PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Một trong những nhiệm vụ hết sức quan trong của Kho bạc Nhà nước (KBNN) đó là kiểm soát, thanh toán các khoản chi từ NSNN trong đó có vốn đầu tư công. Trong những năm qua, các nguồn đầu tư từ NSNN, Trái phiếu Chính phủ, các chương trình, dự án ODA cho đầu tư công ngày càng nhiều đã góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để quản lý vốn đầu tư một cách hiệu quả, chống thất thoát vốn của NSNN là một bài toán rất khó đặt ra cho nhiều cấp, nhiều ngànhtrong đó có vai trò hết sức quan trọng của KBNN. Trước khi có Luật đầu tư công, công tác quản lý còn nhiều bất cập, hiện tượng đầu tư dàn trải, manh mún diễn ra khắp nơi; công tác quản lý lộ rõ nhiều hạn chế trong tất cả các khâu của quá trình đầu tư dự án từ chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, lập thông báo kế hoạch vốn, công tác thanh quyết toán vốn đầu tư… kéo theo đó là một loạt hệ lụy: phê duyệt dự án khi chưa có chủ trương đầu tư; dự án phê duyệt nhưng không xác định được nguồn vốn; bố trí nguồn vốn không đúng tiến độ thực hiện; nợ đọng ngày một cao; công trình thi công bị đình trễ nhiều năm; sử dụng vốn đầu tư công sai đối tượng, mục đích… đã làm giảm hiệu quả vốn đầu tư công của nhà nước. Bên cạnh đó, với việc Luật NSNN số 83/2015/QH13 ra đời và có hiệu lực từ năm ngân sách 2017, trong đó có nhiều điểm mới ảnh hưởng trực tiếp đến kiểm soát chi NSNN nói chung và kiểm soát vốn đầu tư công. Sau khi nghiên cứu Luật NSNN số 83/2015/QH13, tôi nhận thấy về cơ bản Luật kế thừa và phát huy những điểm tích cực của Luật NSNN 2012; đổi mới phương thức quản lý NSNN phù hợp với thực tiễn phát triển KT-XH của đất nước. Luật NSNN 2015 đã tăng cường phân cấp quản lý ngân sách, đảm bảo tính chủ động của ngân sách cấp chính quyền địa phương, vai trò chỉ đạo của ngân sách Trung ương; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao tính minh bạch dân chủ; kiểm soát chặt chẽ thi chu ngân sách; kiểm soát ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ; quản lý ngân sách theo kế hoạch tài chính 05 năm, kế hoạch tài chính – ngân sách 03 năm cuốn chiếu… Những điểm mới của Luật NSNN 2015 cũng hoàn toàn phù hợp với Luật đầu tư công. Vì vậy Luận văn nghiên cứu tập trung nghiên cứu công tác kiểm soát vốn đầu tư công có liên hệ với thực trạng công tác quản lý đầu tư công bao gồm các khâu, có tính hệ thống; về những mặt được, những hạn chế và nguyên nhân trước khi áp dụng Luật đầu tư công, Luật NSNN 2015 từ thực tế kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN Nậm Pồ tỉnh Điện Biên giai đoạn 2014 – 2018. Những năm qua, với nhiệm vụ quản lý quỹ ngân sách trên địa bàn huyện Nậm Pồ, công tác kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN đã mang lại những hiệu quả nhất định. Hoạt động kiểm soát chi của KBNN Nậm Pồ tỉnh Điện Biên đã được đặc biệt quan tâm và bám sát chỉ đạo, góp phần quản lý vốn đầu tư công ngày càng chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích, hạn chế được thất thoát lãng phí vốn đầu tư, đã từ chối nhiều khoản thanh toán không đúng chế độ quy định… Tuy nhiên bên cạnh những mặt làm được, công tác kiểm soát thanh toán vẫn còn bộc lộ những hạn chế cần giải quyết như: tỷ lệ giải ngân chưa cao; số dư tạm ứng nhiều thời điểm chiếm tỷ trọng lớn trên tổng vốn giải ngân, phạm vi và nội dung kiểm soát còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng với xu thế đổi mới; tình trạng chồng chéo giữa các văn bản hướng dẫn đã dẫn đến việc kiểm soát vốn đầu tư chưa thật sự hiệu quả dẫn đến gây lãng phí và thất thoát vốn đầu tư… Là một cán bộ làm nhiệm vụ kiểm soát thanh toán vốn đầu tư công của KBNN Nậm Pồ, tôi chọn đề tài “Kiểm soát vốn đầu tư công qua Kho bạc Nhà nước huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của mình với mục đích góp phần hoàn thiện kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN Nậm Pồ tỉnh Điện Biên. 2.Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu về đề tài kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN với phạm vi rộng, hẹp và cách tiếp cận khác nhau. Một số công trình có liên quan mà tác giả luận văn đã tìm hiểu như: Luận văn thạc sĩ “Kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương qua KBNN tỉnh Điện Biên” của Trần Văn Cường (2014). Đề tài đã nêu lên thực trạng công tác kiểm soát chi xây dựng cơ bản nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương; những kết quả đạt được cũng như các tồn tại, hạn chế phát sinh từ thực tế. Từ đó tác giả đã nêu lên một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát; tuy nhiên chỉ ở góc độ đối với nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương. Luận văn thạc sĩ kinh tế Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Quản lý vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước tại UBND thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắc Lắk” tác giả Nguyễn Văn Mạnh (2015).Trong đề tài này tác giả không chỉ nghiên cứu kiểm soát mà nghiên cứu toàn bộ quá trình quản lý vốn đầu tư XDCB trong đó có kiểm soát của UBND. Luận văn tập trung vào đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN ở thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắc Lắk giai đoạn 2010-2014; qua đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN tại UBND thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắc Lắk. Luận văn thạc sĩ kinh tế Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Kiểm soát vốn đầu tư công qua Kho bạc Nhà nước Hà Tĩnh” tác giả Nguyễn Hồng Lam (2018).Trong đề tài này tác giả nghiên cứu cả quy trình kiểm soát và nội dung kiểm soát vốn đầu tư đầu tư công qua KBNN. Luận văn tập trung vào đánh giá thực trạng kiểm soát vốn đầu tư công quan KBNN ở tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013-2017; qua đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu và kiến nghị để hoàn thiện kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN tại tỉnh Hà Tĩnh. Nhận xét: Đề tài của KBNN tỉnh Điện Biên chỉ nghiên cứu tập trung vào một nội dung kiểm soát theo một nguồn vốn nhất định, chưa khai thác hết những bất cập trong một số lĩnh vực bao gồm nhiều khâu, gắn với các cơ quan liên quan trong quản lý đầu tư công và vốn đầu tư công, kiểm soát thanh toán vốn đầu tư công qua KBNN. Vì vậy đề tài “Kiểm soát vốn đầu tư công qua Kho bạc Nhà nước huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên” sẽ góp phần nghiên cứu một cách tổng thể cả quá trình quản lý, kiểm soát vốn đầu tư từ góc nhìn thực tế qua Kho bạc Nhà nước huyện qua đó sẽ làm phong phú thêm công tác nghiên cứu trong một lĩnh vực quan trọng và có ý nghĩa thực tế nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát thanh toán vốn đầu tư công qua Kho bạc Nhà nước. 3.Mục tiêu nghiên cứu Luận văn hướng tới các mục tiêu cụ thể sau: Thứ nhất, xác định khung nghiên cứu về kiểm soát vốn đầu tư công qua Kho bạc Nhà nước. Thứ hai, phân tích thực trạng kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN Nậm Pồ giai đoạn 2014 - 2018; chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của những điểm yếu trong kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN Huyện. Thứ ba, đề xuất giải pháp hoàn thiện kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN Nậm Pồ cho đến 2025. 4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Kiểm soátvốn đầu tư công qua KBNN huyện Nậm Pồ. 4.2 Phạm vi nghiên cứu -Về nội dung: Tập trung nghiên cứu kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN, bao gồm: + Nội dung kiểm soát (tiếp cận theo quy trình kiểm soát của KBNN) + Công cụ kiểm soát -Về không gian: trên địa bàn huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên. -Thời gian: số liệu thứ cấp phản ánh giai đoạn 2014 – 2018; số liệu sơ cấp thu thập từ tháng 01 đến tháng 3/2019; giải pháp đề xuất đến năm 2025.
CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT VỐN ĐẦU TƯ CÔNG QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
Vốn đầu tư công
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của vốn đầu tư công a) Khái niệm
Đến nay, có hai quan điểm chủ yếu về đầu tư công, phản ánh sự đa dạng trong cách hiểu khái niệm này từ các góc nhìn khác nhau của các đối tượng.
Đầu tư công được hiểu là toàn bộ hoạt động liên quan đến việc sử dụng vốn nhà nước, bao gồm đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư không nhằm mục đích thu lợi nhuận cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội (nhóm 1) và các hoạt động đầu tư, kinh doanh với vốn nhà nước, đặc biệt là quản lý đầu tư của doanh nghiệp nhà nước (nhóm 2).
Đầu tư công được hiểu là các hoạt động đầu tư sử dụng vốn nhà nước cho các dự án và chương trình không nhằm mục tiêu thu lợi nhuận, chủ yếu tập trung vào nhóm 1 của các hoạt động đầu tư.
Hoạt động đầu tư công tại Việt Nam chủ yếu liên quan đến nguồn vốn nhà nước, bao gồm ngân sách nhà nước, vay nợ hoặc bảo lãnh khoản vay Đặc biệt, việc cấp vốn, cho vay và bảo lãnh khoản vay cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cũng nằm trong phạm vi đầu tư công và không thể bị loại trừ khỏi các quy định pháp luật hiện hành.
Để làm rõ và thống nhất khái niệm vốn đầu tư công, bài viết này sẽ sử dụng một định nghĩa tổng hợp từ các khái niệm khác nhau Theo Luật Đầu tư công năm 2014, vốn đầu tư công được xác định là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình và dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Hoạt động đầu tư công bao gồm nhiều bước quan trọng như lập, thẩm định và quyết định chủ trương đầu tư, cũng như lập và phê duyệt chương trình và dự án đầu tư công Ngoài ra, việc triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công, quản lý và sử dụng vốn đầu tư công cũng rất cần thiết Cuối cùng, theo dõi, đánh giá và kiểm tra các kế hoạch, chương trình và dự án đầu tư công là yếu tố không thể thiếu trong quá trình này.
Vốn đầu tư công: Là nguồn vốn được sử dụng cho các hoạt động đầu tư của
Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng và thực hiện các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế xã hội thông qua nhiều nguồn vốn khác nhau Các nguồn vốn này bao gồm ngân sách nhà nước (NSNN), công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ (TPCP), trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), và vốn vay ưu đãi từ các nhà tài trợ nước ngoài Ngoài ra, còn có vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, nguồn thu để lại cho đầu tư chưa đưa vào cân đối NSNN, cùng với các khoản vay khác từ ngân sách địa phương để phục vụ đầu tư.
Vốn đầu tư công có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động của ngân sách nhà nước (NSNN), đặc biệt là trong quản lý và chi tiêu cho đầu tư phát triển Việc hình thành, phân phối, quản lý và thanh quyết toán nguồn vốn này phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Luật Đầu tư công cùng với các văn bản hướng dẫn hiện hành.
Vốn đầu tư công được phân bổ cho nhiều lĩnh vực khác nhau, do đó việc đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn cần phải toàn diện, xem xét tác động đến cả kinh tế, xã hội và môi trường.
Vốn đầu tư công được quản lý chặt chẽ qua các quy trình đầu tư và các chương trình mục tiêu quốc gia, bắt đầu từ giai đoạn chuẩn bị, thiết kế quy hoạch, thực hiện dự án cho đến khi nghiệm thu và đưa vào sử dụng.
Vốn đầu tư công được phân loại thành nhiều loại khác nhau dựa trên nguồn hình thành và nội dung đầu tư Các phương pháp phân loại này giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc và mục tiêu của các dự án đầu tư công.
Vào thứ năm, các cơ quan Nhà nước và tổ chức nước ngoài là những chủ thể sử dụng vốn đầu tư công, tuy nhiên, đối tượng chính vẫn là các cơ quan Nhà nước.
1.1.2 Vai trò của vốn đầu tư công
Vốn đầu tư công đóng vai trò thiết yếu trong phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế quốc dân, thể hiện qua nhiều khía cạnh quan trọng.
Đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế Qua việc duy trì và phát triển hoạt động đầu tư công, vốn đầu tư này giúp tái tạo và nâng cao năng lực sản xuất, từ đó tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội.
Hài hòa là yếu tố quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành các ngành mới và nâng cao chuyên môn hóa cũng như phân công lao động xã hội Phát triển kết cấu hạ tầng không chỉ tạo ra môi trường thuận lợi mà còn kích thích đầu tư và phát triển kinh doanh, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Kiểm soát vốn đầu tư công qua kho bạc nhà nước (KBNN)
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN 1.2.1.1 Khái niệm kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN
Kiểm soát là chức năng quan trọng của quản lý nhà nước về kinh tế, bao gồm việc kiểm soát vốn đầu tư công qua Kho bạc Nhà nước (KBNN) Theo giáo trình QLNN về kinh tế của Đại học Kinh tế Quốc dân (2009), kiểm soát trong quản lý nhà nước về kinh tế được định nghĩa là tổng thể các hoạt động của Nhà nước nhằm phát hiện, phòng ngừa và xử lý sai sót, khó khăn cũng như khai thác cơ hội phát triển kinh tế Mục tiêu chính của kiểm soát là đảm bảo rằng các hoạt động trong nền kinh tế tuân thủ đúng luật pháp, định hướng kế hoạch và đạt hiệu quả cao.
Kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN là quy trình kiểm tra và xem xét các điều kiện cần thiết theo quy định của Nhà nước để đảm bảo việc chi trả từ quỹ NSNN cho các khoản kinh phí của chủ đầu tư trong các chương trình, dự án công Mục tiêu là đảm bảo vốn đầu tư công được giải ngân đúng chính sách và quy định pháp luật, đồng thời sử dụng vốn một cách hiệu quả.
Các yếu tố cơ bản của khái niệm nêu trên khẳng định:
Chủ thể kiểm soát trong hệ thống KBNN là KBNN trung ương, với mô hình tổ chức theo nguyên tắc tản quyền từ KBNN trung ương đến KBNN tỉnh và KBNN huyện Cụ thể, KBNN huyện trực thuộc KBNN tỉnh, trong khi KBNN tỉnh lại trực thuộc KBNN trung ương.
- Đối tượng kiểm soát: vốn đầu tư công.
- Mục đích của kiểm soát: bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả trong sử dụng vốn đầu tư công.
Phương thức kiểm soát vốn đầu tư công được xác định theo thẩm quyền pháp luật, với nội dung kiểm soát qua KBNN từng cấp Công cụ kiểm soát bao gồm bộ máy tổ chức, văn bản pháp luật, chế độ và định mức do Nhà nước quy định, cùng với các nguyên tắc, quy trình và hình thức kiểm soát.
1.2.1.2 Mục tiêu kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN
Kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN nhằm:
Đảm bảo các cơ quan quản lý và đơn vị sử dụng vốn đầu tư công tuân thủ nghiêm ngặt quy định pháp luật về đầu tư công, đồng thời thực hiện kỷ cương và kỷ luật tài chính.
- Bảo đảm vốn đầu tư công được sử dụng đúng mục đích, theo định hướng ưu tiên chiến lược, quy hoạch đã đề ra.
- Hạn chế thất thoát, lãng phí vốn đầu tư công.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
1.2.1.3 Nguyên tắc kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN
- Nguyên tắc tập trung và phân cấp: Kho bạc Nhà nước trung ương thống nhất quản lý quỹ ngân sách trong toàn hệ thống KBNN Trong đó:
Kho bạc Nhà nước tỉnh đảm nhiệm việc kiểm soát và thanh toán các khoản chi của ngân sách tỉnh cũng như ngân sách trung ương theo ủy quyền hoặc nhiệm vụ chi được thông báo Đồng thời, cơ quan này cũng thực hiện kiểm soát và chi trả các khoản chi của ngân sách huyện, xã, đồng thời tổng hợp và kiểm tra công tác quản lý, kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các Kho bạc Nhà nước huyện trực thuộc.
Kho bạc Nhà nước huyện chịu trách nhiệm kiểm soát, thanh toán và chi trả các khoản chi từ ngân sách huyện, xã cũng như các khoản chi từ ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh theo ủy quyền.
Chủ đầu tư và Ban quản lý dự án cần mở tài khoản thanh toán vốn đầu tư tại Kho bạc Nhà nước để thuận tiện cho việc kiểm soát và giao dịch Thủ tục mở tài khoản phải tuân thủ quy định của Bộ Tài chính và hướng dẫn từ Kho bạc Nhà nước.
Sở Giao dịch KBNN và các Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh, huyện thực hiện kiểm soát thanh toán dựa trên hồ sơ do Chủ đầu tư cung cấp, theo nguyên tắc thanh toán tại Thông tư số 08/2016/TT-BTC và Thông tư số 108/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính Ngoài ra, Thông tư số 55/2016/TT-BTC cũng quy định về quản lý tài chính cho dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư KBNN không chịu trách nhiệm về hình thức lựa chọn nhà thầu, cũng như tính chính xác của đơn giá, khối lượng và giá trị thanh toán do Chủ đầu tư đề xuất.
Cán bộ kiểm soát chi của phòng/bộ phận Kiểm soát chi KBNN tiếp nhận hồ sơ và chứng từ từ Chủ đầu tư, thực hiện kiểm soát tạm ứng và thanh toán khối lượng hoàn thành theo quy định hiện hành về quản lý tài chính và đầu tư xây dựng cơ bản.
KBNN tỉnh có quyền tạm dừng thanh toán vốn và phối hợp với Chủ đầu tư cùng các cơ quan liên quan để thu hồi vốn sử dụng sai mục đích, sai đối tượng, hoặc vi phạm chế độ quản lý tài chính của Nhà nước Đồng thời, KBNN cần báo cáo UBND đồng cấp và KBNN cấp trên để tổng hợp và gửi Bộ Tài chính xem xét, xử lý Nếu phát hiện quyết định của cấp có thẩm quyền liên quan đến chi đầu tư vi phạm quy định, KBNN phải đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét lại và nêu rõ ý kiến đề xuất Trong trường hợp không nhận được phản hồi trong thời gian quy định hoặc phản hồi không phù hợp, KBNN phải báo cáo lên cơ quan có thẩm quyền cấp trên và cơ quan tài chính để được xem xét, xử lý.
Số vốn thanh toán cho dự án trong năm, bao gồm vốn tạm ứng và thanh toán khối lượng hoàn thành, phải tuân thủ kế hoạch vốn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Mỗi khoản thanh toán cho công việc và hạng mục công trình không được vượt quá giá trị hợp đồng hoặc dự toán chi phí đã được duyệt Tổng số vốn thanh toán cho dự án cũng không được vượt mức đầu tư đã được phê duyệt theo từng nguồn vốn, bao gồm cả các khoản bổ sung và điều chỉnh, đồng thời phải phù hợp với kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn.
KBNN thực hiện quản lý và kiểm soát cam kết chi ngân sách nhà nước (NSNN) theo Thông tư số 113/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính, ban hành ngày 27/11/2008 Thông tư này hướng dẫn quy trình quản lý và kiểm soát cam kết chi qua Kho bạc Nhà nước Ngoài ra, Thông tư số 40/2016/TT-BTC, có hiệu lực từ ngày 1/03/2016, đã sửa đổi và bổ sung một số điều của Thông tư 113/2008 nhằm cải thiện công tác quản lý chi ngân sách.
Năm 2008, Bộ Tài chính đã ban hành hướng dẫn về quản lý và kiểm soát cam kết chi ngân sách nhà nước thông qua Kho bạc Nhà nước Đặc biệt, Thông tư số 08/2013/TT-BTC, được ban hành vào ngày 10 tháng 01 năm 2013, quy định chi tiết các quy trình và yêu cầu liên quan đến việc quản lý cam kết chi ngân sách.
Bài viết năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn kế toán nhà nước cho hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc Nhà nước (Tabmis), cùng với các văn bản sửa đổi, bổ sung nếu có Quy trình quản lý và kiểm soát cam kết chi NSNN qua KBNN được thực hiện theo văn bản hướng dẫn riêng biệt.
1.2.2 Nội dung kiểm soát vốn đầu tư công tại KBNN
1.2.2.1 Kiểm soát hồ sơ ban đầu (còn gọi là kiểm soát hồ sơ pháp lý) a Mở tài khoản
Kinh nghiệm kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN một số huyện và bài học
1.3.1 Kinh nghiệm của một số KBNN huyện
(1) Kinh nghiệm của Kho bạc nhà nước huyện Mường Nhé
Mường Nhé, huyện miền núi biên giới thuộc tỉnh Điện Biên, có trình độ phát triển kinh tế tương đồng với huyện Nậm Pồ Qua nghiên cứu tài liệu về kiểm soát thanh toán vốn đầu tư công tại địa phương, một số kinh nghiệm tốt đã được rút ra.
Nâng cao ý thức về vai trò và trách nhiệm trong việc thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ công chức nhà nước là điều cần thiết Cần áp dụng các biện pháp xử phạt nghiêm minh đối với những hành vi vi phạm để đảm bảo tính kỷ luật và hiệu quả trong công việc.
Để nâng cao tính minh bạch, cần công khai hóa quy trình và quy định kiểm soát thanh toán vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) trên nhiều phương tiện truyền thông Điều này giúp mọi người dễ dàng tiếp cận thông tin, từ đó thực hiện giám sát hiệu quả các cơ quan liên quan.
Cán bộ kiểm soát chi (KBNN) thường xuyên tiến hành khảo sát và trao đổi ý kiến từ nhân dân cũng như khách hàng giao dịch Mục tiêu là xác định các vấn đề và hạn chế mà khách hàng chưa hài lòng, từ đó tìm ra các giải pháp khắc phục kịp thời.
Người lãnh đạo đóng vai trò quyết định trong việc xử lý các vấn đề nhạy cảm và quan trọng, đồng thời cần phải đôn đốc và tạo áp lực trách nhiệm đối với việc thực thi công vụ của cán bộ công chức Việc xác định và phát huy vai trò này là rất cần thiết để đảm bảo hiệu quả trong quản lý và điều hành.
(2) Kinh nghiệm KBNN huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, nổi bật trong việc thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư công, với sự gia tăng đáng kể trong những năm qua Để quản lý hiệu quả nguồn vốn này, yêu cầu đặt ra cho bộ máy quản lý nhà nước, đặc biệt là Kho bạc Nhà nước (KBNN) huyện Mộc Châu, là rất lớn Qua nghiên cứu, KBNN huyện Mộc Châu đã rút ra một số kinh nghiệm quan trọng trong việc kiểm soát chặt chẽ vốn đầu tư công.
Để nâng cao hiệu quả kiểm soát vốn đầu tư công, cần tổ chức bộ máy kiểm soát một cách hợp lý, đảm bảo đủ số lượng cán bộ và thường xuyên đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ kiểm soát chi, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ.
Để đảm bảo tiến độ thực hiện và giải ngân vốn hiệu quả, cần phối hợp chặt chẽ với phòng Tài chính - Kế hoạch và nhận sự chỉ đạo từ chính quyền địa phương Hằng năm, tổ chức các buổi gặp gỡ với các chủ đầu tư (BQL) dự án để cập nhật các chính sách mới về quản lý tài chính vốn đầu tư công Đồng thời, thường xuyên theo dõi và nắm bắt những khó khăn, vướng mắc từ các chủ đầu tư để kịp thời tháo gỡ hoặc đề xuất giải pháp với các cấp có thẩm quyền.
Chú trọng vào việc tự kiểm tra và kiểm tra chéo giúp phát hiện kịp thời các sai sót trong quản lý vốn đầu tư công Điều này không chỉ giúp chấn chỉnh và khắc phục những vấn đề tồn tại mà còn rút ra bài học kinh nghiệm, từ đó nâng cao hiệu quả kiểm soát và quản lý nguồn vốn này.
1.3.2 Bài học cho KBNN Nậm Pồ
1.3.2.1 Thực hiện đúng quy trình và các nội dung kiểm soát
- Kiểm soát hồ sơ ban đầu
Yêu cầu chủ đầu tư phải làm thủ tục mở tài khoản tại KBNN trước khi thực hiện nộp hồ sơ pháp lý đến cho KBNN.
Yêu cầu chủ đầu tư nộp đàu đủ các thủ tục theo đúng quy định tại quy trình 5657/QĐ-KBNN.
Kiểm soát chặt chẽ hỗ sơ đảm bảo tính phù hợp, logic về thời gian, tính đúng đắn chính xác về mặt pháp lý.
- Kiểm soát hồ sơ tạm ứng vốn
Yêu cầu chủ đầu tư khi nộp hồ sơ tạm ứng vốn phải nộp đầu đủ thủ tục và tuân thủ đúng quy định về tạm ứng vốn.
Để đảm bảo quản lý hiệu quả, cần kiểm soát chặt chẽ các điều khoản liên quan đến tạm ứng, bao gồm số lần tạm ứng, thời điểm thực hiện, cũng như việc thu hồi tạm ứng Ngoài ra, cần xác định rõ số tiền tạm ứng và thu hồi để giữ cho số dư tạm ứng không vượt quá mức cho phép và không bị quá hạn.
Để kiểm soát hồ sơ thanh toán khối lượng hoàn thành, cần chú ý đến hợp đồng, đảm bảo các thông tin trên hợp đồng hợp lý và logic về thời gian Chủ đầu tư phải thực hiện thanh toán đúng theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng Đối với hồ sơ thanh toán không qua hợp đồng, trách nhiệm về tính chính xác của khoản thanh toán thuộc về chủ đầu tư.
Kiểm soát hồ sơ thanh toán là bước quan trọng trong quyết toán dự án hoàn thành Cần đối chiếu số liệu chính xác để đảm bảo rằng số thanh toán theo đề nghị của chủ đầu tư không vượt quá số quyết toán đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Thực hiện kiểm tra nội bộ thường xuyên là rất quan trọng, nhằm đảm bảo mọi sai sót được phát hiện đều được bổ sung, khắc phục và chấn chỉnh kịp thời.
1.3.2.2 Vận dụng đúng các công cụ kiểm soát
- Vận dụng công cụ tổ chức
Để tổ chức hiệu quả, cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các phòng, ban, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các bộ phận nhằm tránh chồng chéo và trùng lặp Việc bố trí cán bộ có năng lực và kinh nghiệm là rất quan trọng để thực hiện nhiệm vụ này.
Xác định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn, phân công nhiệm vụ cụ thể, và xây dựng mối quan hệ phối hợp hiệu quả là rất quan trọng Điều này giúp tránh tình trạng không tương xứng và đổ lỗi giữa các phòng ban, bộ phận trong tổ chức.
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT VỐN ĐẦU TƯ CÔNG QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC NẬM PỒ
Tổng quan về KBNN Nậm Pồ
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của KBNN Nậm Pồ
KBNN Nậm Pồ được thành lập và chính thức hoạt động từ năm 2013, theo quyết định số 467/QĐ-BTC ngày 12 tháng 3 năm 2013, đánh dấu sự ra đời của ngành KBNN tại khu vực này.
2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc thành lập Kho bạc Nhà nước Nậm Pồ trực thuộc Kho bạc Nhà nước Điện Biên.
KBNN Nậm Pồ thực hiện các nhiệm vụ theo quy định pháp luật tại huyện Nậm Pồ Sau 6 năm hoạt động, KBNN Nậm Pồ đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Pồ luôn nỗ lực vượt qua mọi thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ của hệ thống KBNN, góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị tại huyện Nậm Pồ.
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của KBNN Nậm Pồ
Kho bạc Nhà nước Nậm Pồ là KBNN cấp huyện trực thuộc KBNN tỉnh Điện Biên nằm trong hệ thống Kho bạc Nhà nước.
Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước (KBNN) Nậm Pồ được thực hiện theo quyết định số 695/QĐ-KBNN ngày 16 tháng 7 năm 2015 và quyết định số 4236/QĐ-KBNN ngày 08 tháng 9 năm 2017, quy định rõ về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của KBNN tại các huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh.
Về chức năng nhiệm vụ của KBNN Nậm Pồ:
Kho bạc Nhà nước cấp huyện có trách nhiệm tổ chức thực hiện thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án và đề án sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
- Quản lý quỹ ngân sách nhà nước và các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quy định của pháp luật:
Tổ chức thu ngân sách nhà nước cần tập trung vào việc phản ánh đầy đủ và kịp thời các khoản thu, đồng thời thực hiện thu nộp các khoản tiền từ tổ chức và cá nhân tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện Ngoài ra, việc điều tiết các khoản thu cho các cấp ngân sách theo quy định cũng là một nhiệm vụ quan trọng.
+ Thực hiện kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật;
Quản lý tiền và tài sản, bao gồm ấn chỉ đặc biệt và các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước, là trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước cấp huyện đối với các đơn vị và cá nhân gửi.
- Thực hiện giao dịch thu, chi tiền mặt và các biện pháp bảo đảm an toàn kho, quỹ tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện.
- Thực hiện công tác kế toán ngân sách nhà nước:
Hạch toán kế toán liên quan đến thu chi ngân sách nhà nước, các khoản vay nợ và trả nợ của Chính phủ cùng chính quyền địa phương là một phần quan trọng trong hoạt động của Kho bạc Nhà nước cấp huyện Các hoạt động này phải tuân thủ quy định của pháp luật nhằm đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài chính công.
Báo cáo tình hình thu, chi ngân sách nhà nước được gửi đến cơ quan tài chính và các cơ quan nhà nước liên quan theo quy định pháp luật.
Thực hiện nhiệm vụ điện báo và thống kê liên quan đến thu, chi ngân sách nhà nước, bao gồm các khoản vay nợ và trả nợ của Chính phủ cùng chính quyền địa phương theo quy định Đồng thời, xác nhận số liệu thu, chi ngân sách nhà nước thông qua Kho bạc Nhà nước cấp huyện.
Tổng hợp, đối chiếu tình hình thực hiện các hoạt động nghiệp vụ phát sinh với các đơn vị liên quan tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện.
- Quản lý ngân quỹ nhà nước tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện theo chế độ quy định:
Để mở tài khoản và quản lý tài khoản, người dùng cần thực hiện các bước thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản cho các tổ chức, cá nhân có liên quan đến giao dịch với Kho bạc Nhà nước cấp huyện.
Để thực hiện các nghiệp vụ thu, chi và thanh toán theo quy định, cần mở tài khoản và kiểm soát tài khoản của Kho bạc Nhà nước cấp huyện tại ngân hàng thương mại trên cùng địa bàn.
+ Tổ chức thanh toán, đối chiếu, quyết toán thanh toán liên kho bạc theo quy định.
- Thực hiện công tác phát hành, thanh toán trái phiếu Chính phủ theo quy định.
- Thực hiện công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện theo quy định.
- Thực hiện công tác ứng dụng công nghệ thông tin tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện.
Quản lý đội ngũ công chức và lao động hợp đồng tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện, thực hiện các nhiệm vụ văn thư, lưu trữ, hành chính, quản trị và tài vụ theo quy định hiện hành.
Chương trình hiện đại hóa hoạt động Kho bạc Nhà nước được tổ chức thực hiện nhằm cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ và công khai hóa thủ tục Điều này bao gồm việc cải tiến quy trình nghiệp vụ và cung cấp thông tin để tạo thuận lợi cho khách hàng.
- Quản lý các điểm giao dịch thuộc Kho bạc Nhà nước cấp huyện theo quy định.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh giao.
2.1.3 Kết quả hoạt động của KBNN Nậm Pồ giai đoạn 2014 -2018
Trong giai đoạn 2014-2018, KBNN Nậm Pồ đã thực hiện hạch toán chính xác và kịp thời các khoản thu - chi ngân sách nhà nước (NSNN) Điều này đã giúp đảm bảo việc tổng hợp các báo cáo đầy đủ, cung cấp thông tin cần thiết để phục vụ cho công tác quản lý và điều hành ngân sách tại địa phương.
Tình hình thực hiện vốn đầu tư công trên địa bàn huyện Nậm Pồ giai đoạn 2014 – 2018.33
2.2.1 Các dự án đầu tư công trên địa bàn huyện
Với mục tiêu thực hiện tốt Nghị quyết của huyện về mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội của huyện, UBND huyện đã tập trung, chủ động triển khai đầu tư các dự án để đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Theo báo cáo của UBND huyện, từ năm 2014 đến 2018, huyện đã triển khai tổng cộng 99 dự án đầu tư, trong đó nhiều dự án đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, góp phần quan trọng vào việc ổn định cuộc sống người dân và đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
Bảng 2.2 Tổng hợp các dự án đầu tư công trên địa bàn huyện Nậm Pồ giai đoạn 2014 - 2018 Đơn vị tính: Dự án
STT Nguồn vốn đầu tư dự án
Tổng số dự án được giao
Số dự án đã phê duyệt chủ trương đầu tư Hủy bỏ Đã hoàn thành Đang triển khai
1 CT MTQG xây dựng nông thôn mới 36 29 4 1 02
5 TPCP thực hiện đề án kiên cố hóa trường lớp học 15 9 6 0 0
6 Hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách TW 02 0 2 0 0
Nguồn: UBND huyện Nậm Pồ 2.2.2 Tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư công trên địa bàn huyện Nậm Pồ
Theo báo cáo của UBND huyện Nậm Pồ thì giai đoạn 2014-2018, huyện Nậm
UBND tỉnh Điện Biên đã giao danh mục các dự án trong kế hoạch đầu tư công trung hạn, bao gồm nguồn vốn từ Chương trình MTQG, nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương, nguồn vốn TPCP để thực hiện đề án kiên cố hóa trường, lớp học, và nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương.
(1) Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới
Tổng số dự án được giao là 36, với tổng kinh phí lên đến 128,345 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn NSTW chiếm 124,285 tỷ đồng, vốn TPCP là 3,86 tỷ đồng và vốn khác là 200 triệu đồng.
Số dự án được phê duyệt chủ trương đầu tư là 34 dự án (tổng mức đầu tư của
Tổng kinh phí cho 34 dự án lên đến 115,345 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương chiếm 111,36 tỷ đồng, ngân sách huyện là 140 triệu đồng và nguồn vốn huy động từ cộng đồng dân cư đạt 391 triệu đồng.
Số dự án đã hoàn thành đến 31/01/2019 là 29 dự án với tổng mức đầu tư là 100,9 tỷ đồng.
Số dự án đang triển khai thi công là 4 dự án với tổng mức đầu tư là 18,145 tỷ đồng;
Trong giai đoạn này, chỉ có 1 dự án được phê duyệt chủ trương đầu tư nhưng chưa thực hiện, với tổng mức đầu tư là 2 tỷ đồng.
Số dự án không khả thi, hủy bỏ trong giai đoạn là 2 dự án với tổng mức đầu tư là 5,3 tỷ đồng;
Tổng số dự án được giao và phê duyệt chủ trương đầu tư là 33 dự án, với tổng mức đầu tư lên tới 65,267 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách trung ương chiếm 65,111 tỷ đồng và vốn khác là 156 triệu đồng.
Số dự án hoàn thành đưa vào sử dụng là 29 dự án với tổng mức đầu tư là 61,5 tỷ đồng
Số dự án đang thực hiện thi công là 3 dự án với tổng mức đầu tư là 2,567 tỷ đồng.
Số dự án đang chuẩn bị đầu tư là 1 dự án với tổng mức đầu tư là 1,2 tỷ đồng
(3) Chương trình MTQG giảm nghèo nhanh và bền vững 30a
Đã có 7 dự án được giao và phê duyệt chủ trương đầu tư với tổng mức đầu tư 85,26 tỷ đồng Trong đó, vốn ngân sách trung ương chiếm 78,46 tỷ đồng, ngân sách địa phương là 5 tỷ đồng, và tiết kiệm chi phí 10% tương đương 1,8 tỷ đồng.
Số dự án đã hoàn thành đến 31/01/2019 là 5 dự án với tổng mức đầu tư là 75,5 tỷ đồng.
Số dự án đang triển khai thi công là 2 dự án với tổng mức đầu tư là 9,76 tỷ đồng;
(4) Nguồn vốn cân đối Ngân sách địa phương
Số dự án được giao là 6 dự án với tổng mức đầu tư là 70,5 tỷ đồng (bao gồm 1 dự án lồng ghép vốn chương trình 30a);
Số dự án được phê duyệt chủ trương đầu tư là 6 dự án
Số dự án hoàn thành đưa vào sử dụng là 3 dự án với tổng mức đầu tư là 63,45 tỷ đồng
Số dự án đang thực hiện thi công là 2 dự án với tổng mức đầu tư là 7,05 tỷ đồng.
(5) Nguồn vốn TPCP thực hiện đề án kiên cố hóa trường lớp học.
Số dự án được giao là 15 dự án với tổng mức đầu tư là 87,425 tỷ đồng;
Đến nay, 15 dự án đã được phê duyệt chủ trương đầu tư với tổng mức đầu tư lên đến 87,425 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn TPCP chiếm 85,26 tỷ đồng và vốn ngân sách huyện là 2,165 tỷ đồng Hiện tại, các dự án này đang trong quá trình triển khai thi công xây dựng.
(6) Nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách TW
Số dự án được giao là 02 dự án với tổng mức đầu tư là 180 tỷ đồng.
Số dự án được phê duyệt chủ trương đầu tư là 02 dự án với tổng mức đầu tư là
180 tỷ đồng Đến nay, các dự án đang trong quá trình chuẩn bị đầu tư.
Như vậy tổng số vốn đầu tư công được giao cho huyện Nậm Pồ là 616,797 tỷ đồng tăng 25% so với giai đoạn 2010 - 2013 (Bảng 2.3)
Bảng 2.3 Vốn ĐTC được giao cho huyện Nậm Pồ giai đoạn 2014-2018
1 Chương trình MTQG xây dựng NTM 128,345 84,7 34
4 Vốn cân đối ngân sách địa phương 70,5 63,45 10
5 TPCP thực hiện đề án kiên cố hóa trường lớp học 87,425 40,21 54
6 Hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách TW 180 118,21 34
Trong cơ cấu vốn ĐTC của huyện, tỷ trọng vốn TPCP và hỗ trợ có mục tiêu từ NSTW chiếm ưu thế, đặc biệt được bổ sung nhiều nhất trong giai đoạn 2014.
Năm 2015 đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện kết cấu cơ sở hạ tầng của Nậm Pồ, góp phần phát triển đồng bộ các ngành và lĩnh vực Sự cải thiện này không chỉ nâng cao môi trường đầu tư mà còn đảm bảo an ninh, quốc phòng, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của người dân.
Nguồn vốn đầu tư cho hạ tầng tại huyện đã phát huy hiệu quả, giúp giao thông thông suốt và thúc đẩy lưu thông hàng hóa, giao lưu kinh tế - văn hóa Các công trình thủy lợi, y tế và trường học được đầu tư đã tích cực hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Một số dự án đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, góp phần giải quyết khó khăn trong đời sống của nhân dân, trong khi các dự án khác vẫn đang tiếp tục thi công.
Các khó khăn, vướng mắc hiện nay trong việc huy động và sử dụng vốn đầu tư công trên địa bàn huyện Nậm Pồ, đó là:
Huyện miền núi nghèo mới chia tách đang đối mặt với cơ sở hạ tầng yếu kém và chưa được đầu tư nhiều, dẫn đến nhu cầu đầu tư rất lớn Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư của tỉnh còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch và kế hoạch đã đề ra.
Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước hiện vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu cho các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là ngân sách tỉnh dành cho việc thực hiện các chính sách phát triển cơ sở hạ tầng tại các huyện.
Kinh tế địa bàn đang gặp khó khăn do thiếu nguồn thu và phát triển kém, chủ yếu dựa vào tự cung tự cấp Nguồn lực đầu tư chủ yếu đến từ ngân sách tỉnh và Trung ương.
- Trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản còn nhiều bất cập, do đó thiếu tính chủ động trọng công tác.
Thực trạng thực hiện các nội dung kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN huyện Nậm Pồ
2.3.1 Thực trạng kiểm soát hồ sơ ban đầu
Trong giai đoạn 2014-2018, KBNN Nậm Pồ đã thực hiện kiểm soát chặt chẽ hồ sơ pháp lý của các dự án, đảm bảo rằng tất cả hồ sơ trước khi giải ngân đều đầy đủ và hợp pháp Qua quá trình này, KBNN Nậm Pồ đã kịp thời phát hiện và hướng dẫn các đơn vị sửa đổi, bổ sung những sai sót trong hồ sơ để đảm bảo tính hợp lệ.
Bảng 2.4 Tình hình kiểm soát hồ sơ ban đầu do chủ đầu tư gửi đến tại
KBNN Nậm Pồ giai đoạn 2014 - 2018 Đơn vị tính: Hồ sơ
Năm Số lượng HS ban đầu do CĐT gửi đến KBNN
Số HS ban đầu đảm bảo tính pháp lý đủ điều kiện tiếp nhận
Số HS ban đầu đảm bảo tính pháp lý nhưng vẫn còn sai sót
Số HS ban đầu chưa đảm bảo tính pháp lý
Các chủ đầu tư, đặc biệt là những dự án do cấp quyết định đầu tư, thường gặp phải tình trạng hồ sơ pháp lý gửi đến còn nhiều sai sót Việc sửa đổi hồ sơ diễn ra nhiều lần và tốn thời gian, gây khó khăn cho Kho bạc Nhà nước Nậm Pồ trong công tác kiểm soát và giải ngân.
- Phê duyệt trái thẩm quyền, vượt thẩm quyền quy định:
Một số dự án cấp xã vẫn thực hiện việc phê duyệt dự án đầu tư và báo cáo kinh tế - kỹ thuật không đúng thẩm quyền Bên cạnh đó, nhiều dự án khởi công mới đã được phê duyệt sau ngày 31/10 của năm trước kế hoạch, dẫn đến việc không thể giải ngân.
Quyết định điều chỉnh thời gian thực hiện dự án của chủ đầu tư là không đúng thẩm quyền, đặc biệt khi một số dự án cần kéo dài tiến độ nhưng không có văn bản chấp thuận từ cấp có thẩm quyền, dẫn đến việc không gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng.
+ Chủ đầu tư (cơ quan Huyện ủy) phê duyệt Báo cáo kinh tế kỹ thuật không đúng thẩm quyền theo quy định.
Một số văn bản pháp lý hiện nay chưa đảm bảo tính hợp lệ và hợp pháp, với nhiều nội dung không tuân thủ quy định Cụ thể, một số quyết định phê duyệt thiếu căn cứ hoặc căn cứ không phù hợp, như việc dựa vào các quy định pháp luật đã hết hiệu lực Hơn nữa, nhiều quyết định không đầy đủ nội dung và không theo mẫu hướng dẫn quy định tại các Nghị định của Chính phủ và Thông tư của các bộ, ngành.
+ Quyết định phê duyệt của cấp có thẩm quyền vẫn là bản photocopy, quyết định chỉ định thầu có giá gói thầu vượt dự toán được phê duyệt.
Một số gói thầu hiện vẫn vi phạm các quy định pháp luật về lựa chọn nhà thầu, như việc chọn nhà thầu không đủ năng lực, tổ chức đấu thầu nhưng lại chỉ định thầu, và áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu cùng hợp đồng không phù hợp với kế hoạch lựa chọn nhà thầu đã đề ra Cụ thể, kế hoạch lựa chọn quy định hình thức hợp đồng trọn gói nhưng thực tế lại chỉ định thầu theo đơn giá cố định hoặc đơn giá điều chỉnh.
Hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và nhà thầu thường gặp vấn đề trong quản lý, đặc biệt tại các ban quản lý dự án cấp xã Nhiều bất cập đã được phát hiện qua kiểm soát và thanh toán của Kho bạc, cho thấy sự thiếu hụt về tính pháp lý trong quản lý hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu.
Hợp đồng cần tuân thủ mẫu quy định và đảm bảo đầy đủ nội dung, bao gồm thông tin tài khoản, loại hợp đồng, giá trị hợp đồng, thời gian thực hiện, điều kiện thanh toán, tạm ứng và thu hồi tạm ứng Ngoài ra, hợp đồng cũng phải quy định rõ ràng về nội dung, đối tượng và phương pháp điều chỉnh để tránh những rủi ro pháp lý.
Hợp đồng xây dựng đã quy định một số nội dung không phù hợp với chế độ, chẳng hạn như việc không yêu cầu thực hiện bảo đảm thực hiện hợp đồng, điều này vi phạm quy định hiện hành.
Ký hợp đồng và phụ lục hợp đồng thi công xây dựng cần tuân thủ quy định về thời gian thực hiện dự án Việc này phải được thực hiện khi có ý kiến bằng văn bản của người quyết định đầu tư để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả trong quá trình triển khai dự án.
Hợp đồng thực hiện không đúng thời gian quy định trong quyết định phê duyệt, và hình thức hợp đồng cũng không phù hợp với quy định trong quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu.
Giá hợp đồng có thể vượt quá giá trị chỉ định thầu; trong trường hợp này, cần ký phụ lục hợp đồng để điều chỉnh giá, ngay cả khi chưa có Quyết định phê duyệt dự toán cho phần điều chỉnh và bổ sung phát sinh ngoài hợp đồng.
Tác giả đã thực hiện phỏng vấn một số cá nhân để khảo sát thực trạng kiểm soát hồ sơ pháp lý và hồ sơ ban đầu gửi đến KBNN, với kết quả được trình bày trong hộp 2.1.
Hộp 2.1 Phỏng vấn về thực trạng kiểm soát hồ sơ ban đầu
Nguồn: Kết quả phỏng vấn của tác giả, thực hiện tháng 3/2019
Câu hỏi: "Theo ông, hồ sơ thủ tục pháp lý ban đầu phải gửi đến KBNN hiện nay đã phù hợp với thực tiễn hiện nay chưa?"
Ông Đỗ Thủy Trung, Giám đốc Ban quản lý các công trình huyện Nậm Pồ, cho biết rằng quy định về hồ sơ và thủ tục KBNN trong việc giải ngân vốn đầu tư công hiện nay là hợp lý Tuy nhiên, ông cho rằng hồ sơ ban đầu, bao gồm phương án GPMB, không cần thiết phải gửi đến Kho bạc.
Ông Nguyễn Thái Hà, Trưởng phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Nậm Pồ, cho biết: "Cần loại bỏ phần thuyết minh trong Báo cáo Kinh tế kỹ thuật khỏi danh mục hồ sơ gửi KBNN để phục vụ công tác kiểm soát hiệu quả hơn."
Thực trạng thực hiện các công cụ kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN Nậm Pồ
- Cơ cấu tổ chức bộ máy: Kho bạc Nhà nước huyện Nậm Pồ được tổ chức theo mô hình dưới đây.
Cơ cấu tổ chức của KBNN Nậm Pồ được lãnh đạo bởi Ông Hàng Mạnh Hoài, Giám đốc KBNN Nậm Pồ Ông nhấn mạnh rằng công tác kiểm soát nội bộ là ưu tiên hàng đầu, giúp phát hiện nhiều sai sót trong quá trình giải ngân mà trước đó chưa được nhận ra, từ đó nâng cao chất lượng kiểm soát của KBNN.
Bà Mào Thị Thu Hằng, Kế toán trưởng KBNN Nậm Pồ, nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác kiểm soát nội bộ Bà đề xuất KBNN Nậm Pồ cần chú trọng hơn nữa đến việc này, với mục tiêu triển khai kiểm soát nội bộ mỗi quý thay vì chỉ hai lần mỗi năm như hiện tại.
Công tác kiểm soát nội bộ tại KBNN có vai trò quan trọng, giúp phát hiện nhiều sai sót trong quá trình giải ngân mà trước đó chưa được nhận diện Ông Hàng Mạnh Hoài, Giám đốc KBNN Nậm Pồ, nhấn mạnh rằng việc chú trọng vào kiểm soát nội bộ không chỉ nâng cao chất lượng kiểm soát mà còn góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động của KBNN.
Bà Mào Thị Thu Hằng, Kế toán trưởng KBNN Nậm Pồ, nhấn mạnh tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ trong công tác của đơn vị Bà cho rằng KBNN Nậm Pồ cần tăng cường hơn nữa việc kiểm soát nội bộ, đề xuất triển khai công tác này một quý một lần thay vì chỉ hai lần trong năm như hiện tại.
Giao dịch viên Giao dịch viên Thủ kho,
Thủ quỹGiao dịch viên
Cơ cấu tổ chức của KBNN Nậm Pồ bao gồm 01 Giám đốc, 01 Phó giám đốc, 01 Kế toán trưởng nghiệp vụ, cùng với các giao dịch viên và thủ kho – thủ quỹ, hoạt động theo chế độ chuyên viên.
Trong giai đoạn 2014-2016, KBNN Nậm Pồ thực hiện kiểm soát theo quy trình 282/QĐ-KBNN, với cơ cấu tổ chức được chia thành hai tổ: Tổ kế toán và Tổ tổng hợp Tổ kế toán đảm nhận trách nhiệm kiểm soát chi thường xuyên, trong khi Tổ tổng hợp phụ trách kiểm soát chi đầu tư.
Quy chế giao dịch 01 cửa tại KBNN Nậm Pồ trước năm 2015 yêu cầu chủ đầu tư gửi hồ sơ trực tiếp đến bộ phận giao dịch 01 cửa Dựa vào hồ sơ pháp lý và từng lần tạm ứng, cán bộ tại bộ phận này sẽ chuyển hồ sơ cho cán bộ kiểm soát chi để kiểm tra vốn dự án.
Từ tháng 10 năm 2017, Kho bạc Nhà nước Nậm Pồ đã thống nhất đầu mối kiểm soát chi ngân sách nhà nước (NSNN) và áp dụng quy trình kiểm soát chi đầu tư theo quyết định 5657/QĐ-KBNN.
Cơ cấu tổ chức được chia thành hai bộ phận chính: bộ phận Kiểm soát chi, có nhiệm vụ kiểm soát cả chi thường xuyên và chi đầu tư, và bộ phận Kế toán Giao dịch 01 cửa trong thanh toán vốn đầu tư được thực hiện theo công văn 743/KBNN-KSC của Kho bạc Nhà nước, trong đó cán bộ kiểm soát chi sẽ trực tiếp nhận hồ sơ, xử lý và trả kết quả cho các đơn vị giao dịch.
Chính phủ, Bộ Tài chính và KBNN đang thực hiện chủ trương thống nhất đầu mối kiểm soát chi, nhằm cải cách thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư trong giao dịch thanh toán với KBNN.
- Cán bộ kiểm soát chi của KBNN Nậm Pồ
KBNN Nậm Pồ có tổng biên chế gồm 9 người trong đó: 1 giám đốc, 1 phó giám đốc, 1 kế toán trưởng, 5 giao dịch viên và 1 bảo vệ.
Bảng 2.8 Số lượng và trình độ cán bộ kiểm soát chi KBNN Nậm Pồ
TT Chỉ tiêu Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
KBNN Nậm Pồ sở hữu đội ngũ cán bộ kiểm soát chi có nghiệp vụ vững vàng và hiểu biết sâu sắc về quản lý tài chính cũng như đầu tư xây dựng cơ bản Tuy nhiên, việc áp dụng quy trình kiểm soát chi đầu tư theo quyết định 5657/QĐ-KBNN đã khiến một số cán bộ gặp khó khăn, do trước đây họ chỉ kiểm soát chi thường xuyên Sự chuyển đổi này đã ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát vốn đầu tư.
Hệ thống văn bản pháp lý được KBNN huyện Nậm Pồ áp dụng nhằm kiểm soát vốn đầu tư công được tóm tắt trong bảng dưới đây.
Bảng 2.9 Tổng hợp văn bản áp dụng kiểm soát vốn ĐTC qua KBNN Nậm Pồ
TT Cơ quan ban hành Số hiệu văn bản
Tên văn bản Nội dung chủ yếu
Quy định về lập, chấp hành,kiểm toán, quyết toán, giám sát ngân sách nhà nước;
Quy định việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư công; quản lý nhà nước về đầu tư công;
Quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng
Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật NSNN 2015
Quy định chi tiết về việc thi hành một số điều của Luật ngân sách nhà nước bao gồm các nội dung quan trọng như lập dự toán ngân sách, thu nộp ngân sách, kiểm soát và thanh toán chi ngân sách Bên cạnh đó, quy định cũng đề cập đến việc quản lý ngân sách nhà nước dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ và quy trình quyết toán ngân sách, nhằm đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài chính công.
- Các nội dung về kế hoạch tài chính 05 năm, kế hoạch tài chính
- ngân sách nhà nước 03 năm; quản lý
Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư công
Nghị định này hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Đầu tư công về:
1 Phân loại chương trình, dự án đầu tư công.
2 Lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án đầu tư công nhóm A, nhóm B và nhóm C.
3 Lập, thẩm định, quyết định đầu tư chương trình, dự án đầu tư công nhóm A, nhóm B và nhóm C.
4 Điều chỉnh chương trình, dự án đầu tư công.
5 Quản lý dự án đầu tư công không có cấu phần xây dựng.
Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 163/2016/
Tổ chức thu và hạch toán kế toán đối với các khoản thu ngân sách nhà nước bao gồm quy trình, thủ tục và kiểm soát chi ngân sách hiệu quả Việc cấp phát và thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản cần được thực hiện đúng quy định, đồng thời cơ chế quản lý vốn vay nợ và viện trợ cũng phải được chú trọng Quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước tại các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như ngân sách cấp xã, cần đảm bảo tính minh bạch và công khai để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính.
Quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Quy định về quản lý và thanh toán vốn đầu tư cho các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, bao gồm cả vốn đầu tư từ ngân sách trung ương, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quá trình triển khai các dự án Việc tuân thủ các quy định này giúp tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực tài chính, đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình và kiểm soát chi tiêu công.
Bộ, ngành trung ương; vốn bổ sung có mục tiêu của ngân sách trung ương cho địa phương; vốn đầu tư trong cân đối ngân sách địa phương);
Đánh giá về kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN Nậm Pồ
2.5.1 Kết quả thực hiện kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN Nậm Pồ Để tổ chức triển khai kiểm soát vốn đầu tư công đạt hiệu quả cao, trên cơ sở hướng dẫn của Kho bạc Nhà nước tỉnh Điện Biên, sự phối của HĐND-UBND huyện Nậm Pồ, KBNN Nậm Pồ đã giao nhiệm vụ đến từng cán bộ, công chức dựa trên khối lượng công việc và năng lực của mỗi cán bộ
KBNN Nậm Pồ đã chủ động phối hợp với các chủ đầu tư dự án để đôn đốc giải ngân theo kế hoạch vốn được giao, nhằm triển khai công tác giải ngân sớm Trong quá trình thực hiện, KBNN Nậm Pồ tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng, bao gồm Luật đầu tư công, Luật xây dựng, Luật đấu thầu, Luật ngân sách nhà nước, cùng với các Nghị định và Thông tư hướng dẫn liên quan từ Chính phủ và KBNN tỉnh Điện Biên về quy trình kiểm soát và thanh toán vốn đầu tư.
Trong giai đoạn 2014-2018, KBNN Nậm Pồ đã thực hiện công tác giải ngân vốn đầu tư công một cách hiệu quả, bất chấp khối lượng công việc lớn và biên chế hạn chế Đơn vị luôn nỗ lực hoàn thành chỉ tiêu giải ngân, đảm bảo tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt yêu cầu trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Câu hỏi: "Theo ông, việc tham gia ứng dụng CNTT dịch vụ công trực tuyến hiện này là cần thiết hay không?"
Ông Đỗ Thủy Trung, Giám đốc Ban quản lý dự án các công trình huyện Nậm Pồ, cho biết: “Chúng tôi đã nghiên cứu và sẽ xem xét về vấn đề này Tuy nhiên, để thực hiện được, cần phải có hạ tầng thông tin đủ tốt.”
Ông Hàng Mạnh Hoài, Giám đốc KBNN Nậm Pồ, cho biết: “Chúng tôi đã gửi văn bản đến từng chủ đầu tư để họ cân nhắc lợi ích khi tham gia dịch vụ công, nhưng số lượng đơn vị tham gia vẫn còn quá ít.” Về tình hình giải ngân tại huyện Nậm Pồ, năm 2014 đạt 87%, năm 2015 đạt 89%, và năm 2016 đạt 88,5% so với kế hoạch được giao.
Năm 2017, dự án đạt 86,8% kế hoạch và năm 2018 đạt 86%, góp phần quan trọng vào việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện, sớm đưa công trình vào khai thác Điều này đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của người dân tại huyện Nậm Pồ.
Bảng 2.12 Tình hình giải ngân vốn đầu tư công trên địa bàn huyện Nậm
Pồ giai đoạn 2014 – 2018 Đơn vị tính: tỷ đồng
Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 KH vốn TT KH vốn TT KH vốn TT KH vốn TT KH vốn TT
Chương trình MTQG xây dựng NTM 22,9 16,4 24,4 13,8 27,8 24,4 26,6 22,3 26,6 24
Chương trình 30a 15,1 15,1 16,2 16 17,4 10,9 16,9 15 19,7 18,5 Vốn cân đối ngân sách địa phương 20 20 20 20 30,5 27,2
TPCP thực hiện đề án kiên cố hóa trường lớp học
Hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách TW 40 40 44 37,4 40 30,9 56 44,7
Hoạt động kiểm soát tại KBNN Nậm Pồ năm 2018 không chỉ đảm bảo tỷ lệ giải ngân cao mà còn giúp quản lý hiệu quả việc sử dụng vốn đầu tư công, thanh toán đúng hợp đồng và khối lượng thực tế hoàn thành.
Kết quả kiểm soát đã kịp thời phát hiện và ngăn ngừa vi phạm trong sử dụng vốn đầu tư công, đồng thời báo cáo cấp có thẩm quyền để xử lý đúng pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành nghĩa vụ tài chính của các bên tham gia Qua công tác này, nhiều sai phạm đã được phát hiện, kiến nghị thu hồi ngân sách đối với các khoản thanh toán không đúng quy định Từ 2014-2018, hoạt động kiểm soát vốn đầu tư công đã thu hồi 7,9 tỷ đồng cho ngân sách Nhà nước và giảm trừ 4,6 tỷ đồng qua thanh toán, góp phần giảm thiểu thất thoát và lãng phí vốn đầu tư trong bối cảnh nguồn vốn hạn hẹp tại tỉnh Điện Biên và huyện Nậm Pồ.
2.5.2 Điểm mạnh trong kiểm soát vốn đầu tư công của KBNN Nậm Pồ
- Về nội dung kiểm soát
Chúng tôi phối hợp chặt chẽ với cơ quan tài chính để đôn đốc chủ đầu tư hoàn tất quyết toán dự án, đồng thời nhắc nhở các đơn vị nộp thu hồi ngân sách kịp thời nhằm đảm bảo không xảy ra thất thoát và lãng phí vốn đầu tư.
Thực hiện hiệu quả công tác kiểm tra nội bộ giúp phát hiện và xử lý kịp thời nhiều sai sót, từ đó hạn chế rủi ro trong quá trình kiểm soát.
- Về công cụ kiểm soát
KBNN Nậm Pồ chú trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là những người làm nhiệm vụ kiểm soát chi Đơn vị luôn tạo điều kiện thuận lợi cho công chức trong việc học tập nhằm nâng cao chuyên môn và nhận thức Ngoài ra, KBNN Nậm Pồ còn cử cán bộ tham gia các lớp bồi dưỡng về đạo đức công vụ, đảm bảo đội ngũ công chức đủ năng lực để thực hiện và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
KBNN Nậm Pồ nỗ lực cải cách thủ tục hành chính và công khai quy trình, áp dụng cơ chế một cửa trong kiểm soát và thanh toán vốn theo quy định của Kho bạc Nhà nước Hiện tại, đơn vị đã xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001:2008 cho các quy trình kiểm soát vốn đầu tư, đồng thời thường xuyên cập nhật và công khai thông tin về quy trình thanh toán Các quy định rõ ràng về tài liệu mà chủ đầu tư gửi, trình tự và thủ tục giải quyết công việc, quy trình luân chuyển chứng từ và thời gian giải quyết được thiết lập nhằm đảm bảo kiểm soát và thanh toán minh bạch, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư trong giao dịch.
Cơ sở vật chất và trang thiết bị làm việc cho cán bộ được trang bị đầy đủ và hiện đại, bao gồm phòng làm việc, máy tính, máy in và nhiều phần mềm ứng dụng hỗ trợ công tác kiểm soát như Tabmis và Đầu tư - LAN, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác kiểm soát.
KBNN Nậm Pồ nhận được sự hỗ trợ tích cực từ Cấp ủy và HĐND-UBND huyện Nậm Pồ, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kiểm soát Điều này góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công các nhiệm vụ chính trị tại địa phương.
KBNN Nậm Pồ luôn chủ động phối hợp với các phòng ban, đoàn thể huyện và chủ đầu tư trong khu vực, đặc biệt là trong việc thu thuế 2% XDCB cùng với Chi cục Thuế huyện Đơn vị này nắm bắt kịp thời thông tin và những khó khăn trong quá trình thực hiện dự án, từ đó đề xuất giải pháp cho các cấp có thẩm quyền nhằm hỗ trợ chủ đầu tư, thúc đẩy tiến độ thực hiện và giải ngân vốn hiệu quả.
2.5.3 Điểm yếu trong kiếm soát vốn đầu tư công của KBNN Nậm Pồ
- Về nội dung kiểm soát
+ Kiểm soát hồ sơ ban đầu