Tuy nhiên, quá trình thực hiện cơ chế KSC thường xuyên NSNN qua KBNN vẫn còn những hạn chế, bất cập như sử dụng NSNN vẫn còn tình trạng lãng phí, dễ phát sinh tiêu cực; cán bộ làm nhiệm
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ MINH TÂM
KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN TU MƠ RÔNG,
TỈNH KON TUM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Đà Nẵng - Năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ MINH TÂM
KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN TU MƠ RÔNG,
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Cấu trúc của luận văn 3
7 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC 6
1.1 KHÁI QUÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 6
1.1.1 Khái niệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước 6
1.1.2 Đối tượng chi thường xuyên ngân sách nhà nước 7
1.1.3 Quy trình ngân sách áp dụng cho chi thường xuyên NSNN 9
1.1.4 Sự cần thiết phải KSC thường xuyên ngân sách qua KBNN 11
1.2 KHÁI QUÁT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 13
1.2.1 Kiểm soát nội bộ theo khuôn khổ của INTOSAI 13
1.2.2 Khuôn khổ pháp lý về kiểm soát nội bộ trong KBNN 14
1.3 KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH VÀ KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ VỀ KIỂM SOÁT CHI CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 15
1.3.1 Khái niệm kiểm soát chi NSNN 15
1.3.2 Mục đích và yêu cầu của hoạt động kiểm soát chi qua KBNN 16
1.3.3 Các quy định liên quan trong kiểm soát chi qua KBNN 16 1.4 NHẬN DIỆN VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC RỦI RO TRONG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NÓI CHUNG VÀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NÓI RIÊNG 18
Trang 51.4.1 Khái quát về rủi ro 18
1.4.2 Đặc điểm rủi ro trong hoạt động kiểm soát chi NSNN 19
1.4.3 Nhận diện rủi ro 20
1.5 HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 22
1.5.1 Nội dung kiểm soát 22
1.5.2 Quy trình kiểm soát 22
1.5.3 Thủ tục kiểm soát 26
1.6 HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TRONG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN TU MƠ RÔNG 33
2.1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN TU MƠ RÔNG 33
2.1.1 Đặc điểm hoạt động 33
2.1.2 Tổ chức quản lý của KBNN huyện Tu Mơ Rông 34
2.2 CÁC BỘ PHẬN LIÊN QUAN ĐẾN KIỂM SOÁT CHI Ở KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN TU MƠ RÔNG 37
2.3 NHẬN DIỆN VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN TU MƠ RÔNG 38
2.4 HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT 41
2.4.1 Quy trình KSC thường xuyên NSNN tại KBNN Tu Mơ Rông 41
2.4.2 Thủ tục kiểm soát 44
2.4.3 Kết quả KSC thường xuyên NSNN tại KBNN Tu Mơ Rông 55
Trang 62.5 HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CHI THƯỜNG XUYÊN CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN TU MƠ RÔNG 58 2.5.1 Giám sát thường xuyên 58 2.5.2 Giám sát định kỳ 61 2.6 ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN TU MƠ RÔNG 62 2.6.1 Ưu điểm trong công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN huyện Tu Mơ Rông 62 2.6.2 Hạn chế trong công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN huyện Tu Mơ Rông 66 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN TU MƠ RÔNG 72
3.1 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC NHẬN DIỆN, PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 72 3.1.1 Giải pháp hoàn thiện về nhận dạng rủi ro 72 3.1.2 Giải pháp hoàn thiện về phân tích và đánh giá rủi ro 73 3.2 HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC TU MƠ RÔNG 81 3.2.1 Giải pháp về quy chế kiểm soát chi NSNN 82 3.2.2 Giải pháp đối với chi thường xuyên ngân sách nhà nước theo hình thức rút dự toán 82 3.2.3 Giải pháp đối với các khoản chi theo hình thức lệnh chi tiền 83 3.2.4 Giải pháp đối với quy trình giao dịch một cửa 84
Trang 73.3 HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 84 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87
KẾT LUẬN 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 8YCTT Yêu cầu thanh toán
Trang 92.2 Kết quả kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại
KBNN Tu Mơ Rông giai đoạn 2016 - 2018 57
3.1
Bảng trọng số đánh giá rủi ro không tuân thủ quy trình chi tiền mặt trong thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt qua KBNN
75
3.2
Bảng đánh giá mức độ rủi ro không tuân thủ quy trình chi tiền trong thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt qua KBNN Tu Mơ Rông theo phương án A
76
3.3
Bảng đánh giá mức độ rủi ro không tuân thủ quy trình chi tiền trong thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt qua KBNN Tu Mơ Rông theo phương án B
78
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
1.1 Quy trình quản lý, kiểm soát chi theo hình thức rút dự
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Kiểm soát chi (KSC) ngân sách nhà nước (NSNN) là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của việc thực hiện chức năng quản lý quỹ NSNN qua hệ thống Kho bạc nhà nước (KBNN) Để nền kinh tế phát triển một cách ổn định, bền vững trong điều kiện nguồn lực quốc gia thật sự khan hiếm, nhu cầu chi tiêu ngân sách luôn biến động theo chiều hướng gia tăng, trong khi nguồn thu rất khó đảm bảo thì công tác KSC NSNN qua KBNN, đặc biệt là các khoản chi thường xuyên là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa nhằm cân bằng thu, chi và tránh xảy ra bội chi NSNN
Những năm qua, KSC thường xuyên NSNN qua KBNN nói chung và KBNN huyện Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum nói riêng đã có những chuyển biến tích cực theo hướng chuyên sâu và chuyên môn hóa cao, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho khách hàng giao dịch Tuy nhiên, quá trình thực hiện
cơ chế KSC thường xuyên NSNN qua KBNN vẫn còn những hạn chế, bất cập như sử dụng NSNN vẫn còn tình trạng lãng phí, dễ phát sinh tiêu cực; cán bộ làm nhiệm vụ chi ngân sách tại các đơn vị sử dụng NSNN còn chưa nắm bắt đầy đủ về chế độ, tiêu chuẩn, định mức theo quy định của Nhà nước; việc thực hiện chế độ công khai minh bạch trong chi tiêu ngân sách của những đơn
vị sử dụng ngân sách (ĐVSDNS) còn hạn chế,… Tất cả những điều này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng sử dụng ngân sách, chưa đáp ứng yêu cầu quản
lý và cải cách thủ tục hành chính trong xu thế đẩy mạnh mở cửa và hội nhập quốc tế
Như vậy, thực hiện cơ chế KSC thường xuyên NSNN qua KBNN nói chung và KBNN huyện Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum nói riêng còn bộc lộ những hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng sử dụng ngân sách, chưa đáp ứng
Trang 12hiệu quả hoàn toàn yêu cầu quản lý và cải cách thủ tục hành chính trong xu thế đẩy mạnh mở cửa và hội nhập quốc tế
Xuất phát từ thực tế trên, đồng thời nhận thức được vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề kiểm soát NSNN nói chung, KSC thường xuyên
NSNN qua KBNN nói riêng, tôi lựa chọn đề tài: “Kiểm soát nội bộ chi
thường xuyên ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước huyện Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum” với mong muốn đóng góp những giải pháp thiết thực
nhằm nâng cao hiệu quả công tác KSC thường xuyên NSNN tại KBNN huyện
Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nhận diện những ưu điểm, hạn chế của công tác KSC thường xuyên NSNN tại KBNN huyện Tu Mơ Rông
- Đề xuất các giải pháp có thể áp dụng nhằm nâng cao tính hữu hiệu của công tác KSC thường xuyên NSNN tại KBNN huyện Tu Mơ Rông
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác KSC thường xuyên NSNN thuộc ngân sách cấp huyện tại KBNN huyện Tu Mơ Rông
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: KBNN huyện Tu Mơ Rông
- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu hoạt động KSC thường xuyên
NSNN tại KBNN huyện Tu Mơ Rông từ năm 2016 đến 2018
- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung giải quyết các vấn đề liên
quan đến công tác KSC thường xuyên liên quan đến nguồn vốn NSNN tại KBNN huyện Tu Mơ Rông
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp định tính, cụ thể là có
Trang 13sự phối hợp các phương pháp sau:
+ Thu thập dữ liệu trực tiếp từ KBNN huyện Tu Mơ Rông
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích được sử dụng để hệ thống hóa cơ
sở lý luận, tính toán các chỉ tiêu, lập luận và giải thích
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn nhằm hoàn thiện công tác KSC thường xuyên NSNN tại KBNN huyện Tu Mơ Rông, đảm bảo việc sử dụng kinh phí NSNN đúng mục đích, đúng đối tượng, có hiệu quả Những giải pháp hoàn thiện công tác KSC thường xuyên NSNN tại KBNN huyện Tu Mơ Rông hướng tới mục tiêu giảm thiểu thất thoát lãng phí, kịp thời phát hiện những sai sót trong việc quản lý các khoản chi thường xuyên từ NSNN trong
những năm tới
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho lãnh đạo các cơ quan, đơn vị sử dụng NSNN, ban quản lý dự án; tài liệu phục vụ học tập và nghiên cứu bổ ích, có giá trị cho cán bộ, công chức KBNN huyện Tu Mơ Rông nói riêng và hệ thống KBNN nói chung
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN huyện Tu Mơ Rông
Chương 3: Giải pháp tăng cường kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN huyện Tu Mơ Rông
7 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Luận văn Thạc sĩ của Đào Hoàng Liêm (2010) về “Hoàn thiện công tác
kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Quảng Bình” đã
Trang 14phân tích thực trạng công tác KSC NSNN qua KBNN Quảng Bình, luận văn đưa ra các giải pháp hoàn thiện KSC NSNN trên địa bàn, trong đó chú ý đến một số giải pháp về đổi mới quy trình nghiệp vụ KSC đáp ứng yêu cầu cải cách tài chính công và phù hợp với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế
Bài viết về “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách
qua Kho bạc Nhà nước Vĩnh Phúc” của Nguyễn Mạnh Tuấn (2017) đã đánh
giá kết quả KSC thường xuyên và nêu ra những vướng mắc khó khăn trong thực hiện công tác KSC thường xuyên ngân sách nhà nước, nguyên nhân và giải pháp hoàn thiện công tác KSC thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước trên địa bàn
Bài viết “Kiểm soát chi ngân sách nhà nước theo mô hình kho bạc điện
tử: Những vấn đề cần hoàn thiện” của Bùi Quang Vinh (2017) đã nêu ra các
nội dung cơ bản gồm: quá trình xây dựng mô hình giao dịch kho bạc điện tử, thực trạng triển khai KSC NSNN theo mô hình điện tử, cải cách thủ tục pháp
lý và hoàn thiện quy trình giao dịch điện tử
Luận văn Thạc sĩ của Đoàn Thị Thanh Toàn (2018) về “Hoàn thiện
hoạt động kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Đà Nẵng” phân tích
thực trạng công tác KSC thường xuyên qua KBNN Đà Nẵng, qua đó rút ra những đánh giá được thực trạng về cơ chế cũng như kết quả thực hiện cơ chế KSC thường xuyên NSNN qua KBNN, thấy được những thành tựu đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và tìm ra nguyên nhân của những tồn tại Từ
đó, đề tài nêu quan điểm hoàn thiện cơ chế KSC thường xuyên NSNN qua KBNN
Luận văn Thạc sĩ của Hoàng Thị Xuân Hương (2018) về “Hoàn thiện
công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN Quảng Trạch, Quảng Bình” đã phân tích công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN
Quảng Trạch, Quảng Bình, luận văn đưa ra các giải pháp hoàn thiện KSC
Trang 15thường xuyên trên địa bàn
Các bài viết và luận văn kể trên đều là những công trình khoa học có giá trị, tuy nhiên do công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN thường xuyên được đổi mới theo yêu cầu chung của quá trình cải cách quản lý tài chính công nên một số vấn đề cần phải được cập nhật Đồng thời, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN huyện Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định và cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về KSC thường xuyên
NSNN qua KBNN huyện Tu Mơ Rông nên đề tài tập trung nghiên cứu “Kiểm
soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN huyện Tu Mơ Rông tỉnh Kon Tum”
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC
NHÀ NƯỚC
1.1 KHÁI QUÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Khái niệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí của bộ máy nhà nước và thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng Theo các nhà chuyên môn tài chính thì chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định
Chi NSNN bao gồm nhiều khoản chi khác nhau tuỳ theo cách phân loại Theo lĩnh vực hoạt động, chi NSNN bao gồm: chi quản lý hành chính, chi đầu tư kinh tế, chi cho y tế, chi cho giáo dục, chi cho phúc lợi xã hội, chi cho an ninh quốc phòng; theo mục đích chi tiêu, chi NSNN bao gồm chi tích luỹ, chi tiêu dùng; theo thời hạn tác động của các khoản chi, chi NSNN bao gồm: chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi khác (như chi cho vay, trả
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh” (Quốc Hội, 2015, Điều
4)
Trang 17Chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính của Nhà nước nhằm trang trải những nhu cầu của các cơ quan nhà nước, các
tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản
lý nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin thể dục thể thao khoa học và công nghệ môi trường và các hoạt động sự nghiệp khác Nói tóm lại, thì chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội Chi thường xuyên được bảo đảm bằng các khoản thu thường xuyên như thuế, phí,
lệ phí
1.1.2 Đối tượng chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Chi thường xuyên là nhóm chi NSNN đặc biệt quan trọng, gồm rất nhiều khoản chi và bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Chi thường xuyên NSNN là các khoản chi có thời hạn tác động ngắn thường dưới một năm, chi để mua các hàng hoá và dịch vụ không lâu bền, thường mang tính chất lặp đi lặp lại thường xuyên phục vụ các nhu cầu hoạt động thường xuyên của các tổ chức công, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp, kinh tế, giáo dục - đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ môi trường và các hoạt động sự nghiệp khác
Căn cứ vào đối tượng chi, chi thường xuyên NSNN bao gồm:
- Chi cho sự nghiệp kinh tế: Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, quản lý kinh tế - xã hội và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế hoạt động và phát triển một cách thuận lợi Mục đích hoạt động của đơn vị sự nghiệp kinh tế không phải là kinh doanh lấy lãi, do vậy NSNN cần dành một khoản chi đáp ứng hoạt động của các đơn vị này Chi sự nghiệp kinh tế gồm:
Trang 18+ Chi sự nghiệp nông nghiệp, sự nghiệp thủy lợi, sự nghiệp ngư nghiệp, sự nghiệp lâm nghiệp, giao thông, kiến thiết thị chính và sự nghiệp kinh tế công cộng khác
+ Chi điều tra cơ bản, đo đạc địa giới hành chính các cấp
+ Chi về bản đồ, đo đạc cắm mốc biên giới, đo đạc lập bản đồ và lưu trữ hồ sơ địa chính
+ Chi định canh định cư và kinh tế mới
- Chi sự nghiệp văn hóa - xã hội gồm: chi sự nghiệp giáo dục đào tạo; chi sự nghiệp y tế, sự nghiệp văn hóa thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp phát thanh, truyền hình; sự nghiệp khoa học, công nghệ và môi trường; sự nghiệp xã hội, sự nghiệp văn hóa - xã hội khác
- Chi quản lý hành chính: là các khoản chi cho hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước thuộc bộ máy chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương
- Chi về hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chi về hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội: Bao gồm: mặt trận
tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu Chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội nông dân Việt Nam Đối với nước ta, các tổ chức trên là các tổ chức thuộc hệ thống chính trị của nước ta, do vậy theo quy định của luật NSNN, NSNN có trách nhiệm bố trí chi ngân sách đảm bảo hoạt động của các tổ chức này
- Chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước
- Chi cho các chương trình quốc gia
- Chi trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội
- Chi tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp theo quy định của pháp luật
- Chi trả lãi tiền cho Nhà nước vay
Trang 19- Chi viện trợ cho các chính phủ và các tổ chức nước ngoài
- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
1.1.3 Quy trình ngân sách áp dụng cho chi thường xuyên NSNN
a toán chi thường xuyên NSNN
Quy trình lập dự toán chi thường xuyên NSNN gồm các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Hướng dẫn lập dự toán ngân sách và thông báo số kiểm tra
Các bộ, cơ quan trung ương căn cứ vào Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướng dẫn, số kiểm tra về dự toán ngân sách của Bộ Tài chính,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư và căn cứ yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của mình thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp tỉnh tiếp tục hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc và UBND cấp huyện UBND cấp huyện hướng dẫn và thông báo số kiểm tra dự toán ngân sách cho đơn vị trực thuộc
và UBND cấp xã
Giai đoạn 2: Lập và thảo luận dự toán ngân sách
Các đơn vị trên cơ sở các văn bản hướng dẫn và số kiểm tra tiến hành lập dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ được giao, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp Đơn vị dự toán cấp I xem xét, tổng hợp, lập
dự toán tổng thể báo cáo cơ quan tài chính, cơ quan kế hoạch và đầu tư cùng cấp, kèm theo thuyết minh chi tiết căn cứ tính toán từng khoản thu, chi
Cơ quan tài chính các cấp tổ chức làm việc để thảo luận về dự toán ngân sách với cơ quan, đơn vị cùng cấp và UBND, cơ quan tài chính cấp dưới (đối với năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách); cơ quan, đơn vị cấp trên phải tổ chức làm việc để thảo luận về dự toán với các đơn vị dự toán ngân sách trực thuộc trong quá trình lập dự toán
Trang 20Giai đoạn 3: Quyết định, phân bổ, giao dự toán ngân sách nhà nước
Căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách do Thủ tướng Chính phủ giao, Hội đồng Nhân dân (HĐND) cấp tỉnh quyết định dự toán ngân sách địa phương (NSĐP), phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp tỉnh và mức bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh cho ngân sách cấp dưới Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của UBND cấp trên, UBND trình HĐND cùng cấp quyết định dự toán NSĐP và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình
b h hành d toán chi thường xuyên NSNN
Chấp hành NSNN là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong kế hoạch NSNN năm trở thành hiện thực
Mục tiêu của chấp hành NSNN là:
- Biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong kế hoạch ngân sách năm từ khả năng dự kiến thành hiện thực
- Kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn , định mức
về kinh tế tài chính của Nhà nước
Nội dung tổ chức chấp hành NSNN gồm:
* Tổ chức thu NSNN
Trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinh trong quý, cơ quan thu lập dự toán thu ngân sách quý chi tiết theo khu vực kinh tế, địa bàn và đối tượng thu chủ yếu, gửi cơ quan tài chính cuối quý trước
* Tổ chức chi NSNN
Giai đoạn này bao gồm hai khâu là phân bổ và giao dự toán chi ngân sách và lập nhu cầu chi quý
Trang 21Phân bổ và giao toán chi ngân sách
Sau khi được Thủ tướng Chính phủ, UBND giao dự toán ngân sách, các cơ quan Nhà nước ở trung ương và địa phương, các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các ĐVSDNS trực thuộc
nhu cầu chi quý
Trên cơ sở dự toán năm được giao, các ĐVSDNS lập nhu cầu chi ngân sách quý (có chia ra tháng), chi tiết theo các nhóm mục chi như trên gửi KBNN và cơ quan tài chính cuối quý trước để phối hợp thực hiện chi trả cho đơn vị
c uy t toán chi thường xuyên NSNN
Quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng của một chu trình ngân sách Mục đích của quyết toán NSNN là tổng kết đánh giá lại toàn bộ quá trình thu, chi ngân sách trong một năm ngân sách đã qua, cung cấp đầy đủ thông tin về quản lý điều hành thu, chi cho những người quan tâm như: Quốc hội, HĐND các cấp, Chính phủ, các nhà tài trợ, người dân
1.1.4 Sự cần thiết phải KSC thường xuyên ngân sách qua KBNN
Các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến việc quản lý
và sử dụng NSNN có trách nhiệm và nghĩa vụ quản lý thanh toán, chi trả các khoản chi NSNN Quá trình này phải được thực hiện chặt chẽ và đồng bộ từ khâu lập dự toán, phân bổ, cấp phát, thanh toán đến quyết toán chi tiêu NSNN
Trong đó, vai trò của kiểm soát chi thường xuyên NSNN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, xuất phát từ những lý do chủ yếu sau:
Thứ nhất, do yêu cầu đổi mới về cơ chế quản lý NSNN, đòi hỏi mọi khoản chi của NSNN phải đảm bảo đúng nội dung, mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả nhất Nhất là đối với nước ta hiện nay, khi mà đất nước vẫn đang tiếp tục hội nhập và phát triển, điều kiện kinh tế - xã hội vẫn còn những khó
Trang 22khăn nhất định thì việc sử dụng những khoản chi NSNN cần được tính toán và phân bổ phù hợp, đặc biệt là chi tiêu đúng nội dung và mục đích, tránh tình trạng thất thoát nguồn vốn Việc làm tốt công tác này có ý nghĩa rất lớn, góp phần thực hiện chủ trương tiết kiệm, chống lãng phí của Đảng và Nhà nước ta Thứ hai, do cơ chế quản lý chi NSNN vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế Mặc dù thường xuyên được sửa đổi và hoàn thiện, nhưng cơ chế quản lý chi NSNN vẫn chỉ mang tính nguyên tắc chung mà chưa mang tính cụ thể hóa, dẫn đến không thể giải quyết được các vấn đề phát sinh trong quá trình KSC chi thường xuyên NSNN Cùng với đó, do sự phát triển không ngừng của các hoạt động kinh tế - xã hội, các khoản mục, nội dung mà nghiệp vụ chi NSNN đề cập tới cũng ngày càng phong phú và phức tạp hơn Lợi dụng điều này, có những cá nhân, đơn vị đã tìm cách lợi dụng những kẽ hở của cơ chế quản lý nhằm trục lợi cá nhân gây lãng phí NSNN Do vậy, để giải quyết tình trạng này, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhất là KBNN phải thực hiện việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng kinh phí NSNN của các
cơ quan, đơn vị nhằm ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tiêu cực, phát hiện những điểm chưa phù hợp về cơ chế quản lý để từ đó kiến nghị với các ngành, các cấp sửa đổi, bổ sung kịp thời để các cơ chế ngày càng được hoàn thiện, phù hợp và chặt chẽ hơn
Thứ ba, do thực trạng của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN thường lập
hồ sơ, chứng từ thanh toán sai chế độ, chính sách như không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức; thiếu hồ sơ, chứng từ có liên quan… Điều này, xuất phát từ hiện tượng các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN thường mang tư tưởng tìm mọi cách để sử dụng hết ngân sách được cấp mà bỏ qua đối tượng, mục đích và dự toán đa được phê duyệt Do đó, cần phải có các cơ quan chức năng có đủ kỹ năng nghề nghiệp, trách nhiệm pháp lý để thực hiện kiểm tra, kiểm soát đối với các khoản chi của cơ quan, đơn vị Từ đó, kịp thời phát hiện và chấn
Trang 23chỉnh các gian lận, sai phạm và lãng phí của các đơn vị khi sử dụng NSNN, đảm bảo mọi khoản chi của NSNN được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và
có hiệu quả
Thứ tư, do các khoản chi của NSNN thường mang tính chất tính đặc thù
là không phải hoàn trả lại trực tiếp số kinh phí đã sử dụng cho Nhà nước mà chỉ cần báo cáo kết quả thực hiện công việc đã được Nhà nước giao Tuy nhiên, việc đánh giá kết quả của các khoản chi NSNN dự vào các chỉ tiêu định lượng trong một số trường hợp sẽ gặp khó khăn và không toàn diện Do vậy, để đảm bảo cho việc sử dụng NSNN của các cơ quan, đơn vị là phù hợp với các nhiệm vụ đã được giao cần thiết phải có một cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi của NSNN
1.2 KHÁI QUÁT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.2.1 Kiểm soát nội bộ theo khuôn khổ của INTOSAI
Theo tài liệu hướng dẫn Chuẩn mực kiểm soát nội bộ của Tổ chức quốc
tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI) năm 1992, khái niệm kiểm soát nội bộ được định nghĩa như sau: “Kiểm soát nội bộ là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm bảo đảm sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức” Như vậy, kiểm soát nội bộ góp phần thúc đẩy các hoạt động của đơn vị diễn ra có trình
tự, đạt được tính hữu hiệu và hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị; Bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, tham ô, lãng phí và sử dụng sai mục đích; Khuyến khích tuân thủ pháp luật, quy định của nhà nước và nội bộ; Xây dựng và duy trì các dữ liệu tài chính và hoạt động, lập báo cáo đúng đắn, kịp thời…
Tiếp đó, khái niệm kiểm soát nội bộ theo INTOSAI năm 2013 đã có thay đổi theo hướng quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cường năng lực giám sát
Trang 24của tổ chức Dù có những thay đổi theo thời gian, song các quan điểm đều có chung nhận định, kiểm soát nội bộ là một quá trình không thể thiếu của tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu về: Tính hữu hiệu, hiệu quả trong hoạt động của đơn vị, tôn trọng pháp luật và các quy định có liên quan, thiết lập, báo cáo các thông tin quản lý và thông tin tài chính đáng tin cậy, đảm bảo tính kịp thời, bảo vệ nguồn lực không thất thoát, hư hỏng, sử dụng sai Dù có sự khác biệt về tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ giữa các đơn vị vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, tính chất hoạt động, mục tiêu… của từng nơi, nhưng bất kỳ hệ thống kiểm soát nội bộ nào cũng phải bao gồm những bộ phận cơ bản như: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát (COSO, 2013)
Tại Việt Nam, kiểm soát nội bộ trong khu vực công hiện chưa được xác định cụ thể Mặc dù, hệ thống quản lý tài chính công của quốc gia có nhiều cơ chế và nắm vai trò giám sát nội bộ nhưng mục tiêu của cơ quan chức năng kiểm soát nội bộ này tập trung vào thanh tra hơn là xem xét hệ thống để đưa
ra những phản hồi định kỳ và thường xuyên đối với việc quản lý kiểm soát nội bộ và sử dụng nguồn lực công
1.2.2 Khuôn khổ pháp lý về kiểm soát nội bộ trong KBNN
- Mục đích và yêu cầu của hoạt động kiểm soát nội bộ trong KBNN: + Đảm bảo các quy trình nghiệp vụ được thực hiện theo đúng chế độ quy định, đảm bảo an toàn tiền và tài sản của Nhà nước
+ Phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm, áp dụng các biện pháp xử lý các hành vi vi phạm theo đúng thẩm quyền đã được phân cấp trong
hệ thống KBNN
+ Tổ chức rút kinh nghiệm, đánh giá những tồn tại, tìm ra nguyên nhân
và đưa ra phương hướng, biện pháp khắc phục nhằm tăng cường hiệu quả, chất lượng công tác nghiệp vụ tại đơn vị
Trang 25- Các văn bản liên quan trong kiểm soát nội bộ KBNN:
+ Ngày 24 tháng 11 năm 2009, KBNN có quyết định số KBNN về việc ban hành quy trình giao dịch một cửa trong KSC thường xuyên NSNN qua KBNN
1116/QĐ-+ Ngày 19/02/2013, KBNN có quyết định số 161/QĐ-KBNN về việc ban hành một số quy trình nghiệp vụ kế toán Nhà nước trong điều kiệnváp dụng Tabmis
+ Ngày 24/10/2014, KBNN có quyết định số 888/QĐ-KBNN về việc ban hành quy chế kiểm soát nghiệp vụ kế toán trong hệ thống KBNN
+ Ngày 15/9/2017, KBNN có quyết định số 4377/QĐ-KBNN về việc ban hành quy trình nghiệp vụ thống nhất đầu mối kiểm soát các khoản chi NSNN qua KBNN
1.3 KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH VÀ KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ VỀ KIỂM SOÁT CHI CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.3.1 Khái niệm kiểm soát chi NSNN
KSC NSNN là quá trình các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN dựa trên những chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu do Nhà nước quy định Hoạt động KSC NSNN được thực hiện nhằm bảo đảm quá trình sử dụng ngân sách được tiến hành như dự toán phê duyệt ban đầu, điều chỉnh và củng cố kịp thời các sai phạm, thiếu sót trong quá trình chi NSNN
KSC thường xuyên NSNN qua KBNN là việc KBNN tiến hành kiểm tra, kiểm soát các khoản chi thường xuyên như: chi lương và các khoản phụ cấp theo lương, chi các khoản thanh toán cá nhân, công tác phí, chi sửa chữa, mua sắm nhỏ tài sản, chi hoạt động chuyên môn từng ngành,… theo đúng chế
độ, định mức, chính sách do Nhà nước quy định thông qua các hình thức, phương thức, nguyên tắc quản lý tài chính trong quá trình cấp phát và thanh
Trang 26toán các khoản chi tiêu NSNN, góp phần loại bỏ các khoản chi sai dự toán NSNN ban đầu hay chi vượt chế độ, định mức, đơn giá theo quy định
Thực hiện tốt KSC thường xuyên có mục tiêu rất lớn trong việc phân phối
và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của đất nước, tạo điều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng Chi thường xuyên hiệu quả
và tiết kiệm sẽ tăng tích lũy vốn NSNN cho đầu tư phát triển, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững, nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò quản lý điều hành của Nhà nước, góp phần không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội
1.3.2 Mục đích và yêu cầu của hoạt động kiểm soát chi qua KBNN
Theo Quy định về chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN (Bộ Tài chính, Thông tư số 161/2012/TT-BTC), KSC qua KBNN nhằm:
- Đảm bảo các quy trình nghiệp vụ được thực hiện theo đúng chế độ quy định, đảm bảo an toàn tiền và tài sản của Nhà nước
- Phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm, áp dụng các biện pháp
xử lý các hành vi vi phạm theo đúng thẩm quyền phân cấp trong hệ thống KBNN
- Tổ chức rút kinh nghiệm, đánh giá những tồn tại, tìm ra nguyên nhân
và đưa ra phương hướng, biện pháp khắc phục nhằm tăng cường hiệu quả, chất lượng công tác nghiệp vụ tại đơn vị
1.3.3 Các quy định liên quan trong kiểm soát chi qua KBNN
Ngày 24 tháng 11 năm 2009, KBNN có quyết định số 1116/QĐ-KBNN
về việc ban hành quy trình giao dịch một cửa trong KSC thường xuyên NSNN qua KBNN Theo quy định này, quy trình giao dịch một cửa trong KSC thường xuyên được thực hiện tại bộ phận Kế toán Nhà nước (KTNN)
Trang 27thuộc KBNN, khách hàng giao dịch với Kế toán viên (KTV) từ khâu gửi hồ
sơ, thực hiện thanh toán và nhận kết quả Trường hợp thanh toán bằng tiền mặt thì khâu nhận tiền mặt phải giao dịch thêm với thủ quỹ thuộc phòng KTNN
Ngày 19/02/2013, KBNN có quyết định số 161/QĐ- KBNN về việc ban hành một số quy trình nghiệp vụ KTNN trong điều kiện áp dụng TABMIS Quyết định này được ban hành với mục đích thống nhất một số quy trình kiểm soát các nghiệp vụ KTNN trong hệ thống KBNN, đảm bảo các nghiệp vụ KTNN được thực hiện theo đúng chế độ từ khâu tiếp nhận, phân loại, xử lý và kiểm soát chứng từ kế toán, đồng thời cung cấp căn cứ để KTV,
Kế toán trưởng (KTT), thủ trưởng đơn vị KBNN kiểm soát tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ kế toán và thanh toán cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân (gọi chung là đơn vị) từ đó tạo
điều kiện thuận lợi các đơn vị trong quá trình thanh toán, giao dịch tại KBNN
Ngày 24/10/2014, KBNN có quyết định số 888/QĐ- KBNN về việc ban hành quy chế kiểm soát nghiệp vụ kế toán trong hệ thống KBNN nhằm đảm bảo các quy trình nghiệp vụ kế toán được thực hiện đúng chế độ quy định, đảm bảo an toàn tiền và tài sản của nhà nước, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm, áp dụng các biện pháp xử lý các hành vi vi phạm theo đúng thẩm quyền đã được phân cấp trong hệ thống KBNN; tổ chức rút kinh nghiệm, đánh giá những tồn tại, tìm ra nguyên nhân, đưa ra phương hướng, biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả, chất lượng công tác kế toán nghiệp vụ tại các đơn vị KBNN
Ngày 15/9/2017, KBNN có quyết định số 4377/QĐ-KBNN về việc ban hành quy trình nghiệp vụ thống nhất đầu mối kiểm soát các khoản chi NSNN qua KBNN Khi áp dụng quy trình mới này, số lượng giao dịch viên sẽ nhiều hơn so với số lượng công chức KSC trước đây Khối lượng công việc được
Trang 28phân công cho các giao dịch viên tương đối đều Các giao dịch viên có nhiều thời gian để kiểm soát một hồ sơ, chứng từ, đồng thời có thêm thời gian để nghiên cứu sâu văn bản, bám sát từng khoản chi, từ đó nâng cao chất lượng KSC NSNN
Đáng chú ý, với Đề án thống nhất đầu mối KSC, KTT đã tham gia vào quá trình KSC Điều này giúp tăng cường hơn nữa chất lượng kiểm soát hồ
sơ, chứng từ khi có thêm KTT xét duyệt chứng từ trước khi lãnh đạo kí duyệt Qua đó, nâng cao và phát huy được vai trò, kinh nghiệm của KTT trong công tác KSC, đồng thời chia sẻ, giảm bớt được áp lực công việc lên lãnh đạo đơn
vị KBNN do trước đó công chức KSC kiểm soát, trực tiếp trình lãnh đạo kí duyệt
1.4 NHẬN DIỆN VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC RỦI RO TRONG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NÓI CHUNG VÀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NÓI RIÊNG
1.4.1 Khái quát về rủi ro
Rủi ro trong công tác KSC thường xuyên NSNN là nguy cơ không tuân thủ pháp luật về NSNN, về quản lý chi NSNN và chế độ, qui trình thủ tục KSC thường xuyên NSNN qua KBNN Hoạt động KSC thường xuyên
NSNN thường đối mặt với các nhóm rủi ro cơ bản sau:
- Rủi ro từ môi trường như: các chính sách, tình hình kinh tế, xã hội trong năm tác động tiêu cực đến quản lý, điều hành và thực hiện chi ngân sách; sự thay đổi về tổ chức bộ máy tại các cơ quan, đơn vị thuộc bộ, ngành (nếu có); Quan điểm chỉ đạo và phương thức quản lý, điều hành của bộ máy quản lý các cấp không còn phù hợp với tình hình thực tế; những đặc thù về chính sách nhân
sự của bộ, ngành và của các đơn vị; Cơ chế phân cấp quản lý tài chính, ngân sách còn thiếu sót; Quy định về tổ chức và hoạt động của kiểm toán nội bộ và thanh tra nội bộ chưa đầy đủ, hợp lý…
Trang 29- Rủi ro từ hoạt động (rủi ro tác nghiệp) như: rủi ro xuất phát từ hành vi tiêu cực, gian lận sai sót trong quản lý và điều hành việc kiểm soát hoạt động chi NSNN qua KBNN; không tuân thủ các nghiệp vụ và hồ sơ, chứng từ, tài liệu liên quan đến từng loại hoạt động chi NSNN của KBNN; thủ tục kiểm soát (TTKS) đã được xây dựng không phù hợp đối với từng loại nghiệp vụ chi NSNN;
- Rủi ro thông tin phục vụ quá trình ra quyết định
Những yếu tố gây ra rủi ro trong công tác KSC thường xuyên NSNN gồm:
- Năng lực, trình độ và đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức (CBCC);
- Tổ chức bộ máy KSC thường xuyên;
- Quy trình nghiệp vụ KSC thường xuyên;
- Cơ sở vật chất, công nghệ kỹ thuật
- Môi trường kiểm soát hoạt động chi NSNN;
- Chất lượng công tác giám sát hoạt động KSC thường xuyên NSNN
1.4.2 Đặc điểm rủi ro trong hoạt động kiểm soát chi NSNN
Như đã biết, rủi ro trong các hoạt động của KBNN có thề phát sinh ở
cấp độ toàn hệ thống hoặc có thề chỉ ảnh hưởng đến từng hoạt động cụ thể
như quản lý kho quỹ, kế toán, quản lý thu, chi NSNN,
Rủi ro có thể phát sinh và tác động đến từng hoạt động trước khi gây
ảnh hưởng dây chuyền đến toàn đơn vị Để nhận dạng rủi ro, nhà quản lý KBNN cần sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như các phương pháp dự báo, phân tích các dữ liệu quá khứ cho đến việc tiến hành rà soát thường
xuyên các hoạt động trong đơn vị
Việc phân tích và đảnh giá rủi ro là vấn đề khá phức tạp và có nhiều phương pháp đánh giá rủi ro khác nhau Thông thường nhà quản lý KBNN cần ước lượng tầm cỡ của rủi ro qua ảnh hưởng có thể có của những rủi ro
Trang 30đến mục tiêu của đơn vị, tiếp theo là xem xét khả năng xảy ra rủi ro và những biện pháp có thể sử dụng để đối phó với những rủi ro bằng việc thực hiện tốt các chính sách kiểm soát Các rủi ro có thể phát sinh từ bản chất hoạt động
của đơn vị hoặc từ yếu kém của chính hệ thống kiểm soát nội bộ
Rủi ro trong hoạt động KSC thường xuyên NSNN có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Rủi ro có nguy cơ xảy ra ở mọi thời điểm, mọi khâu trong suốt quá trình thực hiện hoạt động KSC;
- Rủi ro trong hoạt động KSC thường xuyên NSNN phần lớn là rủi ro tác nghiệp, mang tính chủ quan do yếu tố con người;
- Rủi ro trong hoạt động KSC thường xuyên NSNN thường xuất phát từ hành vi gian lận và sai sót; nó có tính tiêu cực, gây ra những sự cố, tổn thất;
- Các rủi ro gây ra thiệt hại, tổn thất về tài chính nghiêm trọng đều có nguyên nhân chủ quan từ hành vi gian lận, mức độ thiệt hại tổn thất hoàn toàn
có thể đo lường được;
- Phần lớn các rủi ro trong công tác KSC thường xuyên NSNN đều xác định trước được nguyên nhân vì vậy có thể phòng ngừa và triệt tiêu nếu thực hiện tốt biện pháp phòng ngừa
1.4.3 Nhận diện rủi ro
Cũng như mọi hoạt động khác, kiểm soát hoạt động chi NSNN qua KBNN không thể tránh khỏi rủi ro dẫn đến không đạt được các mục tiêu của đơn vị Nguyên nhân dẫn đến rủi ro có thể do đơn vị hưởng thụ NSNN và cả cán bộ KBNN, đặc biệt CBCC trực tiếp thực hiện KSC có thể không hiểu rõ hoặc cố tình thực hiện sai chính sách, quy trình nghiệp vụ chi NSNN qua KBNN Để đánh giá rủi ro, KBNN cần nhận diện rủi ro trong hoạt động của KBNN nói chung, trong đó có rủi ro đối với việc kiểm soát hoạt động chi NSNN qua KBNN gồm rủi ro ở cấp toàn hệ thống KBNN và rủi ro từng hoạt
Trang 31động chi NSNN qua KBNN Qua nhận dạng rủi ro, KBNN có cơ sở để xây dựng và thực hiện các chính sách, TTKS phù hợp nhằm kiểm soát chặt chẽ chi NSNN qua KBNN, đặc biệt đối với khu vực nguy cơ rủi ro cao để đảm bảo rủi ro ở mức độ chấp nhận được Có thể nhận dạng những rủi ro cơ bản trong kiểm soát hoạt động chi NSNN qua KBNN như sau:
- Rủi ro xảy ra có thể ở cấp độ toàn hệ thống có thể có những rủi ro sau: + Các CBCC của KBNN không nhận biết được những bất cập, hạn chế của các văn bản pháp luật của Nhà nước ban hành liên quan đến các hoạt động KBNN, trong đó có kiểm soát hoạt động chi NSNN qua KBNN
+ Các CBCC của KBNN không đảm bảo được mục tiêu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, như: không tuân thủ đầy đủ, kịp thời hoặc thiếu nhất quán với các chuẩn mực chuyên môn, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và các quy định của luật pháp, các thông lệ hoạt động do chưa được đào tạo, hướng dẫn một cách rõ ràng về các chuẩn mực chuyên môn, chỉ dẫn về các vấn đề pháp luật
+ Các CBCC của KBNN đã được giao trách nhiệm chính về quản lý rủi
ro nhưng không thực hiện đúng mọi việc trong phạm vi quyền hạn của mình
- Rủi ro ở cấp độ hoạt động chi: có thể có nhiều rủi ro trong kiểm soát
và xử lý nghiệp vụ, chẳng hạn như những rủi ro trong KSC thường xuyên NSNN qua KBNN: Chứng từ chưa đảm bảo tính pháp lý, không logic về mặt thời gian nhưng cán bộ KSC chi không phát hiện ra khi KSC thanh toán; Không thường xuyên và định kỳ rà soát hồ sơ đăng ký mẫu dấu, chữ ký (MDCK) của chủ tài khoản, chữ ký trên chứng từ không giống với chữ ký đã đăng ký nhưng cán bộ KSC vẫn không phát hiện ra; Rủi ro về việc đối chiếu
số liệu giao dịch với ngân hàng nơi KBNN mở tài khoản có chênh lệch nhưng không xác định được nguyên nhân; Cán bộ KBNN không đối chiếu số liệu chi tiết về nội dung, chữ ký của chủ tài khoản khi chi tiền dẫn đến người trực tiếp
Trang 32giao dịch của ĐVSDNS đã chiếm đoạt tiền của đơn vị trong một thời gian dài nhưng KBNN không phát hiện ra
1.5 HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.5.1 Nội dung kiểm soát
Nội dung KSC NSNN nói chung và KSC thường xuyên nói riêng thể hiện qua ba giai đoạn kiểm soát: kiểm soát trước khi chi, kiểm soát trong khi chi và kiểm soát sau khi chi
Kiểm soát trước khi chi là kiểm soát việc lập, quyết định, phân bổ dự
toán chi NSNN Đây là khâu đầu tiên trong chu trình KSC Nó giúp nâng cao chất lượng dự toán, tránh tình trạng giao dự toán quá thấp không đủ kinh phí hoạt động cho đơn vị hoặc giao dự toán quá cao dẫn đến sử dụng lãng phí NSNN
Kiểm soát trong khi chi là kiểm soát quá trình thực hiện dự toán nhằm
đảm bảo các khoản chi phải đủ điều kiện theo quy định trước khi xuất quỹ NSNN chi trả cho đối tượng thụ hưởng NSNN Kiểm soát trong khi chi là khâu chủ yếu của chu trình KSC, là nhiệm vụ quan trọng nhất của KBNN trong quản lý chi quỹ NSNN Kiểm soát trong khi chi giúp ngăn chặn kịp thời những khoản chi không đúng chế độ, tránh lãng phí và thất thoát tiền và tài sản nhà nước
Kiểm soát sau khi chi là kiểm tra việc sử dụng kinh phí của ĐVSDNS
sau khi KBNN xuất quỹ NSNN Kiểm soát sau khi chi do cơ quan có thẩm quyền quyết định dự toán, cơ quan kiểm toán và cơ quan tài chính đảm nhiệm
1.5.2 Quy trình kiểm soát
Căn cứ vào dự toán NSNN được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, thủ trưởng ĐVSDNS quyết định chi gửi KBNN KBNN kiểm tra tính hợp
Trang 33pháp của các tài liệu cần thiết và thực hiện chi ngân sách khi có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật KBNN tổ chức quy trình thực hiện KSC thường xuyên NSNN phù hợp với quy định của pháp luật Cụ thể, quy trình KSC thường xuyên NSNN qua KBNN được quy định tại Quyết định số 4377/QĐ-KBNN ngày 15/09/2017 của Thống đốc KBNN về việc ban hành Quy trình nghiệp vụ thống nhất đầu mối kiểm soát các khoản chi NSNN qua KBNN, trong đó bao gồm cả hai khâu liên quan mật thiết với nhau là kiểm soát và thanh toán các
khoản chi NSNN được thể hiện qua hai hình thức chi như sau:
.* Đối với hình thức rút dự toán NSNN
Sơ đồ 1.1 Quy trình quản lý, kiểm soát chi theo hình thức rút d toán
Nội dung KSC được cụ thể hóa qua quy trình nghiệp vụ thống nhất đầu mối kiểm soát các khoản chi NSNN qua KBNN được tóm tắt qua sơ đồ 1.1:
(9)
Trang 34- Bước 1: Chuyên viên KSC tiếp nhận hồ sơ, chứng từ đề nghị thanh
toán, chi trả do đơn vị sử dụng NSNN gửi đến và kiểm soát hồ sơ theo quy định:
+ Trường hợp hồ sơ, chứng từ không đủ điều kiện thanh toán, trả lại chứng từ cho khách hàng kèm theo thông báo nguyên nhân trả lại để khách hàng được biết và hoàn thiện lại chứng từ
+ Trường hợp hồ sơ, chứng từ đủ điều kiện thanh toán, chuyên viên KSC duyệt số tiền thanh toán cho khách hàng, ký chứng từ giấy và nhập chứng từ trên chương trình nhập trên TABMIS
- Bước 2 (áp dụng đối với KBNN có tổ chức phòng): Sau khi nhập
chứng từ trên chương trình TABMIS, chuyên viên KSC trình phụ trách KSC thực hiện kiểm soát chứng từ trên giấy
+ Trường hợp hồ sơ, chứng từ không đủ điều kiện thanh toán, trả lại chứng từ cho chuyên viên KSC
+ Trường hợp hồ sơ, chứng từ đủ điều kiện thanh toán, phụ trách KSC
ký chứng từ giấy và chuyển chứng từ giấy cho chuyên viên KSC trình Giám đốc đơn vị KBNN ký chứng từ giấy
- Bước 3: Giám đốc đơn vị KBNN kiểm soát và ký chứng từ giấy
+ Trường hợp hồ sơ, chứng từ không đủ điều kiện thanh toán, trả lại chứng từ cho chuyên viên KSC
+ Trường hợp hồ sơ, chứng từ hợp lệ, Giám đốc KBNN ký chứng từ giấy và chuyển chứng từ giấy cho chuyên viên KSC để chuyển cho KTV
- Bước 4: Chuyên viên KSC chuyển bút toán trên hệ thống TABMIS
sang KTV kiểm soát và bàn giao chứng từ giấy cho KTV/Thanh toán viên (TTV)
- Bước 5: KTV tiếp nhận chứng từ giấy, thực hiện kiểm tra, đối chiếu
các thông tin số tiền bằng số, bằng chữ; đối chiếu thông tin giữa chứng từ giấy
Trang 35và yêu cầu thanh toán (YCTT) hoặc bút toán trên TABMIS nếu:
+ Thông tin trên chứng từ có sự sai lệch hoặc sai lệch giữa chứng từ
giấy và YCTT hoặc bút toán trên TABMIS: Trả lại chuyên viên KSC để kiểm tra
+ Thông tin trên chứng từ đã khớp đúng và khớp đúng với YCTT hoặc
bút toán trên TABMIS: Thực hiện định khoản và ký trên chứng từ giấy, đệ trình YCTT hoặc bút toán trên TABMIS tới KTT
- Bước 6: KTT kiểm soát, phê duyệt YCTT hoặc bút toán, nếu:
+ Thông tin trên chứng từ có sự sai lệch hoặc sai lệch giữa chứng từ
giấy và YCTT hoặc bút toán TABMIS: Trả lại KTV, KSC kiểm tra, xử lý
+ Thông tin trên chứng từ đã khớp đúng và khớp đúng với YCTT hoặc
bút toán trên TABMIS: Ký trên chứng từ giấy, phê duyệt trên TABMIS và đưa chuyển lại chứng từ giấy cho KTV để thực hiện áp thanh toán/ hoặc chuyển cho Thủ quỹ để chi tiền
- Bước 7: KTV thực hiện áp thanh toán cho khách hàng/hoặc Thủ quỹ
chi tiền cho khách hàng theo đúng quy trình TTV thực hiện chạy giao diện sang chương trình thanh toán và hoàn thiện các thông tin, trình chứng từ lên KTT để KTT kiểm tra, nếu các thông tin thanh toán khớp đúng với chứng từ,
đệ trình Giám đốc để truyền đi, nếu sai trả lại TTV để hoàn thiện, đồng thời hủy áp trên TABMIS
- Bước 8: KTV đóng dấu “KẾ TOÁN”/“PHÒNG GIAO DỊCH” lên các
liên chứng từ và trả các liên chứng từ cho chuyên viên KSC
- Bước 9: Chuyên viên KSC thực hiện lưu 01 liên cùng hồ sơ chứng từ,
tách 01 liên trả chứng từ cho đơn vị giao dịch
* Đối với hình thức lệnh chi tiền
Nội dung hoạt động KSC: Hồ sơ thanh toán là lệnh chi tiền của cơ quan tài chính Đối với hồ sơ liên quan đến từng khoản chi bằng lệnh chi tiền,
Trang 36đơn vị gửi hồ sơ cho cơ quan tài chính Cơ quan tài chính chịu trách nhiệm kiểm soát và lưu giữ hồ sơ chứng từ Quy trình quản lý, kiểm soát chi theo hình thức lệnh chi tiền được thể hiện ở sơ đồ 1.2
Sơ đồ 1.2 Quy trình quản lý, kiểm soát chi theo hình thức lệnh chi tiền
(1) Cơ quan tài chính chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát nội dung, tính chất và kiểm soát hồ sơ chứng từ của từng khoản chi, sau đó ra lệnh chi tiền gửi KBNN thông qua việc nhập vào hệ thống TABMIS để chi trả cho ĐVSDNS
(2) KBNN thực hiện xuất quỹ ngân sách và chi trả cho ĐVSDNS theo nội dung ghi trong lệnh chi tiền của cơ quan tài chính, KBNN không chịu trách nhiệm KSC với lệnh chi tiền do cơ quan tài chính cấp
1.5.3 Thủ tục kiểm soát
Thủ tục kiểm soát (TTKS) chi thường xuyên NSNN được thực hiện theo luật định Căn cứ vào yêu cầu quản lý, mục đích sử dụng kinh phí khi thanh toán các khoản chi, KBNN đòi hỏi các khoản chi đó phải đáp ứng được đầy đủ các thủ tục sau:
- Dự toán năm được giao (gửi một lần vào đầu năm), nhu cầu chi quý
đã gửi KBNN (gửi một lần vào cuối quý trước)
- Giấy rút dự toán NSNN có chữ ký của thủ trưởng, KTT đơn vị sử dụng NSNN hoặc người được uỷ quyền
Ngoài ra, tuỳ theo tính chất của từng khoản chi, các hồ sơ và chứng từ thanh toán cần thiết đối với từng loại chi như sau:
Thứ nhất, chi thanh toán cá nhân, bao gồm chi tiền lương, chi học bổng
và sinh hoạt phí của học sinh, tiền thuê người lao động - cần có đủ hồ sơ, văn
Trang 37bản được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Chẳng hạn, đối với các khoản chi tiền lương, cần có các văn bản, giấy tờ sau:
- Bảng đăng ký biên chế, quỹ lương đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (gửi lần đầu);
- Danh sách những người hưởng lương và phụ cấp lương đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (gửi lần đầu);
- Bảng tăng, giảm biên chế và quỹ tiền lương được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phê duyệt (nếu có)
Thứ hai, chi nghiệp vụ chuyên môn đòi hỏi phải có các hồ sơ chứng từ
có liên quan như: hoá đơn bán hàng, phiếu xuất kho kiêm hoá đơn bán hàng, các chứng từ gốc khác có liên quan của đơn vị cung cấp hàng hoá, dịch vụ khi giao hàng hoặc thực hiện hợp đồng dịch vụ
Thứ ba, chi mua sắm đồ dùng, trang thiết bị, phương tiện làm việc, sửa
chữa lớn tài sản cố định cần có các giấy tờ như: dự toán chi quý về mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định được cấp có thẩm quyền duyệt; quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu hoặc quyết định chỉ định thầu của cấp có thẩm quyền (đối với trường hợp mua sắm phương tiện làm việc, sửa chữa lớn phải thực hiện đấu thầu theo quy định); hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ; phiếu báo giá của đơn vị cung cấp hàng hoá, dịch vụ (đối với những trường hợp mua sắm nhỏ không có hợp đồng mua bán); hoá đơn bán hàng, vật tư, thiết bị; các
hồ sơ, chứng từ khác có liên quan
Thứ tư, các khoản chi khác đòi hỏi phải có bảng kê chứng từ thanh toán
có chữ ký của thủ trưởng, KTT đơn vị sử dụng NSNN hoặc người được uỷ quyền; các hồ sơ chứng từ khác có liên quan
Thủ tục KSC thường xuyên NSNN được tiến hành theo các bước gồm:
- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ chi: Chứng từ chi phải được lập đúng mẫu qui định đối với từng khoản chi Chẳng hạn, với chi
Trang 38dự toán bằng tiền mặt, khi sử dụng kinh phí thường xuyên áp dụng mẫu C2- 04/NS, kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia sử dụng mẫu C2- 04b/NS, dự toán ngân sách xã sử dụng mẫu C2- 02/NS; trên chứng từ phải ghi đầy đủ các yếu tố theo đúng nguyên tắc lập chứng từ kế toán, các yếu tố ghi trên chứng
từ phải đảm bảo tính đúng đắn; phải có đầy đủ MDCK của chủ tài khoản, KTT (hoặc người được uỷ quyền) đúng với MDCK đã đăng ký tại Kho bạc khi mở tài khoản
- Kiểm tra các điều kiện chi theo chế độ quy định, bao gồm các khoản chi phải còn đủ số dư dự toán để thực hiện chi trả; bảo đảm dúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định; có đầy đủ các hồ sơ, hoá đơn, chứng từ liên quan tùy theo tính chất của từng khoản chi
- Kiểm tra tồn quỹ NSNN của cấp ngân sách tương ứng với khoản chi Tồn quỹ ngân sách phải đủ để cấp phát theo yêu cầu của đơn vị sử dụng NSNN (KBNN tỉnh, KBNN huyện không phải kiểm tra tồn quỹ NSNN cấp trung ương khi chi ngân sách trung ương)
1.6 HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TRONG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp
và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm
quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý (Quốc Hội, 2015,
Điều 2 Luật hoạt động giám sát)
Để đạt được mục tiêu kiểm soát hoạt động chi thường xuyên NSNN qua KBNN thì KBNN cần thực hiện những hoạt động giám sát trong toàn hệ thống nhằm xem xét các đơn vị, tổ chức và các các nhân liên quan có thực hiện đúng các quy định và quy trình, thủ tục kiểm soát hay không Đồng thời xem xét liệu có cần thiết phải sửa đổi các quy định và quy trình, thủ tục kiểm
Trang 39soát cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của KBNN hay không? Mặt khác, kiểm soát hoạt động chi NSNN qua KBNN có liên quan trực tiếp đến nhiều cấp ngành, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân bên ngoài hệ thống KBNN trong quá trình chi NSNN nên việc giám sát kiểm soát được thực hiện bởi nhiều cơ quan quản lý, cơ quan chuyên môn khác nhau bên ngoài KBNN
và của chính khách hàng giao dịch với KBNN
Hoạt động giám sát trong công tác KSC thường xuyên qua KBNN được thực hiện nhằm mục đích tăng cường giám sát kỷ luật tài chính tại đơn vị sử dụng NSNN, thanh tra, kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng kinh phí NSNN tại các đơn vị sử dụng NSNN theo định hướng và kế hoạch được phê duyệt, đồng thời huyển đổi và xây dựng hệ thống KSC hiện đại, hiệu quả về cơ chế chính sách, tổ chức bộ máy, đội ngũ công chức và phương pháp thực hiện nhằm giám sát chặt chẽ, đảm bảo sự phát triển an toàn, ổn định của hệ thống
Hoạt động giám sát lại việc kiểm soát thanh toán chi thường xuyên NSNN qua KBNN được thực hiện thường xuyên ở tất cả các đơn vị kho bạc trong toàn hệ thống Người thực hiện giám sát chính là các cán bộ làm công tác kiểm soát thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN thông qua công tác tự kiểm tra, lãnh đạo các phòng, các đơn vị, thanh tra chuyên ngành của hệ thống KBNN, kiểm soát Nhà nước Nội dung giám sát gồm:
- Giám sát chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định
- Giám sát việc chấp các quy trình,thủ tục kiểm soát thanh toán các khoản chi của cán bộ kho bạc thực hiện việc kiểm soát cụ thể là:
+ Giám sát việc tiếp nhận, luân chuyển, xử lý hồ sơ, quản lý kế hoạch chi theo các khoản chi
+ Giám sát việc kiểm soát hồ sơ pháp lý, hồ sơ tạm ứng, thanh toán của từng khoản chi
Trang 40+ Giám sát quy trình tạm ứng, thanh toán tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành, cam kết chi; đặc biệt là số dư tạm ứng đã quá hạn
+ Giám sát việc kiểm soát thanh toán chi phí quản lý, chi phí của các đơn vị hành chính sự nghiệp, các khoản chi bằng tiền mặt…
Hoạt động giám sát thường bao gồm 2 loại: Giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ
* Giám sát thường xuyên
Giám sát thường xuyên tại KBNN được thực hiện thông qua việc xem xét các báo cáo hoạt động của các cá nhân và bộ phận trong KBNN liên quan đến kiểm soát hoạt động chi NSNN qua KBNN hoặc tiếp nhận các ý kiến đóng góp của các đối tượng bên ngoài có liên quan như: Cơ quan Thuế, Hải quan, Tài chính, ngân hàng để nắm bắt tình hình thực hiện các quy định và quy trình, thủ tục kiểm soát một cách thường xuyên, kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc, sai lệch để điều chỉnh cho phù hợp
Hoạt động giám sát thường xuyên đối với chi NSNN qua KBNN được thực hiện thông qua việc thu thập thông tin để xử lý và điều chỉnh các hoạt động trong toàn hệ thống KBNN từ Trung ương đến các địa phương tùy theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể Bao gồm các khía cạnh như:
- Các phản hồi từ phía nhân viên trong đơn vị KBNN đối với cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác KSC thường xuyên NSNN và các vướng mắc khi thực hiện các văn bản, nghiệp vụ
- Các phản hồi từ các khách hàng đến giao dịch tại KBNN về nề nếp văn minh công sở, về việc thực hiện quy trình, thủ tục các bước công việc trong KSC NSNN của CBCC KBNN đã thực hiện đúng hay không,
- Các phản hồi từ các cơ quan hữu quan phối hợp công việc trong KSC NSNN với KBNN như: phản hồi của cơ quan tài chính về các ĐVSDNS thực hiện rút tiền đúng dự toán hay chưa, phản hồi của ĐVSDNS