Mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính,đơn vị sự nghiệp là trao quyền tự chủ thật sự cho cơ quan, đơn vị trong việc tổchức công việc, sử dụng lao động, tăng
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế theotinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng; Chính phủ đã có quyếtđịnh phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2001 - 2010 với bốn nội dung lớn là: Cải cách thể chế, cải cách bộ máy, đổimới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, cải cách tài chínhcông; trong đó cải cách cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính
và đơn vị sự nghiệp là bước đột phá
Để triển khai chương trình này, ngày 16/01/2002 Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP về việc đổi mới cơ chế tài chính,trao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu Sau đó, Thủtướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công
về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính
Mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính,đơn vị sự nghiệp là trao quyền tự chủ thật sự cho cơ quan, đơn vị trong việc tổchức công việc, sử dụng lao động, tăng cường huy động và quản lý thống nhấtcác nguồn thu; đồng thời sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn tài chínhnhằm mở rộng và nâng cao chất lượng công tác quản lý hành chính, hoạt động
sự nghiệp, khuyến khích tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp đảm bảotrang trải kinh phí hoạt động và nâng cao thu nhập của cán bộ, viên chức Việc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp cóthu theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP góp phần làm thay đổi phương thứcquản lý từ các yếu tố "đầu vào" sang quản lý theo kết quả “đầu ra” Các đơn
vị sự nghiệp có thu được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chứccông việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao dộng và nguồn lực tài chính để
Trang 2hoàn thành nhiệm vụ được giao, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cungcấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội, tăng nguồn thu nhằm từng bướcgiải quyết thu nhập cho người lao động.
Những kết quả đã đạt được khi áp dụng thực hiện Nghị định43/2006/NĐ-CP đối với các đơn vị sự nghiệp có thu trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng trong 4 năm 2007-2010 (như tổng thu sự nghiệp của các đơn vị luôntăng qua các năm, từ 369.954 triệu đồng/172 đơn vị sự nghiệp có thu trongnăm 2007, đến năm 2010 thì dự kiến đạt 570.788 triệu đồng/142 đơn vị, thunhập bình quân của người lao động tăng từ 20% đến 30%, …) đã khẳng địnhviệc trao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu là một hướng
đi đúng Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện chủ trương này vẫncòn xuất hiện những khó khăn như về nguồn vốn, chính sách cụ thể, nhậnthức của cán bộ, viên chức,
Nhằm tìm hiểu, phân tích và đánh giá những kết quả và hạn chế trongviệc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp cóthu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua; đồng thời tìm kiếmnhững giải pháp góp phần nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối vớiđơn vị sự nghiệp có thu để có thể đạt được những mục tiêu đề ra, tôi chọn đề
tài: “GIẢI PHÁP NÂNG CAO TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU THUỘC THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự
nghiệp có thu thuộc thành phố Đà Nẵng áp dụng thực hiện NĐ
43/2006/NĐ-CP của Chính phủ
- Phạm vi: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính
của các đơn vị sự nghiệp có thu đảm bảo một phần, toàn bộ chi phí hoạt độngtrên địa bàn thành phố Đà Nẵng đang thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP
Trang 33 Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp thống kê,
tổng hợp; tham khảo một số giáo trình, tài liệu; thu thập thông tin, phân tích
số liệu thực tế
4 Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung
chính của luận văn thể hiện ở ba chương:
Chương 1: Tổng quan về đơn vị sự nghiệp có thu và cơ chế tự chủ tài
chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu
Chương 2: Thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị
sự nghiệp có thu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp nâng cao tự chủ tài chính các đơn vị sự nghiệp có
thu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU VÀ CƠ CHẾ
TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1.1 Hoạt động sự nghiệp
1.1.1 Khái niệm
Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động không sản xuất ra của cải vậtchất, nhưng nó tác động trực tiếp đến lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất,quyết định năng suất lao động của xã hội
Ở nước ta có thể kể các hoạt động sự nghiệp như: sự nghiệp kinh tế,văn hóa thông tin, giáo dục đào tạo, y tế, thể dục thể thao, khoa học côngnghệ,
1.1.2 Vai trò của hoạt động sự nghiệp
Thời đại ngày nay, một quốc gia giàu hay nghèo không phải do có íthay nhiều lao động, tài nguyên thiên nhiên mà chủ yếu là do có khả năng pháthuy tiềm năng sáng tạo của con người lớn hay nhỏ Tiềm năng này nằm trongcác yếu tố cấu thành con người về trình độ văn hóa, tri thức khoa học, thể lựctâm hồn, đạo đức lối sống, thị hiếu, thẩm mỹ, giao tiếp cá nhân
Tiềm năng này đòi hỏi sự phát triển toàn diện của con người và conngười chỉ có thể phát triển toàn diện thông qua các hoạt động sự nghiệp giáodục đào tạo, khoa học, thể dục thể thao, y tế
1.1.2.1 Vai trò của văn hóa - thông tin
Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định vai trò của văn hóa trong Nghị
quyết của mình “văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu,
vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” [6] Nghị quyết Hội nghị
lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1998)
Với vai trò là mục tiêu của phát triển, văn hoá thể hiện trình độ pháttriển về ý thức, trí tuệ, năng lực sáng tạo của con người
Trang 5Với vai trò là động lực của sự phát triển, văn hóa khơi dậy và phát huymọi tiềm năng sáng tạo của con người Văn hóa phát triển mạnh và đúnghướng có khả năng phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các nhân
tố khách quan và chủ quan, bảo đảm cho xã hội phát triển cân đối hài hòa vàbền vững
Văn hóa hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không ngừng phát huysáng kiến, cải tiến kỹ thuật, sản xuất ra hàng hóa với số lượng và chất lượngngày càng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội Văn hoá góp phần tăng cường sựhiểu biết, mở rộng giao lưu hợp tác với các quốc gia khác trên thế giới
1.1.2.2 Vai trò của giáo dục và đào tạo
Đảng Cộng sản Việt Nam từ trước đến nay luôn khẳng định “Giáo dục
là quốc sách hàng đầu” Không có một sự tiến bộ và thành đạt của một quốc
gia nào có thể tách rời sự tiến bộ và thành đạt của nền giáo dục đào tạo củaquốc gia đó
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại phát triển ngày càngnhanh Tri thức và thông tin trở thành yếu tố hàng đầu, là nguồn có giá trịnhất Trong bối cảnh đó giáo dục đào tạo trở thành nhân tố quyết định nhấtđối với sự phát triển kinh tế xã hội
1.1.2.3 Vai trò của khoa học công nghệ
Khoa học là một lĩnh vực hoạt động rộng lớn của loài người nhằmnghiên cứu thành lý luận các tri thức và thực tiễn Hoạt động khoa học sảnsinh ra tri thức mới, phát hiện ra các quy luật mới mà trước đó chưa biết
Công nghệ là tổ hợp gồm nhiều công đoạn của quá trình biến đổi trithức khoa học thành sản phẩm và dịch vụ
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển hệ thống kinh tế xãhội của đất nước từ trạng thái năng suất chất lượng hiệu quả thấp, dựa vào sảnxuất nông nghiệp, sử dụng lao động thủ công là chính sang trạng thái năng
Trang 6suất chất lượng hiệu quả cao dựa trên phương pháp sản xuất công nghiệp vậndụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ tiên tiến.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuậtcao, giá trị tăng cao Muốn đạt mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hóa phảiphát triển công nghiệp nhưng quan trọng hơn là phải đổi mới và phát triểncông nghệ trong toàn bộ nền kinh tế, phải sử dụng có hiệu quả những thànhtựu khoa học kỹ thuật của thế giới Có thể nói, thực chất và nội dung cơ bảncủa công nghiệp hoá và hiện đại hóa là ứng dụng khoa học công nghệ vào nềnkinh tế quốc dân
Từ những nhận thức đó, Đảng Cộng sản đã khẳng định những quanđiểm cơ bản đối với khoa học công nghệ:
- Cùng với giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ là quốc sách hàngđầu
- Khoa học và công nghệ là nội dung then chốt trong mọi hoạt động củatất cả các ngành, các cấp, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy, tăng trưởng kinh tế,củng cố quốc phòng, an ninh
- Phát triển khoa học công nghệ là sự nghiệp toàn dân
- Phát huy năng lực nội sinh về khoa học công nghệ hiện đại thế giới
- Phát triển khoa học công nghệ gắn liền với bảo vệ và cải thiện môitrường
1.1.2.4 Vai trò của sự nghiệp thể dục thể thao
Phát triển thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng trong chính sáchphát triển khoa học xã hội của Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tốcon người, góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách,lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân
Mục tiêu cơ bản lâu dài của hoạt động thể dục thể thao của nước ta là
Trang 7xây dựng một nền thể dục thể thao có tính dân tộc, khoa học và nhân dân, giữgìn, phát huy bản sắc và truyền thống dân tộc, đồng thời nhanh chóng tiếp thu
có chọn lựa những thành tựu hiện đại, nâng cao sức khỏe, thể lực của nhândân
1.1.2.5 Vai trò của sự nghiệp y tế
Sức khỏe là một trạng thái của con người hoàn hảo về mặt thể chất trítuệ và xã hội
Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định sức khỏe là vốn quý nhất củamỗi người và toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Mục tiêu tổng quát chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân làgiảm tỷ lệ người mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, làm cho nòi giống
ngày càng tốt Điều này được ghi trong Hiến pháp năm 1992 là “Phát triển
và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân, huy động các tổ chức và mọi lực lượng xã hội xây dựng và phát triển nền y học Việt Nam theo hướng dự phòng, kết hợp phòng bệnh và chữa bệnh, phát triển và kết hợp nền y học cổ truyền và y học hiện đại, kết hợp phát triển y tế Nhà nước với y
tế nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện cho mọi người được chăm sóc sức khỏe.”
1.1.2.6 Vai trò của sự nghiệp kinh tế
Sự nghiệp kinh tế gồm: sự nghiệp giao thông; sự nghiệp nông nghiệp,thủy lợi, ngư nghiệp và lâm nghiệp; sự nghiệp thị chính; sự nghiệp môi trường;điều tra cơ bản;….Các hoạt động sự nghiệp này có vai trò to lớn trong đờisống, xã hội; nó là các nhân tố giúp cho các quá trình sản xuất diễn ra liên tục
và bình thường và là nhân tố quan trọng trong phân bố sản xuất và dân cư,thúc đẩy hoạt động kinh tế, văn hoá xã hội; đồng thời các hoạt động này phục
vụ nhu cầu đời sống của nhân dân và tăng cường sức mạnh an ninh, quốcphòng
Trang 81.2 Đơn vị sự nghiệp có thu
1.2.1 Khái niệm và phân loại đơn vị sự nghiệp có thu
1.2.1.1 Khái niệm
Đơn vị sự nghiệp là những tổ chức được thành lập để thực hiện cáchoạt động sự nghiệp, những hoạt động này nhằm duy trì, bảo đảm sự hoạtđộng bình thường của xã hội, mang tính chất phục vụ là chủ yếu, không vìmục tiêu lợi nhuận
Những đơn vị sự nghiệp trong quá trình hoạt động sự nghiệp được phépthu phí để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí được gọi là đơn vị sự nghiệp
có thu
Đơn vị sự nghiệp có thu được xác định dựa trên các đặc điểm cơ bảnsau:
- Do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập mà trong đó chủ yếu
là do cơ quan hành chính Nhà nước thành lập Căn cứ vào vị trí và phạm vihoạt động mà đơn vị sự nghiệp có thu đó có thể do Thủ tướng Chính phủ hay
Bộ trưởng Bộ quản lý ngành hay Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương trực tiếp ra quyết định thành lập
- Được Nhà nước cấp kinh phí và tài sản để hoạt động, thực hiện nhiệm
vụ chính trị, chuyên môn Trong quá trình hoạt động, được Nhà nước chophép thu một số khoản thu nhất định để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phíhoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức và bổ sung tái tạo chi phíhoạt động thường xuyên của đơn vị
- Nhằm cung cấp dịch vụ công cho xã hội (thực hiện hoạt động sựnghiệp được Nhà nước ủy quyền) không nhằm mục đích sinh lợi Dịch vụ
Trang 9công là những hoạt động vì lợi ích chung Dịch vụ công có những đặc điểm cơ
bản sau:
+ Là những hoạt động phục vụ lợi ích tối thiểu cần thiết cho xã hội,đảm bảo các quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người, đảm bảo cuộc sốngbình thường và an toàn
+ Những hoạt động này về cơ bản do các tổ chức được Nhà nước ủyquyền đứng ra thực hiện (có thể Nhà nước, có thể tư nhân), song Nhà nướcvẫn chịu trách nhiệm cuối cùng về những hoạt động này Bởi với vai trò làngười đảm bảo công bằng xã hội, Nhà nước phải có nghĩa vụ bảo đảm nhữngmục tiêu chính của dịch vụ công
+ Là những hoạt động theo pháp luật nên mọi đối tượng hưởng thụ đều
có điều kiện và khả năng như nhau, không phân biệt hoàn cảnh cụ thể về xãhội, chính trị hay kinh tế
+ Về nguyên tắc, dịch vụ công không phải là dịch vụ thương mại, do đókhông tồn tại trong môi trường cạnh tranh, việc trao đổi dịch vụ công khôngthông qua quan hệ thị trường đầy đủ
- Có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng Tức là các đơn
vị sự nghiệp có thu đáp ứng đủ 4 tiêu chí:
+ Được cơ quan có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng kýhay công nhận;
+ Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
+ Có tài sản độc lập với tổ chức, cá nhân khác và tự chịu trách nhiệmbằng các tài sản đó;
+ Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập
Ở đây, cũng cần phân biệt đơn vị sự nghiệp với cơ quan hành chính
Trang 10Nhà nước.
Cơ quan hành chính Nhà nước là một bộ phận của bộ máy Nhà nước có
chức năng quản lý Nhà nước, như Bộ, cơ quan ngang Bộ có chức năng quản
lý Nhà nước đối với ngành hay lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước;quản lý Nhà nước các dịch vụ công thuộc ngành lĩnh vực; thực hiện đại diệnchủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn Nhà nước theoquy định của pháp luật
Còn đơn vị sự nghiệp là những đơn vị trực thuộc của cơ quan hành
chính Nhà nước, do cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền thành lập,thực hiện hoạt động sự nghiệp (cung cấp dịch vụ công cho xã hội), không cóchức năng quản lý Nhà nước
1.2.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu
Căn cứ vào các phương thức cung cấp dịch vụ công, vào các tiêu thứckhác nhau, các đơn vị sự nghiệp có thu được phân loại như sau:
* Căn cứ vào vị trí, cấp chủ quản, đơn vị sự nghiệp có thu gồm:
- Đơn vị sự nghiệp có thu trung ương, như Đài Tiếng nói Việt Nam, ĐàiPhát thanh - Truyền hình Việt Nam, các bệnh viện, trường học do trung ươngquản lý,…
- Đơn vị sự nghiệp có thu địa phương, như Đài Phát thanh - Truyềnhình địa phương, các bệnh viện, trường học do địa phương quản lý,…
* Căn cứ vào lĩnh vực họat động sự nghiệp cụ thể, đơn vị sự nghiệp cóthu gồm:
- Đơn vị sự nghiệp văn hóa thông tin, như các đoàn nghệ thuật, nhà bảotang, nhà văn hóa, thư viện, đài phát thanh, truyền hình,…
- Đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo: các trường học, học viện, trungtâm đào tạo,…
Trang 11- Đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ môi trường: các viện nghiêncứu, các trung tâm ứng dụng, chuyển giao công nghệ,…
- Đơn vị sự nghiệp thể dục thể thao: câu lạc bộ thể dục thể thao, sânvận động, trung tâm huấn luyện,…
- Đơn vị sự nghịêp y tế: bệnh viện, phòng khám, trung tâm vắcxin,…
- Đơn vị sự nghiệp kinh tế: vườn quốc gia, viện thiết kế, viện quyhoạch, cục bảo vệ thực vật,…
* Căn cứ vào chủ thể thành lập, đơn vị sự nghiệp có thu gồm:
- Đơn vị sự nghiệp có thu công lập: do các cơ quan Nhà nước có thẩmquyền trực tiếp ra quyết định thành lập
- Đơn vị sự nghiệp có thu ngoài công lập như bán công, dân lập, tưnhân: được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, đăng kýhay công nhận
- Đơn vị sự nghiệp có thu của các tổ chức chính trị, chính trị xã hội: docác tổ chức chính trị, chính trị xã hội thành lập
- Đơn vị sự nghiệp có thu của các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp
- Đơn vị sự nghiệp có thu do các Tổng công ty thành lập
* Căn cứ vào khả năng thu phí:
Dựa vào công thức:
Đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm:
- Đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thườngxuyên là đơn vị có mức tự đảm bảo chi hoạt động thường xuyên bằng hoặclớn hơn 100%, NSNN không cấp kinh phí chi thường xuyên;
Mức tự đảm bảo chi hoạt
động thường xuyên của
đơn vị sự nghiệp (%)
Tổng số nguồn thu sự nghiệp
Tổng số chi hoạt động thường xuyên
x
Trang 12- Đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt độngthường xuyên là đơn vị có mức tự đảm bảo chi hoạt động thường xuyên từtrên 10% đến dưới 100%, NSNN cấp thêm một phần kinh phí chi thườngxuyên;
1.2.2 Vai trò của đơn vị sự nghiệp có thu
- Tác động mạnh mẽ và lâu dài tới lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất, có tính quyết định đến năng suất lao động xã hội: Hoạt động sự nghiệp
là những hoạt động không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, nhưng nó tácđộng mạnh mẽ và lâu dài tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tínhquyết định đến năng suất lao động xã hội Điều đó thể hiện thông qua hoạtđộng của các đơn vị sự nghiệp là cung ứng các dịch vụ công cho xã hội, đảmbảo các nhu cầu cho người dân về các dịch vụ xã hội cơ bản Điển hình nhưlĩnh vực giáo dục - trang bị kiến thức và kỹ năng cho công dân, lĩnh vực y tế -đảm bảo cho người dân có sức khỏe tốt,…
Góp phần quan trọng trong việc phát triển toàn diện đời sống kinh tế
-xã hội của đất nước: Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp góp phần quan trọngtrong việc phát triển toàn diện đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Các đơn
vị hoạt động sự nghiệp sẽ đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người dân làđược cung ứng các dịch vụ công cả về số lượng, chất lượng và hiệu quả.Chẳng hạn như các nhu cầu về học tập để nâng cao kiến thức, trình độ, nhucầu được chăm sóc sức khỏe, đường sá đi lại, bưu chính viễn thông, thămquan, du lịch, danh lam thắng cảnh,…
- Tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiệnđời sống nhân dân: Các đơn vị cung cấp dịch vụ công còn có vai trò quantrọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh,làm cho đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Lượng hàng hóa công
mà người dân được hưởng chính là tiêu chí để đánh giá sự phát triển của mỗi
Trang 13quốc gia Do vậy, với hệ thống các dịch vụ công do các đơn vị sự nghiệp cungcấp ngày càng được nâng cao về chất lượng và số lượng sẽ góp phần quantrọng trong việc nâng cao đời sống nhân dân, tác động tích cực tới quá trìnhtăng năng suất lao động, phát triển sản xuất kinh doanh.
- Nâng cao ý thức cộng đồng xã hội của các tầng lớp nhân dân, gópphần thực hiện công bằng xã hội: Thông qua chi NSNN cho các hoạt động sựnghiệp, Chính phủ đã đảm bảo kinh phí cho các ngành, các lĩnh vực này cókhả năng cung ứng dịch vụ công đáp ứng cho nhu cầu xã hội, tạo điều kiệnthuận lợi cho mọi thành viên trong xã hội, đặc biệt là các đối tượng chínhsách được thụ hưởng lợi ích của các dịch vụ công được cung ứng
1.2.3 Nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu
Nguồn tài chính cho các đơn vị sự nghiệp nói chung gồm 3 nguồnchính là từ NSNN; nguồn thu sự nghiệp của đơn vị hay là thu từ các hoạtđộng cung ứng dịch vụ công và nguồn khác như viện trợ, vay nợ, quà biếu,tặng,…
1.2.3.1 Nguồn từ Ngân sách Nhà nước
Nguồn NSNN cho các hoạt động sự nghiệp giữ vai trò quan trọng trongviệc hình thành, mở rộng và nâng cao hiệu quả của các dịch vụ công đáp ứngngày càng tốt hơn nhu cầu thiết yếu của người dân Đầu tư từ NSNN ở hầuhết các nước đều ưu tiên cho giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa,thể thao,…
Nguồn tài chính từ NSNN cấp cho các đơn vị sự nghiệp thường căn cứvào định mức phân bổ ngân sách cho các lĩnh vực hoạt động sự nghiệp nhưgiáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, phát thanh truyền hình, Các định mức nàyđược xây dựng theo các tiêu chí khác nhau như dân số, cơ cấu dân số, thunhập bình quân đầu người, tỷ lệ học sinh nhập học, dân số trong độ tuổi đếntrường, số giường bệnh, biên chế,…
Trang 141.2.3.2 Nguồn thu sự nghiệp của đơn vị
Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp đơn vị thể hiện mối quan hệ giữangười hưởng dịch vụ phải trả tiền và người cung ứng dịch vụ Với mỗi đơn vị
sự nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau thì sẽ có các nguồn thu sựnghiệp được quy định cụ thể Các đơn vị sự nghiệp có thu được tổ chức khaithác các nguồn thu hợp pháp bao gồm: phí, lệ phí, thu từ kết quả hoạt độngsản xuất, cung ứng dịch vụ Đối với những ngành, nghề khác nhau có nhữngnội dung thu, mức thu và chi phí để thu khác nhau Chẳng hạn như là học phíđối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục, viện phí đối với các đơn vị sự nghiệp ytế,… nhưng phải nằm trong khung quy định của Nhà nước
Số thu về phí từ các hoạt động sự nghiệp thường được sử dụng để bùđắp chi phí, chi cho các hoạt động thường xuyên, chi cho việc mở rộng vànâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ do đơn vị cung cấp Thu phí từ hoạtđộng sự nghiệp là một khoản thu tương đối “nhạy cảm” đối với các hoạt độngkinh tế xã hội nên việc quản lý, ban hành thống nhất được các loại phí này rấtkhó khăn Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp phụ thuộc vào giá dịch vụ đượccung cấp, số lượng người tham gia dịch vụ và khả năng chi trả của người dân.Nếu giá dịch vụ thấp sẽ không đủ tái tạo lại chi phí cần thiết cho các đơn vịcung cấp dịch vụ, ngược lại, nếu giá dịch vụ cao sẽ hạn chế số lượng ngườitham gia vào các dịch vụ do đơn vị cung cấp Do vậy, cần phải tính toán mứcthu phù hợp để đảm bảo hài hòa mục tiêu bù đắp chi phí và phục vụ đông đảocác nhu cầu thiết yếu của quần chúng
1.2.3.3 Nguồn khác
Các đơn vị sự nghiệp còn có thể huy động được nguồn lực để nâng cao
số lượng, chất lượng và hiệu quả của các hoạt động của sự nghiệp giáo dục,đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao,… thông qua liên doanh, liên kết với các tổchức, cá nhân trong và ngoài nước như liên kết đào tạo, dạy nghề, liên kết tổ
Trang 15chức các hoạt động văn hóa, thể thao,… Hơn nữa, việc hợp tác với nướcngoài để nâng cao chất lượng và hiệu quả của các hoạt động sự nghiệp đang là
xu thế tất yếu tạo them nguồn lực tài chính để đầu tư cho phát triển, nhất làtrong lĩnh vực giáo dục, y tế,…
Ngoài ra, đơn vị sự nghiệp còn có nguồn tài chính huy động từ sự đónggóp tự nguyện của người dân, các khoản viện trợ trong và ngoài nước, quàbiếu, tặng,…
Các đơn vị sự nghiệp có thu được vay tín dụng ngân hàng hoặc quỹ hỗtrợ phát triển để đầu tư mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng hoạt động sựnghiệp, tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vaytheo quy định của pháp luật
1.2.4 Nhiệm vụ chi của đơn vị sự nghiệp có thu
1.2.4.1 Chi hoạt động thường xuyên
Chi hoạt động thường xuyên của đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ đượccấp có thẩm quyền giao và chi cho các hoạt động có thu sự nghiệp:
- Chi cho con người: chi tiền lương, tiền công; các khoản phụ cấplương; các khoản trích BHYT, BHXH, kinh phí công đoàn theo quy định,…
- Chi quản lý hành chính: vật tư văn phòng, dịch vụ công cộng, thôngtin liên lạc, công tác phí, hội nghị phí,…
- Chi hoạt động nghiệp vụ: chi cho công tác giảng dạy, chi cho việc duy
tu bảo dưỡng, sửa chữa đường bộ, chi cho công tác nghiên cứu giống câymới,…
- Chi hoạt động tổ chức thu phí, lệ phí: cho cho việc in vé thu phí; muasắm, sửa chữa các thiết bị, công nghệ thu phí; chi trả trợ cấp độc hại, mua sắmbảo hộ lao động,…
- Chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ (kể cả chi nộp thuế, tríchkhấu hao tài sản cố định)
Trang 16- Chi mua sắm tài sản, sửa chữa thương xuyên cơ sở vật chất: nhà cửa,máy móc thiết bị,…
- Và chi thường xuyên khác,…
1.2.4.2 Chi hoạt động không thường xuyên
- Chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ,ngành, chương trình mục tiêu quốc gia, chi thực hiện nhiệm vụ đặt hàng củaNhà nước; chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có vốn nước ngoài theo quyđịnh;
- Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định;
- Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tàisản cố định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
- Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết;
- Các khoản chi khác theo quy định (nếu có)
1.3 Cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu 1.3.1 Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp
1.3.2 Mục tiêu của cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu
Dưới yêu cầu chung của công cuộc cải cách hành chính, lành mạnh nềntài chính quốc gia, gắn liền với chính sách xã hội hóa các hoạt động giáo dục,
Trang 17y tế, văn hóa, Mục tiêu của cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự
- Tăng cường huy động và quản lý thống nhất các nguồn thu; đồng thời
sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn tài chính nhằm mở rộng và nângcao chất lượng hoạt động sự nghiệp, khuyến khích và tạo điều kiện cho cácđơn vị sự nghiệp đảm bảo trang trải kinh phí hoạt động, nâng cao thu nhập vàhiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, viên chức
1.3.3 Cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu
1.3.3.1 Quản lý các khoản thu
Các đơn vị sự nghiệp có thu khi được trao quyền tự chủ tài chính thìphải thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhànước có thẩm quyền quy định Trường hợp nhà nước có thẩm quyền quy địnhkhung mức thu, đơn vị được linh hoạt quy định mức thu căn cứ nhu cầu chiphục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội phù hợp với từng loạihoạt động, từng đối tượng, nhưng không được vượt quá khung mức thu do cơquan có thẩm quyền quy định Đồng thời, đơn vị thực hiện chế độ miễn, giảmcho các đối tượng chính sách xã hội theo quy định của nhà nước
Đối với các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được cơ quan nhà nước đặthàng thì mức thu theo đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy địnhhoặc cho phép; trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan nhà nước có thẩmquyền quy định giá, thì mức thu được xác định trên cơ sở dự toán chi phí được
Trang 18cơ quan tài chính cùng cấp thẩm định chấp thuận
Đối với những hoạt động cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo hợp đồng chocác tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết,đơn vị được toàn quyền quyết định các khoản thu, mức thu cho phù hợp, bảođảm bù đắp chi phí, có tích lũy
Ngoài ra, các đơn vị sự nghiệp còn được tạo điều kiện thuận lợi nhằmkhai thác đa dạng các nguồn vốn của mọi thành phần kinh tế cho phát triểncác sự nghiệp khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thể thaothông qua hình thức xã hội hóa Xã hội hóa là quá trình huy động, tổ chức sựtham gia rộng rãi, chủ động của nhân dân và các tổ chức vào hoạt động cungứng dịch vụ công trên cơ cở phát huy tính sáng tạo và khả năng đóng góp củamỗi người, dưới hình thức: huy động kinh phí đóng góp của dân vào việccung ứng các dịch vụ công cộng của Nhà nước; động viên, tổ chức sự thamgia rộng rãi, chủ động và tích cực của các tổ chức và công dân vào quá trìnhcung ứng dịch vụ công cộng, đa dạng hóa các hoạt động cung ứng dịch vụcông trên cơ sở phát huy công sức và trí tuệ của dân
1.3.3.2 Quản lý các khoản chi
Trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật và chế độ chi tiêu tài chính hiệnhành của Nhà nước, đơn vị chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độchi tiêu nội bộ, để bảo đảm hoạt động thường xuyên cho phù hợp với hoạtđộng đặc thù của đơn vị và tăng cường công tác quản lý, sử dụng kinh phí tiếtkiệm, có hiệu quả Đối với các khoản chi quản lý hành chính (công tác phí,hội nghị phí, điện thoại, công vụ phí… ), chi hoạt động nghiệp vụ thườngxuyên, tùy theo từng nội dung công việc, nếu xét thấy cần thiết, có hiệu quả,thủ trưởng đơn vị được quyết định mức chi cao hoặc thấp hơn mức chi do Nhànước quy định trong phạm vi nguồn thu được sử dụng Ngoài ra, đơn vị đượcquyết định đầu tư, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc từ nguồn vốn
Trang 19vay, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp theo đề án được cấp có thẩm quyềnphê duyệt
1.3.3.3 Quản lý các Quỹ
- Hàng năm, căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính, sau khi trang trảicác khoản chi phí và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước.Chênh lệch thu, chi trong năm được xác định như sau:
-Chi hoạt động thườngxuyên và nhà nướcđặt hàng
- Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm lớn hơn một lầntiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, khi đã thống nhất với tổ chức côngđoàn, thủ trưởng đơn vị quyết định trích lập Quỹ phát triển hoạt động sựnghiệp, trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, Quỹ dự phòng ổn định thunhập, Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi như sau:
+ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Trích tối thiểu 25% số chênh
lệch thu lớn hơn chi dùng để đầu tư, phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp,
bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phươngtiện làm việc, chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, trợ giúp thêmđào tạo, huấn luyện nâng cao tay nghề năng lực công tác cho cán bộ côngchức viên chức đơn vị; được sử dụng góp vốn liên doanh liên kết với các tổchức, cá nhân trong và ngoài nước để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp vớichức năng, nhiệm vụ được giao và khả năng của đơn vị theo qui định củapháp luật
+ Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động: Sau khi đã thực hiện
trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, đối với đơn vị tự đảm bảo chi phíhoạt động được quyết định trả thu nhập tăng thêm cho người lao động theoquy chế chi tiêu nội bộ; đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động
Trang 20thì căn cứ vào quỹ tiền lương thực tế của đơn vị, việc trả lương cho từngngười có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệmchi với hệ số điều chỉnh tăng thêm cho cá nhân không quá 3 lần tiền lươngcấp bậc, chức vụ trong năm do nhà nước quy định được xác định như sau:Tiền
cá nhân
) x
Hệ số lương cấpbậc và hệ số phụcấp lương của cánhân
Việc chi trả thu nhập tăng thêm cho từng lao động trong đơn vị chỉ ápdụng đối với lao động trong biên chế và lao động hợp đồng từ 1 năm trở lên,không áp dụng với đối tượng lao động hợp đồng theo vụ việc
Căn cứ kết quả hoạt động tài chính quý, năm của đơn vị, nhằm độngviên kịp thời người lao động phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao, Thủtrưởng đơn vị sự nghiệp có thể tạm chi trước thu nhập tăng thêm cho ngườilao động trong đơn vị Mức tạm chi trước thu nhập tăng thêm hàng quý tối đakhông quá 40% số chênh lệch thu lớn hơn chi đơn vị xác định được theo quý
Sau khi quyết toán năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt và xác địnhđược chính xác số chênh lệch thu lớn hơn chi, thủ trưởng đơn vị thực hiện chitrả tiếp thu nhập tăng thêm theo chế độ quy định cho người lao động theo quychế chi tiêu nội của đơn vị Trường hợp đơn vị đã tạm chi vượt quá số chênhlệch thu lớn hơn chi dành để chi thu nhập tăng thêm theo quy chế chi tiêu nộibộ; số chi vượt phải trừ vào số chi thu nhập tăng thêm của năm sau
+ Quỹ dự phòng ổn định thu nhập: Dùng để đảm bảo thu nhập cho
người lao động trong trường hợp nguồn thu bị giảm sút
Trang 21+ Quỹ khen thưởng: Dùng để khen thưởng định kỳ, đột xuất cho tập
thể cá nhân trong và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích đónggóp vào hoạt động của đơn vị
+ Quỹ phúc lợi: Dùng để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi,
chi cho hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấpkhó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả những trường hợp nghỉ hưu,nghỉ mất sức; Chi thêm cho cán bộ công chức viên chức trong biên chế thựchiện tinh giản biên chế
- Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm bằng hoặc nhỏ hơnmột lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, đơn vị được sử dụng đểtrả thu nhập tăng thêm cho người lao động, trích 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổnđịnh thu nhập, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sựnghiệp, trong đó, đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đakhông quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thựchiện trong năm do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy chế chitiêu nội bộ của đơn vị
1.3.4 Nhân tố ảnh hưởng đến tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu
1.3.4.1 Định mức phân bổ ngân sách cho các hoạt động sự nghiệp
Như đã đề cặp ở trên, nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp có thu gồm
có 3 nguồn chính; trong đó có nguồn vốn từ NSNN Nguồn này được cấp pháttrên cơ sở các định mức phân bổ ngân sách Các định mức này được xây dựngtheo các tiêu chí khác nhau như dân số, cơ cấu dân số, thu nhập bình quân đầungười, tỷ lệ học sinh nhập học, dân số trong độ tuổi đến trường, số giườngbệnh, biên chế,… Các định mức càng cao thì nguồn thu của các đơn vị cànglớn, sẽ thúc đẩy phát triển hoạt động sự nghiệp từ đó tăng nguồn thu sựnghiệp và tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức Ngược lại, các định mức thấp
Trang 22sẽ khó đảm bảo điều kiện cho các đơn vị hoạt động, giảm nguồn thu sựnghiệp và giảm thu nhập cho cán bộ, viên chức.
1.3.4.2 Phương thức quản lý chi NSNN
Phương thức quản lý chi NSNN là cách thức cấp phát kinh phí NSNNcho các đơn vị sự nghiệp để hoạt động cung cấp các dịch vụ công cho xã hội
Có 02 phương thức quản lý chi NSNN:
- Quản lý chi NSNN theo phương thức dựa vào khả năng nguồn lực đầuvào: là Ngân sách được lập và phân phối sử dụng dựa vào khả năng nguồn lựcđầu vào (có hạn); Quản lý chi tiêu sử dụng chủ yếu dựa theo hệ thống tiêuchuẩn, chế độ, định mức lập sẵn; Không và không thể trú trọng đến kết quảthực sự đạt được ở đầu ra của chu trình ngân sách Cách thức quản lý dựa chủyếu vào các định mức, tiêu chuẩn để thắt chặt quản lý, chưa chú trọng đến kếtquả kinh tế - xã hội của các khoản chi ngân sách; Nếu nhu cầu chi đề nghịnhiều nhưng nguồn vốn có hạn thì cắt hoặc dàn trả cho các hạng mục
- Quản lý chi NSNN theo phương thức dựa vào khả năng nguồn lực đầura: là việc Nhà nước bỏ ra một khoản tiền nhất định để mua các dịch vụ công
do Bộ, ngành hoặc một đơn vị nào đó cung ứng cho xã hội Căn cứ vào dựtoán năm được duyệt, thủ trưởng đơn vị được quyền chủ động và tự chịu tráchnhiệm về việc sử dụng kinh phí được cấp, thực hiện công việc theo đúngnhững cam kết ban đầu Định kỳ cơ quan tài chính phối hợp với cơ quan quản
lý cấp trên của đơn vị theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ của đơn
vị Trường hợp phát hiện đơn vị không đảm bảo thực hiện công việc theođúng cam kết, thì tạm dừng cấp phát kinh phí cho đơn vị hoặc có biện phápthu hồi phần kinh phí đã cấp
Như vậy, Phương thức quản lý NSNN theo kết quả đầu ra sẽ buộc cácđơn vị sự nghiệp phải nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ của đơn vị, điều
Trang 23này là mục tiêu lớn và ảnh hưởng đến các mục tiêu của cơ chế tự chủ tàichính
1.3.4.3 Cơ chế, chính sách của nhà nước đối với khu vực sự nghiệp
Nguồn thu hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu chủ yếu là cáckhoản phí, lệ phí Các khoản phí và lệ phí này phần lớn là do các cơ quan nhànước quy định thông qua các cơ chế, chính sách của Nhà nước Nếu Nhà nướcquy định các khoản phí, lệ phí cao thì nguồn thu của đơn vị cao, ngược lại cáckhoản phí, lệ phí quy định thấp thì nguồn thu của đơn vị thấp
Ngoài ra, các cơ chế về quy định việc sử dụng các nguồn thu phí, lệ phíảnh hưởng lớn đến kết quả tự chủ tài chính của các đơn vị Ví dụ, việc Bộ Tàichính quy định trích tối thiểu 40% số thu được để lại theo quy định (riêngngành y tế là 35% sau khi trừ chi phí thuốc, máu, dịch truyền, hóa chất, ) đểtạo nguồn cải cách tiền lương, điều này ảnh hưởng đến mục tiêu tăng thu nhậpcho cán bộ, viên chức,
1.3.4.4 Trình độ và ý thức trách nhiệm của cán bộ, viên chức của đơn
vị sự nghiệp có thu
Mọi hoạt động trên xã hội đều được quyết định bởi yếu tố con người
Cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu cũng không ngoại
lệ, mà còn là yếu tố quan trọng hàng đầu, nó quyết định đến hiệu quả thựchiện cơ chế của các đơn vị Cán bộ, viên chức có trình độ tay nghề cao sẽcung cấp cho xã hội dịch vụ tốt, làm tăng nguồn thu cho đơn vị; bên cạnhtrình độ thì ý thức trách nhiệm (chủ yếu là của người thủ trưởng đơn vị) và ýthức tiết kiệm của toàn cán bộ, viên chức sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng cácnguồn thu một cách có hiệu quả, tiết kiệm được kinh phí, từ đó tăng thu nhậpcho chính bản thân cán bộ, viên chức
Để cán bộ, viên chức có ý thức tiết kiệm và tiết kiệm đến đâu là tốt thìtrình độ của người kế toán đơn vị rất quan trọng Kế toán sẽ tham mưu cho
Trang 24thủ trưởng đơn vị ban hành một quy chế chi tiêu nội bộ (là một trong nhữngviệc quan trọng để thực hiện tốt cơ chế tự chủ tài chính) có chất lượng để cán
bộ, viên chức dựa vào thực hiện; đồng thời việc am hiểu về kế toán của cán
bộ, viên chức cũng không kém phần quan trọng nhằm theo dõi việc thực hiện
cơ chế của đơn vị có hiệu quả hay không để đóng góp, kiến nghị với thủtrưởng đơn vị
1.3.4.5 Các nhân tố khác
Ngoài các nhân tố chủ yếu nêu trên, những nhân tố về trình độ dân trí,mức sống và sức mua của người dân, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho việccung cấp hàng hóa công cộng cũng tác động đến hiệu quả huy động cácnguồn tài chính trong các đơn vị sự nghiệp Chẳng hạn khi mức sống và sứcmua của người dân được cải thiện hơn thì họ sẽ có điều kiện thụ hưởng cácdịch vụ công nhiều hơn Ngoài các nhu cầu cơ bản về học tập, chăm sóc sứckhỏe người dân còn muốn được hưởng các dịch vụ về vui chơi, giải trí haymuốn trình độ, kiến thức của mình ngày càng cao hơn, được chăm sóc sứckhỏe toàn diện hơn,… Qua đó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của các dịch
vụ công ngày càng đa dạng, tạo được nhiều nguồn tài chính cho đầu tư cáchoạt động sự nghiệp
Kết luận chương 1
Trong chương 1, luận văn đã nghiên cứu và hệ thống được các vấn đề
lý luận liên quan đến cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu,gồm: hoạt động sự nghiệp, vai trò của hoạt động sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp
có thu, phân loại đơn vị sự nghiệp có thu; đồng thời đã khái quát hóa cơ chế
tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu theo Nghị định 43/NĐ-CP củaChính phủ làm cơ sở lý luận cho việc phân tích tại chương 2 và đề xuất cácgiải pháp tại chương 3
Trang 25Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ
SỰ NGHIỆP CÓ THU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1 Tình hình kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiện
Thành phố Đà Nẵng thuộc vùng Nam Trung Bộ Việt Nam, có diện tích
tự nhiên 1.283,42km2, đa dạng về địa hình, có cả đồng bằng, trung du và miềnnúi; khí hậu nhiệt đới gió mùa; có sông, có núi trong lòng thành phố; nằm bên
bờ biển đẹp, dài 92km, vùng lãnh hải thềm lục địa trải ra 125km
Đà Nẵng có 6 quận và 2 huyện là Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, NgũHành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm Lệ, Hòa Vang và Hoàng Sa; có hơn 800 ngàndân, chiếm 0,94% dân số cả nước, dân số nội thành chiếm 86,86%, dân sốngoại thành chiếm 13,14%
Đà Nẵng có Cảng biển quan trọng của miền Trung và cả nước, cửa ngõ
ra biển Đông; là đầu mối trong hệ thống đường xuyên Á của hành lang ĐôngTây; có tiềm năng du lịch gắn kết với các di sản văn hóa, thiên nhiên thế giới
ở các tỉnh lân cận; có sân bay quốc tế; có tài nguyên thiên nhiên và nhân văn;
có nền kinh tế công nghiệp phát triển khá, dịch vụ, du lịch, văn hóa, giáo dục
- đào tạo, y tế phát triển, đời sống dân cư khá, an ninh chính trị ổn định
Đà Nẵng có vị trí quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới, của vùng kinh tế trọng điểm khu vực miền Trung và Tây Nguyên;nối liền thành phố với nhiều quốc gia trong khu vực; hình thành sự liên kếtkinh tế, văn hóa, đối ngoại; đóng vai trò chiến lược quan trọng về an ninh,quốc phòng của cả nước
2.1.2 Về kinh tế
2.1.2.1 Tốc độ tăng trưởng chung
Trang 26Trong giai đoạn 2006-2009, nền kinh tế Đà Nẵng đạt nhịp độ tăngtrưởng khá và liên tục, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của thành phố năm
2006 theo giá so sánh (1994) là 6.776,12 tỷ đồng, đến năm 2009 tăng lên9.199,76 tỷ đồng, tăng 1,36 lần, bình quân đạt 10,31%/năm, so với bình quân
cả nước là 7,08% Trong điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế trong giaiđoạn 2006-2009, với kết quả về tăng trưởng kinh tế của Đà Nẵng như trên là
ấn tượng và đáng tự hào
Biểu đồ 2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố Đà Nẵng
2.1.2.2 Tốc độ tăng trưởng của các nhóm ngành
Sự tăng trưởng của nền kinh tế thành phố thể hiện qua tăng trưởng ở 3nhóm ngành:
- Tăng trưởng của ngành Dịch vụ trong giai đoạn 2006-2009 khá cao,liên tục đạt 2 chữ số, đạt mức bình quân 16,53%/năm, cao hơn nhiều so vớitốc độ tăng trưởng GDP của thành phố
Trang 27- Trong giai đoạn 2006-2009, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất côngnghiệp tương đối cao, đặc biệt trong năm 2007 tăng 15,38% Tăng trưởng caocủa ngành Công nghiệp đạt ở cả 03 khu vực, cụ thể kinh tế nhà nước là1,66%/năm, kinh tế ngoài quốc doanh là 31,08%/năm và kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài là 8,04%/năm
- Giá trị sản xuất (GO) của ngành Nông, lâm, thủy sản: Trong giai đoạn2006-2009, ngành Nông nghiệp gặp nhiều khó khăn như dịch bệnh (dịch cúmgia cầm, dịch heo tai xanh), bão lụt xảy ra liên tục, diễn biến thời tiết thay đổithất thường và phức tạp nên giá trị sản xuất của ngành nông, lân, thủy sản liêntục giảm, năm 2006 giảm 6,03%, năm 2008 giảm 7,42% và năm 2009 giảm6,52%, chỉ có năm 2007 là tăng 4,20%
Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng các nhóm ngành kinh tế
Đvt: %.
2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
1 Tốc độ tăng trưởng GO của
ngành Nông, lâm, thủy sản -6,03 4,20 -7,42 -6,52
2 Tốc độ tăng trưởng GO của
3 Tốc độ tăng trưởng GO của
Nguồn: Niên giám thống kê 2006-2009
2.1.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu nhóm ngành kinh tế: Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,
cơ cấu nhóm ngành kinh tế của thành phố đã có sự chuyển dịch tích cực trongnhững năm qua, theo hướng công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa trong mộtnền kinh tế mở, phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, tăng dần tỷ trọng cácngành kinh tế có giá trị gia tăng cao
Trang 28Biểu đồ 2.2 Cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng phân theo nhóm ngành
Xét cơ cấu kinh tế theo 03 nhóm ngành thì tỷ trọng ngành Nông, lâm,thủy sản giảm đều đặn từ mức 4,28% năm 2006 xuống còn 3,91% năm 2009;công nghiệp và xây dựng đóng vai trò quan trọng, chiếm tỷ trọng gần 50%trong cơ cấu kinh tế, năm 2009 chiếm 44,58%; dịch vụ đóng vai trò quantrọng không kém so với công nghiệp và xây dựng, chiếm tỷ trọng cao, hơnphân nữa cơ cấu ngành kinh tế, năm 2008 đạt cao nhất là 52,26% Các ngànhdịch vụ chất lượng cao phát triển đa dạng hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sảnxuất và đời sống Ngành du lịch đang từng bước trở thành ngàng kinh tế mũinhọn của thành phố Các ngành Vận tải - Kho bãi, Thương mại, Tài chính -Ngân hàng phát triển nhanh, các dịch vụ đào tạo, khoa học công nghệ, tư vấnpháp lý … có bước phát triển khá
Trang 29Cơ cấu thành phần kinh tế: Trong giai đoạn 2006-2009, cơ cấu thành
phần kinh tế của thành phố có sự chuyển biến khá rõ nét, thể hiện sự tham giangày càng sâu rộng của khu vực ngoài Nhà nước Xét cơ cấu đóng góp thì khuvực kinh tế ngoài Nhà nước đóng góp nhiều nhất 51,96%, tiếp đến khu vựckinh tế nhà nước là 37,90% và thấp nhất là khu vực có vốn đầu tư nước ngoàichiếm 6,07% trong năm 2009
Với chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần của thành phố thôngqua việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh; tiếpcận đất đai; ban hành các chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư cho một
số ngành, lĩnh vực, sản phẩm; triển khai các chương trình hỗ trợ doanhnghiệp, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh … đã huy độngđược các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, khuyến khích người dân và cácthành phần kinh tế tham gia đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh
Đến cuối năm 2009, thành phố có trên 11.800 doanh nghiệp dân doanh,tổng vốn đăng ký đạt 28,5 ngàn tỷ đồng và 164 dự án FDI, tổng vốn đầu tư2,62 tỷ USD, trong đó: vốn thực hiện ước đạt 1,29 tỷ USD, chiếm 49,2% tổngvốn đầu tư với 96 dự án đã đi vào hoạt động, từ đó tạo nên nhiều giá trị giatăng mới cho kinh tế thành phố phát triển lâu dài và bền vững
2.1.3 Về văn hóa - xã hội
2.1.3.1 Y tế
Được quan tâm, chú trọng đầu tư về mọi mặt như: nâng cấp, xây dựngmới các bệnh viện chuyên khoa, đầu tư trang thiết bị y tế hiện đại và đào tạocán bộ chuyên sâu đã góp phần nâng cao công tác bảo vệ và chăm sóc sứckhỏe nhân dân Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và hoàn thiện, 100%phường, xã có trạm y tế Đến cuối năm 2008, 100% phường, xã được côngnhận chuẩn quốc gia về y tế Xã hội hóa các hoạt động y tế có bước phát triển,với 05 bệnh viện tư nhân, gần 800 phòng khám y tế tư nhân Tỷ lệ trẻ em dưới
Trang 305 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm xuống còn 11,2% vào cuối năm 2008 Hàngnăm có 100% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vacxin cơbản.
2.1.3.2 Giáo dục và đào tạo
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển ổn định, quy mô và các loạihình đào tạo được mở rộng, chất lượng giáo dục toàn diện ở các ngành học,bậc học chuyển biến tích cực
Cùng với việc hoàn thành mục tiêu “Không có người mù chữ” trong độtuổi 6-35 tuổi, đã có 100% phường, xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học
cơ sở; 85,7% phường, xã đạt chuẩn phổ cập bậc trung học và nhiều học sinhđạt giải cao trong các kỳ thi quốc gia, quốc tế
Thành phố đã phối hợp tạo điều kiện thành lập một số trường, khoa mớinhư Trường Đại học Kiến trúc, Trường Đại học Thể dục - Thể thao Quốc giaIII, Trường Cao đẳng CNTT Việt - Hàn, Khoa Y - Dược Đại học Đà Nẵng…
2.1.3.3 Thông tin - văn hóa - thể thao
Hệ thống phát thanh truyền hình luôn được đầu tư, nâng cấp và pháttriển Phát triển văn hóa phù hợp với sự nghiệp kinh tế và vị thế mới củathành phố Đà Nẵng Thành phố đã triển khai thực hiện đề án “Có nếp sốngvăn minh đô thị” gắn kết với phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hóa và phát động các phong trào “Đoạn đường văn minh - sạch đẹp”,
“Khu chung cư văn hóa”, “Bãi tắm văn minh”, …Nhiều công trình phục vụhoạt động văn hóa, thể thao, phát thanh truyền hình tiếp tục được đầu tư xâydựng và hoàn thành đưa vào sử dụng như Sân vận động Chi Lăng, Nhà hátTrưng Vương, Nhà biểu diễn Đa năng, Bảo tang thành phố,… đáp ứng nhucầu thụ hưởng văn hóa ngày càng cao của nhân dân
Các hoạt động thể dục thể thao diễn ra sôi nổi với phong trào TDTTquần chúng phát triển sâu rộng, đạt tỷ lệ 22,1% dân số tham gia Các đoàn thể
Trang 31thao thành tích cao của thành phố luôn đạt các giải cao trong các cuộc thi đấuquốc gia và quốc tế.
2.1.3.4 Lao động - xã hội
Với các giải pháp nhằm thực hiện Đề án “có việc làm” cho người trong
độ tuổi lao động trên địa bàn thành phố như tổ chức các phiên chợ việc làmđịnh kỳ, hỗ trợ cho vay giải quyết việc làm, tổ chức các hoạt động tư vấn, giớithiệu việc làm,…, từ năm 2006 đến năm 2009 bình quân mỗi năm thành phố
đã tạo việc làm cho 26.460 lao động, tỷ lệ thất nghiệp bình quân mỗi năm là5%/năm GDP theo giá thực tế bình quân đầu người tăng từ 16,1 triệuđồng/người năm 2006 lên mức 27,37 triệu đồng/người năm 2009
Công tác xóa đói giảm nghèo đạt nhiều kết quả tiến bộ, với sự tham giađồng bộ, lồng ghép nhiều chương trình hoạt động của các tổ chức, cơ quannhư trợ giúp sản xuất, cải thiện kết cấu hạ tầng, đề án “có việc làm”, đề án “cónhà ở”, tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, tăngthu nhập, cải thiện đời sống Đến cuối năm 2008, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống
ở mức dưới 1%
2.2 Quá trình hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu
Trong suốt một thời gian dài, các đơn vị sự nghiệp nhà nước là các đơn
vị công lập chịu một cơ chế quản lý như các đơn vị hành chính nhà nước thuầntúy và được gọi chung là các cơ quan hành chính sự nghiệp Cơ chế này đãlàm mất tính năng động, tự chủ và kìm hãm sự phát triển của các đơn vị sựnghiệp
Về mặt tài chính, các đơn vị sự nghiệp không có động lực phát triểnnguồn thu mà chỉ dựa chủ yếu vào nguồn ngân sách nhà nước cấp Cơ chế nàymột mặt không tạo điều kiện tăng về số lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụcông phục vụ xã hội, mặt khác tạo ra tâm lý thụ động, ỷ lại của các đơn vị sự
Trang 32nghiệp trong việc điều hành thực hiện nhiệm vụ được giao
Thực hiện đường lối đổi mới, Chính phủ đã quyết tâm đổi mới cơ chếquản lý đối với các đơn vị sự nghiệp mà bắt đầu từ các đơn vị sự nghiệp cónguồn thu Trong đó sự nghiệp y tế, giáo dục và văn hoá là các lĩnh vực tiênphong và có nhiều khả năng mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng hoạt động,phát triển nguồn thu Nhà nước có thể thực hiện xã hội hoá phần lớn các lĩnhvực sự nghiệp này và chỉ cần giữ một bộ phận nhỏ không thể tạo nguồn thuhoặc không được phép thu như đối với giáo dục tiểu học, dịch vụ y tế cho trẻ
em, người nghèo, đối tượng chính sách, văn hoá dân gian, dịch vụ ở nhữngvùng sâu, vùng xa, vùng có thu nhập thấp,
Triển khai thực hiện quan điểm đổi mới cơ chế quản lý đối với các đơn
vị sự nghiệp có thu, từ năm 1997 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 90/CPngày 21/8/1997 về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáodục, y tế, văn hoá Tuy nhiên, hai năm sau ngày ban hành Nghị quyết này thì
xã hội hoá các đơn vị sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá vẫn chỉ dừng lại ởphương hướng và tư tưởng mà chưa có sự chuyển biến trong thực tế Trướcthực trạng này, ngày 19/8/1999, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt độngtrong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao Nghị định này được coi là cộtmốc đánh dấu một giai đoạn chuyển mạnh các đơn vị sự nghiệp có thu và nhànước không cần thiết phải quản lý sang hình thức bán công, dân lập và tư thục.Chính sách xã hội hoá của nhà nước theo Nghị định 73/1999/NĐ-CP mặc dùđược hưởng nhiều ưu đãi như cơ sở vật chất, hỗ trợ trả lương đối với biên chếkhung, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp Tuy nhiên, mới chỉ thực hiệnchủ yếu trong sự nghiệp giáo dục, các lĩnh vực còn lại vẫn chỉ đang xây dựngphương hướng, kế hoạch Tâm lý chung là ngại thay đổi, trông chờ sự trợ giúp,bao bọc từ phía nhà nước vẫn là cản trở lớn trong việc đổi mới cơ chế quản lý
Trang 33đối với các đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và sự nghiệp xã hội hóa nóiriêng
Bên cạnh trở ngại về tâm lý thì mấu chốt của sự trì trệ trong cơ chế quản
lý đối với các đơn vị sự nghiệp có thu là xã hội hoá mới dừng lại ở việcchuyển đổi hình thức sở hữu của một đơn vị hoặc một bộ phận đơn vị sựnghiệp trong khi gốc của vấn đề lại nằm ở cơ chế tài chính, mà cụ thể là cơ chếhuy động và sử dụng nguồn thu, cơ chế quản lý biên chế, tiền lương, thunhập, thì lại không được nghiên cứu để có cơ chế đổi mới đồng bộ Do đó,Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002 về chế độ tài chính áp dụng chođơn vị sự nghiệp có thu được coi là một nền tảng thể chế cơ bản quyết địnhmột cơ chế quản lý mới áp dụng đối với các đơn vị sự nghiệp có thu Tuynhiên, theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP thì các đơn vị sự nghiệp có thu chưathật sự tự chủ hoàn toàn trong mọi khía cạnh, mức độ tự chủ còn hạn chế Vìvậy, ngày 25/5/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/2006/NĐ-CP quyđịnh quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy,biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập (thay thế Nghị định10/2002/NĐ-CP)
2.3 Tình hình phân bổ ngân sách địa phương cho một số lĩnh vực
sự nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trên cơ sở quy định của Thủ tướng Chính phủ về định mức phân bổ dựtoán chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2007 tại Quyết định số151/2006/QĐ-TTg ngày 29 tháng 6 năm 2006, UBND thành phố Đà Nẵng đãban hành Quyết định số 95/2006/QĐ-UBND ngày 23 tháng 10 năm 2006 quyđịnh về phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi thời kỳ ổn định ngân sách, địnhmức phân bổ dự toán chi ngân sách địa phương từ năm 2007 đến năm 2010của thành phố Đà Nẵng Theo đó, trong giai đoạn 2007-2010, mỗi năm UBNDthành phố đã trình HĐND thành phố duyệt phân bổ NSĐP cho một số lĩnh vực
Trang 34sự nghiệp như sau:
Bảng 2.2 Chi NSĐP và chi đầu tư từ NSĐP cho một số lĩnh vực sự nghiệp
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007-2010
II Tổng chi Đầu tư phát triển 2.84 9 3.38 7 3.42 6 3.80 7
Tỷ trọng chi đầu tư/Tổng chi NSĐP (%) 61,83 61,60 56,00 51,56
Nguồn: Quyết toán ngân sách thành phố Đà Nẵng các năm 2007-2010
Chi đầu tư phát triển là các khoản chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất,mua sắm tài sản cố định, các trang thiết bị chuyên dùng Theo cơ chế quản lý
và điều hành ngân sách hiện nay, nguồn chi đầu tư phát triển được lập dự toán
Trang 35và quản lý theo dự án đầu tư, có quy trình cấp phát và quản lý riêng khác vớichi thường xuyên từ NSNN cho các đơn vị sự nghiệp
Tỷ trọng chi đầu tư phát triển trên tổng chi ngân sách địa phương giaiđoạn 2007-2010 là 51,56% đến 61,83% Phân tích về cơ cấu chi NSĐP chocác lĩnh vực hoạt động sự nghiệp từ 2007-2010 cho thấy:
- Tỷ trọng chi NSĐP cho lĩnh vực giáo dục đào tạo nằm trong khoảng từ8,60% đến 11,19% tổng chi ngân sách nhà nước; tỷ trọng chi NSNN cho lĩnhvực y tế là từ 2,66% đến 4%
- Tỷ trọng chi đầu tư phát triển so với tổng chi ngân sách nhà nước cholĩnh vực giáo dục là từ 8,13% đến 23%; y tế là từ 21,47% đến 42,03%
Như vậy, tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi NSĐP cho cácđơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục và y tế thường thấp hơn so với tỷtrọng chi đầu tư phát triển trong cơ cấu chung của NSĐP
Với các định mức phân bổ chi thường xuyên quy định tại QĐ số95/2006/QĐ-UBND như định mức chi cho sự nghiệp giáo dục được tính trên
số người dân trong độ tuổi đi học từ 1 đến 18 tuổi, chi sự nghiệp đào tạo vàdạy nghề được tính trên số người dân trên 18 tuổi và các định mức chi sựnghiệp khác được tính trên số người dân,… thì tỷ trọng chi thường xuyên chocác hoạt động sự nghiệp trong tổng chi NSĐP từ 21,72% đến 28,32%; tỷ trọngchi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo, y tế trong tổng chi NSĐP cho 2ngành này lại cao hơn (giáo dục đào tạo là từ 77% đến 91,87%; y tế là từ57,97% đến 78,53%) Chi thường xuyên cho giáo dục đào tạo, y tế, khoa họccông nghệ và văn hóa thể thao thường chiếm tới trên dưới 47% tổng chi hoạtđộng sự nghiệp kinh tế - xã hội Với tỷ trọng chi thường xuyên này, việc phân
bổ chi ngân sách cho từng đơn vị sự nghiệp được thực hiện theo hình thứcbình quân trên cơ sở khả năng ngân sách nêu trên và nguồn thu sự nghiệp củatừng đơn vị, chưa gắn kết giữa việc giao kinh phí từ ngân sách với việc giao
Trang 36khoán khối lượng và chất lượng nhiệm vụ cung cấp dịch vụ mà đơn vị phảithực hiện nên không đáp ứng đủ nhu cầu thực tế cho các hoạt động sự nghiệpcủa các đơn vị để các hoạt động thật sự phát triển một cách toàn diện
Bảng 2.3 Chi thường xuyên từ NSĐP cho một số lĩnh vực sự nghiệp
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007-2010
Đvt: tỷ đồng
Nội dung Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Tổng chi thường xuyên 1.126 1.194 1.564 2.091
Tỷ trọng chi thường xuyên/Tổng chi
1 Chi thuờng xuyên cho GDĐT 373 416 526 718
Tỷ trọng chi GDĐT/chi thường xuyên (%) 33,13 34,84 33,63 34,34
2 Chi thuờng xuyên cho Y tế 105 125 163 171
Tỷ trọng chi Y tế/chi thường xuyên (%) 9,33 10,47 10,42 8,18
3 Chi thuờng xuyên cho KHCN 13 15 18 22
Tỷ trọng chi KHCN/chi thường xuyên (%) 1,15 1,26 1,15 1,05
4 Chi thuờng xuyên cho VHTT 33 30 42 52
Tỷ trọng chi VHTT/chi thường xuyên (%) 2,93 2,51 2,69 2,49
Nguồn: Quyết toán ngân sách thành phố Đà Nẵng qua các 2007-2010
Nhìn chung, trong những năm qua, tình hình huy động và sử dụngnguồn tài chính từ ngân sách nhà nước trong các đơn vị sự nghiệp có kết quảtốt Nhà nước đã có nhiều chính sách phù hợp để huy động tối đa các nguồnlực đầu tư cho các hoạt động sự nghiệp Thể hiện ở số vốn huy động được đềutăng qua các năm Các đơn vị sự nghiệp đã được đầu tư cơ sở vật chất tươngđối hoàn thiện Hệ thống các cơ sở cung cấp dịch vụ với đội ngũ nhân viên đãđược tăng cường nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân Tuy nhiên,thực tế huy động cũng chưa đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu của các đơn vị
Trang 372.4 Thực trạng thực hiện tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp
có thu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.4.1 Về giao quyền tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25tháng 4 năm 2006 và Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 71/2006/TT-BTCngày 09 tháng 8 năm 2006 để hướng dẫn thực hiện, thành phố Đà Nẵng đã tổchức Hội nghị quán triệt cho các cơ quan chủ quản và các đơn vị sự nghiệp vềQuy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộmáy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trên toànthành phố Qua đó, phân tích đánh giá những mặt tích cực, những ưu điểmcủa cơ chế mới so với cơ chế tự chủ tại Nghị định số 10/2002/NQĐ-CP; xácđịnh đây là cơ chế ưu việt với mục tiêu đề ra là trao quyền tự chủ, tự chịutrách nhiệm về mọi mặt đối với các đơn vị sự nghiệp công lập để phát huy tối
đa khả năng của đơn vị nhằm cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội,huy động sự đóng góp của cộng đồng theo chủ trương xã hội hóa
Quán triệt tinh thần chỉ đạo của UBND thành phố, các ngành, địaphương trên địa bàn thành phố đã tổ chức, tuyên truyền, phổ biến cho tất cảcác đơn vị trực thuộc và cho cán bộ, công chức nắm bắt chủ trương của Chínhphủ về thực hiện NĐ 43 đối với các đơn vị sự nghiệp; đồng thời hướng dẫncác đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc đã được giao quyền tự chủ tài chínhtheo NĐ 10 chuyển sang thực hiện theo N Đ43
Qua 4 năm thực hiện (2007-2010), kết quả thực hiện giao quyền tự chủtài chính theo NĐ 43 của Chính phủ được thể hiện tại Bảng 2.4:
Trang 38Bảng 2.4 Thực trạng giao quyền tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nhgiệp có thu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Đơn vị
Tổng số
Số đơn vị được giao quyền tự chủ
Tổng số
Số đơn vị được giao quyền tự chủ
Tổng số
Số đơn vị được giao quyền tự chủ
Nguồn: Sở Tài chính thành phố Đà Nẵng
Theo bảng số liệu trên ta thấy, tuy năm 2007 là năm đầu tiên thành phố
tiến hành giao quyền tự chủ theo NĐ 43 của Chính phủ cho các đơn vị sự
nghiệp công lập, nhưng toàn thành phố đã có 174/215 đơn vị sự nghiệp có thu
được giao quyền tự chủ, chiếm 80,93%; trong đó khối thành phố có 65/67 đơn
Trang 39vị, chiếm 97,01%, khối quận, huyện có 109/148 đơn vị, chiếm 73,65% Vớicác con số này cho ta thấy được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và sự nhậnthức của lãnh đạo các đơn vị về vai trò và tầm quan trọng của NĐ 43 để cácđơn vị tự chủ về mọi mặt, đặc biệt là tự chủ về tài chính nhằm nâng cao chấtlượng và hiệu quả công việc, góp phần tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức
Năm 2008 và năm 2009 là những năm thứ 2 và thứ 3 trong việc thựchiện NĐ 43 của Chính phủ, nên việc giao quyền tự chủ cho các đơn vị sựnghiệp được triển khai mạnh mẽ và rộng hơn, trong 02 năm số lượng đơn vị
có thu được giao quyền tự chủ có tính ổn định chung, có 124/129 đơn vị đượcgiao quyền tự chủ, chiếm 96,12%; trong đó, khối quận, huyện có 100% cácđơn vị sự nghiệp có thu được giao quyền tự chủ Riêng khối thành phố trong
02 năm này có nhiều sự biến động đối với các đơn vị sự nghiệp có thu nhưgiải thể, sát nhập, thành lập mới hoặc chuẩn bị xã hội hóa, nên việc giaoquyền tự chủ theo NĐ 43 của Chính phủ chưa được triển khai hoàn toàn, năm
2008 có 68/73 đơn vị sự nghiệp có thu được giao quyền tự chủ, chiếm93,15%, năm 2009 có 66/71 đơn vị sự nghiệp có thu được giao quyền tự chủ,chiếm 92,96% Trong năm 2008 và năm 2009, khối thành phố còn 5 đơn vị sựnghiệp có thu chưa giao quyền tự chủ theo NĐ 43
Đến năm 2010, toàn thành phố có 357 đơn vị sự nghiệp, trong đó có
144 đơn vị sự nghiệp có thu (gồm 26 đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn
bộ chi phí hoạt động thường xuyên - gọi tắt là đơn vị SNCT loại I và 118 đơn
vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên gọi tắt là đơn vị SNCT loại II)
-Toàn thành phố đã thẩm định và giao quyền tự chủ tài chính cho cácđơn vị SNCT: tổng số 142/144 đơn vị SNCT đạt 98,61% (trong đó, đơn vịSNCT loại I: 26/26 đạt 100%, đơn vị SNCT loại II: 116/118 đạt 98,31%) vàchia theo từng lĩnh vực như sau:
Trang 40- Đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo: loại 1 chiếm 1/1 đạt 100%
2.4.2 Về thực hiện tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.4.2.1 Thực hiện các nguồn thu
* Nguồn NSNN
Ở nước ta, hệ thống các trường học, bệnh viện công lập chiếm tỷ lệ lớn,việc phát triển các trường bán công, dân lập, các bệnh viện tư nhân chưanhiều Trong lĩnh vực khoa học công nghệ thì phần lớn là các trung tâm, việnnghiên cứu và phát triển, các phòng thí nghiệm, các tổ chức dịch vụ khoa học
và công nghệ… đều là các đơn vị sự nghiệp công lập Về văn hóa, thể thao,phát thanh truyền hình,… cũng tương tự như vậy Bên cạnh đó, quá trình xãhội hóa nhằm thu hút các nguồn lực khác cho các hoạt động sự nghiệp chưađược hoàn thiện và còn những bất cập nảy sinh trong quá trình thực hiện, nênđầu tư từ NSNN vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong các đơn vị sự nghiệp của cảnước