Đặc biệt trong xu thế bất ổn của nền kinh tế thế giới, việc gây quỹ càng khó khăn hơn đòi hỏi tổ chức phải duy trì thực hiện KSNB hữu hiệu để có thể thực hành tốt trách nhiệm giải trình
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Lê Phạm Ý Duyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Đóng góp của đề tài 4
5 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
6 Kết cấu của đề tài 7
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÁC TỔ CHỨC PHI LỢI NHUẬN 8
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 8
1.1.1 Bản chất và vai trò của kiểm soát nội bộ 8
1.1.2 Một số khuôn khổ kiểm soát nội bộ và nội dung: 10
1.2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TỔ CHỨC PHI LỢI NHUẬN (NPO) ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM SOÁT NỘI BỘ 19
1.2.1 Sự cần thiết của kiểm soát nội bộ trong các tổ chức phi chính phủ phi lợi nhuận 19
1.2.2 Đặc điểm của tổ chức phi lợi nhuận ảnh hưởng đến kiểm soát nội bộ 22 Kết luận Chương 1 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TỔ CHỨC TẦM NHÌN THẾ GIỚI VIỆT NAM 26
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TẦM NHÌN THẾ GIỚI VIỆT NAM 26
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 26
2.1.2 Lĩnh vực hoạt động của chương trình vùng 29
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của tầm nhìn thế giới Việt Nam 33
2.2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TẦM NHÌN THẾ GIỚI 35 2.2.1 Môi trường kiểm soát 35
Trang 52.2.2 Hệ thống kế toán của tổ chức tầm nhìn thế giới 43
2.2.3 Quy trình, thủ tục kiểm soát 54
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TỔ CHỨC TẦM NHÌN THẾ GIỚI VIỆT NAM 65
2.3.1 Ưu điểm 65
2.3.2 Hạn chế 67
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ TỔ CHỨC TNTGVN 70
3.1 HOÀN THIỆN VỀ MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT 70
3.2 HOÀN THIỆN VỀ HỆ THỐNG KẾ TOÁN 78
3.3 HOÀN THIỆN QUY TRÌNH, THỦ TỤC KIỂM SOÁT 81
KẾT LUẬN 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 6KSNB Kiểm soát nội bộ
RRTT Giảm nhẹ Rủi ro thiên tai
VPQG Văn phòng quốc gia
* Thành viên của Ban quản lý cấp cao
Trang 72.10 Báo cáo dự trữ tiền mặt FY 2017 (Từ 1/10/2016 đến
3.4 Báo cáo kiểm tra hỗ trợ thực phẩm cho trẻ suy dinh
3.5 Báo cáo lưu chuyển tiền/sử dụng tiền tháng 7/2017 tại AP 80
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số ệu
2.1 Tiến trình lập và phê duyệt POA của AP năm
2.3 Quy trình nhập dữ liệu kế hoạch POA vào
2.4 Quy trình nhập dữ liệu thực tế vào phần mềm
2.6 Quy trình trên hệ thống Accounts Payable
2.7 Kiểm tra mã code của Yêu cẩu mua hàng của
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Số ệu
2.1 Cơ cấu bộ máy tổ chức của TNTGVN 31
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tín ấp t ết ủ đề tà
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các tổ chức phi chính phủ phi lợi nhuận ngày càng nổi lên như một lực lượng quan trọng trong lĩnh vực cứu trợ nhân đạo và phát triển Các tổ chức phi chính phủ đã góp một phần vào việc cải thiện cuộc sống của những người nghèo, những người bị thiệt thòi trong
xã hội, giúp họ tự phát triển một cách bền vững (Ahmed, 2004)
Vai trò của các tổ chức phi chính phủ (NGO) đang được nâng cao trong cộng đồng các nước tài trợ và trên trường quốc tế, được coi là một trong những tác nhân thúc đẩy sự phát triển bền vững, khắc phục nghèo khổ và tham gia xây dựng chính sách của các chính phủ, bảo đảm quyền con người (Lê Thị Thúy Hương, 2013)
Tổ chức phi chính phủ quốc tế ở Việt Nam triển khai hoạt động tại 63 tỉnh, thành trên cả nước, đặc biệt tập trung vào những vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa và ngày càng tập trung hơn vào các lĩnh vực phù hợp với các ưu tiên
và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Số lượng các tổ chức phi chính phủ có quan hệ với Việt Nam tăng từ 500 tổ chức (2003) lên 990 tổ chức (2013) với hơn 28,000 dự án được triển khai trên tổng giá trị giải ngân đạt gần 2,4 tỷ USD Tính đến tháng 4/2017 đã có gần 1,000 tổ chức NGO hoạt động ở Việt Nam với giá trị viện trợ lên tới gần 4,3 tỷ USD với 30,000
dự án (Ban điều phối viện trợ nhân dân PACCOM, 2017)
Tầm Nhìn Thế Giới Việt Nam (TNTGVN) là một trong những tổ chức phi chính phủ lớn nhất trong nước xét trên khía cạnh quy mô dự án và tính đa dạng của hoạt động TNTGVN gây quỹ từ các nhà tài trợ cá nhân cùng các tổ chức, doanh nghiệp, trường học, hội thánh, chính phủ thông qua các văn phòng TNTG tại 14 quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Tây
Âu và Mỹ Nhà tài trợ cá nhân chiếm đa số mà họ là những người rất quan
Trang 11tâm tới các khoản chi phí có phù hợp với nguồn tiền tài trợ hay không Trong những năm gần đây, tất cả các tổ chức phi chính phủ được đặt dưới sự giám sát liên tục về trách nhiệm giải trình và hiệu quả hoạt động Lewis (2001) cho rằng đây là có thể là chìa khóa cho sự sống còn của các NGO Alonzo (2007) thậm chí còn khẳng định rằng các vụ gian lận và tham nhũng liên quan đến các tổ chức như Enron, World Com, Tyco, United Way và American Red Cross như là một cách để chứng minh trách nhiệm của NGO là phải thực hiện kiểm soát nội bộ (KSNB) hữu hiệu
Là một tổ chức với bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực cứu trợ nhân đạo và phát triển cộng đồng, lãnh đạo của tổ chức TNTG nhìn thấy điều này.Với giá trị cốt lõi là “Chúng tôi quý trọng con người” và “Chúng tôi có trách nhiệm với nguồn lực được giao phó”, tổ chức luôn coi trọng giá trị con người hơn của cải vật chất và xây dựng con người với tính trung thực, nghiêm túc trong việc thực hiện công tác KSNB mà tổ chức đã thiết lập Các nhân viên của tổ chức được yêu cầu tránh những khoản chi tiêu có thể làm cho các nhà tài trợ nghi ngờ về việc quản lý các khoản tài trợ của họ Đặc biệt trong xu thế bất ổn của nền kinh tế thế giới, việc gây quỹ càng khó khăn hơn đòi hỏi tổ chức phải duy trì thực hiện KSNB hữu hiệu để có thể thực hành tốt trách nhiệm giải trình về tài chính, quản lý dự án phải có khả năng chứng minh được rằng các khoản tài trợ nhận về được sử dụng cho các mục đích đã được đồng ý và các khoản tài trợ được sử dụng phù hợp với ngân sách của dự
án một cách thận trọng, an toàn và tiết kiệm Để đạt được điều này, công tác KSNB cần được thiết lập và duy trì hữu hiệu Hiện nay TNTGVN với sự thay đổi rất lớn trong việc tái cấu trúc tổ chức và chiến lược hoạt động, đòi hỏi KSNB cũng phải đáp ứng yêu cầu ngày một đổi mới của tổ chức
Dựa trên những lý do trên tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ tại tổ chức TNTGVN” làm đề tài nghiên cứu ở cấp độ thạc sĩ Đây
Trang 12là một đề tài khá mới mẻ ở Việt Nam
2 Đố tƣợng và p ạm v ng ên ứu
Đối tượng nghiên cứu: thực tiễn về công tác KSNB với trường hợp
nghiên cứu điển hình minh họa tại tổ chức TNTGVN
Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: 37 Chương trình vùng (AP) thuộc tổ chức TNTGVN
Thời gian: dữ liệu thu thập năm tài chính FY2016 đến tháng 6
FY2018 (1/10/2015 đến 30/6/2018)
Nội dung: công tác KSNB được nghiên cứu qua 3 thành phần gồm:
Môi trường kiểm soát; Hệ thống kế toán, Quy trình và thủ tục kiểm soát
3 P ƣơng p áp ng ên ứu
T u t ập ữ l ệu:
+ Dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu này được thu thập từ các đề tài nghiên cứu,
bài báo, tài liệu giáo trình có liên quan đến KSNB, các báo cáo hoạt động, báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, các quy định chính sách, hướng dẫn liên quan đến công tác KSNB của tổ chức TNTGVN
+ Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu được thu thập qua điều tra, trao đổi với lãnh
đạo và nhân viên AP cùng các đối tác chính phủ mà tổ chức TNTGVN làm việc với Các dữ liệu này, ngoài những thông tin chung của tổ chức TNTGVN, thì tôi tập trung vào các nội dung liên quan đến 3 thành phần của KSNB theo khuôn khổ kiểm soát nội bộ Statement on Auditing Standards
No 55 (SAS 55): Môi trường kiểm soát; hệ thống kế toán, quy trình thủ tục kiểm soát Ngoài ra, tôi cũng tiến hành quan sát các hoạt động của tổ chức TNTGVN để có cái nhìn sát thực về công tác KSNB tại các AP của tổ chức TNTGVN
Xử lý ữ l ệu
Tổng hợp, so sánh, phân tích, đánh giá, làm rõ thực trạng công tác
Trang 13KSNB dựa trên dữ liệu thu thập tại tổ chức TNTG để qua đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác KSNB
5 Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu
Trên thế giới, giai đoạn từ năm 1980 đến 1988, các cơ quan của Hoa
Kỳ ban hành một loạt hướng dẫn có liên quan đến KSNB Năm 1985, COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) được thành lập để hỗ trợ Ủy ban Quốc gia chống gian lận trong báo cáo tài chính Mỹ đã ban hành nhiều quy tắc đạo đức và làm rõ chức năng của KSNB Đến năm 1988, viện kế toán viên CPA của Mỹ (The American Institute of Certified Public Accountants (AICPA)) đã đưa ra một khuôn khổ KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính SAS No 55 Theo đó, cấu trúc KSNB của một tổ chức bao gồm ba thành phần như sau: Một trường kiểm soát, hệ thống
kế toán và các thủ tục kiểm soát Năm 1992, COSO ban hành khuôn khổ KSNB, thường được gọi là khuôn khổ COSO Khuôn khổ COSO đề xuất KSNB gồm 5 thành phần: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và trao đổi thông tin, Hoạt động giám sát
Năm 2002, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật OXLEY trong một nỗ lực để cải thiện trách nhiệm giải trình và giám sát của các công ty đại chúng Hầu hết các quy định của Đạo luật Sarbanes-Oxley không áp dụng cho các tổ chức phi lợi nhuận Tuy nhiên, Sarbanes-Oxley ảnh
Trang 14SARBANES-hưởng đến thái độ về quản trị tổ chức trong cộng đồng phi lợi nhuận (Ostrower, 2007; Iyer và Watkins, 2008) Các kiểm toán viên của các tổ chức phi lợi nhuận Mỹ đã thông qua chuẩn mực SAS No 112 Communicating Internal Control Matters Identified in an Audit năm 2017 và kế tiếp là SAS
No 115 với cùng tiêu đề vào năm 2009 Các chuẩn mực này xác định các loại thiếu sót của KSNB, cung cấp các hướng dẫn chi tiết về đánh giá các thiếu sót KSNB và yêu cầu kiểm toán viên giao tiếp bằng văn bản cho quản lý và những người chịu trách nhiệm quản trị bất kỳ thiếu sót nào được phát hiện trong một cuộc kiểm toán Năm 2008, the Internal Revenue Service, Sở Thuế
Vụ Mỹ, một cơ quan Quản lý liên bang, cung cấp các hướng dẫn về công bố thông tin KSNB, quản trị tổ chức và gian lận trong lĩnh vực phi lợi nhuận
Từ nền tảng lý luận cơ bản, đã có nhiều công trình nghiên cứu về KSNB ở các tổ chức phi lợi nhuận Nhiều đề tài tiêu biểu có thể kể đến là của nhà nghiên cứu Mỹ Christine Petrovits của trường đại học NewYork University Stern School Business và nhà nghiên cứu Fabian A Baapogmah của Walden University với các công trình:
Christian Petrovits (2010, 2012, 2015, 2018): Các nghiên cứu của tác giả xem xét nguyên nhân và hậu quả của việc thiếu hụt KSNB; xem xét vai trò của quản trị tổ chức với quyết định tài trợ của các nhà tài trợ; mối liên kết giữa quản trị tổ chức với việc sử dụng sai mục đích tài sản trong lĩnh vực phi lợi nhuận; kiểm tra xem liệu công bố thông tin về gian lận có liên quan đến quyết định tài trợ của nhà tài trợ hay không Các nghiên cứu kết luận rằng việc công bố bất kỳ điểm yếu nào của KSNB và tiết lộ sự gian lận có liên quan đến sự sụt giảm đáng kể nguồn tài trợ Ngoài ra, quản trị tổ chức tốt sẽ giúp các tổ chức thu hút các nhà tài trợ và sẽ giảm việc sử dụng sai mục đích tài sản tài trợ cũng như bảo vệ tài sản tài trợ Nghiên cứu 2018 đưa ra bằng chứng nhà tài trợ sẽ ít phản ứng tiêu cực hơn đối với trường hợp gian lận ở
Trang 15các tổ chức có quản trị tổ chức mạnh và đối với tổ chức chức công bố thông tin thích hợp cho nội dung gian lận, gồm cả số tiền gian lận, khả năng của tổ
chức để phục hồi tổn thất và danh tính của thủ phạm Cá ng ên ứu ủ
tá g ả ư ỉ r đượ àn động ần t ự ện để ả t ện KSNB
oặ àn động nào ần p ả g ả quyết đố vớ á g n lận y sử ụng
s mụ đí ủ tà sản để duy trì và p ụ ồ sự t n tưởng ủ n à tà trợ
Fabian A Baapogmah (2015) đã nghiên cứu các chủ đề về trách nhiệm giải trình, cơ chế kiểm soát và đạo đức Tác giả chỉ ra thách thức lớn nhất ảnh hưởng đến cơ chế kiểm soát là kiểm soát chi tiêu và minh bạch chi tiêu Kết quả cho thấy trong khi hầu hết các quản lý có nhận thức cao về cơ chế kiểm soát và trách nhiệm giải trình nhưng đối với các tổ chức phi lợi nhuận nhỏ thì đó vẫn là một cuộc chiến cam go vì thiếu nguồn lực Nghiên cứu chưa chỉ ra được điểm yếu nào ngoài thiếu hụt nhân viên hoặc chưa xem xét cách thực hành nào đang áp dụng tại các tổ chức để xác định cách thức làm mạnh KSNB hoặc giải pháp đào tạo phù hợp cho các tổ chức phi lợi nhằm giúp các lãnh đạo có chiến lược hiệu quả để duy trì sự bền vững hoạt
động của tổ chức
Ngoài ra, cũng có một số nghiên cứu khác về KSNB của các tổ chức phi lợi nhuận ở quốc gia nhận tài trợ như của Hassan Sheba Abdulkadir (2014); Robert Oguti Etengu & Margaret Amony (2016); Zahir Uddin Ahmed (2004) vv Các công trình nghiên cứu này đã xem xét việc thực hiện KSNB liên quan đến trách nhiệm giải trình, cơ chế kiểm soát và thực thi giá trị đạo
đức Các nghiên cứu chưa chỉ ra cách thức để làm mạnh KSNB liên quan đến
các yếu tố thiếu hụt đã nêu cũng như cách để giải quyết thách thức của việc áp dụng KSNB giống đơn vị kinh doanh vào các tổ chức phi lợi nhuận
Tại Việt Nam, Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam, một tổ chức
Trang 16chính trị- xã hội chuyên trách đối ngoại nhân dân trong lĩnh vực hòa bình, đoàn kết, hữu nghị và hợp tác nhân dân, có vai trò làm đầu mối phối hợp trong một số hoạt động đối ngoại nhân dân và công tác phi chính phủ nước ngoài đã có khá nhiều báo cáo về hoạt động của NGO ở Việt Nam Ngoài ra, cũng có một số báo cáo, tiểu luận và luận văn nghiên cứu các vấn đề tăng cường hợp tác và quản lý nhà nước đối với các NGO Các nghiên cứu này đã cung cấp một lượng tri thức lớn và đánh giá vai trò, vị trí, hoạt động của NGO tại Việt Nam, trong đó tiêu biểu là:
Luận văn: “Tổ chức phi chính phủ nước ngoài và vấn đề đảm bảo quyền con người ở Việt Nam”, Lê Thị Thúy Hương (2013) Luận văn đưa ra các yếu tố thúc đẩy và các yếu tố cản trở thực hiện vai trò góp phần bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, cũng như các đề xuất đến tạo điều kiện cho NGO tham gia tích cực, hiệu quả trong công tác này ở Việt Nam
Các tài liệu nghiên cứu được nêu trên là rất quan trọng cho các nghiên cứu sau này về NGO và KSNB Song, theo hiểu biết của tôi thì chưa có nghiên cứu nào về công tác KSNB tại một NGO cụ thể nhằm khắc phục và hoàn thiện những hạn chế của KSNB trong đơn vị đó Do vậy, việc nghiên cứu về công tác KSNB tại TNTGVN là nghiên cứu đầu tiên, mới mẻ được cho là cần thiết cả về lý luận và thực tiễn
6 Kết ấu ủ đề tà
Nghiên cứu này được thực hiện theo cấu trúc gồm 4 chương:
Chương mở đầu: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 1: Lý luận chung về KSNB tại các tổ chức phi lợi nhuận
Chương 2: Thực trạng công tác KSNB tại tổ chức TNTGVN
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác KSNB tại tổ chức
TNTGVN
Trang 17CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÁC TỔ
CHỨC PHI LỢI NHUẬN
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1.1 Bản ất và v trò ủ ểm soát nộ bộ
Có nhiều định nghĩa về KSNB, vì nó chịu ảnh hưởng bởi giới hữu quan của một tổ chức theo nhiều cách khác nhau Theo COSO (2013), KSNB được định nghĩa như sau: “KSNB là một tiến trình được thiết lập và vận hành bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các nhân sự khác, được thiết kế để đem lại một sự đảm bảo hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo, và sự tuân thủ với các luật và quy định liên quan”
Đường Nguyễn Hưng (2016), KSNB là rất cần thiết trong bất cứ thực thể kinh tế nào, trong đó bao gồm cả tổ chức phi lợi nhuận KSNB có những nội dung chính sau:
Một là, tính hướng đến mục tiêu của KSNB Các mục tiêu của tổ chức
có thể khái quát thành 3 loại mục tiêu: các mục tiêu hoạt động, các mục tiêu báo cáo, và các mục tiêu tuân thủ Các mục tiêu hoạt động liên quan đến tính hiệu quả và hiệu suất của các hoạt động của tổ chức, bao gồm các mục tiêu hoạt động, mục tiêu tài chính và bảo vệ tài sản Các mục tiêu báo cáo bao gồm tính tin cậy, tính kịp thời, tính minh bạch hoặc các yêu cầu khác được quản lý bởi các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan ban hành chuẩn mực,
và các chính sách của tổ chức
Hai là, KSNB là một tiến trình, KSNB không phải là một tình huống
hay một sự kiện mà một tiến trình lặp đi lặp lại Nó là cả một chuỗi các hành động được hòa quyện trong các hoạt động của tổ chức Trong tiến trình đó, các biện pháp kiểm soát được thiết lập dựa trên các chính sách và thủ tục để làm cho KSNB trở nên có hiệu lực Kiểm soát luôn tồn tại và được thực hiện
Trang 18ở tất cả các giai đoạn của quá trình hoạt động, quá trình quản lý Kiểm soát được thực hiện trước, trong và sau mỗi hoạt động, định hướng hoặc tổ chức
để thực hiện hoặc điều chỉnh mỗi hoạt động đó
Ba là, KSNB bị chi phối bởi con người trong tổ chức Những người có
khả năng chi phối KSNB đó là Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên Các mục tiêu cùng với những cơ chế kiểm soát đều do chính con người đặt
ra Bên cạnh đó thì KSNB có thể tác động lại vào hành vi của con người Khi bắt tay vào công việc mỗi cá nhân có khả năng, cách thức, lối suy nghĩ và hành động khác nhau, KSNB sẽ tạo ra ý thức kiểm soát ở mỗi cá nhân, từ đó hướng các hoạt động của mọi người đến mục tiêu chung của đơn vị
Bốn là, KSNB đảm bảo hợp lý KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo
hợp lý cho các nhà quản lý để hướng đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức Điều này do hai vấn đề cơ bản: (i) sự giới hạn của tính hữu hiệu của KSNB (ii) sự không chắc chắn và rủi ro luôn luôn tồn tại
Năm là, tính thích ứng của KSNB: Các tổ chức có thể được cấu trúc
theo nhiều kiểu khác nhau, KSNB đều có đều có thể được thiết lập đầy đủ và phù hợp với đặc điểm cấu trúc của tổ chức
Như vậy, trên các phương diện tiếp cận thì KSNB được diễn đạt khác nhau, song bản chất của KSNB là những quy định tài chính và quy định phi tài chính do các nhà quản lý lập ra để điều hành và quản lý toàn bộ hoạt động của toàn doanh nghiệp theo một cách có trình tự và hiệu quả, đảm bảo tuân
thủ pháp luật
Mụ t êu ủ ểm soát nộ bộ
Với bản chất trên, KSNB được thiết kế và vận hành theo các mục tiêu đảm bảo hợp lý việc đạt được sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động, báo cáo tài chính đáng tin cậy, phù hợp với luật pháp và các quy định Với tổ chức phi lợi nhuận, rủi ro kiểm toán của KSNB là tổ chức sẽ không hoàn thành sứ
Trang 19mạng với các hoạt động và trách nhiệm ủy thác Đối với mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính: Thông tin báo cáo tài chính do bộ máy kế toán xử
lý và tổng hợp là căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của ban quản lý cũng như quyết định của nhà tài trợ
Cá yêu ầu ủ ín p ủ về ểm soát nộ bộ trong á tổ ứ p
lợ n uận:
Tại Mỹ, từ năm 1990 các tổ chức phi lợi nhuận nhận tài trợ liên bang
đã phải chịu sự kiểm toán về KSNB từ chính phủ (Office of Management and Budget, Circular A-133, 1990) Đồng thời, Sở thuế vụ Mỹ cũng tiến hành các cuộc kiểm toán định kỳ trực tiếp Ngoài ra, họ cũng yêu cầu các tổ chức phi lợi nhuận cung cấp tài liệu thông qua email để kiểm toán Đôi khi, Sở thuế cũng yêu cầu các tổ chức hoàn thành bảng câu hỏi để giúp họ hiểu rõ hơn về cách tổ chức đáp ứng các yêu cầu luật thuế liên bang Sở Thuế Vụ cũng yêu cầu các tổ chức phi lợi nhuận phải công bố thông tin KSNB, quản trị tổ chức
và gian lận
Tại Việt Nam, năm 1994 kiểm toán Nhà nước được thành lập bởi Quốc hội Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công nhằm giúp tài chính nhà nước minh bạch, hạn chế tham nhũng
1.1.2 Một số uôn ổ ểm soát nộ bộ và nộ ung:
Theo khuôn khổ kiểm soát nội bộ của COSO (2013), một khuôn khổ được sử dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ, kiểm soát nội bộ gồm 5 thành phần sau và nội dung (Đường Nguyễn Hưng, 2016):
Môi trường kiểm soát: bao gồm các yếu tố tạo lập môi trường kiểm soát của cả hệ thống kiểm soát nội bộ Nó là tập hợp các các chuẩn mực, các quy trình, và các cấu trúc thiết lập cơ sở cho sự vận hành của KSNB trong tổ chức Liên quan đến môi trường kiểm soát, có 5 nguyên tắc sau:
Trang 20+ Tổ chức thể hiện cam kết đối với tính chính trực và giá trị đạo đức: Để hình thành một môi trường kiểm soát vững mạnh, tổ chưc cần thực hiện cam kết với tính chính trực và giá trị đạo đức Cam kết với tính chính trực và giá trị đạo đức sẽ làm giảm rủi ro mà KSNB phải đối phó và thúc đẩy sự chịu trách nhiệm Nội dung cơ bản của cam kết với tính chính trực và giá trị đạo đức là thiết lập thông điệp kỳ vọng từ quản lý cấp cao và thiết lập các chuẩn mực hành vi
+ Hội đồng quản trị thể hiện cam kết độc lập với ban quản lý, thực hiện chức năng giám sát đối với sự phát triển và vận hành của KSNB Với tư cách
là người đại diện cho chủ sở hữu, thay mặt cho chủ sỡ hữu quản lý và điều hành tổ chức, hội đồng quản trị phải chịu trách nhiệm về mọi mặt của tổ chức, trong đó có việc thiết lập và vận hành KSNB Do đó, hội đồng quản trị phải thực hiện chức năng giám sát của mình đối với ban quản lý trong việc thiết lập và vận hành KSNB để đảm bảo KSNB được thiết lập đầy đủ và vận hành hữu hiệu Quá trình thực hiện chức năng giám sát đối với ban quản lý đòi hỏi hội đồng quản trị phải có sự độc lập thực sự và đầy đủ năng lực
+ Dưới sự giám sát của hội đồng quản trị, ban quản lý thiết lập cơ cấu
tổ chức, các tuyến báo cáo, quyền hạn và trách nhiệm phù hợp hướng đến việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức Cơ cấu tổ chức tạo ra một khuôn khổ cho việc kiểm soát, giám sát các nguồn lực và các hoạt động của tổ chức Mỗi
bộ phận trong cơ cấu tổ chức có những chức năng, nhiệm vụ nhất định và trên cơ sở đó tiến hành những hoạt động cụ thể thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời phải sử dụng nguồn lực thích hợp để thực hiện hoạt động Mỗi bộ phận trong tổ chức phải chịu trách nhiệm về kết quả tiến hành các hoạt động và bảo vệ nguồn lực của mình Nhờ đó thông qua các bộ phận trong trong cơ cấu tổ chức có thể thực hiện việc kiểm soát, giám soát hoạt động và nguồn lực của tổ chức Cơ cấu tổ chức cũng cần thiết lập các tuyến
Trang 21báo cáo tương xứng, xác định ai, bộ phận nào, những thông tin gì, hình thức như thế nào và vào thời gian nào
+ Tổ chức thể hiện sự cam kết với việc thu hút, phát triển và lưu giữ nhân sự có năng lực Bảo đảm năng lực là điều kiện cần thiết cho mỗi thành viên của tổ chức hoàn thành các nhiệm vụ được giao, bao gồm cả việc thực hiện tốt trách nhiệm KSNB Do vậy, việc đảm bảo năng lực trong tổ chức có
ý nghĩa quan trọng đối với việc vận hành KSNB hữu hiệu Để thực hiện cam kết đối với năng lực, tổ chức cần thực hiện tốt việc thiết lập, thực thi chính sách nhân sự và chức năng nhân sự
+ Tổ chức quy trách nhiệm cho các cá nhân về thực hiện các trách nhiệm KSNB Sự chịu trách nhiệm đối với KSNB được tăng cường qua việc hội đồng quản trị và ban quản lý thiết lập thông điệp kỳ vọng phù hợp, cam kết tính chính trực và giá trị đạo đức để thúc đẩy sự chịu trách nhiệm Cùng với đó, hội đồng quản trị và ban quản lý giao chỉ tiêu hoạt động và thiết lập các chỉ tiêu đo lường thành tích đối với việc thực hiện ở tất cả các cấp Các chỉ tiêu đo lường thành tích cần chú trọng không chỉ việc hoàn thành các chỉ tiêu hoạt động mà còn là việc thực hiện đầy đủ các trách nhiệm KSNB
Đánh giá rủi ro: bao gồm việc nhận diện rủi ro và đánh giá các rủi ro Đây là một tiến trình linh hoạt, lặp đi lặp lại nhận diện và phân tích các rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu của tổ chức Ban quản lý xem xét các thay đổi trong môi trường bên ngoài và bên trong tổ chức mà có thể ảnh hưởng đến khả năng đạt được mục tiêu của tổ chức Để thiết lập đầy đủ thành phần đánh giá rủi ro, tổ chức cần thực hiện 4 nguyên tác sau:
+ Tổ chức xác định các mục tiêu một cách rõ ràng để đảm bảo thực hiện nhận diện và đánh giá rủi ro đối với việc thực hiện các mục tiêu Việc xác định mục tiêu theo ba nhóm hoạt động, báo cáo và tuân thủ ở các cấp trong tổ chức là một phần của hoạt động đánh giá rủi ro Các mục tiêu hoạt
Trang 22động của tổ chức bắt nguồn từ sứ mệnh và tầm nhìn-lý do nền tảng cho sự tồn tại của tổ chức Các mục tiêu hoạt động có thể bao gồm các mục tiêu tài chính và mục tiêu bảo vệ tài sản Mục tiêu báo cáo liên quan đến việc lập các báo cáo cho mục đích sử dụng nội bộ của tổ chức hoặc cung cấp cho các bên liên quan của tổ chức Mục tiêu báo cáo phải thể hiện việc lập báo cáo có sự tin cậy, sự phù hợp, sự đầy đủ, sự kịp thời, sự nhất quán, sự dễ hiểu và đúng quy định bởi các bên liên quan Cuối cùng, tổ chức phải tiến hành các hoạt động của mình trong khuôn khổ tuân thủ luật pháp và các quy định của nhà nước
+ Tổ chức nhận diện các rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu và phân tích rủi ro để làm cơ sở cho việc đối phó với rủi ro Tiến trình nhận diện
và đánh giá rủi ro là một tiến trình lặp đi lặp lại Tổ chức cần nhận diện rủi ro
và đánh giá rủi ro khi có những thay đổi lớn về yếu tố bên trong và bên ngoài
tổ chức Quá trình nhận diện rủi ro được tiến hành trong tất cả các cấp của cơ cấu tổ chức của tổ chức, bao gồm cấp độ tổng thể của tổ chức và các bộ phận của tổ chức, đồng thời nhận diện rủi ro cho tất cả nguồn lực và hoạt động trong mỗi bộ phận
+ Tổ chức xem xét khả năng gian lận trong quá trình đánh giá rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu Gian lận là rủi ro nghiêm trọng nhất mà tổ chức phải báo cáo Gian lận là một hành động cố ý được thực hiện bởi một hoặc nhiều cá nhân thuộc ban quản lý, những người có chức năng quản trị tổ chức, nhân viên hoặc bên thứ ba sử dụng sự lừa dối để đạt được lợi ích bất hợp pháp hoặc không công bằng Có ba loại gian lận: tham nhũng, tham ô tài sản, và gian lận báo cáo tài chính
+ Tổ chức nhận diện và đánh giá các thay đổi từ môi trường bên ngoài
và bên trong tổ chức mà có thể ảnh hưởng đáng kể đến các rủi ro đối với việc thực hiện các mục tiêu Các thay đổi có tác động lớn đến rủi ro đồng thời có
Trang 23thể làm KSNB trở nên lỗi thời Do vậy, ban quan lý cần nhận diện và đánh giá rủi ro để kịp thời cập nhật danh mục rủi ro và đề ra các biện pháp đối phó rủi ro phù hợp.
Hoạt động kiểm soát: bao gồm các hoạt động kiểm soát cụ thể đối phó với rủi ro Là các hành động được thiết lập bởi chính sách và các thủ tục
để đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý về việc đối phó với các rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu Hoạt động kiểm soát được thực hiện ở các cấp của tổ chức, tất cả các giai đoạn của các hoạt động của tổ chức và cả môi trường công nghệ thông tin của tổ chức Hoạt động kiểm soát đòi hỏi tổ chức thực hiện 3 nguyên tắc sau:
+ Tổ chức lựa chọn và phát triển hoạt động kiểm soát đối phó với các rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu ở các rủi ro có thể chấp nhận Quá trình thiết lập hoạt động kiểm soát phải đảm bảo gắn kết với tiến trình nhận diện và đánh giá rủi ro, sự phù hợp với các đặc thù của tổ chức, sự phù hợp với bối cảnh KSNB hiện tại và nguồn lực của tổ chức
+ Tổ chức lựa chọn và phát triển hoạt động kiểm soát đối phó với rủi
ro đối với việc áp dụng và vận hành công nghệ thông tin trong tổ chức Các mục tiêu kiểm soát bao gồm: đảm bảo tính hiệu quả của hệ thống thông tin, chất lượng thông tin, hiệu suất của hệ thống và bảo vệ tài sản
+ Tổ chức thiết lập các hoạt động kiểm soát thông qua các chính sách
và các thủ tục thực thi chính sách Các chính sách thiết lập những gì cần thực hiện và các thủ tục để thực thi chính sách bằng các hành động Các chính sách và thủ tục làm cơ sở cho hoạt động kiểm soát phải thiết lập trách nhiệm
và sự chịu trách nhiệm rõ ràng đối với các cấp trong tổ chức Các thủ tục ban hành cần phải xác định rõ thời gian nào cần thực hiện các hoạt động kiểm soát và các hành động khắc phục nếu cần Ban quản lý cần phải định kỳ đánh giá lại các chính sách, thủ tục để đảm bảo duy trì tính hữu hiệu và phù hợp
Trang 24của các hoạt động kiểm soát và điều chỉnh nếu cần
Thông tin và trao đổi thông tin: bao gồm việc tạo lập, cung cấp thông tin và trao đổi thông tin phục vụ cho sự vận hành các thành phần của kiểm soát nội bộ Có 3 nguyên tắc thực hiện thành phần thông tin và trao đổi thông tin:
+ Tổ chức thu thập hoặc tạo lập và sử dụng các thông tin có chất lượng, phù hợp để phục vụ sự vận hành của các nội dung khác của KSNB Thông tin được thu thập từ nhiều nguồn và nhiều dạng khác nhau Nguồn dữ liệu chính của tổ chức là hệ thống quản lý và kiểm soát các hoạt động chức năng qua đó các nghiệp vụ kinh tế cần phải tạo lập và ghi nhận thông qua chứng từ, tài liệu Thông tin thu thập phải đảm bảo tính dễ tiếp cận, chính xác, hiện hành, được bảo vệ, được lưu trữ, đầy đủ, kịp thời, dễ kiểm tra
+ Tổ chức trao đổi thông tin trong nội bộ bao gồm các mục tiêu và các trách nhiệm KSNB - cần thiết để hỗ trợ sự vận hành các nội dung khác cuả KSNB Tổ chức cần thiết lập, thực hiện các chính sách và thủ tục hỗ trợ trao đổi thông tin hiệu quả Trao đổi thông tin trong nội bộ bắt đầu với trao đổi mục tiêu cụ thể Thông qua trao đổi mục tiêu, các thành viên trong tổ chức hiểu rõ vai trò, trách nhiệm đối với KSNB Ban quan lý phải thực hiện các hành động kịp thời nhất quán với trao đổi để củng cố các thông điệp truyền tải
+ Tổ chức trao đổi thông tin với bên ngoài tổ chức liên quan đến các vấn
đề có ảnh hưởng đến sự vận hành các nội dung khác của KSNB Trao đổi thông tin với bên ngoài bao gồm trao đổi thông tin ra bên ngoài và tiếp nhận thông tin từ bên ngoài Tổ chức cần phát triển và thực hiện các kiểm soát hỗ trợ cho việc trao đổi thông tin với bên ngoài để thu nhận thông tin từ chủ thể bên ngoài và chia sẻ thông tin đó trong nội bộ tỏ chức Từ đó, giúp cho tổ chức nhận diện được các yếu tố tác động đến việc đạt được mục tiêu của
Trang 25mình Ngược lại, thông tin từ tổ chức ra bên ngoài giúp cho các chủ thể bên ngoài hiểu rõ các sự kiện, các hoạt động hoặc hoàn cảnh mà nó ảnh hưởng đến cách thức của chủ thể này tương tác với tổ chức.
Hoạt động giám sát: bao gồm các hoạt động đánh giá thường xuyên và đánh giá chuyên biệt tính hữu hiệu của KSNB Các kết quả đánh giá và các yếu kém được báo cáo một cách kịp thời cho ban quản lý Hoạt động giám sát được thực hiện qua 2 nguyên tắc sau:
+ Tổ chức lựa chọn, phát triển, thực hiện các đánh giá thường xuyên, đánh giá chuyên biệt để xem xét các nội dung của KSNB có đang hiện diện
và đang vận hành hay không KSNB hữu hiệu làm giảm rủi ro đối với việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức đến mức có thể chấp nhận và có được sự đảm bảo hợ lý rằng tổ chức sẽ đạt được mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo
và mục tiêu tuân thủ
+ Tổ chức đánh giá và báo cáo các điểm yếu KSNB một cách kịp thời cho các cấp thẩm quyền để thực hiện các hành động khắc phục yếu kém Điểm yêu của KSNB ảnh hưởng đến mục tiêu hoạt động của tổ chức Tổ chức cần đánh giá tính nghiêm trọng của một điểm yếu của KSNB hoặc trong
sự kết hợp nhiều điểm yếu đối với mục tiêu hoạt động, mục tiêu tuân thủ và mục tiêu báo cáo
Theo ISSAI, các tiêu chuẩn quốc tế của các Viện kiểm toán tối cao, được ban hành bởi các các tổ chức quốc tế của Viện kiểm toán tối cao, INTOSAI, hướng dẫn về KSNB cho khu vực công năm 2004 định nghĩa về KSNB như sau: “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị, nó được thiết lập để đối phó với các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu chung của tổ chức.” Trong đó, mục tiêu của tổ chức bao gồm:
Trang 26+ Thúc đẩy các hoạt động của đơn vị diễn ra có trình tự, đạt được tính hữu hiệu và hiệu quả nhằm cung cấp các dịch vụ có chất lượng phù hợp với nhiệm vụ của đơn vị
+ Bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên, tránh thất thoát, lãng phí, tham ô và
sử dụng sai mục đích
+ Tôn trọng pháp luật và các quy định có liên quan
+ Thiết lập và báo cáo các thông tin quản lý và thông tin tài chính đáng tin cậy và đảm bảo tính kịp thời
Ở khu vực công, mục tiêu của một tổ chức thường liên quan đến các dịch vụ công cộng và lợi ích cộng đồng Bao gồm các mục tiêu:
+ Mục tiêu hoạt động: mục tiêu này liên quan đến tính hữu hiệu và hiệu quả trong hoạt động của đơn vị INTOSAI 2004 đã thêm yếu tố đạo đức khi thực hiện các hoạt động của đơn vị mà INTOSAI trước đó chưa đề cập INTOSAI 2004 cho rằng đạo đức là khi các cán bộ, công chức, viên chức làm việc một cách công tâm, đúng pháp luật, phù hợp với sứ mạng của tổ chức, đồng thời, Intosai cũng nhấn mạnh vai trò của giá trị đạo đức trong việc phòng chống, phát hiện các gian lận, tham nhũng trong khu vực công nhằm củng cố lòng tin của công chúng
+ Mục tiêu về báo cáo: liên quan đến việc cung cấp và báo cáo các thông tin tài chính và phi tài chính cho phù hợp, kịp thời cho các đối tượng bên trong, bên ngoài đơn vị Ngoài việc báo cáo thông tin tài chính, INTOSAI 2004 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc báo cáo thông tin phi tài chính
+ Mục tiêu tuân thủ: liên quan đến việc tuân thủ pháp luật, các điều ước quốc tế và các quy định có liên quan
+ Mục tiêu về quản lý nguồn lực: Mục tiêu này là phần chi tiết hóa mục tiêu về hoạt động của đơn vị, nhưng do đặc thù của khu vực công nên INTOSAI nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc sử dụng hợp lý nguồn
Trang 27ngân sách, tránh lãng phí nguồn lực của quốc gia
Cũng giống như COSO, INTOSAI xác định kiểm soát nội bộ gồm 5 yếu tố: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát
Theo khuôn khổ KSNB SAS 55, xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính được ban hành bởi Viện kế toán viên CPA của Mỹ, cấu trúc KSNB của một tổ chức bao gồm các chính sách và các thủ tục được thiết lập nhằm đem lại sự đảm bảo hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu cụ thể của tổ chức KSNB của một tổ chức bao gồm ba thành phần như sau: Một trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát (Đường Nguyễn Hưng, 2016)
Môi trường kiểm soát: Môi trường kiểm soát thể hiện sự ảnh hưởng tổng hợp các yếu tố khác nhau đến việc thiết lập, tăng cường, hoặc điều chỉnh hiệu quả của các chính sách và các thủ tục kiểm soát cụ thể Môi trường kiểm soát bao gồm các yếu tố như: triết lý và phong cách điều hành của ban quản
lý, cơ cấu tổ chức, hoạt động chức năng của hội đồng quản trị và các ủy ban, các phương pháp thiết lập quyền hạn và trách nhiệm, các phương pháp kiểm soát của ban quản lý với việc giám sát và theo dõi kết quả hoạt động, các chính sách và thực thi chính sách nhân sự, các ảnh hưởng bên ngoài đối với hoạt động của tổ chức
Hệ thống kế toán: Hệ thống kế toán bao gồm các phương pháp và hệ thống phương tiện ghi nhận, xử lý, lưu trữ dữ liệu được thiết lập nhằm xác định sắp xếp, phân tích, phân loại và báo cáo về các nghiệp vụ kinh tế của tổ chức, đồng thời nhằm đảm bảo sự chịu trách nhiệm đối với tài sản và nợ phải trả của tổ chức Một hệ thống kế toán hiệu quả đòi hỏi:
+ Xác định và ghi nhận tất cả các nghiệp vụ có tính hiệu lực
+ Phân loại các nghiệp vụ một cách đúng đắn
Trang 28+ Đo lường giá trị các đối tượng trong các nghiệp vụ một cách đúng đắn
+ Ghi nhận các nghiệp vụ vào đúng kỳ kế toán
+ Trình bày và công bố thông tin về các nghiệp vụ một cách đúng đắn
Các thủ tục kiểm soát: Các thủ tục kiểm soát bao gồm các chính sách
và các thủ tục bên cạnh môi trường kiểm soát và hệ thống kế toán, nhằm đem lại một sự đảm bảo hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu cụ thể của tổ chức Các thủ tục kiểm soát có các mục tiêu khác nhau và được áp dụng ở các cấp trong cơ cấu tổ chức và quy trình xử lý dữ liệu Các thủ tục kiểm soát bao gồm các loại sau:
+ Phê chuẩn đúng đắn các nghiệp vụ và các hoạt động
+ Phân công, phân nhiệm các chức năng, nhiệm vụ nhằm làm giảm cơ hội của gian lận
+ Thiết kế và sử dụng các chứng từ và sổ sách đầy đủ để đảm bảo ghi nhận đúng đắn các nghiệp vụ
+ Thủ tục bảo vệ đối với việc tiếp cận và sử dụng tài sản và sổ sách, dữ liệu
+ Kiểm tra độc lập đối với việc thực hiện và ghi sổ sách
Mặc dù chuẩn mực kiểm toán SAS 55 được phục vụ cho kiểm toán viên trong quá trình đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của khách hàng, khuôn khổ KSNB như trên có thể áp dụng cho bất kỳ tổ chức nào Do vậy, tôi chọn việc nghiên cứu chuẩn mực này để tìm hiểu thực tế áp dụng của
tổ chức và đưa ra giải pháp hoàn thiện thiết thực cho tổ chức
1.2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TỔ CHỨC PHI LỢI NHUẬN (NPO) ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.2.1 Sự ần t ết ủ ểm soát nộ bộ trong á tổ ứ p ín
p ủ p lợ n uận
Trang 29Kiểm soát nội bộ được định nghĩa rộng rãi như quy trình được đưa ra bởi ban lãnh đạo nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các hoạt động hiệu quả, báo cáo tài chính đáng tin cậy và tuân thủ luật pháp và các quy định Do đó, KSNB hữu hiệu giúp cho các tổ chức phi lợi nhuận thực hiện có hiệu quả các hoạt động liên quan đến nhiệm vụ sứ mệnh và trách nhiệm ủy thác của nó
Các NGO không phải là một hiện tượng mới Khái niệm “từ thiện”, có thể được định nghĩa là khái niệm đạo đức của việc cho và phục vụ những người ngoài gia đình trực tiếp của một người, đã tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong hầu hết các nền văn hóa thông qua lịch sử, thường được thúc đẩy bởi truyền thống tôn giáo Thuật ngữ NGO đã chính thức được đưa ra với Nghị quyết 288 (X) của Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc vào ngày 27 tháng 2 năm 1950 Thuật ngữ được sử dụng cho các tổ chức chính thức được công nhận mà không có liên kết và độc lập với ảnh hưởng của chính phủ (Vakil, 1997) Mặc dù một số quốc gia phân loại các nhóm xã hội dân sự thành các tổ chức phi chính phủ nhưng thuật ngữ NGO thường được dùng cho các tổ chức hoạt động ở cấp độ quốc tế Cho đến những năm 1980, các tổ chức NGO có rất ít hoặc không có sự quan tâm của chính phủ, các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu Nhưng sau đó các NGO đã trở thành một phần không thể tách rời của hầu hết các nước đang phát triển
Các tổ chức phi chính phủ (NGO) đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của các nước đang phát triển Các hoạt động của NGO bao gồm, nhưng không giới hạn, như tham gia vào công tác bảo vệ môi trường, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai, vận động chính sách và thúc đẩy quyền con người Các NGO đang thu hút sự chú ý và công nhận ngày càng tăng của các nhà nghiên cứu Nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ các hoạt động của NGO vì sự gần gũi của họ với cộng đồng vùng sâu vùng xa và người nghèo
Sự tăng trưởng nhanh chóng của các tổ chức phi chính phủ cũng được xem
Trang 30như là kết quả của sự thất bại của chính phủ trong việc giảm nghèo, mức độ quan liêu, tham nhũng và thiếu trách nhiệm của chính phủ ((Booth, 1994; Fisher, 1998; Nelson, 1995; Clarke, 1998, Lewis, 2001, (nguồn từ Zahir Uddin Ahmed , 2004)) Điều này được chứng minh bằng một sự thay đổi lớn trong nguồn ngân sách dành cho phát triển cộng đồng được chuyển qua các tổ chức NGO, vốn đã trở thành các đại diện được ưu tiên hơn các chính phủ Ví
dụ, năm 1999 các NGO ở châu Phi nhận và chi tiêu 3,5 tỷ USD viện trợ bên ngoài so với dưới 1 tỷ USD vào năm 1990 (Robert Oguti Etengu, 2016) Trong những năm gần đây, với sự hạn chế về tài chính, kêu gọi trách nhiệm giải trình và phương tiện truyền thông bùng nổ đã tạo ra nhu cầu tăng cường kiểm soát và đo lường hiệu quả trong lĩnh vực phát triển cộng đồng này Các NGO hiện đang chịu áp lực phải tăng cường giám sát, đánh giá các chỉ số về đầu ra, kết quả và tác động ((Edwards, 1999; Lewis, 2001; 2003, (nguồn từ nguồn từ Zahir Uddin Ahmed, 2004)) Nhiều NGO phải ngừng hoạt động do thiếu kinh phí bền vững vào thời điểm kinh tế khó khăn nổi lên bởi suy thoái kinh tế toàn cầu Không giống như các đối tác của họ trong việc tạo ra lợi nhuận với hệ thống kế toán phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, các NGO chủ yếu quan tâm đến việc tăng cường huy động nguồn lực theo kế hoạch ngân sách cụ thể
Bongani (2013) báo cáo rằng KSNB trong các tổ chức là rất quan trọng
để đảm bảo độ tin cậy của hồ sơ kế toán, tính xác thực của nội dung báo cáo tài chính Mặc dù các trường hợp gian lận và sai sót ít khi được các phương tiện truyền thông công khai thì vẫn có khả năng lạm dụng ngân sách do KSNB kém
Petrovits (2010) cũng chỉ ra rằng có rất nhiều tài liệu học thuật về KSNB trong bối cảnh đơn vị kinh doanh được giao dịch công khai rộng rãi, nhưng có rất ít tài liệu trong lĩnh vực phi lợi nhuận Tại Việt Nam, tính đến năm 2017, có khoảng trên 1,000 tổ chức phi chính phủ nước ngoài có mối
Trang 31quan hệ đối tác với Việt Nam, nhưng chưa có một nghiên cứu về NGO liên quan đến công tác KSNB, bài viết này nghiên cứu công tác KSNB của tổ chức TNTGVN như một nghiên cứu đầu tiên và điển hình
1.2.2 Đặ đ ểm ủ tổ ứ p lợ n uận ản ƣởng đến ểm soát
nộ bộ
NPO truyền thống có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ xã hội và các chức năng vận động cộng đồng Các NPO đã trải qua những thay đổi nhanh chóng trong thời kỳ suy thoái kinh tế gần đây Tình hình kinh tế tạo ra nhu cầu về các dịch vụ công cộng bổ sung (Williams, 2010) Vai trò tiêu biểu của NPO là cung cấp dịch vụ khi thị trường hoặc chính phủ không đáp ứng các nhu cầu dịch vụ xã hội, y tế và phát triển kinh tế của công dân (Moulton & Eckerd, 2012)
Các tổ chức phi lợi nhuận được thành lập để hoàn thành một nhiệm vụ
từ thiện, họ không phân phối lợi nhuận cũng không hoạt động với các quy định rõ ràng về quyền sở hữu và trách nhiệm giải trình (Fama và Jensen, 1983) Mặc dù các tổ chức phi lợi nhuận không có chủ sở hữu theo nghĩa truyền thống, họ chịu trách nhiệm với nhà tài trợ và cộng đồng hưởng lợi các dịch vụ mà họ phục vụ Các vấn đề đại diện xảy ra khi có một sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát (Hansmann, 1996) Tổ chức phi lợi nhuận có thể bị tổn thất do phát sinh chi phí đại diện nếu các nhà quản lý trốn tránh trách nhiệm của họ, thực hiện chương trình của riêng của mình hoặc được chi trả khoản bồi thường, lương, phúc lợi quá mức
Các tổ chức phi lợi nhuận không phát hành cổ phiếu và nhiệm vụ của họ không nhằm tối đa hóa lợi nhuận Các nhà quản lý phi lợi nhuận không chịu trách nhiệm với các cổ đông nhưng họ chịu trách nhiệm đối với các nhà tài trợ là những người cung cấp nguồn vốn quan trọng Những nhà tài trợ không
có nguồn lực vô hạn và do đó các tổ chức phi lợi nhuận phải cạnh tranh để gây quỹ Các nhà tài trợ có thể chọn để hỗ trợ một tổ chức khác nơi mà nguồn
Trang 32vốn được sử dụng hiệu quả hơn với KSNB tốt hơn (Petrovits, 2010) Ngoài
ra, không giống như các cổ đông, các nhà tài trợ không được hưởng lợi từ các hoạt động của tổ chức phi lợi nhuận và do đó ít có sự giám sát tổ chức như chức năng của hội đồng quản trị trong các đơn vị kinh doanh
Tất cả các tổ chức đều dễ bị đe dọa bởi hành vi gian lận và tham nhũng Nguy cơ mất tài chính tồn tại ngay cả ở các tổ chức từ thiện, nơi nhiệm vụ của
nó là làm điều tốt và nhân viên thường tự hào về giá trị đạo đức mạnh mẽ của mình Dầu vậy, có khoảng một phần sáu của tất cả các vụ tham ô lớn xảy ra trong lĩnh vực phi lợi nhuận (Stephens và Flaherty 2013) Các tổn thất gian lận không chỉ ảnh hưởng đến các tổ chức từ thiện địa phương nhỏ với nguồn nhân lực chủ yếu dựa vào tình nguyện viên mà còn ở các tổ chức từ thiện lớn, nổi tiếng với hàng ngàn nhân viên Điển hình là hành vi trộm cắp 1,5 triệu USD bởi nhân viên tại Memorial Sloan-Kettering Cancer Center, vụ thanh toán không đúng cho người thụ hưởng 43 triệu USD tại The Global Fund và hành vi gian lận ghi bút toán xóa nợ 26 triệu USD tại Đại học New York do nhân viên ban quản lý đầu tư
Quản trị tổ chức là nền tảng của KSNB (Đường Nguyễn Hưng, 2016) Tuy nhiên, có một số lý do tại sao các cơ chế quản trị tổ chức chống gian lận không làm giảm khả năng sử dụng sai mục đích của nguồn tài trợ
Thứ nhất, ngay cả với sự tồn tại của quản trị tổ chức tốt, gian lận có thể
dễ dàng xảy ra trong lĩnh vực phi lợi nhuận dựa trên bầu không khí tin cậy (Zack 2003)
Thứ hai, sự thiếu kinh nghiệm và chuyên môn tài chính cũng như sự phụ
thuộc vào các ban tình nguyện cùng với chế độ chính sách không rõ ràng, và hạn chế nguồn lực có sẵn cho quản lý tài chính trong các tổ chức phi lợi nhuận có thể dẫn đến việc thực hiện không hiệu quả các chính sách quản trị tổ chức Ví dụ, Lee và Fargher (2013) chỉ ra rằng sự tồn tại đơn thuần của một chính sách tố giác không đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả Tổ chức phi lợi
Trang 33nhuận được quản lý bởi hoặc dưới sự chỉ đạo của ban giám đốc, nó không có quy định các chức năng của hội đồng quản trị, điều này có thể dẫn đến việc quản trị tổ chức không hiệu quả
Thứ ba, kiểm soát quá mức bởi những người sáng lập hoặc ban giám
đốc điều hành có thể cho phép họ bỏ qua quản trị tổ chức
Cuối cùng, có thể có các yếu tố khác làm suy yếu hiệu quả của các chính sách quản trị tổ chức Ví dụ như các tổ chức phi lợi nhuận phải xem xét việc cân bằng lợi ích và chi phí khi thiết lập KSNB và có thể quá tốn kém để loại
bỏ hoàn toàn khả năng thông đồng hoặc ghi đè quản lý (management overridden), hai mối đe dọa nghiêm trọng đối với gian lận (Dorminey, 2012)
Trang 34Kết luận C ƣơng 1
Trong chương này, tôi đã hệ thống và cụ thể hóa các vấn đề lý luận cơ bản về công tác KSNB Tôi đã trình bày được sự cần thiết công tác KSNB của NGO đồng thời nhấn mạnh sự ảnh hưởng từ đặc điểm của NPO tới yêu cầu KSNB Nội dung chương này được coi là khung lý thuyết quan trọng để qua đó căn cứ vào kết quả tìm hiểu thực trạng công tác KSNB mà nó sẽ được trình bày trong chương tiếp theo, để đánh giá xem công tác KSNB tại TNTG
có hữu hiệu hay không để đưa ra các giải pháp hoàn thiện
Trang 35CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TỔ
CHỨC TẦM NHÌN THẾ GIỚI VIỆT NAM
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TẦM NHÌN THẾ GIỚI VIỆT NAM
2.1.1 Quá trình hình thành và p át tr ển
TNTGVN là một tổ chức nhân đạo phi lợi nhuận hoạt động thông qua các chương trình phát triển và cứu trợ khẩn cấp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng, đặc biệt là trợ giúp trẻ em, người nghèo và người gặp hoàn cảnh khó khăn
TNTG Quốc Tế (TNTGQT) hoạt động tại Việt Nam từ năm 1990 với văn phòng quốc gia tại Hà Nội Cho đến nay tổ chức đã triển khai các hoạt động tại 16 tỉnh thành trong cả nước thông qua các “Chương trình vùng” (AP) Tổ chức thực hiện các can thiệp trên các lĩnh vực bảo vệ trẻ em, dinh dưỡng, bảo trợ trẻ em, sinh kế, xây dựng năng lực, cứu trợ khẩn cấp nhằm hướng tới an sinh trẻ ở các AP
Năm tài chính 2018, có tổng cộng 74,868 trẻ em được đăng ký và nhận
hỗ trợ thông qua dự án Bảo trợ trẻ em của TNTGVN Ngân sách hàng năm của TNTGVN vào khoảng 19 triệu đô la Mỹ nhờ những đóng góp của các nhà tài trợ ở 14 quốc gia trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, Tây Âu và
Mỹ TNTG Việt Nam tuyển dụng hơn 400 nhân viên, trong đó 99% là người Việt Nam
Trang 36cuộc sống cho cộng đồng, đặc biệt là trẻ em, người nghèo và người gặp hoàn cảnh khó khăn TNTG phục vụ tất cả mọi người, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, dân tộc hay giới
- Chúng tôi quý trọng con người
- Chúng tôi cam kết phục vụ người nghèo
- Chúng tôi có trách nhiệm với nguồn lực được giao phó
xu thế kinh tế bất ổn trên toàn cầu Ngoài ra, TNTGVN nhận tài trợ từ các doanh nghiệp, tổ chức, trường học, hội thánh và chính phủ
Cơ ế để t ự ện sứ mện :
TNTGVN thực hiện thông qua 37 chương trình vùng (37 AP) và nhiều
dự án đặc biệt với sự phối hợp của mạng lưới đối tác là Ủy Ban nhân dân, các phòng ban chuyên môn ở cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã triển khai các chương trình vùng tại 16 tỉnh, thành và người dân tại cộng đồng đang trực tiếp được can thiệp cùng với trẻ em là đối tượng đích
Trang 37Suốt 30 năm qua, TNTGVN đã sát cánh cùng đối tác chính phủ để đảm bảo an sinh trẻ em Tận dụng thế mạnh của địa phương và những đặc điểm văn hóa truyền thống tích cực kết hợp với kinh nghiệm và chuyên môn, TNTGVN đã đồng hành cùng hàng ngàn thôn bản giúp nâng cao năng lực để mỗi thành viên trong cộng đồng cùng góp sức biến khát vọng an sinh trẻ em thành hiện thực Với kiến thức và kỹ năng trong trồng trột và chăn nuôi cùng
cơ hội kết nối với thị trường ngày càng rộng mở, kinh tế các hộ gia đình phát triển bền vững đáp ứng nhu cầu cơ bản của trẻ em Với đầy đủ kiến thức về dinh dưỡng và chăm sóc trẻ em, cha mẹ chú tâm hơn đến chất lượng của từng bữa ăn phù hợp với từng điều kiện của gia đình Năng lực được cải thiện, người dân khởi động những sáng kiến để bảo vệ con em mình tốt hơn Với những kỹ năng và giá trị sống được trang bị từ rất sớm, trẻ em không chỉ mạnh dạn lên tiếng về những vấn đề liên quan đến mình mà còn hành động
để tạo ra những thay đổi tích cực trong cộng đồng và cho những người xung quanh TNTG là một tổ chức nhân đạo hàng đầu thế giới vì an sinh trẻ em cùng 30 năm kinh nghiệm tại Việt Nam, gắn bó với cộng đồng từ cấp cơ sở, TNTG hoan nghêng những tấm lòng thiện chí cùng chung tay hiện thực hóa giấc mơ của trẻ khiến tình yêu thương và niềm vui lan tỏa tại nhiều cộng đồng trong cả nước đặc biệt là sự sâu sát cam kết với trẻ em dễ bị tổn thương nhất để mọi hành động luôn hướng tới lợi ích tốt nhất của trẻ nhằm chấm dứt nghèo đói và mở ra tương lai đầy hứa hẹn cho mọi trẻ em được hưởng cuộc sống trọn vẹn ý nghĩa “Vì trẻ em, vì những thay đổi tích cực, vì một cuộc sống trọn vẹn ý nghĩa”
Ƣu t ên ến lƣợ mà tổ ứ muốn đạt đƣợ đến năm 2030:
Đẩy mạnh cam kết phục vụ trẻ dễ bị tổn thương nhất bằng cách sắp xếp lại địa bàn hoạt động và nguồn lực
Tập trung hoạt động để tăng cường tác động, bằng cách chỉ ưu tiên một số mục tiêu, lĩnh vực và cách tiếp cận
Trang 38 Hợp tác và vận động để nhân rộng tác động
Gây được nguồn kinh phí chất lượng và bền vững
Bày tỏ niềm tin Cơ đốc một cách mạnh mẽ nhưng khiêm nhường
Dự án n ƣỡng: Với mục tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ
dưới 5 tuổi thông qua cách tiếp cận lồng ghép: Nâng cao tính sẵn có lương thực, thực phẩm cho các hộ gia đình mục tiêu; Cải thiện thực hành dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi; Giảm bệnh thông thường của trẻ dưới 5 tuổi thông qua cải thiện thực hành vệ sinh môi trường và điều kiện tiếp cận đến dịch vụ y tế; Tăng cường xây dựng và triển khai các chính sách dinh dưỡng
Dự án Bảo vệ trẻ em: Với mục tiêu Bảo vệ trẻ em khỏi xâm hại,
bóc lột và tai nạn thương tích: Tăng cường năng lực cho trẻ em để bảo vệ bản thân và bạn bè khỏi xâm hại, bóc lột và tai nạn thương tích; Cải thiện năng lực của Ban bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng và gia đình để bảo vệ trẻ em khỏi xâm hại, bóc lột và tai nạn thương tích; Đẩy mạnh việc xây dựng và thực thi chính sách bảo vệ trẻ em, và phòng chống tai nạn thương tích trẻ em
Dự án s n ế bền vững: Với mục tiêu tăng cường sinh kế hộ gia
đình nhằm duy trì an sinh trẻ em: Nâng cao tính sẵn có lương thực, thực phẩm cho các hộ gia đình mục tiêu; Cải thiện việc tiếp cận tới các nguồn
Trang 39cung cấp đầu vào và liên kết thị trường vì người nghèo; Cải thiện năng lực của thanh thiếu niên và khả năng tiếp cận với việc làm
Dự án Bảo trợ lồng g ép và sự t m g động đồng: Tăng cường
thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và lồng ghép bảo trợ vào các chương trình kỹ thuật của TNTGVN vì An sinh trẻ em bền vững: Tính làm chủ của cộng đồng trong lập kế hoạch và quản lý các chương trình được tăng cường; Lồng ghép hoạt động bảo trợ trong các AP và hoạt động của cộng đồng được tăng cường; Nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng địa phương để ứng phó với thiên tai và những cú sốc
Bảng 2.1 Báo cáo chi phí t eo văn p òng tà trợ FY 2017
Trang 40Bảng 2.2 Báo cáo chi phí t eo nguồn tà trợ FY 2017