1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng tháp maslow phân khúc nhu cầu của bệnh nhân định hướng tăng nguồn thu khám chữa bệnh dịch vụ tại các cơ sở y tế công lập trường hợp trung tâm y tế thị xã ninh hòa

76 11 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng luận văn: “Vận dụng tháp Maslow phân khúc nhu cầu của bệnh nhân định hướng tăng nguồn thu khám chữa bệnh dịch vụ tại các cơ sở y tế công lập: trường

Trang 1

-

NGUYỄN PHAN PHƯƠNG ĐÀI

VẬN DỤNG THÁP MASLOW PHÂN KHÚC NHU CẦU CỦA BỆNH NHÂN ĐỊNH HƯỚNG TĂNG NGUỒN THU KHÁM CHỮA BỆNH DỊCH VỤ TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ CÔNG LẬP: TRƯỜNG HỢP TRUNG TÂM Y TẾ THỊ XÃ NINH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2021

Trang 2

-

NGUYỄN PHAN PHƯƠNG ĐÀI

VẬN DỤNG THÁP MASLOW PHÂN KHÚC NHU CẦU CỦA BỆNH NHÂN ĐỊNH HƯỚNG TĂNG NGUỒN THU KHÁM CHỮA BỆNH DỊCH VỤ TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ CÔNG LẬP: TRƯỜNG HỢP TRUNG TÂM Y TẾ THỊ XÃ NINH HÒA

Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng (Tài chính công) Hướng đào tạo : Hướng ứng dụng

Mã số : 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Bùi Thị Mai Hoài

TP Hồ Chí Minh - Năm 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng luận văn: “Vận dụng tháp Maslow phân khúc nhu

cầu của bệnh nhân định hướng tăng nguồn thu khám chữa bệnh dịch vụ tại các

cơ sở y tế công lập: trường hợp Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa” là công trình

nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Bùi Thị Mai Hoài

mà không có sự sao chép từ bất kỳ một nguồn tài liệu nào

Các đề xuất, giải pháp và khuyến nghị được bản thân rút ra từ quá trình học tập, nghiên cứu lý luận và thực tiễn tại Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa

Tp Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 03 năm 2021

Tác giả

Nguyễn Phan Phương Đài

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH VẼ

TÓM TẮT

ABSTRACT

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu thực hiện đề tài 3

1.3 Câu hỏi giải pháp cần trả lời 3

1.4 Phương pháp thực hiện đề tài 4

1.5 Kỳ vọng kết quả thực hiện đề tài 4

1.6 Kết cấu của đề tài 5

CHƯƠNG 2 KHUNG PHÂN TÍCH, DỮ LIỆU VÀ CÁCH TIẾP CẬN 6

2.1 Cơ sở lý thuyết 6

2.1.1 Lý thuyết tháp nhu cầu Maslow 6

2.1.2 Một số vấn đề cơ bản về đơn vị sự nghiệp y tế công lập có thu 9

2.1.2.1 Khái niệm 10

2.1.2.2 Nguồn tài chính 10

2.1.2.3 Phân phối và sử dụng kết quả tài chính trong năm 11

2.1.3 Quản lý tài chính các tổ chức y tế 12

2.1.3.1 Mục tiêu quản lý tài chính các tổ chức y tế công lập 14

2.1.3.2 Nguyên tắc quản lý tài chính các cơ sở y tế công lập 15 2.1.3.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý tài chính các cơ sở y tế công lập 16 2.1.4 Lý thuyết về sự mong đợi và hài lòng của khách hàng trong lĩnh vực y tế17

Trang 5

2.1.4.1 Khái quát về mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của

khách hàng trong lĩnh vực y tế 17

2.1.4.2 Mô hình SERVQUAL 20

2.2 Khung phân tích 21

2.3 Cách tiếp cận và kỹ thuật thực hiện đề tài 22

Kết luận chương 2 23

CHƯƠNG 3 PHÂN LOẠI NHU CẦU KHÁM CHỮA BỆNH CỦA BỆNH NHÂN, XÂY DỰNG HỆ THỐNG KHÁM CHỮA BỆNH ĐÁP ỨNG NHU CẦU BỆNH NHÂN: TRƯỜNG HỢP TT Y TẾ THỊ XÃ NINH HÒA 24

3.1 Khái quát về Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa 24

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa 24 3.1.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa 25

3.1.2.1 Cơ cấu tổ chức 25

3.1.2.2 Quy mô và các hoạt động khám chữa bệnh từ năm 2017 đến năm 2019 26 3.2 Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa 27

3.2.1 Thực trạng việc khai thác các nguồn thu dịch vụ khám chữa bệnh của Trung tâm Y tế giai đoạn 2015-2019 27

3.2.1.1 Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ khám chữa bệnh 27

3.2.1.2 Nguồn thu dịch vụ khác 29

3.2.2 Thực trạng sử dụng các nguồn tài chính của Trung tâm Y tế giai đoạn 2015-2019 30

3.2.2.1 Chi từ nguồn viện phí, Bảo hiểm y tế, các nguồn thu dịch vụ 30

3.2.2.2 Tình hình chi thu nhập tăng thêm, trích lập và sử dụng các quỹ 32

3.2.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý tài chính của Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa 33

3.2.3.1 Những kết quả đạt được 34

3.2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân 35

Trang 6

3.3 Phân loại nhu cầu khám chữa bệnh của bệnh nhân, xây dựng hệ thống

khám chữa bệnh đáp ứng nhu cầu 36

3.3.1 Thực trạng chất lượng dịch vụ y tế tại Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa 36 3.3.1.1 Công tác tiếp đón, chăm sóc và phục vụ bệnh nhân 36

3.3.1.2 Nguồn nhân lực tại đơn vị 37

3.3.1.3 Các hoạt động chuyên môn 37

3.3.1.4 Những hạn chế, khó khăn 39

3.3.2 Phân loại nhu cầu khám chữa bệnh của bệnh nhân, xây dựng hệ thống khám chữa bệnh đáp ứng nhu cầu 40

3.3.3 Phân tích kết quả thu thập 47

Kết luận chương 3 50

CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH ĐÁP ỨNG NHU CẦU KHÁM CHỮA BỆNH THEO BẬC THANG CỦA BỆNH NHÂN ĐẾN VIỆC GIA TĂNG NGUỒN THU TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA 51

4.1 Kết quả thử nghiệm chính sách đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh theo bậc thang của bệnh nhân 51

4.2 Đánh giá tác động chính sách đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh theo bậc thang 53

Kết luận chương 4 54

CHƯƠNG 5 KHẢO SÁT Ý KIẾN CÁC BỆNH NHÂN ĐÃ TRẢI NGHIỆM DỊCH VỤ MỚI, KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 56

5.1 Khảo sát ý kiến các bệnh nhân đã trải nghiệm dịch vụ mới 56

5.2 Kết luận 58

5.3 Các khuyến nghị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT VIẾT TẮT VIẾT NGUYÊN NGHĨA

1 BHYT Bảo hiểm y tế

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3 1 Tổng hợp tình hình thực hiện các chỉ tiêu của nhiệm vụ cơ bản từ năm

2015-2019 26

Bảng 3 2 Nguồn thu VP và BHYT của TTYT thị xã Ninh Hòa 27

Bảng 3 3 Nguồn thu khác của TTYT thị xã Ninh Hòa 29

Bảng 3 4 Nội dung và tỷ trọng các khoản chi từ VP và BHYT 30

Bảng 3 5 Chi từ các nguồn thu dịch vụ khác 32

Bảng 3 6 Tình hình trích lập các quỹ của TTYT thị xã Ninh Hòa 32

Bảng 3 7 Tình hình chi thu nhập tăng thêm và sử dụng các quỹ của TTYT thị xã Ninh Hòa 32

Bảng 3 8 Cơ cấu nhân sự theo giới tính 37

Bảng 3 9 Các khoa chuyên môn của TTYT thị xã Ninh Hòa 38

Bảng 3 10 Tiêu chuẩn phục vụ phòng yêu cầu cao cấp so với phòng yêu cầu thường 48

Bảng 3 11 Các dịch vụ đề xuất vận hành thử nghiệm 49

Bảng 4 1 Kết quả vận hành thử nghiệm các gói dịch vụ 51

Bảng 4 2 Kết quả nguồn thu khám chữa bệnh khi vận hành thử nghiệm các gói dịch vụ 52

Bảng 4 3 Bảng chi phí phát sinh của các gói dịch vụ 52

Bảng 5 1 Kết quả khảo sát ý kiến của bệnh nhân đã sử dụng dịch vụ Đặt lịch khám 56

Bảng 5 2 Kết quả khảo sát ý kiến của bệnh nhân đã sử dụng dịch vụ Phòng yêu cầu cao cấp 56

Bảng 5 3 Kết quả khảo sát ý kiến của bệnh nhân đã sử dụng dịch vụ Điều dưỡng tại nhà 57

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2 1 Tháp nhu cầu Maslow 6 Hình 2 2 Mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL 20 Hình 2 3 Khung phân tích Phân khúc nhu cầu BN định hướng tăng nguồn thu KCB dịch vụ tại các cơ sở y tế công lập 22Hình 3 1 Nguồn thu VP và BHYT của TTYT thị xã Ninh Hòa 28 Hình 3 2 Nguồn thu khác của TTYT thị xã Ninh Hòa 30

Trang 10

TÓM TẮT

Từ khi Chính phủ ban hành Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006, các ĐVSN công lập dần dần phải chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính, tự đảm bảo chi hoạt động TTYT thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa là một ĐVSN hoạt động trong lĩnh vực y tế, chịu tác động của cơ chế tự chủ tài chính, đã gặp áp lực đáng kể về nguồn thu trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ với các cơ sở y tế tư nhân Trước

áp lực này, TTYT Ninh Hòa cần có định hướng và giải pháp thích hợp để tăng nguồn thu từ dịch vụ y tế KCB

Đề tài thực hiện tìm hiểu nhu cầu và sự mong đợi của BN khi sử dụng dịch vụ

y tế tại trung tâm bằng phương pháp phỏng vấn sâu Dựa vào kết quả phỏng vấn, tác giả vận dụng lý thuyết “Tháp nhu cầu Maslow” phân khúc nhu cầu của BN khi sử dụng dịch vụ y tế thành bốn bậc thang từ thấp đến cao, từ đó đề xuất được ba dịch

vụ y tế mới, tiến hành vận hành thử nghiệm tại trung tâm (thời gian thử nghiệm là

ba tháng) Sau thời gian vận hành thử nghiệm dịch vụ mới, kết quả cho thấy nguồn thu của trung tâm được tăng lên đáng kể, tuy nhiên có một dịch vụ không đạt kết quả như kỳ vọng

Việc nghiên cứu nâng cao chất lượng dịch vụ y tế theo hướng lấy BN làm trung tâm đang là một xu hướng đang diễn ra trên toàn cầu, giúp cho các ĐVSN y tế

có thể sánh ngang bằng với các cơ sở y tế tư nhân, tạo nên một nguồn thu KCB bền vững cho các ĐVSN y tế công lập

Từ khóa: nhu cầu bệnh nhân, nguồn thu khám chữa bệnh, cơ sở y tế công lập

Trang 11

ABSTRACT

Since the Government issued Decree 43/2006 / ND-CP dated April 25, 2006, the public units gradually had to switch to the mechanism of financial autonomy, self-guarantee for operation expenses The health care center of Ninh Hoa town, Khanh Hoa province is a non-medical unit operating in the health sector, affected

by the financial autonomy mechanism, has encountered considerable pressure on income in a strong competitive environment with the private health department Under this pressure, Ninh Hoa Health Center needs to have appropriate orientations and solutions to increase revenue from medical services

The topic explores the needs and expectations of patients when using the medical services at the center by in-depth interview method Based on the interview results, the author applies the theory of "Maslow's need pyramid" to segment the needs of patients when using medical services into four steps from low to high, thereby proposing three medical services The testing process at the center (the trial period is three months) After the trial operation of the new service, the results showed that the center's revenue increased significantly, but one service did not meet the expected results

Research to improve the quality of health care services towards a centered approach is an ongoing global trend, helping to ensure that medical units can be on par with private medical facilities, creating a sustainable source of curative care revenue for public health service providers

patient-Keywords: patient needs, healthcare revenues, public health facilities

Trang 12

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài

Nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân (BN) luôn là mục tiêu cao nhất của ngành y tế Việt Nam Hiện nay, việc đánh giá chính xác nhu cầu của người bệnh và cảm nhận của người bệnh sau khi được khám chữa bệnh (KCB) tại cơ sở y tế về chất lượng cơ sở y tế, chất lượng chăm sóc từ phía y bác sỹ, thời gian chờ đợi khi KCB, các thủ tục trong lúc xuất/ nhập viện để từ đó cải thiện hoạt động đang là một thách thức đáng kể của các cơ sở y tế Trong những năm gần đây, sự đa dạng hóa các hình thức chăm sóc sức khỏe (dân lập, tư nhân), với dịch vụ KCB hiện đại đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chăm sóc sức khỏe nhân dân đã góp phần tạo nên một luồng gió mới cho ngành y tế, tạo động lực để các cơ sở y tế công lập đổi mới hoạt động để có thể cạnh tranh được với các cơ sở y tế tư nhân

Sau khoảng mười năm trở lại đây, từ khi triển khai Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm

vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) công lập, bộ mặt nhiều cơ sở y tế công lập đã có những thay đổi đáng kể Trong cơ chế tự chủ, các cơ sở y tế công lập có điều kiện thực hiện cơ cấu lại bộ máy, định hướng phát triển nguồn nhân lực, mua sắm trang thiết bị hiện đại; có cơ chế đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ; tạo điều kiện giúp người dân được KCB bằng những kỹ thuật cao Đồng thời, thu nhập của cán bộ y tế cũng tăng lên, tạo tâm lý

ổn định và hài lòng đối với các bộ y tế Theo Báo cáo kết quả khảo sát tình hình thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP trong hệ thống bệnh viện (BV) công lập của Viện chiến lược và chính sách y tế được Bộ Y tế công bố năm 2010: “Về cơ cấu chi: Chi cho con người tăng lên về tổng chi tuyệt đối ở tất cả các BV thuộc các tuyến: so năm 2008 với 2005 cho thấy mức chênh lệch về tổng chi cho nhân lực tại

BV tuyến tỉnh là 2,7 lần, BV Trung ương là 1,9 lần, BV huyện là 1,8 lần; nhóm BV

tự chủ toàn phần tổng chi cho nhân lực năm 2008 chỉ tăng 1,2 lần so với năm 2005”, “Thu nhập của cán bộ công nhân viên tăng lên đáng kể qua các năm: so sánh

Trang 13

thu nhập tăng thêm giữa các năm cho thấy thu nhập tăng thêm của cán bộ công nhân viên năm 2008 tăng một cách rõ rệt so với năm 2005, tuy nhiên tăng không nhiều ở các bệnh viện tự chủ toàn phần (chỉ tăng 1,2 lần); tăng 1,7 lần ở BV tuyến Trung ương; tăng gấp 3 lần ở các BV tuyến tỉnh ”

Bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn tồn tại những khó khăn cho các cơ sở

y tế công lập tuyến dưới: không có kinh phí để cải thiện cơ sở vật chất, các bác sỹ ra trường không muốn làm việc tại các cơ sở tuyến dưới dẫn đến tình trạng nhiều BV thiếu nhân lực, việc thu hút BN gặp nhiều khó khăn “Sự chênh lệch về thu nhập và điều kiện làm việc giữa các BV tuyến Trung ương, thành phố lớn với các BV ở tỉnh nghèo, BV huyện dẫn đến sự chuyển dịch cán bộ từ tuyến dưới lên tuyến trên, từ nông thôn ra thành thị làm cho sự thiếu hụt cán bộ y tế ở tuyến cơ sở ngày càng trầm trọng hơn” – Báo cáo kết quả khảo sát tình hình thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP trong hệ thống BV công lập của Viện chiến lược và chính sách y tế được Bộ Y tế công bố năm 2010 Đồng thời, tại khoản 4 Điều 22 Luật Bảo hiểm y

tế (BHYT) sửa đổi, bổ sung năm 2014 nêu rõ “Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, người tham gia BHYT đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại trạm y tế tuyến

xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc BV tuyến huyện được quyền khám bệnh, chữa bệnh BHYT tại trạm y tế tuyến xã hoặc phòng khám đa khoa hoặc BV tuyến huyện trong cùng địa bàn tỉnh có mức hưởng theo quy định tại khoản 1 Điều này” Luật BHYT ban hành năm 2014 đã gây không ít khó khăn cho các cơ sở y tế công lập trong việc thu hút BN, vì người bệnh có xu hướng tìm đến các cơ sở y tế tư nhân có tham gia khám BHYT khi có nhu cầu KCB Trách nhiệm của các cơ sở y tế công lập là phải cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân về sử dụng dịch vụ KCB

Trung tâm Y tế (TTYT) thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa là một cơ sở y tế công lập với lộ trình tự chủ tài chính vào năm 2020 Nguồn thu chủ yếu của đơn vị

là thu từ Ngân sách Nhà nước (NSNN) cấp và nguồn khám BHYT; tuy nhiên nguồn thu từ BHYT phải phụ thuộc vào cơ quan BHYT, tình hình chi trả chi phí khám BHYT không kịp thời gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính Trong xu thế hướng

Trang 14

đến tự chủ tài chính, không còn được NSNN bao cấp kinh phí, đơn vị bắt buộc phải xây dựng và phát triển nguồn thu KCB dịch vụ để không còn phụ thuộc vào nguồn thu từ BHYT Để gia tăng nguồn thu KCB dịch vụ thì việc phân luồng BN, hiểu rõ

và đáp ứng được từng nhu cầu cụ thể của người bệnh là một việc làm vô cùng cần thiết

Nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích nhu cầu BN để đóng góp cho mục đích gia tăng nguồn thu của đơn vị trong cơ chế tự chủ tài chính nên tôi đã

chọn đề tài “Vận dụng tháp Maslow phân khúc nhu cầu của bệnh nhân định

hướng tăng nguồn thu khám chữa bệnh dịch vụ tại các cơ sở y tế công lập: Trường hợp Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa” làm đề tài luận

văn của mình

1.2 Mục tiêu thực hiện đề tài

Đề tài này hướng đến mục tiêu vận dụng tháp nhu cầu Maslow để phân loại bậc thang nhu cầu KCB của BN tại TTYT thị xã Ninh Hòa Trên cơ sở đó thiết kế

và thử nghiệm vận hành chính sách đáp ứng nhu cầu BN, đo lường mức thay đổi doanh thu do áp dụng chính sách kết hợp với phỏng vấn và khảo sát khách hàng để hoàn thiện chính sách Tác giả kỳ vọng rằng kết quả thực hiện đề tài sẽ góp phần đưa ra được các khuyến nghị đến lãnh đạo để có những cải thiện nhằm triển khai thực hiện thành công chính sách này, nâng cao chất lượng KCB cho khách hàng, để

từ đó gia tăng nguồn thu, cải thiện thu nhập cho cán bộ viên chức

1.3 Câu hỏi giải pháp cần trả lời

Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn tập trung trả lời các câu hỏi sau:

Vận dụng tháp nhu cầu Maslow phân loại được bao nhiêu bậc thang nhu cầu KCB của BN tại đơn vị? Tương tứng với từng bậc thang, chính sách KCB nên thực hiện như thế nào để đáp ứng nhu cầu khách hàng KCB?

Liệu chính sách đáp ứng nhu cầu KCB theo bậc thang của BN có làm khách hàng KCB hài lòng và làm gia tăng nguồn thu cho đơn vị?

Trên cơ sở trả lời hai câu hỏi trên, tác giả kỳ vọng sẽ đưa ra được các khuyến nghị nhằm triển khai thành công chính sách đáp ứng nhu cầu KCB theo phân khúc

Trang 15

BN để từ đó gia tăng nguồn thu cho TTYT thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa trong bối cảnh mới

1.4 Phương pháp thực hiện đề tài

Tác giả sử dụng lý thuyết “Tháp nhu cầu Maslow”; lý thuyết “Quản lý tài chính các tổ chức y tế” và “Lý thuyết về sự mong đợi và hài lòng của khách hàng trong lĩnh vực y tế” làm khung phân tích để thực hiện mục tiêu đề tài

Để trả lời câu hỏi thứ nhất, tác giả sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu của phương pháp nghiên cứu định tính nhằm tìm hiểu sự mong đợi và mức độ hài lòng của BN làm cơ sở để phân khúc được nhu cầu từ thấp đến cao của BN khi đến KCB tại các

cơ sở y tế công lập Trên cơ sở đó, áp dụng tháp nhu cầu Maslow tác giả phân loại thành những bậc thang dịch vụ y tế, đồng thời đề xuất những chính sách và giải pháp đáp ứng nhu cầu theo bậc thang của BN

Để trả lời câu hỏi thứ hai, tác giả sử dụng phương pháp bán thí nghiệm, thử nghiệm triển khai tại Trung tâm những chính sách được đề xuất ở câu trả lời của câu hỏi thứ nhất, mỗi bậc thang từ thấp đến cao sẽ tương ứng với chi phí mà BN phải chi trả Thời gian thử nghiệm là ba tháng (có thực hiện các hoạt động truyền thông đến khách hàng cũ và khách hàng tiềm năng), sau đó so sánh tổng doanh thu cũng như tỷ lệ doanh thu/chi phí từ những dịch vụ đó, bình quân của 3 tháng thử nghiệm

so với bình quân 3 tháng trước đó nhằm khẳng định việc phân khúc nhu cầu BN để

có chính sách và giải pháp tương ứng là cách để tăng nguồn thu hiệu quả cho trung tâm Trong quá trình KCB theo phương thức mới, sẽ lấy ý kiến của BN về sự hài lòng với dịch vụ mới và xác suất sẽ quay lại khi có nhu cầu KCB Phân tích các dữ liệu này để có bước điều chỉnh tiếp theo về chính sách KCB sao cho phù hợp nhất

1.5 Kỳ vọng kết quả thực hiện đề tài

Đề tài này hướng đến mục tiêu vận dụng tháp nhu cầu Maslow để phân loại bậc thang nhu cầu KCB của BN tại TTYT Ninh Hòa Trên cơ sở đó thiết kế và thử nghiệm vận hành chính sách đáp ứng nhu cầu BN, đo lường mức thay đổi doanh thu, tỷ lệ doanh thu/chi phí do áp dụng chính sách kết hợp với phỏng vấn và khảo sát khách hàng để hoàn thiện chính sách Tác giả kỳ vọng rằng kết quả thực hiện đề

Trang 16

tài sẽ góp phần đưa ra được các khuyến nghị đến lãnh đạo để có những cải thiện nhằm triển khai thực hiện thành công chính sách này, nâng cao chất lượng KCB cho khách hàng, để từ đó gia tăng nguồn thu, cải thiện thu nhập cho cán bộ viên chức

1.6 Kết cấu của đề tài

Ngoài danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng, hình vẽ, tài liệu tham khảo, luận văn dự kiến được kết cấu như sau:

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Khung phân tích, dữ liệu và cách tiếp cận

Chương 3: Phân loại nhu cầu khám chữa bệnh của bệnh nhân, xây dựng hệ thống khám chữa bệnh đáp ứng nhu cầu bệnh nhân: Trường hợp Trung tâm Y tế thị

xã Ninh Hòa

Chương 4: Đánh giá tác động chính sách đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh theo bậc thang của bệnh nhân đến việc gia tăng nguồn thu tại Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

Chương 5: Khảo sát ý kiến bệnh nhân đã trải nghiệm dịch vụ mới, kết luận

và khuyến nghị

Trang 17

CHƯƠNG 2 KHUNG PHÂN TÍCH, DỮ LIỆU VÀ CÁCH TIẾP CẬN

2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Lý thuyết tháp nhu cầu Maslow

Hình 2 1 Tháp nhu cầu Maslow

(Nguồn: Maslow's hierarchy of needs)

Abraham Maslow đã phát triển mô hình Phân cấp nhu cầu vào những năm thập niên 40-50 của thế kỷ XX ở Hoa Kỳ và lý thuyết Phân cấp nhu cầu vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay; nhằm mục đích tìm hiểu và phân tích động lực của con người, đào tạo quản lý và phát triển cá nhân Maslow lần đầu tiên giới thiệu khái niệm về hệ thống nhu cầu của mình trong bài viết “Lý thuyết về động lực của con người” vào năm 1943 và cuốn sách Động lực và nhân cách tiếp theo của ông; ông khẳng định mỗi con người đều được thúc đẩy bởi nhu cầu, trong đó nhu cầu cơ bản nhất của con người được cho là những hiện tượng bẩm sinh, đã phát triển qua hàng chục ngàn năm Hệ thống nhu cầu của Abraham Maslow giúp giải thích những nhu

Trang 18

cầu này và quá trình thúc đẩy tất cả hành vi của con người theo một cách nào đó Hệ thống phân cấp nhu cầu của Maslow nói rằng chúng ta phải lần lượt thỏa mãn từng nhu cầu, bắt đầu từ nhu cầu đầu tiên, liên quan đến nhu cầu rõ ràng nhất để tồn tại Maslow tin rằng những nhu cầu này tương tự như bản năng và đóng vai trò chính trong việc thúc đẩy hành vi Nhu cầu sinh lý, an toàn, xã hội và lòng tự trọng là nhu cầu thiếu hụt, phát sinh do thiếu thốn Đáp ứng các nhu cầu cấp thấp này là rất quan trọng để tránh cảm giác khó chịu Maslow gọi mức cao nhất của kim tự tháp là nhu cầu tăng trưởng Những nhu cầu này không xuất phát từ việc thiếu một cái gì đó, mà

là từ mong muốn phát triển của con người Mặc dù lý thuyết nói chung được mô tả như một hệ thống phân cấp khá cứng nhắc, nhưng Maslow cũng lưu ý rằng thứ tự

mà các nhu cầu này được đáp ứng không phải lúc nào cũng tuân theo tiến trình chuẩn này Chẳng hạn, ông lưu ý rằng đối với một số cá nhân, nhu cầu về lòng tự trọng quan trọng hơn nhu cầu về tình yêu Đối với những người khác, nhu cầu thực hiện sáng tạo có thể thay thế ngay cả những nhu cầu cơ bản nhất

Hệ thống nhu cầu của Maslow là một khung lý thuyết động lực trong tâm lý học bao gồm một mô hình năm tầng về nhu cầu của con người, thường được mô tả như là các cấp bậc trong một kim tự tháp:

i) Nhu cầu sinh lý: Đây là những yêu cầu sinh học cho sự sống còn của con người, ví dụ như không khí, thức ăn, đồ uống, nơi trú ẩn, quần áo, tình dục, giấc ngủ Nếu những nhu cầu này không được thỏa mãn, cơ thể con người không thể hoạt động tối ưu Maslow coi nhu cầu sinh lý là quan trọng nhất vì tất cả các nhu cầu khác đều trở thành thứ yếu cho đến khi những nhu cầu này được đáp ứng

ii) Nhu cầu an toàn: Khi một nhu cầu sinh lý cá nhân được thỏa mãn, các nhu cầu về an ninh và an toàn trở nên nổi bật Mọi người muốn trải nghiệm trật

tự, dự đoán và kiểm soát an ninh trong cuộc sống của họ Một số nhu cầu

an ninh và an toàn cơ bản bao gồm: An ninh tài chính; Sức khỏe và sự khỏe mạnh; An toàn chống lại tai nạn và thương tích; tìm việc làm, mua bảo hiểm y tế và chăm sóc sức khỏe, đóng góp tiền vào tài khoản tiết kiệm

Trang 19

và chuyển đến một khu phố an toàn hơn; đó là tất cả các ví dụ về các hành động được thúc đẩy bởi nhu cầu an ninh và an toàn Cấp bậc an toàn và sinh lý của hệ thống phân cấp thường được gọi là nhu cầu cơ bản Những nhu cầu này có thể được đáp ứng bởi gia đình và xã hội

iii) Nhu cầu xã hội (mối quan hệ, tình cảm): Sau khi đáp ứng nhu cầu sinh lý

và an toàn, mức độ thứ ba của nhu cầu của con người tập trung vào những mối quan hệ xã hội và liên quan đến cảm giác thân thuộc Các nhu cầu xã hội trong hệ thống phân cấp Maslow, bao gồm những thứ như tình yêu, sự chấp nhận và thuộc về Ở cấp độ này, nhu cầu về các mối quan hệ tình cảm thúc đẩy hành vi của con người Một số điều thỏa mãn nhu cầu này bao gồm: Tình bạn, sự gắn bó lãng mạn; Gia đình; xã hội; cộng đồng; Nhà thờ và các tổ chức tôn giáo; để tránh các vấn đề như cô đơn, trầm cảm và

lo lắng, điều quan trọng là mọi người phải cảm thấy được yêu thương và chấp nhận bởi những người khác Mối quan hệ cá nhân với bạn bè, gia đình và người yêu đóng vai trò quan trọng, cũng như sự tham gia vào các nhóm khác có thể bao gồm các nhóm tôn giáo, đội thể thao, câu lạc bộ sách và các hoạt động nhóm khác

iv) Nhu cầu được kính trọng: Ở cấp độ thứ tư trong hệ thống phân cấp Maslow là nhu cầu được đánh giá cao và tôn trọng Khi nhu cầu ở ba cấp

độ dưới cùng đã được thỏa mãn, nhu cầu về lòng tự trọng bắt đầu đóng vai trò nổi bật hơn trong việc thúc đẩy hành vi Tại thời điểm này, nó trở nên ngày càng quan trọng để có được sự tôn trọng và đánh giá cao của người khác Mọi người có nhu cầu hoàn thành mọi việc và mong muốn sau đó nỗ lực của họ được công nhận Ngoài nhu cầu về cảm giác thành tựu và uy tín, nhu cầu về lòng tự trọng bao gồm những thứ như lòng tự trọng và giá trị cá nhân Mức nhu cầu này khuyến khích mỗi cá nhân có nguyện vọng tham gia vào các hoạt động chuyên nghiệp, tăng cường thành tích học tập, tham gia thể thao theo nhóm và sở thích cá nhân đều có thể đóng một vai trò trong việc đáp ứng nhu cầu quý trọng Những người có khả năng thỏa

Trang 20

mãn nhu cầu tự trọng bằng cách đề cao tự trọng của mình và sự công nhận của người khác có xu hướng cảm thấy tự tin vào khả năng của họ Những người thiếu lòng tự trọng và sự tôn trọng của người khác có thể phát triển cảm giác tự ti Cùng với nhau, sự quý trọng và các cấp độ xã hội tạo nên những thành tố được gọi là nhu cầu tâm lý của hệ thống phân cấp Cấp độ thứ tư trong hệ thống phân cấp của Maslow được phân thành hai loại: thứ nhất là quý trọng bản thân đó là nhân phẩm, thành tích, tính làm chủ, tính độc lập và thứ hai là mong muốn danh tiếng hoặc sự tôn trọng từ người khác cụ thể như địa vị và uy tín Maslow chỉ ra rằng nhu cầu tôn trọng hoặc danh tiếng là quan trọng nhất đối với trẻ em và thanh thiếu niên và đi trước lòng tự trọng hoặc nhân phẩm thực sự

v) Nhu cầu thể hiện bản thân: Sau cùng, cấp độ cao nhất trong hệ thống phân cấp của Maslow là nhu cầu khẳng định mình và nó đề cập đến việc hiện thực hóa tiềm năng của bản thân, tự hoàn thành, tìm kiếm sự phát triển cá nhân và trải nghiệm đỉnh cao Maslow mô tả cấp độ này là mong muốn hoàn thành mọi thứ mà người ta có thể, để trở thành người hoàn thiện nhất Cá nhân có thể nhận thức hoặc tập trung vào nhu cầu này rất cụ thể

Ví dụ, một cá nhân có thể có một mong muốn mạnh mẽ để trở thành một người cha mẹ lý tưởng Mặt khác, mong muốn có thể được thể hiện về kinh tế, học thuật hoặc thể thao Đối với những người khác, nó có thể được thể hiện một cách sáng tạo, trong tranh, ảnh hoặc phát minh

Tổng quát, học thuyết tháp nhu cầu Maslow có thể tóm tắt như sau: con người được thúc đẩy bởi một hệ thống nhu cầu; các nhu cầu được tổ chức theo một hệ thống phân cấp chuẩn bị, trong đó các nhu cầu cơ bản hơn phải được đáp ứng nhiều hơn trước các nhu cầu cao hơn; thứ tự của các nhu cầu không cứng nhắc mà thay vào đó có thể linh hoạt dựa trên hoàn cảnh bên ngoài hoặc sự khác biệt cá nhân; hầu hết các hành vi là đa động lực, nghĩa là, được xác định đồng thời bởi nhiều hơn một nhu cầu cơ bản

2.1.2 Một số vấn đề cơ bản về đơn vị sự nghiệp y tế công lập có thu

Trang 21

2.1.2.1 Khái niệm

ĐVSN công lập có thu là ĐVSN công lập ngoài nguồn NSNN cấp còn có nguồn thu sự nghiệp, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, là đơn vị dự toán độc lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu

và tài khoản riêng, có tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán Các đơn vị này thực hiện nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì những hoạt động thường xuyên của các ngành kinh tế quốc dân trong nhiều lĩnh vực như: y tế, giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao ĐVSN y tế công lập có thu là đơn vị cung cấp các dịch vụ chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng; KCB; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định

y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe; đồng thời có đủ điều kiện và chức năng thu phí, lệ phí, dịch vụ KCB

TTYT các huyện, thị xã, thành phố là ĐVSN công lập trực thuộc Sở Y tế; thực hiện chức năng phòng chống dịch bệnh, kiểm soát bệnh tật; KCB, phục hồi chức năng; cung cấp các dịch vụ, kỹ thuật y tế dự phòng và các dịch vụ y tế khác theo quy định của pháp luật TTYT huyện, thị xã, thành phố quản lý hoạt động của bệnh viện trực thuộc, các trạm y tế xã phường và các khoa hoạt động liên quan đến y tế

dự phòng

2.1.2.2 Nguồn tài chính

Có thể nói, NSNN là nguồn tài chính chiếm vai trò chủ đạo trong các ĐVSN công lập nói chung và các ĐVSN y tế công lập nói riêng trên phạm vi toàn thế giới NSNN là điều kiện vật chất quan trọng để nhà nước thực hiện các nhiệm vụ của mình, sử dụng nó như một công cụ quan trọng để thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh

tế xã hội NSNN được định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau, trên phương diện pháp lý, tại Điều 4 của Luật NSNN năm 2015, NSNN được định nghĩa như sau:

“NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện

trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết

Trang 22

định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” NSNN cấp bao

Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp:

− Thu từ hoạt động dịch vụ như: BHYT, dịch vụ KCB, dịch vụ cho thuê bãi giữ xe, quầy thuốc, dịch vụ y tế dự phòng, dịch vụ phòng yêu cầu, hoạt động hướng dẫn thực hành chuyên môn

− Thu từ các hoạt động sự nghiệp khác như: thu tiền thanh lý tài sản, thu tiền bán hồ sơ mời thầu

− Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng Ngoài ra, nguồn tài chính của các ĐVSN y tế công lập còn có nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho và nguồn vốn vay hay quỹ tiền tệ của các tổ chức tín dụng phục vụ cho các hoạt động dịch vụ y tế

2.1.2.3 Phân phối và sử dụng kết quả tài chính trong năm

Hàng năm, ngoài việc trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, ĐVSN y tế công lập phải trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp và quỹ dự phòng ổn định thu nhập Cuối niên độ năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế

và các khoản nộp NSNN (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi hoạt động thường xuyên (nếu có), đơn vị thực hiện việc trích lập các quỹ theo trình

tự sau:

− Trích tối thiểu 15% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp

− Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 2 tháng tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định

Trang 23

− Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 2 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị

− Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật

− Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp

2.1.3 Quản lý tài chính các tổ chức y tế

Cho đến những năm 1960, quản lý tài chính trong tất cả các ngành thường được xem là mang tính chất mô tả, với vai trò chính của nó là đảm bảo nguồn tài chính cần thiết để đáp ứng các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp (LC Gapenski,

GH Pink– 2007) Ngày nay, quản lý tài chính đóng một vai trò lớn hơn nhiều trong việc quản lý tổng thể của một doanh nghiệp Bây giờ, vai trò chính của quản lý tài chính là lập kế hoạch, thu nhận và sử dụng các quỹ để tối đa hóa hiệu quả và giá trị của doanh nghiệp Chính vì vai trò này mà quản lý tài chính còn được gọi là tài chính vốn Trong các tổ chức lớn hơn, quản lý tài chính và kế toán là các chức năng riêng biệt, mặc dù chức năng kế toán thường được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giám đốc tài chính (CFO) của tổ chức và do đó thuộc danh mục tổng thể của “tài chính”

Thuật ngữ “Quản lý” được hiểu đó là quá trình chủ thể quản lý sử dụng các công cụ và phương pháp quản lý phù hợp để điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển hướng đến mục tiêu đã đề ra “Tài chính” được thể hiện là sự vận động của dòng tiền, là các hoạt động thu chi bằng tiền của một tổ chức đảm bảo

hoạt động thường xuyên và các nhiệm vụ khác Quản lý tài chính các tổ chức y tế

là quá trình áp dụng các công cụ và phương pháp quản lý, tác động trực tiếp lên đối tượng và quá trình hoạt động tài chính nhằm hoạch định kế hoạch, dự toán thu chi, tiến hành thu chi theo đúng pháp luật, đúng nguyên tắc kế toán, đảm bảo đạt được mục đích đã định Quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng tại các

tổ chức y tế, bao gồm việc lên kế hoạch sử dụng các nguồn vốn, theo dõi tình hình thu-chi, tình hình quyết toán ngân sách việc quản lý tài chính có hiệu quả hay không là nguyên nhân dẫn đến dự thành công hay thất bại của đơn vị

Trang 24

Nhìn chung, chức năng quản lý tài chính y tế bao gồm các chức năng sau:

− Đánh giá và lập kế hoạch Trước hết, quản lý tài chính liên quan đến việc đánh giá hiệu quả tài chính của các hoạt động hiện tại và lập kế hoạch cho tương lai

− Quyết định đầu tư dài hạn Mặc dù quan trọng hơn đối với quản lý cấp cao, các nhà quản lý ở tất cả các cấp phải quan tâm đến quá trình quyết định đầu

tư vốn Những quyết định như vậy, tập trung vào việc mua lại cơ sở vật chất

và thiết bị mới (tài sản cố định), là phương tiện chính để cơ sở y tế thực hiện các kế hoạch chiến lược và do đó chúng đóng vai trò quan trọng trong tương lai tài chính của tổ chức y tế

− Quyết định tài trợ Tất cả các tổ chức phải gây quỹ để mua các tài sản cần thiết để hỗ trợ hoạt động Những quyết định như vậy liên quan đến sự lựa chọn giữa nguồn vốn bên trong và bên ngoài, việc sử dụng nợ so với vốn chủ sở hữu, và việc sử dụng nợ dài hạn so với ngắn hạn Mặc dù các nhà quản lý cấp cao thường đưa ra các quyết định về tài chính, nhưng các quyết định này có sự phân nhánh đối với các nhà quản lý ở mọi cấp

− Quản lý vốn lưu động Các tài sản hiện tại hoặc ngắn hạn của một tổ chức, chẳng hạn như tiền mặt, các khoản phải thu và hàng tồn kho, phải được quản lý phù hợp để đảm bảo hiệu quả hoạt động và giảm chi phí Nhìn chung, ở một mức độ nào đó, các nhà quản lý các cấp đều tham gia vào việc quản lý tài sản ngắn hạn, thường được gọi là quản lý vốn lưu động

− Quản lý hợp đồng Trong môi trường chăm sóc sức khỏe ngày nay, các tổ chức dịch vụ y tế phải thương lượng, ký kết và giám sát các hợp đồng với các tổ chức chăm sóc được quản lý và người thanh toán bên thứ ba Các nhân viên tài chính thường có trách nhiệm chính đối với các nhiệm vụ này, nhưng các nhà quản lý ở tất cả các cấp đều tham gia vào các hoạt động này

và phải nhận thức được ảnh hưởng của chúng đối với các quyết định điều hành

Trang 25

− Quản lý rủi ro tài chính Bản thân nhiều giao dịch tài chính diễn ra để hỗ trợ hoạt động của các tổ chức y tế có thể làm tăng rủi ro của tổ chức y tế Như vậy, một hoạt động quản lý tài chính quan trọng là kiểm soát rủi ro tài chính

Tại Việt Nam, quản lý tài chính các tổ chức y tế là một nội dung của chính sách kinh tế tài chính y tế do Bộ Y tế xây dựng với chủ trương sử dụng các nguồn lực đầu tư cho ngành y tế để cung cấp các dịch vụ y tế một cách công bằng và hiệu quả Hiệu quả được thể hiện bằng việc chú trọng đầu tư, nâng cấp trang thiết bị vật

tư y tế, năng lực quản lý hành chính và chất lượng dịch vụ y tế cung cấp cho nhân dân Tính công bằng là việc cung cấp các dịch vụ y tế giống nhau cho các bệnh nhân có mức độ bệnh tật như nhau, đáp ứng nhu cầu KCB của người dân khi gặp phải vấn đề về sức khỏe theo một khung chi phí nhất định

2.1.3.1 Mục tiêu quản lý tài chính các tổ chức y tế công lập

Mục tiêu tổng quát của việc quản lý tài chính y tế là tạo ra sự cân đối và hiệu quả tài chính, tạo ra môi trường tài chính thuận lợi cho sự ổn định và phát triển kinh tế-xã hội Hiệu quả tài chính là mục tiêu hướng tới của quá trình quản lý tài chính y

tế, bao gồm các mục tiêu:

Lập kế hoạch, sử dụng và quyết toán các nguồn kinh phí đúng chế độ kế toán và đúng quy định của Nhà nước Đây là điều kiện quan trọng và mang tính tiên quyết trong quá trình quản lý tài chính y tế công lập

Tăng nguồn thu hợp pháp cho đơn vị, đảm bảo cán cân thu chi, thực hiện tiết kiệm chi, đảm bảo chi đúng, chi đủ

Đời sống của Cán bộ viên chức, người lao động (CBVC-NLĐ) được đảm bảo, ổn định và phát triển, được trang bị đầy đủ phương tiện làm việc, tạo điều kiện tốt nhất để hoàn thành công tác chuyên môn

Đầu tư xây dựng, sửa chữa cơ sở vật chất, nâng cấp trang thiết bị và các dịch vụ y tế

Thực hiện công bằng về chất lượng phục vụ trong quá trình KCB cho BC đặc biệt là các đối tượng chính sách và người nghèo

Trang 26

2.1.3.2 Nguyên tắc quản lý tài chính các cơ sở y tế công lập

Tài chính y tế là một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia hoạt động trong lĩnh vực y tế Nguyên tắc quản lý tài chính y tế công lập là việc sử dụng các nguồn kinh phí theo đúng quy định Nhà nước, sử dụng có hiệu quả các khoản chi, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Trong quản lý tài chính y tế cần tuân thủ những nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất, nguyên tắc hiệu quả: là nguyên tắc quan trọng trong quản lý tài

chính cơ sở y tế công lập Hiệu quả trong quản lý tài chính cơ sở y tế công lập được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội Khi thực hiện các nội dung chi tiêu công, các nhà quản lý luôn chú trọng tới việc thực hiện các nhiệm vụ

và mục tiêu trên cơ sở lợi ích chung, đồng thời đem lại hiệu quả kinh tế cho đơn vị Ngoài ra, hiệu quả xã hội cũng là một tiêu chuẩn được quan tâm, đề cập, cân nhắc thận trọng trong quá trình quản lý tài chính cơ sở y tế công lập Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội là hai tiêu chí được cân nhắc đồng thời trong quá trình đưa ra quyết định hay chính sách chi tiêu y tế

Thứ hai, nguyên tắc thống nhất: quản lý tài chính y tế thống nhất theo những

văn bản pháp luật là nguyên tắc quan trọng và không thể thiếu trong quá trình quản

lý tài chính y tế các cơ sở y tế công lập Thống nhất trong quản lý tài chính là việc tuân thủ theo một quy định nhất định từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, quyết toán, xử lý những sai sót và vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Thực hiện nguyên tắc thống nhất trong quản lý tài chính sẽ đảm bảo tính công bằng, hiệu quả, hạn chế tiêu cực và rủi ro khi quyết định các khoản chi tiêu công

Thứ ba, nguyên tắc công khai, minh bạch: Công khai, minh bạch trong việc

lập kế hoạch dự toán, phân phối các nguồn lực và quyết toán thu chi là nguyên tắc quan trọng đảm bảo cho việc quản lý tài chính cơ sở y tế công lập được hiệu quả và thống nhất Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý tài chính tạo điều kiện cho các đơn vị trực thuộc có thể theo dõi, kiểm soát các quyết định về thu chi trong

Trang 27

quản lý tài chính, hạn chế những rủi ro trong quản lý và đảm bảo tính hiệu quả, công bằng trong các quyết định chính sách chi tiêu

Thứ tư, nguyên tắc tập trung dân chủ: là nguyên tắc hàng đầu và thiết yếu

trong quản lý tài chính y tế công lập Quá trình quản lý tài chính, kế hoạch tài chính, các khoản thu chi phải được thảo luận trao đổi công khai nhằm đáp ứng mục tiêu vì lợi ích chung Tập trung dân chủ đảm bảo cho các nguồn lực của xã hội, của nền kinh tế thị trường được sử dụng đúng mục đích, tập trung và phân phối một cách khoa học, hợp lý, đảm bảo đem lại hiệu quả kinh tế

2.1.3.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý tài chính các cơ sở y tế công lập Hiệu quả quản lý tài chính y tế công lập được đo lường trên nhiều phương diện, cụ thể được thể hiện bằng cách trả lời các câu hỏi: 1) Cách cân đối thu chi, 2) Tình hình tài chính của cơ sở y tế công lập, 3) Chính sách Nhà nước, quy chế chi tiêu của đơn vị có ảnh hưởng đến tình hình tài chính, 4) Khuynh hướng kinh tế thị trường có tác động như thế nào đến quyết định của các nhà quản lý

Các câu hỏi được cụ thể hóa thành những tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý tài chính các cơ sở y tế công lập:

Cân đối thu-chi: Đây là tiêu chí quan trọng hàng đầu trong công tác quản lý tài chính y tế công lập của các nhà quản lý tài chính, đồng thời là tiêu chuẩn cho sự thành công trong công tác quản lý theo cơ chế mới tiến tới tự chủ tài chính Chỉ tiêu để đo lường và duy trì cán cân thu chi chính là việc xác định

số chênh lệch thu chi

Cải thiện chất lượng cơ sở vật chất cũng như hoạt động chuyên môn của cơ

sở y tế công lập Cơ sở y tế công lập tập trung phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, phát triển các chuyên khoa Chất lượng hoạt động chuyên môn được cải thiện thông qua các chỉ số: tổng số lượt KCB, số thu viện phí BHYT, tỉ lệ bệnh nhân tử vong,

Mức độ hài lòng của cán bộ viên chức người lao động: Chất lượng đời sống của CBVC-NLĐ được cải thiện thể hiện qua số chi thu nhập tăng thêm,

Trang 28

nâng cấp phương tiện làm việc, xây dựng môi trường làm việc tốt, văn hóa ứng xử

Công bằng chăm sóc sức khỏe: Công bằng y tế là tập trung vào việc giải quyết các vấn đề liên quan đến sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế, chất lượng dịch vụ y tế, đóng góp và chi trả chi phí dịch vụ y tế Một hệ thống y

tế cần phải nhắm tới việc đảm bảo sự công bằng thông qua việc đối xử như nhau đối với những người có cùng nhu cầu y tế Tài chính công bằng cho một hệ thống y tế là dịch vụ mà trong đó mỗi người trả tiền dịch vụ y tế tùy thuộc vào khả năng tài chính của cá nhân, những rủi ro tài chính mà mọi người đương đầu do chi phí cao của dịch vụ y tế sẽ được phân bổ tùy theo khả năng chi trả chứ không theo rủi ro bệnh tật Phương án tốt nhất để đảm bảo tính công bằng về tài chính trong chăm sóc sức khỏe là ưu tiên cho việc trả trước chi phí thay cho việc trả chi phí trực tiếp

2.1.4 Lý thuyết về sự mong đợi và hài lòng của khách hàng trong lĩnh vực y tế

2.1.4.1 Khái quát về mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách

hàng trong lĩnh vực y tế

Dựa theo Arsanam (2014) ngụ ý rằng chất lượng dịch vụ là chất lượng dịch vụ thực tế mà khách hàng mong đợi trước khi sử dụng dịch vụ Điều này có nghĩa là một số khách hàng có thể đã có những mong đợi của họ về một tổ chức và phương thức dịch vụ mà họ tin rằng sẽ đủ thỏa mãn nhu cầu, trước khi nhận được dịch vụ mong đợi và đây là điều thúc đẩy sự hài lòng của khách hàng Tuy nhiên, trong lĩnh vực kinh doanh, chất lượng dịch vụ là một trong những yếu tố chính minh họa các nguyên tắc của một tổ chức kinh doanh thành công, cũng như trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nó cũng có thể được coi là một yếu tố thúc đẩy BN thường xuyên quay lại một BV cụ thể để được thụ hưởng và trải nghiệm nhiều dịch vụ hơn Trong các

cơ sở y tế, chất lượng dịch vụ rất quan trọng vì nó là điều kiện tiên quyết mà khách hàng thường thấy trong khuôn viên BV, đòi hỏi sự nhạy bén và thỏa mãn nhu cầu cho khách hàng trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe Một số BN có thể thiếu kiến thức

Trang 29

cơ bản về cách đánh giá chất lượng dịch vụ, do đó khách hàng có thể dựa vào nhận thức và kỳ vọng như một phương tiện để đánh giá chất lượng phục vụ

Theo Zeithml (1988), “Chất lượng dịch vụ đã được đánh giá cao như một đánh giá của người tiêu dùng về mức độ vượt trội của việc thực hiện dịch vụ ” Trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe, tiêu chí được phân tích sẽ xuất phát từ môi trường xung quanh và các yếu tố thường thấy như cách tiếp cận BN và phản hồi cho các vấn đề của họ bao gồm cả tính chuyên nghiệp của nhân viên y tế Mục đích chính của nó là làm hài lòng BN hoặc khách hàng được quan tâm và đảm bảo rằng nhu cầu của họ được đáp ứng một cách thỏa đáng

vì điều này tiếp tục tạo ra một danh tiếng cho các tổ chức y tế

Một số lý thuyết ngụ ý rằng, sự hài lòng của BN xuất phát từ kết quả của dịch

vụ hoặc điều trị nhận được (Schoenfelder, Klewer, & Kugler, 2011) Như vậy, sự hài lòng của BN trên toàn cầu, được tạo điều kiện bởi đang được điều trị cho một căn bệnh cụ thể

Hai viện sĩ lỗi lạc Gronroos (1984) và Lam (1997) định nghĩa thuật ngữ “chất lượng dịch vụ được đo lường như chất lượng kỹ thuật và chức năng, trong đó chất lượng kỹ thuật trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe được xác định chủ yếu trên cơ sở

độ chính xác kỹ thuật của các chẩn đoán y tế và thủ tục, hoặc sự phù hợp với thông

số kỹ thuật, trong khi chất lượng chức năng đề cập đến cách thức mà dịch vụ chăm sóc sức khỏe được cung cấp cho BN Liên quan đến lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe trong BV bao gồm mối quan hệ giữa nhân viên BV và BN, mức độ giao tiếp, như cũng như số lượng chú ý và mức độ chuyên nghiệp được nhân viên BV dành cho BN Chất lượng dịch vụ tối đa hóa khả năng khách hàng quay lại cho các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ để có nhiều dịch vụ hơn và là yếu tố chính về mặt tạo ra lợi nhuận cho các tổ chức, như cũng như một yếu tố ảnh hưởng cung cấp lợi thế (Brown & Swartz, 1989) Khách hàng hiện tại có thể lan truyền thông tin cho các khách hàng tiềm năng khác thông qua truyền miệng về trải nghiệm của họ với chất lượng dịch vụ được cung cấp trong

Trang 30

BV, là một phương tiện hữu hiệu quảng cáo sản phẩm và có thể tạo ra sự quan tâm của họ do đó cải thiện lợi nhuận của nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên, một số trường hợp khác, một số khách hàng nhất định có xu hướng đánh giá của họ về chất lượng dịch vụ trên các yếu tố môi trường trong và xung quanh khuôn viên BV “Bởi vì bản chất vô hình của dịch vụ, người tiêu dùng sẽ tìm kiếm bằng chứng vật chất hữu hình như thiết bị, ngoại hình của nhân viên, thiết kế môi trường, bảng chỉ dẫn trang trí, để hình thành kỳ vọng của họ Các nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra rằng sự hài lòng của BN cũng có thể là do đánh giá cấu trúc và

cơ sở vật chất có sẵn trong BV, “Kết quả được báo cáo bởi Parasuraman và Zeithaml và Boshoff và Gray đã chấp thuận kết quả và tuyên bố rằng nhận thức của bệnh nhân về chất lượng chủ yếu bị ảnh hưởng bởi môi trường và bằng chứng vật chất hơn là các dịch vụ cốt lõi ” (Mohebifar, Hasani, Barikani và Rafiei, 2016) Chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe theo định nghĩa của các nhà nghiên cứu như Kalaja, Myshketa và Scalera (2016) là “ sự khác biệt giữa kỳ vọng và nhận thức của khách hàng như nó đang được khách hàng đón nhận, bởi vì nhận thức là chỉ số chính của chất lượng trong chăm sóc sức khỏe dịch vụ." Do đó, nói rằng, trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, cảm nhận và sự hài lòng của BN là rất quan trọng vì sự hài lòng là thước đo chính của chất lượng dịch vụ, và một BN hài lòng cũng sẽ có báo cáo về chất lượng dịch vụ và thông tin này là thường có ảnh hưởng hơn khi thuyết phục BN tiềm năng về chất lượng dịch vụ của một BV cụ thể Ngoài ra, nhận thức của BN giúp chỉ ra cái nhìn sâu sắc về xếp hạng tinh thần mà một cá nhân có về một tổ chức và quan điểm của họ cũng có thể cung cấp thông tin chi tiết về cách các dịch vụ có thể được cải thiện hơn nữa

Sự hài lòng của BN là một chỉ số nên không thể thiếu để đánh giá chất lượng chăm sóc trong các BV Badri và cộng sự (2008) cho rằng BN và sự hài lòng của

BN được coi là điểm quan trọng nhất trong lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá dịch

vụ y tế và đáp ứng nhu cầu của BN, tạo ra các tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe là bắt buộc đối với đạt chất lượng cao Theo Locker và Dunt (1978), sự hài lòng của BN

Trang 31

đã trở thành một phần quan trọng của việc xây dựng chính sách và y tế, về mức độ ảnh hưởng đến sự tuân thủ và tham gia chăm sóc

2.1.4.2 Mô hình SERVQUAL

Trong việc giải quyết chất lượng dịch vụ được cung cấp tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe, một bảng câu hỏi tuyên bố SERVQUAL (Parasuraman, Zeithaml, & Berry, 1988), sẽ được sử dụng trong bộ khảo sát dữ liệu chính Câu lệnh SERVQUAL này được thiết kế lần đầu tiên bởi các nhà nghiên cứu hàn lâm,

A Parasuraman, Leonard Berry, và Valarie Zeithaml, với mục đích đo lường chất lượng của dịch vụ trong các tổ chức Tuyên bố ban đầu là được thiết kế sử dụng 5 tiêu chí, với 22 câu hỏi nhằm xác định chất lượng dịch vụ được cung cấp bởi bất kỳ

tổ chức trong lĩnh vực dịch vụ

Hình 2 2 Mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL

(Nguồn: Theory of the Determinants of Perceived Quality)

Sự hữu hình (4): Tiêu chí này có bốn câu hỏi tập trung chủ yếu vào việc phân tích môi trường vật lý của tổ chức và sự xuất hiện của nó Trong lĩnh vực y tế, tiêu

Trang 32

chí này thể hiện đánh giá của khách hàng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, khuôn viên cơ sở y tế, những thứ được đánh giá bằng mắt và sự cảm nhận của khách hàng Khả năng đáp ứng (4): Tiêu chí này cũng có bốn câu hỏi trong đó tập trung vào sự nhanh chóng mà tổ chức nhân viên, đáp ứng nhu cầu của khách hàng và sự sẵn lòng giúp họ thông qua các quy trình

Độ tin cậy (5): Mặt khác, tiêu chí này chứa năm câu hỏi nhằm xác định khả năng của nhân viên tiến hành các dịch vụ đúng cách và đáng tin cậy mà không cần

sự giám sát

Đồng cảm (5): Trong tiêu chí này, có năm câu hỏi tập trung vào tần suất chú ý

cá nhân đang được cung cấp cho khách hàng bởi các nhân viên tổ chức

Sự đảm bảo (4): Tiêu chí này có bốn câu hỏi xác định kiến thức về nhiệm vụ, người lao động tại một tổ chức sở hữu và khả năng tạo niềm tin cho khách hàng

2.2 Khung phân tích

Trên cơ sở lý thuyết “Tháp nhu cầu Maslow” và “Quản lý tài chính các cơ sở

y tế công lập” và “Lý thuyết về sự mong đợi và sự hài lòng của khách hàng trong lĩnh vực y tế” làm khung phân tích để thực hiện đề tài, tác giả phác thảo khung phân tích như sau:

Trang 33

Hình 2 3 Khung phân tích Phân khúc nhu cầu BN định hướng tăng nguồn thu

KCB dịch vụ tại các cơ sở y tế công lập

2.3 Cách tiếp cận và kỹ thuật thực hiện đề tài

Để trả lời câu hỏi thứ nhất, tác giả sử dụng một kỹ thuật của phương pháp nghiên cứu định tính là phỏng vấn sâu, tìm hiểu sự mong đợi và mức độ hài lòng của BN làm cơ sở để phân khúc được nhu cầu từ thấp đến cao của BN khi đến KCB tại các cơ sở y tế công lập Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu BN để tìm hiểu sự mong đợi và nhu cầu thực sự của BN khi sử dụng dịch vụ y tế tại trung tâm, đồng thời tiến hành phỏng vấn sâu ban lãnh đạo trung tâm để đối chiếu, đo lường khoảng cách nhận thức giữa đội ngũ quản lý và BN Trên cơ sở đó, áp dụng tháp nhu cầu Maslow tác giả phân loại thành những bậc thang dịch vụ y tế, đồng thời đề xuất những chính sách và giải pháp đáp ứng nhu cầu theo bậc thang của BN Tác giả sử dụng lý thuyết mô hình SERVQUAL để đưa ra dàn ý phỏng vấn, bao gồm 2 dàn ý phỏng vấn dành cho BN và ban lãnh đạo trung tâm Tác giả sử dụng cách tiếp cận

tự nhiên để khai thác sự mong đợi và nhu cầu của BN một cách chân thực nhất, đối với ban lãnh đạo, tác giả tiến hành cuộc phỏng vấn như một cuộc trao đổi, thảo luận

để tìm ra giải pháp cho câu hỏi thứ nhất, từ đó điều chỉnh và đề xuất những chính sách đáp ứng nhu cầu của BN tốt hơn trong thời gian tới

Ngoài ra, để trả lời câu hỏi thứ hai, tác giả sử dụng phương pháp bán thí nghiệm, thử nghiệm triển khai tại Trung tâm những chính sách được đề xuất ở câu trả lời của câu hỏi thứ nhất, mỗi bậc thang từ thấp đến cao sẽ tương ứng với chi phí

mà bệnh nhân phải chi trả Thời gian thử nghiệm là ba tháng (có thực hiện các hoạt động truyền thông đến khách hàng cũ và khách hàng tiềm năng), sau đó so sánh

Trang 34

tổng doanh thu cũng như tỷ lệ doanh thu/chi phí từ những dịch vụ đó, bình quân của

3 tháng thử nghiệm so với bình quân 3 tháng trước đó nhằm khẳng định việc phân khúc nhu cầu BN để có chính sách và giải pháp tương ứng là cách để tăng nguồn thu hiệu quả cho trung tâm Trong quá trình KCB theo phương thức mới, sẽ lấy ý kiến của BN về sự hài lòng với dịch vụ mới và xác suất sẽ quay lại khi có nhu cầu KCB Phân tích các dữ liệu này để có bước điều chỉnh tiếp theo về chính sách KCB sao cho phù hợp nhất

Trang 35

CHƯƠNG 3 PHÂN LOẠI NHU CẦU KHÁM CHỮA BỆNH CỦA BỆNH NHÂN, XÂY DỰNG HỆ THỐNG KHÁM CHỮA BỆNH ĐÁP ỨNG NHU CẦU BỆNH NHÂN: TRƯỜNG HỢP TT Y TẾ THỊ XÃ NINH HÒA

3.1 Khái quát về Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa

TTYT thị xã Ninh Hòa là ĐVSN công lập có thu, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và là đơn vị tự đảm bảo một phần kinh phí chi thường xuyên

Trước năm 1975, trạm xá Ninh Hòa là cơ sở y tế cấp huyện tại Ninh Hòa, thực hiện khám bệnh và kê đơn điều trị ngoại trú Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc ngày 30/4/1975, ngành Y tế Ninh Hòa được tổ chức gồm: Phòng Y tế, Bệnh xá Ninh Hòa gồm 30 giường bệnh và Tổ vệ sinh phòng dịch Năm 1976, Bệnh xá Ninh Hòa được nâng lên thành Bệnh viện Khánh Ninh bao gồm

70 giường bệnh Đến giữa năm 1979, huyện Khánh Ninh được tách ra thành hai huyện Ninh Hòa và Vạn Ninh BV Ninh Hòa được giao chỉ tiêu 80 giường bệnh, biên chế có 81 cán bộ nhân viên, Đội vệ sinh phòng dịch có 11 cán bộ nhân viên và Phòng Y tế có 3 cán bộ nhân viên Năm 1988, BV Ninh Hòa được xây dựng mới bằng nguồn vốn của huyện và nhân dân Ninh Hòa đóng góp, chỉ tiêu giường bệnh được nâng lên 160 giường Năm 2005, với sự đầu tư từ nguồn vốn Trung ương, tỉnh

và vốn ADB, BV Ninh Hòa được xây dựng mới với quy mô 200 giường bệnh; quý 2/2007, BV được đưa vào sử dụng BV Ninh Hòa gồm có 17 khoa phòng trong đó

có 9 khoa lâm sàng, 4 khoa cận lâm sàng, 4 phòng chức năng trực thuộc TTYT huyện Ninh Hòa Về cơ cấu tổ chức, TTYT huyện Ninh Hòa bao gồm BV Ninh Hòa, Phòng khám Đa khoa khu vực Ninh Sim, Phòng khám Đa khoa khu vực Ninh Diêm, Đội Y tế dự phòng, Đội Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em và 27 trạm y tế xã, thị trấn với tổng số cán bộ viên chức là 332 người, trong đó có 54 bác sĩ

Ngày 24/12/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa ra Quyết định số 3165/QĐ-UBND thành lập BV Đa khoa khu vực Ninh Diêm, thực hiện chức năng nhiệm vụ là BV đa khoa tuyến huyện, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức

Trang 36

khỏe cho cán bộ và nhân dân huyện Ninh Hòa Như vậy, từ ngày 01/01/2009, TTYT huyện Ninh Hòa hoạt động gồm 2 bệnh viện: BV Đa khoa khu vực Ninh Hòa và BV

Đa khoa khu vực Ninh Diêm Thực hiện quy hoạch mạng lưới KCB ngành y tế Khánh Hòa giai đoạn 2010-2020, ngày 14/12/2010, UBND tỉnh ra Quyết định 3286/QĐ-UBND kiện toàn TTYT thị xã Ninh Hòa và thành lập BV Đa khoa khu vực Ninh Hòa làm nhiệm vụ BV khu vực phía Bắc của tỉnh, tách khỏi TTYT

Ngày 03/08/2018, UBND tỉnh ra Quyết định số 2197/QĐ-UBND về việc tổ chức lại TTYT thị xã Ninh Hòa trên cơ sở sáp nhập Trung tâm Dân số-Kế hoạch hóa gia đình thị xã Ninh Hòa vào TTYT thị xã Ninh Hòa Hiện nay, TTYT thị xã Ninh Hòa có các đơn vị trực thuộc: BV Đa khoa khu vực Ninh Diêm bao gồm 04 phòng chức năng và 16 khoa chuyên môn, Phòng khám Đa khoa khu vực Ninh Sim,

Trung tâm Y tế được bố trí theo cơ cấu tổ chức như sau:ban lãnh đạo gồm 1 Giám đốc và 2 Phó Giám đốc, các đơn vị trực thuộc bao gồm 4 phòng chức năng,

13 khoa chuyên môn và 5 khoa dự phòng

Đứng đầu TTYT là Ban Giám đốc Giám đốc Trung tâm là người chịu trách nhiệm trước cơ quan chủ quản về việc thực hiện Quy chế, Quy định của Nhà nước

và của ngành Y tế trong công tác KCB, phòng bệnh… Trong ban lãnh đạo còn có

02 Phó Giám đốc, mỗi Phó Giám đốc được phân công phụ trách từng lĩnh vực cụ thể nhằm tránh hiện tượng có sự chỉ đạo trùng lặp cũng như thuận lợi cho việc quản

Chức năng, nhiệm vụ của phòng Tài chính-Kế toán:

Trang 37

− Căn cứ vào chế độ, chính sách hiện hành và kế hoạch công tác của đơn vị, thực hiện việc lập dự toán ngân sách, kế hoạch thu chi và tổ chức thực hiện khi kế hoạch được phê duyệt; xây dựng định mức chi tiêu cho từng hoạt động cụ thể của đơn vị dựa trên kế hoạch ngân sách và các nguồn thu khác

− Theo định hướng hạch toán kinh tế trong công tác KCB, tổ chức và quản lý chặt chẽ việc thu viện phí theo quy định

− Tổ chức công tác kế toán trong cơ sở y tế công lập theo đúng quy định hiện hành, thực hiện các nghiệp vụ kế toán lao động tiền lương, chế độ chính sách, vật tư tài sản, hành chính sự nghiệp chính xác, kịp thời Tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, giám sát công tác kế toán, chế độ thu chi của đơn vị

− Định kỳ thực hiện báo cáo quyết toán, thực hiện kiểm kê tài sản; tổ chức bảo quản lưu trữ chứng từ, sổ sách kế toán theo đúng quy định; tổng hợp tình hình, số liệu cụ thể, phân tích kết quả hoạt động của đơn vị

3.1.2.2 Quy mô và các hoạt động khám chữa bệnh từ năm 2017 đến năm 2019 Hằng năm, chỉ tiêu giao cho hoạt động KCB được cơ quan chủ quản là Sở Y

tế giao từ đầu năm Năm 2019, theo kế hoạch được Sở Y tế giao cho TTYT thị xã Ninh Hòa thì chỉ tiêu giường bệnh là 160 giường Tuy nhiên, trung tâm luôn hoạt động trong tình trạng quá tải với số lượng BN đến khám

Bảng 3 1 Tổng hợp tình hình thực hiện các chỉ tiêu của nhiệm vụ cơ bản từ

Trang 38

6 Tổng số ngày điều trị nội

(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm của TTYT thị xã Ninh Hòa từ 2015-2019)

3.2 Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa

3.2.1 Thực trạng việc khai thác các nguồn thu dịch vụ khám chữa bệnh của

Trung tâm Y tế giai đoạn 2015-2019

3.2.1.1 Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ khám chữa bệnh

Khi NSNN không đủ để đầu tư cho các cơ sở y tế công lập trong giai đoạn lạm phát cuối thập kỷ 80 dẫn đến việc các dịch vụ y tế công không thể đáp ứng được nhu cầu KCB của nhân dân, kết quả là Nhà nước bắt buộc phải áp dụng cơ chế thu phí tại các cơ sở y tế công Chính sách thu hồi chi phí nhằm huy động nguồn lực phục vụ chăm sóc sức khỏe thông qua hình thức thu một phần viện phí và BHYT Theo Niên giám thống kê y tế năm 2018, nguồn thu viện phí (VP) và BHYT tăng nhanh qua các năm, cụ thể: năm 2016, tỷ lệ nguồn thu chiếm 50,8% trong tổng chi ngân sách sự nghiệp y tế; đến năm 2018, tỷ lệ này tăng lên 60,3%

Bảng 3 2 Nguồn thu VP và BHYT của TTYT thị xã Ninh Hòa

Đơn vị: triệu đồng

Năm

Viện phí 2.936,8 2.255,2 2.133,9 2.096,3 2.183,7 Thu BHYT 20.042,9 29.425,9 46.863,2 56.805,1 68.282,1 Tổng cộng 22.979,7 31.681,1 48.997,1 58.901,4 70.465,8

(Nguồn: Báo cáo quyết toán tài chính năm của TTYT thị xã Ninh Hòa)

Ngày đăng: 07/06/2021, 08:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w