài sản của người khác nên không thể hy vọng là họ sẽ thực hiện việc điều hành toàn tâm như với tài sản của chính mình Vì vậy, để kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, các chủ sở hữu phải thông qua quá trình giám sát và các báo cáo Lúc này, công bố thông tin được xem là một công cụ để giảm chi phí đại diện vì làm giảm thông tin bất cân xứng chủ sở hữu và nhà quản lý.”
1.3.2 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary Cost Theory)
“Lý thuyết chi phí sở hữu chỉ ra nguyên nhân được coi là rào cản lớn nhất ảnh hưởng đến công bố thông tin của DN Đó là vị thế trong cạnh tranh của DN, sẽ ảnh hưởng đến quyết định cung cấp các thông tin liên quan đến
DN Các DN có quy mô nhỏ thường chịu ảnh hưởng nhiều, nếu công bố thông tin ở mức độ lớn nào đó hoặc công bố thông tin nhiều hơn, sẽ có ảnh hưởng không tốt đến lợi thế cạnh tranh của DN trên thị trường.”
Trang 32Theo lý thuyết này, mức độ trình bày thông tin trên báo cáo bộ phận (BCBP) giữa các công ty không những phụ thuộc vào đặc điểm từng công ty
mà còn phụ thuộc vào những chi phí công ty phải trả để làm điều này Điều này có nghĩa là, việc cung cấp nhiều hay ít thông tin bộ phận là không chỉ phụ thuộc vào quy định BCBP mà còn phụ thuộc vào hành vi áp dụng quy định của DN Theo lý thuyết chi phí sở hữu (Dye, 1986; Verrecchia, 1983), hành vi này của DN được lý giải như sau: mức độ thông tin mà DN cung cấp phụ thuộc vào những chi phí mà DN phải đối mặt Đặc biệt, DN sẽ hạn chế cung cấp thông tin khi mà thông tin cung cấp này có ảnh hưởng xấu đến vị thế cạnh tranh của DN Kết quả là khi DN quyết định lựa chọn thông tin nào cần cung cấp, nhà quản lý sẽ cân nhắc đến lợi ích nhận được cũng như rủi ro có thể ảnh hưởng đến vị thế cạnh tranh của DN Điều đó cũng có nghĩa là mức độ trình bày thông tin BCBP có bị ảnh hưởng bởi yếu tố cạnh tranh giữa các DN kinh
doanh cùng lĩnh vực
1.3.3 Lý thuyết chi phí chính trị (Political theory)
Lý thuyết phi chính trị lần đầu tiên được giới thiệu bởi ”Watts và
Zimmerman” vào năm 1978 và“kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng chi phí chính trị của các doanh nghiệp lớn cao hơn những doanh nghiệp nhỏ Các doanh nghiệp rõ ràng về mặt chính trị và chịu chi phí chính trị cao dự kiến sẽ công bố thêm thông tin tự nguyện nhiều hơn để giảm chi phí này xuống Như vậy tầm quan trọng của chi phí chính trị phụ thuộc nhiều vào quy mô doanh nghiệp.”
“Một mức độ công bố thông tin cao hơn mong đợi sẽ ủng hộ cho một mức lợi nhuận lớn hơn cho công ty và vì vậy tránh đi trách nhiệm pháp
lý” (Lang và Undholm, 1993) và cũng như biện min cho mức độ lợi nhuận
của công ty (Giner, 1997)
1.3.4 Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory)
Trang 33Lý thuyết tín hiệu rất hữu ích để mô tả hành vi khi hai bên (cá nhân hoặc
tổ chức) có quyền truy cập vào thông tin khác nhau Thông thường, một bên, người gửi, phải chọn xem và cách truyền đạt (hoặc tín hiệu) thông tin đó, và bên kia, người nhận, phải chọn cách giải thích tín hiệu Lý thuyết tín hiệu chỉ
ra rằng do sự không đối xứng thông tin giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư
sẽ gây ra sự lựa chọn có hại cho nhà đầu tư Vì thế công bố thông tin là một trong những công cụ mà doanh nghiệp dùng để tạo ra sự khác biệt về chất lượng hoạt động của công ty này với công ty khác Nhằm tranh thủ
sự lựa chọn, ủng hộ của các nhà đầu tư, việc công bố các thông tin tự nguyện về sự tăng trưởng của doanh thu, tài sản, lợi nhuận, định hướng phát triển, như một cách đưa ra tín hiệu với thị trường Mức độ bất đối xứng thông tin ở công ty có quy mô lớn cao hơn công ty có quy mô nhỏ nên công bố thông tin nhiều hơn để làm giảm mức độ bất đối xứng thông tin Vậy doanh nghiệp có quy mô lớn thì có nhiều thông tin để cung cấp
Về yếu tố khả năng sinh lời (ROA, ROE), doanh nghiệp có khả năng sinh lời càng lớn thì mong muốn công bố thông tin nhiều hơn để phô trương quảng bá hình ảnh, thương hiệu của doanh nghiệp Tình hình tài chính trong quá khứ ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp Theo Singhvi và Desai (1971) “để tạo sự tin tưởng và thu hút từ các nhà đầu tư, các công ty có mức sinh lời cao hơn sẽ công bố thông tin nhiều hơn ra thị trường Các công ty có lợi nhuận cao công bố nhiều thông tin là động cơ để nâng giá thị trường cổ phiếu”
1.3.5 Lý thuyết tính hợp pháp (Legitimacy Theory)
Lý thuyết này cung cấp một cái nhìn tiên tiến hơn về công bố thông tin trách nhiệm xã hội vì nó xem xét doanh nghiệp trong mối quan hệ ràng buộc với hợp đồng xã hội, trong đó nói rằng các công ty thực hiện các hoạt động với cộng đồng để đổi lấy phần thưởng là sự chấp nhận với các mục tiêu hoạt
Trang 34động của họ, từ đó đảm bảo cho sự tồn tại lâu dài của công ty
Theo DiMaggio và Powell (1983), “các công ty phải hoạt động trong một khuôn khổ nhất định Nếu công ty không tuân theo và chấp nhận các quy định của thể chế thì các nguồn lực, tính hợp pháp của công ty có thể bị đe dọa
và do đó, ảnh hưởng đến sự tồn tại của công ty”
Nhìn chung, CBTT là cách mà doanh nghiệp truyền tải ra bên ngoài về hình ảnh công ty để đảm bảo vị trí kinh tế hay chính trị Các thông tin công bố này cũng tuân thủ theo một thể chế để đảm bảo được tính pháp lý nhất định
1.3.6 Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory)
Khởi đầu của lý thuyết của các bên liên quan là của Freeman (1984)
“Nội dung lý thuyết các bên liên quan đề cập tới đạo đức và các giá trị trong quản trị tổ chức Các bên liên quan được hiểu là là bất kỳ cá nhân hay nhóm người bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi những hành động của tổ chức
Lý thuyết các bên liên quan cho rằng, ngoài các cổ đông còn có các đối tượng khác có liên quan đến quá trình hoạt động DN bao gồm cơ quan chính phủ, các nhóm chính trị, các hiệp hội thương mại, công đoàn, cộng đồng, các công
ty liên quan, khách hàng tiềm năng, và công chúng Từ quan điểm đạo đức, tổ chức có nghĩa vụ phải đối xử công bằng giữa các bên liên quan Trong trường hợp, các bên liên quan xung đột lợi ích, DN phải có nghĩa vụ đạt được sự cân bằng tối ưu giữa chúng.”
“Từ quan điểm quản trị, vai trò quan trọng của quản lý là để đánh giá tầm quan trọng, của việc đáp ứng nhu cầu các bên liên quan để đạt được mục tiêu chiến lược của DN Vì vị trí ngày càng quan trọng của lĩnh vực sản xuất đối với xã hội và các tác động trực tiếp và gián tiếp từ hoạt động của DN sản xuất tới môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng, nên các các qui định về môi trường từ phía các cơ quan pháp luật ngày càng khắt khe với các DN (nhất là các DN sản xuất hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm với môi trường)
Trang 35Do đó, vì lợi ích của mình, các bên liên quan luôn mong đợi DN có những ứng xử phù hợp với trách nhiệm môi trường để đạt được sự hoạt động hợp pháp trong xã hội qua đó giúp họ đạt được các lợi ích kinh tế khác Các bên
có liên quan cũng sẽ đánh gía việc thực hiện trách nhiệm môi trường của DN, thông qua các thông tin môi trường mà DN công bố”
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN TRONG BCTN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM
Hoạt động hiệu quả, lành mạnh của các NHTM là động lực phát triển của nền kinh tế của mỗi nước Có rất nhiều các bên liên quan đến hoạt động của ngân hàng như cổ đông, cơ quan chính phủ, các hiệp hội thương mại, công đoàn, cộng đồng, đối tác, khách hàng và công chúng Do đó, ngoài việc CBTT bắt buộc theo quy định của pháp luật ra, các NHTM còn công bố các thông tin tự nguyện nhằm đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan này Báo cáo thường niên là kênh thông tin chính thức, đầy đủ, cập nhật về tình hình hoạt động của NHTM trong một năm Có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm đi trước đã chứng minh có nhiều nhân tố tác động đến mức độ CBTTTN trên báo cáo thường niên của các NHTM, mà trong nghiên cứu này, tác giả dựa vào các nghiên cứu trước đây để đưa vào mô hình nghiên cứu 8 nhân tố tác động phù hợp với bối cảnh và thực trạng của nền kinh tế nói chung và hệ thống NHTM Việt Nam nói riêng: (1) Quy mô ngân hàng, (2) Thành phần hội đồng quản trị, (3) Công ty kiểm toán, (4) Sở hữu nhà nước, (5) Sở hữu nước
ngoài, (6) Lợi nhuận, (7) Số năm hoạt động và (8) Tình trạng niêm yết
1.4.1 Nhân tố Quy mô
Quy mô của công ty là một biến giải thích có khả năng quan trọng liên quan đến mức độ CBTT và được lựa chọn như biến độc lập trong hầu hết các nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện trong lĩnh vực ngân hàng như trong các nghiên cứu của Hoissan &Taylor (2007), Hoissain & Reaz (2007),
Trang 36Hossain (2008), Maingot & Zeghal (2008), Kribat (2009), Menassa (2010), Agyei-Mensah (2012), Raoudha & Chokri (2013) Tại Việt Nam các tác giả như Vu và cộng sự (2011), Nguyễn Thị Thu Hảo (2015), Hà Xuân Trạch, Trịnh Thị Hợp (2017) cũng chứng minh đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ CBTT tự nguyện của các Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Phần lớn các nghiên cứu trong lĩnh vực này tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa hai biến, tức là doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì mức độ công
bố thông tin càng nhiều và ngược lại Tuy nhiên, trong nghiên cứu Kribat (2009), lại cho thấy quy mô ngân hàng càng lớn thì mức độ CBTT ít hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ Tuy đây chỉ là một quan điểm thiểu số, nhưng cũng là một góc nhìn trong nghiên cứu
Theo lý thuyết tin hiệu thì mức độ bất đối xứng thông tin ở công ty có quy mô lớn cao hơn công ty có quy mô nhỏ nên công bố thông tin nhiều hơn để làm giảm mức độ bất đối xứng thông tin Công ty càng lớn càng có nhiều thông tin để công bố hơn công ty nhỏ
Công chúng thường quan tâm đến công ty lớn để ra quyết định đầu tư hơn là các công ty nhỏ Do đó, công ty có quy mô lớn cũng tiết lộ nhiều thông tin tự nguyện hơn để thu hút đầu tư Hơn nữa, thời gian, chi phí thu thập và công bố thông tin được cho là rào cản của các công ty nhỏ
Bảng 1.1 Các nghiên cứu trước đây về yếu tố “Quy mô” ảnh hưởng đến
CBTTTN Tác giả/năm
Hoissan &Taylor
(2007)
Kết quả thực nghiệm của tác giả cho thấy quy mô ngân hàng có ảnh hưởng dương đến mức độ CBTTTN trên báo cáo thường niên của 20 ngân hàng tư nhân nội địa tại Bangladesh
Trang 37Tác giả/năm
Hoissain & Reaz
Maingot &
Zeghal (2008)
Có sự tác động của biến quy mô doanh nghiệp đến CBTT trên báo cáo thường niên tại các ngân hàng niêm yết trên sàng giao dịch Toronto tại Canada
Kribat 2009
Nghiên cứu thực nghiệm đo lường mức độ CBTT chung của các ngân hàng ở Libya trong giai đoạn 2000 – 2006 chỉ ra rằng yếu tố quy mô có ảnh hưởng tiêu cực đến tỉ lệ CBTT
Menassa (2010)
Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng chứng minh yếu tố quy mô ảnh hưởng tích cực đến tỉ lệ CBTT xã hội của 24 NHTM tại Lebanon
Agyei-Mensah
(2012)
Yếu tố quy mô có ảnh hưởng nhưng không đáng kể đến
tỉ lệ CBTTTN của 21 ngân hàng thuộc vùng nông thôn Ashanti của nước Ghana
Raoudha &
Chokri (2013)
Kết quả kiểm tra các nhân tố ảnh hưởng đến CBTTTN trên một mẫu gồm 10 ngân hàng niêm yết tại Tunisia trong giai đoạn 2000-2011 cho thấy quy mô ngân hàng càng lớn thì tỉ lệ CBTTTN càng nhiều
Vu và cộng sự
(2011)
Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có quy mô lớn thì tỉ
Trang 38Tác giả/năm
lệ CBTTTN nhiều hơn Nguyễn Thị Thu
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
1.4.2 Nhân tố thành phần HĐQT
Đặc điểm các NHTM tại Việt Nam có quy mô hội đồng quản trị không
có sự khác biệt nên yếu tố kích thước ít được xem xét Do đó, nhân tố thành phần HĐQT sẽ được xem xét ở góc độ sự độc lập của HĐQT trong quản lý Theo lý thuyết đại diện, HĐQT cần độc lập để thực hiện chức năng giám sát với ban điều hành HĐQT sẽ không thực hiện đầy đủ vai trò quản lý, định hướng chiến lược, giám sát của mình nếu tham gia điều hành ngân hàng Thực tế, trong hệ thống NHTM cổ phần tại Việt Nam, tỉ lệ thành viên HĐQT tham gia điều hành là khá phổ biến Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đi trước đã chứng minh, tỉ lệ không kiêm nhiệm điều hành của HĐQT có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN trong công ty Điển hình là các nghiên cứu của Hossain (2008) cho thấy có sự ảnh hưởng tiêu cực giữa tỉ lệ thành viên hội đồng quản trị có tham gia điều hành và mức độ CBTT trong ngành ngân hàng Tại Việt Nam, nghiên cứu của Vu và cộng sự (2011) cũng chứng thực có sự ảnh hưởng tiêu cực giữa mức độ kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và mức độ công bố thông tin tự nguyện
Trang 39Bảng 1.2 Các nghiên cứu trước đây về “Thành phần HĐQT” ảnh hưởng
đến CBTTTN Tác giả/năm
Ross (1973),
Jensen and
Meckling (1976) –
Lý thuyết đại diện
Tỉ lệ thành viên thuộc HĐQT kiêm nhiệm (có tham gia điều hành) có ảnh hưởng đến mức độ CBTT
Hossain (2008)
Có sự ảnh hưởng tiêu cực giữa tỉ lệ thành viên hội đồng quản trị có tham gia điều hành và mức độ CBTT trong ngành ngân hàng niêm yết ở Ấn Độ trong năm 2008
Vu và cộng sự
(2011)
Có sự ảnh hưởng tiêu cực giữa mức độ kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và mức độ công bố thông tin tự nguyện
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
1.4.3 Nhân tố kiểm toán
Trong nghiên cứu của Hoissan &Taylor (2007), Nguyễn Thị Thu Hảo (2015) cho thấy chủ thể kiểm toán có ảnh hưởng dương đến mức độ CBTT của doanh nghiệp Sự ảnh hưởng có thể giải thích thông qua một số lý do như sau:
Klein and Leffler (1981) lập luận rằng “kiểm toán viên đến từ các công
ty kiểm toán lớn (Ví dụ như các công ty kiểm toán Big4) có danh tiếng cần phải bảo vệ, do đó phải đối mặt với chi phí kiện tụng lớn hơn so với các công
ty kiểm toán nhỏ hơn Vì những chi phí kiện tụng, các công ty kiểm toán này
có khả năng sẽ yêu cầu các thuyết minh thông tin rõ hơn để cung cấp dịch vụ kiểm toán với chất lượng cao hơn nhằm tránh các rủi ro có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến hình ảnh và thương hiệu của mình Báo cáo kiểm toán của các
Trang 40công ty kiểm toán lớn do đó thường có độ tin cậy cao hơn”
Theo Dahawy (2009), “các công ty kiểm toán nhỏ thường có mức độ phụ thuộc kinh tế với khách hàng cao hơn nên sẽ gặp khó khăn trong trường hợp
bị mất khách hàng, nhất là khách hàng sử dụng dịch vụ với mức phí cao Trong khi đó, các công ty kiểm toán lớn, với số lượng khách hàng nhiều thì mức độ phụ thuộc kinh tế vào khách hàng rất thấp Chính vì vậy, các công ty kiểm toán lớn sẽ duy trì được một sự độc lập nhất định trong quá trình ra quyết định kiểm toán Do đó, ý kiến của kiểm toán viên sẽ khách quan hơn và đáng tin cậy hơn”
Do đó, chủ thể kiểm toán cũng được xem là nhân tố ảnh hưởng đến mức
độ CBTTTN của các ngân hàng tại Việt Nam
Bảng 1.3 nghiên cứu trước đây về yếu tố “Công ty kiểm toán” ảnh
hưởng đến CBTTTN Tác giả/năm
Klein and Leffler
Dahawy (2009) Các công ty kiểm toán lớn sẽ tác động tích cực đến việc
CBTT của các doanh nghiệp
Kribat (2009)
Nghiên cứu thực nghiệm đo lường mức độ CBTT chung của các ngân hàng ở Libya trong giai đoạn 2000 – 2006 chỉ ra rằng có mối quan hệ giữa biến quy mô với
tỉ lệ CBTT