1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài tập nhóm phát triển bền vững chỉ số tổn thương môi trường EVI

49 45 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Nhóm Phát Triển Bền Vững Chỉ Số Tổn Thương Môi Trường Evi
Trường học Đại Học Kinh Tế Và Kinh Doanh
Thể loại Bài nghiên cứu
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 5,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (8)
    • 1.3. MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.4. CẤU TRÚC BÀI NGHIÊN CỨU (12)
    • 2.2. Đơn vị tính (15)
    • 2.4. Thành phần của EVI (16)
    • 2.5. Cách tính EVI (21)
  • CHƯƠNG 3 (13)
    • 3.2.1. c Âu (28)
    • 3.3.1. EVI Việt Nam theo thành phần (36)
    • 3.3.2. Nguyên nhân (39)
    • 4.1. THUẬN LỢI (42)
    • 4.2. KHÓ KHĂN (42)
    • 5.1. KẾT LUẬN (44)
    • 5.2. KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH (45)
    • 3.6. EVI theo 50 chỉ số thành phầ (0)
    • 3.8. So sánh 3 khía cạnh chính trong EVI của Việ (37)
    • 3.9. ủa Việ (0)

Nội dung

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Phạm vi nghiên cứu không Việt Nam

CẤU TRÚC BÀI NGHIÊN CỨU

Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, bài nghiên cứu được chia thành 5 chương như sau:

Chương 1 Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 1 tập trung vào

Chương 4 Thuận lợi, khó khăn và khả năng thực hiện mục tiêu về đối với Việt Nam Chương 4

Chương 2 cung cấp một hướng tiếp cận vấn đề từ cơ sở lý thuyết đến các kết quả nghiên cứu thực nghiệm liên quan đế

The South Pacific Applied Geoscience Commission (SOPAC) and the United Nations Environment Programme (UNEP) have created a vulnerability index for the natural environment, which is essential for human welfare This index is intended to complement economic and social vulnerability indices, offering valuable insights into the factors that can adversely affect sustainable development in countries.

Chỉ số dễ bị tổn thương đối với môi trường tự nhiên, được phát triển bởi Ủy ban Nam Thái Bình Dương ứng dụng khoa học địa chất (SOPAC) và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững Chỉ số này kết hợp với chỉ số dễ bị tổn thương về kinh tế và xã hội, nhằm đánh giá các quá trình có thể tác động tiêu cực đến phúc lợi con người và môi trường.

Các quốc gia rất dễ bị tổn thương bởi nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế, môi trường, xã hội và chính trị

Khi một nhà nước độc lập, nó có thể phải đối mặt với nguy cơ bị tác động tiêu cực từ các lực lượng bên ngoài, dẫn đến tổn thương trong nền chính trị, như sự đe dọa đến biên giới lãnh thổ và sự mất ổn định chính trị, hành chính Cuối cùng, xã hội cũng bị ảnh hưởng, chẳng hạn như khi thiên tai xảy ra buộc người dân phải di cư, hoặc khi các yếu tố bên ngoài làm rạn nứt cấu trúc xã hội truyền thống Tất cả các khía cạnh của một nhà nước cần được đánh giá từ góc độ dễ bị tổn thương.

Nghiên cứu này tập trung vào tính dễ bị tổn thương của môi trường, bao gồm khía cạnh vật lý và sinh học của hệ sinh thái, sự đa dạng, dân số, cộng đồng và các loài Thay vì chỉ chú trọng vào rủi ro cho con người và tài sản, chúng ta xem xét những rủi ro đối với môi trường như một thực thể độc lập, làm nền tảng cho đời sống con người Môi trường của một quốc gia có thể trở nên dễ bị tổn thương khi hệ sinh thái, các loài sinh vật và các quá trình sinh thái bị đe dọa bởi áp lực từ con người và tự nhiên, đặc biệt khi những áp lực này vượt quá khả năng chịu đựng.

Tính dễ bị tổn thương của môi trường khác của kinh tế hay xã hội bởi vì:

Môi trường được cấu thành từ các hệ thống phức tạp với nhiều mức độ tổ chức khác nhau của các loài và các đặc điểm vật lý của môi trường sống Tất cả các yếu tố này tạo nên một hệ sinh thái có sự phụ thuộc lẫn nhau, nơi có sự lưu chuyển của sinh vật, năng lượng và thông tin Sự phức tạp trong hệ sinh thái thường dẫn đến những tương tác không thể đoán trước, bao gồm cả sự đồng thuận và đối kháng giữa các biến.

- Số liệu định lượng thường không có sẵn để mô tả các hệ sinh thái, dòng chảy và các quá trình

- Không giống như các chỉ số chung của con người, các chỉ số môi trường có thể thay đổi về mặt địa lý, thậm chí trong một loài

Chỉ số kinh tế thường được biểu thị bằng đơn vị tiền tệ, cho phép so sánh trên toàn cầu Tuy nhiên, các yếu tố môi trường phản ánh nhiều quá trình khác nhau mà không thể gói gọn trong một đơn vị duy nhất.

Đơn vị tính

T , các khía cạnh của môi trường đại diện cho quá trình rất khác nhau mà không thể được thể hiện với một đơn vị duy nhất

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định điểm dễ bị tổn thương dự kiến cho các quốc gia, phù hợp với Kế hoạch hành động Barbados và nhu cầu của Liên minh các quốc đảo nhỏ (AOSIS) Điều này có nghĩa là phát triển một chỉ số tóm tắt các tổn thương môi trường do con người gây ra, kết hợp với chỉ số mô tả tính dễ bị tổn thương EVI sẽ được tính toán lại mỗi 5 năm để theo dõi sự thay đổi trong mức độ rủi ro và khả năng phục hồi, cũng như xếp hạng các quốc gia trên toàn cầu.

Trong Báo cáo Brundtland, phát triển bền vững được định nghĩa là đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai Quản lý môi trường không còn tách rời khỏi các yếu tố kinh tế, mà cần trở thành một phần thiết yếu của hệ thống kinh tế, xã hội và văn hóa của mỗi quốc gia Điều này đã được công nhận tại Hội nghị Thượng đỉnh toàn cầu về các quốc đảo nhỏ diễn ra tại Barbados vào năm 1994.

- Các chỉ số có thể thu hút sự chú ý đối với vấn đề dễ bị tổn thương từ một số quốc gia và vùng lãnh thổ

- Nó cho phép các quốc gia thực hiện quá trình tự đánh giá;

Nó cung cấp một thước đo đơn giản về mức độ dễ bị tổn thương, dựa trên các tiêu chuẩn có ý nghĩa, giúp các quốc gia và tổ chức tài trợ trong việc quyết định phân bổ hỗ trợ tài chính và kỹ thuật, cũng như xác định trạng thái đặc biệt cho những quốc gia dễ bị tổn thương nhất.

Thành phần của EVI

EVI được xây dựng dựa trên 50 chỉ số để đánh giá tính tổn thương môi trường của một đất nước trước những cú sốc của tương lai

Bài viết phân tích 50 chỉ số được chia thành ba khía cạnh chính: mối nguy hiểm, sức đề kháng và thiệt hại Khía cạnh mối nguy hiểm bao gồm 32 chỉ số, tập trung vào tần suất và cường độ của các sự kiện nguy hiểm mà một quốc gia có thể đối mặt Sức đề kháng, với 8 chỉ số, đề cập đến các đặc tính nội tại của quốc gia có khả năng ảnh hưởng đến khả năng ứng phó với thiên tai và các hành động do con người gây ra Cuối cùng, 10 chỉ số thiệt hại đo lường tổn thương do suy giảm tính toàn diện sinh thái và sự gia tăng suy thoái môi trường và hệ sinh thái.

50 chỉ số thành phần được phân thành 7 chỉ số phụ:

Bài viết này đề cập đến 50 chỉ số đa dạng, bao gồm 6 chỉ số về thời tiết và khí hậu, 4 chỉ số địa chất, 6 chỉ số địa lý, 28 chỉ số tài nguyên và dịch vụ hệ sinh thái, cùng với 6 chỉ số về quần thể con người Những chỉ số này được lựa chọn nhằm đảm bảo phản ánh đầy đủ các quá trình sinh thái và sự tương tác của con người trong các quốc gia.

Bảng 2.1.a Mô tả chỉ số và phân loại

: http://www.sopac.org/ CC=Climate Change; D=Exposure to natural disasters; HH=Human health;

AF=Agriculture & Fisheries; W=water; CCDertification; CBD=Biodiversity.

Bảng 2.1.b Mô tả chỉ số và phân loại

CC CCD CBD Đ CC CCD CBD

3 Độ lệch trung bình hàng năm trong Nhiệt độ bề mặt biển (SST) trong 5 năm qua liên quan đến các phương tiện hàng tháng 30 năm (1961-1990)

4 Số lượng các loài được giới thiệu trên 1000 cây số vuông diện tích đất

5 Số lượng các loài đang bị đe dọa và dễ bị tổn thương trên 1000 sq km diện tích đất (IUCN định nghĩa)

6 Phần trăm thay đổi ròng trong thảm thực vật tự nhiên trong vòng năm năm qua

7 Tổng chiều dài của tất cả các con đường trong một quốc gia chia cho diện tích đất

Trong năm năm qua, sản lượng hàng năm của các sản phẩm động vật thâm canh, bao gồm nuôi trồng thủy sản, lợn và gia cầm, đã đạt được mức cao trên mỗi mét vuông diện tích đất.

9 Cường độ trung bình hàng năm sử dụng phân bón trên tổng diện tích đất hơn 5 năm qua

10 Tỷ lệ trung bình của năng suất: thủy sản bắt trong vòng 5 năm qua

Biến đổi khí hậu (CC) đang gây ra những tác động nghiêm trọng đến sức khỏe con người (HH) thông qua việc gia tăng tiếp xúc với thiên tai (D) Nông nghiệp và thủy sản (AF) cũng chịu ảnh hưởng nặng nề, dẫn đến sự suy giảm nguồn thực phẩm Bên cạnh đó, nguồn nước (W) ngày càng trở nên khan hiếm do sa mạc hóa (CCD) và mất mát đa dạng sinh học (CBD), đe dọa đến sự sống còn của nhiều loài và hệ sinh thái.

c Âu

Gió mạnh không bình thường đã thổi những chất độc hại Nitr xa tới 30km, ảnh hưởng đến môi trường tại Đan Mạch, quốc gia phụ thuộc vào năng lượng gió Khi gió không đủ mạnh, Đan Mạch buộc phải nhập khẩu điện với chi phí cao, làm gia tăng khí thải từ hệ thống điện thông thường Ngoài ra, ngành nông nghiệp của Đan Mạch cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường thông qua việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái và thảm thực vật.

, thời tiết tại các nước Bắc Âu ngày càng khắc nghiệt, theo thống kê năm

Vào năm 2005, mưa lớn đã gây ra lũ lụt nghiêm trọng tại miền Nam Thụy Điển, cùng với gió lốc mạnh gây thiệt hại đáng kể về người và tài sản Mực nước biển dâng cao đạt mức kỷ lục, dẫn đến ngập lụt nhiều tuyến đường.

6/7, thang 7/7 , an ninh năng lượng, mức sống cao và môi trường lành mạnh

“Tăng cường năng lực giảm thiểu và thích ứng với địa tai biến liên quan đến môi trường và phát triển năng lượng ở Việt Nam”

Oslo, thủ đô của Na Uy, nổi bật với những nỗ lực kiên trì trong việc chống ô nhiễm môi trường, đồng thời được biết đến là một trong những thành phố đắt đỏ nhất thế giới Thành phố này cũng được xem là một trong những nơi sạch sẽ nhất ở Bắc Âu, và vào năm 2007, Reader Digest đã xếp hạng Oslo là thành phố sạch sẽ thứ hai và là nơi đáng sống nhất toàn cầu.

F 80 chạy đua trong việc làm cho môi trường sống xanh hơn, do đó lượng thải khí gây hiệu ứ

Indonesia có 40% diện tích thủ đô Jakarta nằm dưới mực nước biển, làm tăng nguy cơ ngập lụt Jakarta nằm trên vành đai lửa Thái Bình Dương, khu vực thường xuyên xảy ra động đất và núi lửa Tương tự, Manila, thủ đô của Philippines, thường xuyên bị bão nhiệt đới và ngập lụt tàn phá, trong đó siêu bão Haiyan là một trong những cơn bão gây thiệt hại nặng nề nhất trong lịch sử Khu vực này cũng chịu nhiều trận động đất do vị trí địa lý trên vành đai lửa.

Theo số liệu của SOPAC năm 2005, các quốc gia có chỉ số tổn thương môi trường (EVI) thấp nhất thế giới bao gồm French Guiana, Western Sahara, Botswana, Cộng hòa Trung Phi, Namibia, Guyana, Mông Cổ, Niger, Djibouti và Zimbabwe, với chỉ số EVI dao động từ 174,194 đến 210 Trong số đó, French Guiana ghi nhận EVI thấp nhất (174,194) Phân tích 50 chỉ số thành phần cho thấy các chỉ số liên quan đến xung đột và thiên tai như động đất, sóng thần, và núi lửa ở các quốc gia này rất thấp.

Do 50 chỉ số thành phần tạo nên chỉ số EVI thiên nhiều về các yếu tố khách quan như điều kiện tự nhiên, địa hình… Các quốc gia và vùng lãnh thổ kể trên có lợi thế về điều kiện tự nhiên, ít bị ảnh hưởng bởi thảm họa thiên tai, mức độ hòa bình cao, điều này làm giảm mức độ tổn thương môi trường Hơn nữa các nước trên có diện tích nhỏ, dân số thưa thớt nên các hệ sinh thái chưa đa dạng, ít chịu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu dân số ít, di cư diễn ra không mạnh mẽ, các ngành công nghiệp chưa phát triển nên mức độ phát thải không ảnh hưởng nặng nề như các quốc gia đang trong lộ trình công nghiệp hóa đô thị hóa khác Đây là các nguyên nhân cơ bản làm cho chỉ số EVI ở các quốc gia nêu trên thấp hơn so với nhiều nước Điều này được thể hiện rõ hơn trong hình 3.1( Chỉ số tổn thương môi trường toàn thế giới năm 2005)

EVI Việt Nam theo thành phần

Theo báo cáo của SOPAC năm 2005, chỉ số EVI của Việt Nam đạt 357, xếp thứ 191 trong tổng số 234 quốc gia, cho thấy Việt Nam là một trong những nước có mức độ tổn thương môi trường cao.

Việt Nam đánh giá tính tổn thương môi trường trên thang điểm 7, với điểm số cao cho các mối nguy hại là 3.597, sức đề kháng đạt 3 và thiệt hại cao nhất là 4.3.

3.8 So sánh 3 khía cạnh chính trong EVI của Việt Nam

Xét theo các 7 chỉ số phụ

Bảng 3.3 So sánh trong EVI của Việt Nam

Tiếp xúc với thiên tai 3.64 100 Đa dạng sinh học 3.44 95

Nguồn:http://www.sopac.org

3.9 trong EVI của Việt Nam

Xét theo 50 chỉ số thành phần

Trong 50 chỉ số thành phần, có 6 vấn đề ảnh hưởng lớn nhất đến tính tổn thương môi trường của Việt Nam là:

18 Environmental openness (độ mở cửa)

43 Sanitation (vệ sinh môi trường)

45 Density (mật độ dân số)

Các chỉ số ảnh hưởng thấp nhất đến tính tổn thương môi trường:

33 Biotech (công nghệ sinh học)

41 Spills (sự cố tràn dầu)

17 Imbalance (sự mất cân bằng)

42 Mining (khai thác khoáng sản)

47 Tourists (khách du lịch) Như

Nguyên nhân

Việt Nam, với vị trí nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều Nhiều vùng ven biển có dòng biển nóng và chịu ảnh hưởng của dải hội tụ nhiệt đới gió mùa, dẫn đến lượng mưa lớn quanh năm, làm cho chỉ số mùa mưa trở nên cao hơn.

Vấn đề suy thoái môi trường đang trở nên nghiêm trọng, đặc biệt là nạn phá rừng và khai thác quá mức tài nguyên sinh học, dẫn đến diện tích đất bị suy thoái ngày càng gia tăng.

 Tỉ lệ người dân nông thôn tiếp cận nước sạch còn chưa cao (62% năm

Tính đến năm 2005, tỷ lệ hộ gia đình ở nông thôn có hố xí hợp vệ sinh vẫn còn thấp, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện điều kiện vệ sinh Bên cạnh đó, vẫn tồn tại nhiều vấn đề nghiêm trọng về ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước mặt, cũng như sự quản lý chất thải công nghiệp và chất thải y tế.

Việt Nam là một quốc gia đông dân với mật độ dân số cao, đạt 252 người trên mỗi km² vào năm 2005 Trong năm này, chỉ có bốn quốc gia trên thế giới có mật độ dân số cao hơn Việt Nam.

13 Nguồn: Tổng cục Thống kế, http://www.gso.gov.vn/

(Ấn Độ, Nhật Bản, Băng-la-đet, Phi-lip-pin) có dân số nhiều hơn và mật độ dân số cao hơn nước ta 14

Tình trạng công nghệ lạc hậu và chất thải phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam đang diễn biến phức tạp Hàng năm, hàng trăm triệu tấn hàng hóa được nhập khẩu chính ngạch, trong đó nhiều mặt hàng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, bao gồm máy móc, thiết bị cũ, hỏng và linh kiện điện tử chứa chất nguy hại vượt ngưỡng cho phép.

Đa dạng sinh học đang bị suy thoái nghiêm trọng, với sự giảm sút và thất thoát ngày càng tăng của các loài và nguồn gen Số lượng loài có nguy cơ tuyệt chủng vẫn tiếp tục gia tăng, tạo ra mối đe dọa lớn đối với hệ sinh thái.

Sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia được đánh giá qua tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người (GDP/người) Trong 50 chỉ số của EVI, chỉ số tăng trưởng kinh tế đứng ở vị trí 46/50, cho thấy mức độ thiệt hại mà tăng trưởng kinh tế gây ra đối với EVI, từ đó dẫn đến những tác động tiêu cực đến môi trường Chúng ta đã có công thức tính EVI.

Giá trị bằng số tiêu chuẩn trong khoảng 0-1 sử dụng công thức:

Zij đại diện cho mức độ dễ bị tổn thương của các chỉ số thứ i tại quốc gia j, trong khi xij là giá trị của chỉ số i tại quốc gia j Các giá trị tối thiểu và tối đa của chỉ số i được xác định từ tất cả các quốc gia so sánh, theo nghiên cứu của Briguglio (1995), Chander (1996), Wells (1996) và Patin (1997) Đối với yếu tố tăng trưởng kinh tế, GDP/người, X i,j tương ứng với giá trị X 46,j.

14 Nguồn: Niên giám Thống kê NXB Thống kê, Hà Nội, 2005

Giữa Z 46,j và X 46,j tồn tại mối quan hệ tỉ lệ thuận, cho thấy việc gia tăng kinh tế (GDP/người) là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng chỉ số tổn thương môi trường EVI Khi EVI tăng, sức đề kháng của môi trường giảm và mức độ tổn thương gia tăng Nếu chỉ số này đạt đến một ngưỡng nhất định, môi trường sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm.

Bảng số liệu báo cáo năm 2004 cho thấy không có mối quan hệ rõ ràng giữa tăng trưởng kinh tế cao và chỉ số EVI cao, mức độ tổn thương lớn Điều này được giải thích bởi bản chất của phương pháp tính EVI, chú trọng vào các chỉ số khách quan hơn là chủ quan EVI là chỉ số tổng hợp từ 50 chỉ số nhỏ, do đó, tác động của tăng trưởng kinh tế chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng thể tác động của EVI Vì vậy, bảng số liệu không phản ánh mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa tăng trưởng kinh tế và chỉ số EVI, mặc dù thực tế và công thức cho thấy rõ mối quan hệ này.

THUẬN LỢI

Việt Nam có nhiều thuận lợi để có thể thực hiện được mục tiêu về môi trường, phát triển bền vững

Phát triển bền vững và bảo vệ môi trường ngày càng được tích hợp vào các chương trình và chính sách phát triển quốc gia, đồng thời nâng cao ý thức của người dân về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.

, mức độ giảm áp lực môi trường ở Việt Nam đã được công nhận với việc quản lý tài nguyên có hiệu quả hơn, tốc độ sinh đẻ đã giả

KHÓ KHĂN

Tuy có nhiều thuận lợi, nhưng việc thực hiện mục tiêu môi trường cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho Việt Nam

Chất lượng tài nguyên rừng hiện nay chưa được cải thiện, với 55% diện tích rừng là rừng nghèo và tái sinh, trong khi tình trạng khai thác tràn lan, cháy rừng và thiên tai tiếp tục ảnh hưởng nghiêm trọng Hơn 50% diện tích tự nhiên đang đối mặt với sự suy thoái đất, tài nguyên nước chưa được quy hoạch và bảo vệ hiệu quả Tài nguyên khoáng sản bị khai thác cạn kiệt và sử dụng không hợp lý, trong khi đa dạng sinh học cũng suy giảm mạnh Tài nguyên môi trường biển và ven biển bị xâm hại, và môi trường đô thị, nông thôn tiếp tục bị ô nhiễm từ sản xuất công nghiệp, với chỉ 45% khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn.

Biến đổi khí hậu gây ra sự suy thoái tài nguyên và hệ sinh thái, dẫn đến giảm đa dạng sinh học và gia tăng ô nhiễm môi trường Điều này làm thay đổi mối quan hệ giữa hệ sinh thái và con người, dẫn đến mất mát đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống.

Vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết trong việc đạt được mục tiêu cấp nước sạch và bảo vệ môi trường, bao gồm xử lý sự chênh lệch giữa các vùng miền, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước Đồng thời, cần phải ngăn chặn suy thoái môi trường do áp lực từ gia tăng dân số và nhu cầu cải thiện mức sống, cũng như cân bằng mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế ngắn hạn và lợi ích môi trường lâu dài.

Trong mục tiêu Chiến lược của Việt Nam đến năm 2020 cũng có đề cập: Đến năm 2020, Việt Nam sẽ gia nhập nhóm các nước công nghiệp mới.

15 Nguồn: Tài nguyên và Môi trường http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabidA4

KẾT LUẬN

2005, chúng tôi áp dụng , cùng với đó,

Đối vớ nghiên cứu thứ hai, kết quả cho thấy

KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

Để đạt được các mục tiêu và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, cần thiết phải triển khai những giải pháp có kế hoạch và chương trình hành động cụ thể như EPI, EF và BC.

Để bảo vệ môi trường hiệu quả, cần chú trọng vào những vấn đề quan trọng như vệ sinh môi trường, tăng trưởng dân số và suy thoái Đồng thời, cần liên kết quá trình công nghiệp hóa và tăng trưởng kinh tế với các biện pháp bảo vệ môi trường.

Cần tiến hành thanh tra thường xuyên và tập trung vào các hoạt động khai thác, vận chuyển và chế biến khoáng sản Ngoài ra, cần xử phạt nghiêm khắc đối với những trường hợp khai thác quá mức và các hành vi gây ô nhiễm môi trường theo quy định hiện hành.

Để khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường nông thôn cũng như làng nghề, cần tăng cường kiểm soát việc sử dụng hóa chất nông nghiệp Việc thu gom và xử lý bao bì thuốc trừ sâu, phân bón, và thức ăn chăn nuôi cần được đẩy mạnh Cần có các biện pháp cụ thể nhằm xử lý hiệu quả tình trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn, đặc biệt là do các hoạt động chăn nuôi gây ra.

Chính phủ đang chỉ đạo quyết liệt nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại các thành phố lớn và lưu vực sông Cần kiểm soát hiệu quả nguồn thải từ phương tiện giao thông và khuyến khích sử dụng phương tiện giao thông công cộng cũng như các loại phương tiện sử dụng năng lượng sạch, không gây ô nhiễm Việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường theo tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng cũng cần được kiểm soát chặt chẽ Đồng thời, nghiên cứu và xây dựng các chương trình quốc gia về đầu tư xử lý nước thải, chất thải công nghiệp và y tế là rất cần thiết.

Cần kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập khẩu phế liệu và tăng cường trao đổi thông tin để ngăn ngừa hiệu quả việc vận chuyển chất thải vào Việt Nam Đồng thời, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả trong việc kiểm soát hoạt động này.

Ngăn chặn hiệu quả sự suy thoái hệ sinh thái và sự giảm sút các loài là nhiệm vụ quan trọng Cần ban hành Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học cùng với Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học Việc rà soát, sửa đổi và bổ sung các văn bản pháp luật liên quan cần được thực hiện theo hướng quản lý thống nhất, tập trung vào bảo tồn đa dạng sinh học Đồng thời, cần triển khai quyết liệt các biện pháp kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi buôn bán và tiêu thụ trái phép các loài động, thực vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.

Tiếp tục tăng cường các biện pháp thúc đẩy kế hoạch hóa gia đình, đặc biệt là áp dụng các biện pháp kiên quyết đối với những cá nhân sinh con thứ ba, đặc biệt là đối với cán bộ, công chức và đảng viên.

Để phát triển bền vững, cần thúc đẩy sự phát triển đồng đều giữa các vùng và tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Điều này giúp hạn chế tình trạng di cư ồ ạt lên thành phố, từ đó giảm thiểu các vấn đề phức tạp phát sinh trong đô thị.

Chủ động ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu là điều cần thiết Cần tăng cường công tác thông tin và xây dựng cơ sở vật chất để đối phó hiệu quả với lũ lụt, bão và nước biển dâng Đồng thời, cần có các giải pháp cụ thể để ứng phó với nguy cơ thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn Tăng cường hợp tác quốc tế cũng là yếu tố quan trọng trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.

In 1993, Briguglio highlighted the economic vulnerabilities faced by Small Island Developing States (SIDS) during a presentation at the CARICOM Regional Technical Meeting for the Global Conference on Sustainable Development of SIDS in Port of Spain, Trinidad and Tobago.

Briguglio (1995) The Vulnerability index and small island developing states a review of conceptual and methodological issues University of Malta, Msida, MSD06, Malta

Brundtland (1987) Report of the World Commission on Environment and

Development Our common Future http://conspect.nl/pdf/Our_Common_Future-Brundtland_Report_1987.pdf Chander (1996) Measurement of the Vulnerability of Small State Report prepared for the Commonwealth Secretariat

Crowards (1998) Economic Vulnerability in the Developing World with Special

Reference to the CaribbeanCaribbean Development Bank

Ehrlich (1991) Healing the planet Addiison-Wesley Pubication Co Inc Menlo

IPCC (1991) The seven steps to the vulnerabitity assessment of the sea IPCC report, , p.34

NOAA (1997) The 1997 ENSO event and implication for North American

Laurentian Great Lakes winter severity and ice over Geophysical research Letters, vol 25 No.7(p 1031-1033)

Patin (1997) Altermative Ecological Vulnerability Indicators for Developing

Countries with Specical Reference to SIDS Report prepared for the Expert

UN Department of Economic and Social Affairs, pp.22

Pernetta (1990) Projected climate change and sea-level rise: A relative impact rating for the countries of the Pacific Basin UNEP Regional Seas Report

SOPAC (1999) Environmental Vulnerability Index (EVI) to summarise national environmental vulnerability profiles SOPAC technical Report 275

UNDP (1998) Human development report 1998 UNDP report Oxford University

Wells (1996) Composite Vulerabitity index: A revised Report Common wealth secretariat, London

Yamada (1995) Methodology for the assessment of vulnerability of south Pacific

Island countries to sea -level rise and climate change Journal of global environment engineering, p101-125

Yohe (1991) The cost of not holding back the sea - Economic vulnerability

Ocean and shoreline managemetn, vol 15, p.233-255

So sánh 3 khía cạnh chính trong EVI của Việ

Xét theo các 7 chỉ số phụ

Bảng 3.3 So sánh trong EVI của Việt Nam

Tiếp xúc với thiên tai 3.64 100 Đa dạng sinh học 3.44 95

Nguồn:http://www.sopac.org

3.9 trong EVI của Việt Nam

Xét theo 50 chỉ số thành phần

Trong 50 chỉ số thành phần, có 6 vấn đề ảnh hưởng lớn nhất đến tính tổn thương môi trường của Việt Nam là:

18 Environmental openness (độ mở cửa)

43 Sanitation (vệ sinh môi trường)

45 Density (mật độ dân số)

Các chỉ số ảnh hưởng thấp nhất đến tính tổn thương môi trường:

33 Biotech (công nghệ sinh học)

41 Spills (sự cố tràn dầu)

17 Imbalance (sự mất cân bằng)

42 Mining (khai thác khoáng sản)

47 Tourists (khách du lịch) Như

Việt Nam, nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có khí hậu nóng ẩm với lượng mưa dồi dào Một số khu vực ven biển còn chịu ảnh hưởng của dòng biển nóng và dải hội tụ nhiệt đới gió mùa, dẫn đến lượng mưa quanh năm cao, đặc biệt là trong mùa mưa.

Vấn đề suy thoái môi trường đang trở nên nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng phá rừng và khai thác quá mức tài nguyên sinh học, dẫn đến diện tích đất bị suy thoái ngày càng gia tăng.

 Tỉ lệ người dân nông thôn tiếp cận nước sạch còn chưa cao (62% năm

Tính đến năm 2005, tỷ lệ hộ gia đình nông thôn có hố xí hợp vệ sinh vẫn còn thấp, cho thấy nhu cầu cải thiện cơ sở hạ tầng vệ sinh Bên cạnh đó, các vấn đề ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước mặt, cũng như chất thải công nghiệp và chất thải y tế vẫn đang là những thách thức lớn cần được giải quyết.

Việt Nam là một quốc gia đông dân với mật độ dân số cao, đạt 252 người trên mỗi km² vào năm 2005 Trong số các quốc gia trên thế giới, chỉ có bốn nước có mật độ dân số tương tự trong cùng năm.

13 Nguồn: Tổng cục Thống kế, http://www.gso.gov.vn/

(Ấn Độ, Nhật Bản, Băng-la-đet, Phi-lip-pin) có dân số nhiều hơn và mật độ dân số cao hơn nước ta 14

Tình trạng công nghệ lạc hậu và phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam đang diễn ra phức tạp, với hàng trăm triệu tấn hàng hóa được nhập mỗi năm Nhiều mặt hàng trong số đó, như máy móc cũ và linh kiện điện tử, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do chứa chất nguy hại vượt ngưỡng cho phép.

Đa dạng sinh học đang đối mặt với sự suy thoái nghiêm trọng, với sự giảm sút và thất thoát nguồn gen, dẫn đến số lượng loài có nguy cơ tuyệt chủng ngày càng gia tăng.

Sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia được đo bằng tốc độ gia tăng thu nhập bình quân đầu người (GDP/người) Trong 50 chỉ số thành phần của EVI, chỉ số tăng trưởng kinh tế đứng ở vị trí thứ 46/50, cho thấy mức độ thiệt hại mà tăng trưởng kinh tế gây ra đối với EVI, từ đó dẫn đến những tác động tiêu cực đến môi trường Công thức tính EVI đã được xác định.

Giá trị bằng số tiêu chuẩn trong khoảng 0-1 sử dụng công thức:

Trong bài viết này, Zij đại diện cho mức độ dễ bị tổn thương của các chỉ số thứ i trong nước j, trong khi xij là số giá trị của chỉ số đó Các giá trị tối thiểu và tối đa của chỉ số thứ i trên tất cả các quốc gia được so sánh lần lượt là Min và Max Xi (Briguglio, 1995; Chander, 1996; Wells, 1996; Patin, 1997) Đối với yếu tố tăng trưởng kinh tế, GDP/người, giá trị X i,j được xác định là X 46,j.

14 Nguồn: Niên giám Thống kê NXB Thống kê, Hà Nội, 2005

Giữa Z 46,j và X 46,j tồn tại mối quan hệ tỉ lệ thuận, cho thấy việc gia tăng GDP/người là nguyên nhân trực tiếp làm tăng chỉ số tổn thương môi trường EVI Khi EVI gia tăng, sức đề kháng của môi trường giảm, dẫn đến mức độ tổn thương cao hơn Nếu chỉ số này tiếp tục tăng, môi trường sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm.

Mặc dù báo cáo năm 2004 không chỉ ra mối quan hệ rõ ràng giữa tăng trưởng kinh tế cao và chỉ số EVI, điều này có thể giải thích bởi bản chất của phương pháp tính EVI, tập trung vào các chỉ số khách quan hơn là chủ quan EVI là chỉ số tổng hợp từ 50 chỉ số nhỏ, khiến cho tác động của tăng trưởng kinh tế chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng thể EVI Do đó, không có sự tương quan tỉ lệ thuận giữa tăng trưởng kinh tế và chỉ số EVI trong bảng số liệu Tuy nhiên, theo công thức tính toán, mối quan hệ tỉ lệ thuận này vẫn có thể được nhận diện.

Việt Nam có nhiều thuận lợi để có thể thực hiện được mục tiêu về môi trường, phát triển bền vững

Phát triển bền vững và bảo vệ môi trường đang ngày càng được tích hợp vào các chương trình và chính sách quốc gia, đồng thời ý thức của cộng đồng về việc bảo vệ môi trường cũng ngày càng được nâng cao.

, mức độ giảm áp lực môi trường ở Việt Nam đã được công nhận với việc quản lý tài nguyên có hiệu quả hơn, tốc độ sinh đẻ đã giả

Tuy có nhiều thuận lợi, nhưng việc thực hiện mục tiêu môi trường cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho Việt Nam

Chất lượng tài nguyên rừng hiện tại chưa được cải thiện, với 55% diện tích rừng là rừng nghèo và rừng tái sinh, trong khi tình trạng khai thác bừa bãi, cháy rừng và thiên tai vẫn tiếp diễn Hơn 50% diện tích đất tự nhiên đang bị suy thoái, tài nguyên nước chưa được quy hoạch hiệu quả và môi trường nước chưa được bảo vệ tốt Tài nguyên khoáng sản đang bị khai thác cạn kiệt và sử dụng không hợp lý, trong khi đa dạng sinh học cũng bị suy giảm nghiêm trọng Tài nguyên môi trường biển và ven biển bị xâm hại, và môi trường đô thị cũng như nông thôn tiếp tục bị ô nhiễm từ hoạt động sản xuất công nghiệp, với chỉ 45% khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn.

Biến đổi khí hậu gây ra sự thay đổi và suy thoái tài nguyên, hệ sinh thái, làm giảm đa dạng sinh học và gia tăng ô nhiễm môi trường Điều này ảnh hưởng đến quá trình tương tác giữa hệ sinh thái và con người, dẫn đến mất mát đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống.

Việc giải quyết các vấn đề như cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường, giảm chênh lệch giữa vùng cao và đồng bằng cũng như giữa đô thị và nông thôn là vô cùng cần thiết Cần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước để đối phó với sự suy thoái môi trường do áp lực từ gia tăng dân số và nhu cầu cải thiện mức sống Đồng thời, cần cân nhắc mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế trước mắt và lợi ích môi trường lâu dài.

Trong mục tiêu Chiến lược của Việt Nam đến năm 2020 cũng có đề cập: Đến năm 2020, Việt Nam sẽ gia nhập nhóm các nước công nghiệp mới.

15 Nguồn: Tài nguyên và Môi trường http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabidA4

2005, chúng tôi áp dụng , cùng với đó,

Đối vớ nghiên cứu thứ hai, kết quả cho thấy

Để đạt được các mục tiêu và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, cần chủ động triển khai các giải pháp có kế hoạch và các chương trình hành động cụ thể như EPI, EF và BC.

Ngày đăng: 07/06/2021, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w