1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu ôn thi vào lớp 10 môn ngữ văn nội dung phần học kì 1

302 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 302
Dung lượng 594,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đan xen giữa lời kể là lời bình luận một cách tựnhiên “Có thể nói ít vị lãnh tụ nào lại am hiểu nhiều về các dân tộc và nhân dânthế giới, văn hóa thế giới sâu sắc như chủ tịch Hồ Chí Min

Trang 1

Chú ý: Bản tài liêu này không thể chỉnh sửa, để tải bản chỉnh sửa vui

lòng truy cập link dưới:

Tài liệu ôn thi vào lớp 10 môn ngữ

văn nội dung phần học kì 1

Giữ nút ctrl và click vào link để mở tài liệuThầy cô có thể tự đăng ký tài khoản để tảiTài liệu ôn thi vào lớp 10 môn ngữ

văn nội dung phần học kì 1

ÔN TẬP VĂN 9 KÌ 1 GỒM:

1 Chuyên đề văn bản nhật dụng

2 Chuyên đề truyện trung đại

4 Chuyên đề truyện hiện đại

5 Chuyên đề Tiếng việt

6 Chuyên đề : Đề đọc hiểu ngữ liệu ngoài SGK

CHUYÊN ĐỀ: VĂN BẢN NHẬT DỤNG

ÔN TẬP VĂN BẢN: PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

-Lê Anh

A KIẾN THỨC CƠ BẢN

Trang 2

- Giữ nhiều chức vụ cao: Viện trưởng

viện văn hóa, chủ tịch hội đồng biên tập

tạp chí Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật

- Năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100năm ngày sinh Bác Hồ, có nhiều bàiviết về Người

- Phong cách Hồ Chí Minh là một phần bài viết Phong cách Hồ Chí Minh cái vĩ đại gắn với cái giản dị của tác giả Lê Anh Trà, trích trong cuốn Hồ Chí Minh và văn hóa Việt Nam (Viện

Văn hóa xuất bản, Hà Nội 1990)

* Nội dung:

1 Kết hợp giữa bản sắc văn hóa dân tộc bền vững với hiểu biết sâu rộng tinh hoa văn hóa thế giới :

+ Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với văn hóa thế giới bằng nhiều con đường :

+ Hoàn cảnh: Cuộc đời hoạt động cách mạng đầy truân chuyên: (Gian khổ, khókhăn; Tiếp xúc văn hóa nhiều nước, nhiều vùng trên thế giới)

+ Động lực thúc đẩy Hồ Chí Minh tìm hiểu sâu sắc về các dân tộc và văn hóa thếgiới xuất phát từ khát vọng cứu nước

+ Đi nhiều nước, tiếp xúc với văn hóa nhiều vùng trên thế giới, Người tiếp thu mộtcách có chọn lọc tinh hoa văn hóa nước ngoài (không chịu ảnh hưởng một cách thụđộng, tiếp thu mọi cái hay cái đẹp, phê phán những hạn chế tiêu cực, trên nền tảngvăn hóa dân tộc mà tiếp thu ảnh hưởng quốc tế)

+ Biết nhiều ngoại ngữ, làm nhiều nghề

+ Học tập miệt mài, sâu sắc đến mức uyên thâm

2.Lối sống hết sức giản dị, thanh đạm nhưng cũng rất thanh cao Đó là “Một

lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại”:

* Ở cương vị lãnh đạo cao nhất Hồ Chí Minh có lối sống vô cùng giản dị :

- Căn nhà của Bác: chiếc nhà sàn nhỏ bằng gô bên cạnh chiếc ao; vẻn vẹn có vàiphòng tiếp khách, họp Bộ chính trị, làm việc và ngủ

-Trang phục giản dị: bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp như củacác chiến sĩ trường Sơn

- Bữa ăn của Bác: đạm bạc với những món ăn không cầu kì như: cá kho, rau luộc,dưa ghém, cà muối, cháo hoa

Tư trang của Bác: ít ỏi, một chiếc va li với vài bộ quần áo, vài kỉ niệm của cuộcđời dài

* Cách sống giản dị, đạm bạc của Hồ Chí Minh lại vô cùng thanh cao, sang trọng :

- Đây không phải là lối sống khắc khổ của những con người tự vui trong nghèokhó

- Đây cũng không phải là cách tự thần thánh hóa, tự làm cho khác đời, hơn đời

- Đây là cách sống có văn hóa, thể hiện 1 quan niệm thẩm mỹ: cái đẹp gắn liềnvới sự giản dị, tự nhiên

Trang 3

* Viết về cách sống của Bác, tác giả liên tưởng đến các vị hiền triết ngày xưa:

- Nguyễn Trãi: Bậc thầy khai quốc công thần, ở ẩn

- Nguyễn Bỉnh Khiêm: làm quan, ở ẩn

* Nghệ thuật

- Kết hợp giữa kể và bình luận Đan xen giữa lời kể là lời bình luận một cách tựnhiên “Có thể nói ít vị lãnh tụ nào lại am hiểu nhiều về các dân tộc và nhân dânthế giới, văn hóa thế giới sâu sắc như chủ tịch Hồ Chí Minh”…

- Chọn lọc những chi tiết tiêu biểu (dẫn chứng trong văn bản)

- Đan xen thơ của các vị hiền triết, cách sử dụng từ Hán Việt gợi cho người đọc thấy sự gần gũi giữa chủ tịch Hồ Chí Minh với các vị hiền triết của dân tộc

- Sử dụng nghệ thuật đối lập: vĩ nhân mà hết sức giản dị, gần gũi, am hiểu mọi nền văn hóa nhân loại, hiệu đại mà hết sức dân tộc, hết sức Việt Nam,…

* Liên hệ: Đức tính giản dị của Bác Hồ…

B LUYỆN ĐỀ:

I DẠNG ĐỀ ĐỌC – HIỂU:

ĐỀ BÀI: Trong bài Phong cách Hồ Chí Minh, sau khi nhắc lại việc Chủ

tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với văn hóa nhiều nước, nhiều vùng trên thếgiới,tác giả Lê Anh Trà viết:

…”Nhưng điều kỳ lạ lạ tất cả những ảnh hưởng quốc tế đó đã nhào nặn với cái gốc văn hóa dân tộc không gì lay chuyển được ở Người, để trở thành một nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại”…

(Trích Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015)

1 Ở phần trích trên, tác giả đã cho thấy vẻ đẹp của phong cách Hồ Chí Minhđược kết hợp hài hòa bởi những yếu tố nào? Em hiểu được điều gì về tình cảmcủa tác giả dành cho Người?

2 Xác định hai danh từ được sử dụng như tính từ trong phần trích dẫn và chobiết hiệu quả nghệ thuật của cách dùng từ ấy

3 Em hãy trình bày suy nghĩ (khoảng 2/3 trang giấy thi) về trách nhiệm của thế

hệ trẻ đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập vàphát triển

2 Hai danh từ được sử dụng như tính từ: Việt Nam, Phương Đông Cách dùng

từ ấy có hiệu quả nghệ thuật cao

Trang 4

Tác giả nhấn mạnh bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, bản sắc Phương Đôngtrong con người Bác.

3 Trách nhiệm thế hệ trẻ đối với việc giữ gìn văn hóa dân tộc trong thời kỳ hộinhập:

- Giải thích: thời kỳ hội nhập: các nền kinh tế thế giới mở cửa, hội nhập dẫn đến

sự giao lưu, ảnh hưởng văn hóa giữa các nước

- Trách nhiệm thế hệ trẻ:

+ Gìn giữ và phát huy những bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc;

+ Nêu cao tinh thần tự tôn dân tộc, niềm tự hào về những truyền thống văn hóatốt đẹp: truyền thống yêu nước; Uống nước nhớ nguồn; văn hóa lễ hội truyềnthống; phong tục tập quán; di sản, di tích lịch sử,…

+ Tiếp tục những ảnh hưởng tích cực từ văn hóa nước ngoài đồng thời gạn lọcnhững ảnh hưởng tiêu cực từ văn hóa ngoại lai

- Đánh giá: đây là vấn đề quan trọng đòi hỏi ý thức và nhận thức của thế hệ trẻcùng đồng lòng, chung tay góp sức

ĐỀ BÀI: Văn bản có tựa đề Phong cách Hồ Chí Minh Tác giả không giải thích “phong cách” là gì nhưng qua nội dung văn bản, em hiểu từ “phong cách” trong trường hợp này có ý nghĩa như thế nào ?Nét nổi bật trong phong cách Hồ Chí Minh được Lê Anh Trà nêu trong bài viết là gì ?

GỢI Ý:

- Từ “phong cách” có nhiều nghĩa Ở văn bản này “phong cách” đượchiểu là đặc điểm có tính ổn định trong lối sống, sinh hoạt, làm việc của mộtngười tạo nên nét riêng của người đó

- Nét nổi bật trong phong cách Hồ Chí Minh

+ Kết hợp giữa bản sắc văn hóa dân tộc bền vững với hiểu biết sâu rộngtinh hoa văn hóa thế giới :

+ Lối sống hết sức giản dị, thanh đạm nhưng cũng rất thanh cao Đó là

“Một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại”

ĐỀ BÀI: Vì sao có thể nói lối sống giản dị của Bác Hồ là một “lối sống thanh cao” và “có khả năng đem lại hạnh phúc thanh cao cho tâm hồn và thể xác” ?

GỢI Ý:

- Lối sống giản dị của Bác thể hiện một quan niệm sống đẹp, văn minh,một quan niệm thẩm mĩ sâu sắc Đó là sự coi trọng các giá trị tinh thần, là cáchsống không lệ thuộc vào điều kiện vật chất, không coi mục đích sống chỉ làhưởng thụ vật chất Đó cũng là cách sống coi trọng và luôn tạo được sự hài hòagiữa con người và thiên nhiên, đem lại niềm vui, sự khỏe khoắn và thanh caocho tâm hồn thể xác Chẳng hạn ngôi nhà sàn của Bác dù ở giữa chốn đô thị vẫn

Trang 5

có sự hài hòa với thiên nhiên vườn cây, ao cá như những ngôi nhà sàn giản dị ởlàng quê

- Lối sống giản dị và thanh cao của Bác là sự kế tục truyền thống của các bậchiền triết phương Đông Cách sống ấy thể hiện quan niệm thẩm mĩ : cái đẹp là

sự giản dị

II DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

ĐỀ BÀI: cảm nhận phong cách giản dị Hồ Chí Minh

1 Mở bài: giới thiệu về tác phẩm Phong cách Hồ Chí Minh

- Giới thiệu về Bác Hồ và tình cảm thiêng liêng mà cả dân tộc dành choNgười: Bác là vị lãnh tụ dân tộc, là danh nhân văn hóa thế giới, đồng thờicũng là vị cha già kính yêu của mỗi người Việt Nam Nhân dân Việt Nam vàbạn bè thế giới luôn dành cho Bác sự ngưỡng mộ và lòng tôn kính

- Giới thiệu về lối sống giản dị, thanh bạch của Bác mặc dù Bác trên cương

vị tối cao của đất nước

2 Thân bài: bàn về đức tính giản dị trong cuộc sống

a Con đường hình thành nên phong cách của Hồ Chí Minh:

- Vốn kiến thứ của Hồ Chí Minh:

+ Nhờ vào sự nổ lực bác đã có một kiến thức yên thâm

+ Bác đi rất nhiều nơi, có được kiến thức nhiều nước, những kiến thức chọnlọc và văn hóa sâu sắc

+ Dù những kiến thức Bác văn hóa nước ngoài uyên thâm nhưng Bác vẫngiữ giá trị truyền thống của mình

+ Lối sống bình dị, rất Việt Nam

- Lối sống của Hồ Chí Minh:

+ Ngôi nhà sàn với đồ đạc đơn sơ, mộc mạc

+ Trang phục vô cùng giản dị: đồ bà ba, dép cao su,…

+ Những món ăn rất giản dị và quen thuộc

b Ý nghĩa phong cách Hồ Chí Minh:

- Một cách sống có văn hóa, dựa vào cách sống có thể đoan được nhân cáchcon người

- Bác rất coi trọng giá trị tinh thần, vật chất chỉ là những thứ xa hoa, phùphiếm

3 Kết bài: nêu cảm nhận về phong cách giản dị trong cuộc sống của Hồ Chí

Minh

- Khẳng định lại lối sống giản dị, thanh bạch của Bác

- Rút ra bài học về tính giản dị cho học sinh và mọi người

III DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

ĐỀ BÀI: Từ văn bản “Phong cách Hồ Chí Minh” của Lê Anh Trà, nêu suy nghĩ

của mình về phong cách sống của lớp trẻ hiện nay bằng một đoạn văn (12-15 câu)

Trang 6

- Dẫn dắt, nêu vấn đề cần nghị luận: Hồ Chí Minh, vị cha già của dân tộc ra

đi để lại cho nhân loại một di sản vô giá, một trong những di sản đó là phong cách của Người Toàn dân tộc Việt Nam học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, nhất là thế hệ thanh niên trong giai đoạn cách mạng hiện nay

- Giải thích khái niệm phong cách: Đó là lối sống, cách sinh hoạt, làm việc,

ứng xử…tạo nên cái riêng của mỗi người hay của một tầng lớp người nào đó

- Vẻ đẹp trong phong cách Hồ Chí Minh:

+ Không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao hiểu biết của mình -> Bác đinhiều, bôn ba khắp các nc, đến đâu cũng học tập, mở mang kiến thức ->Bác có vốn kiến thức văn hóa uyên thâm, sâu rộng

+ Văn hóa của Bác là sự nhào nặn giữa văn hóa Phương Đông và PhươngTây, sự kết hợp giữa dân tộc và hiện đại Bác chắt lọc tinh hoa văn hóa thế giới nhưng không đánh mất bản sắc dân tộc của VN

+ Phong cách của Bác là đức tính khiêm nhường, giản dị, c/s thanh bạch,

gần gũi lạ thường (Ngôi nhà, bữa ăn, đồ dùng, cách viết, cách nói…)

- Bàn luận:Phong cách của lớp trẻ hiện nay:

+ Đa số lớp trẻ hiện nay có phong cách sống cao đẹp: sống có lý tưởng,ứng xử có văn hóa, năng động, thông minh, sáng tạo biểu hiện trong học tập,

lao động, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, trong cuộc sống đời thường …( Dẫn chứng: Tấm gương anh chiến sỹ công an trẻ hy sinh bảo vệ c/s bình yên của nhân dân, sinh viên với mùa hè tình nguyện xanh, học sinh đạt giải quốc tế )

+ Bên cạnh đó còn 1 bộ phận không nhỏ thanh niên có lối sống thựcdụng, hưởng thụ, ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân mình, không chịu khó học tập rèn

luyện, sa vào ăn chơi tiêu xài, tệ nạn xã hội…(Dẫn chứng: đua xe, hút hít, cờ bạc, trộm cắp, đánh điện tử, bỏ học, đánh nhau )

- Bài học nhận thức và hành động:

+ Phong cách sống ở bất cứ thời đại nào cũng có nền tảng chung, đó là sống có

lý tưởng, cống hiến hết mình cho đất nc, cho dân tộc, giữ được cốt cách của dântộc…

+ Thanh niên ngày nay học tập tấm gương Bác Hồ, chúng ta cần thường xuyênrèn đức, luyện tài để trở thành những công dân có ích cho XH, đóng góp sứcmình vào công cuộc dựng xây của đất nước

Trang 7

- Ông là tác giả của nhiều tiểu

thuyết và nhiều tập truyện

ngắn theo khuynh hướng hiện

thực huyền ảo

- "Trăm năm cô đơn "(1967)

là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng

từng được giải và giới phê

bình văn học đánh giá là một

trong những cuốn sách hay

nhất thế giới trong những năm

La tinh vào tháng 8 năm

1986, tại Mê -hi-cô

Văn bản chỉ rõ nguy cơkhủng khiếp của chiếntranh hạt nhân và cuộcchạy đua vũ trang đang

đe dọa toàn thể loàingười cũng như mọi sựsống trên trái đất Vì thếnhiệm vụ của tất cả mọingười là ngăn chặn nguy

cơ đó, đấu tranh cho mộtthế giới hòa bình

* Hệ thống luận đề, luận điểm của văn bản.

- Luận đề: đấu tranh cho một thế giới hòa bình

Trang 8

trái đất và các hành tinh khác trong hệ mặt trời.

- Cuộc chạy đua vũ trang làm mất đi khả năng cải thiện đời sống chohàng tỷ người

- Chiến tranh hạt nhân không chỉ đi ngược lại với lý trí của loài người

mà còn đi ngược lại với lý trí của tự nhiên, phản lại sự tiến hóa

- Vì vậy tất cả chúng ta phải có nhiệm vụ ngăn chặn cuộc chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình

* Nội dung:

1 Nguy cơ chiến tranh hạt nhân

- Xác định cụ thể thời gian: “Hôm nay ngày 8-8-1986”

- Đưa ra những tính toán lý thuyết để chứng minh: con người

đang đối mặt với nguy cơ chiến tranh hạt nhân

Dẫn chứng:

+ “Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là tất cả mọi người, không

trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng bốn tấn thuốc nổ - tất cả

chỗ đó nổ tung sẽ làm biến hết thảy, không phải là một lần mà

là mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống trên trái đất”

+ Kho vũ khí ấy có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh xoay

quanh mặt trời, cộng thêm bốn hành tinh nữa và phá hủy thế

thăng bằng của hệ mặt trời

2 Tác động của cuộc đua chiến tranh hạt nhân đối với

đời sống xã hội:

-Cuộc chạy đua vũ trang, chuẩn bị cho chiến tranh hạt nhân đã

làm mất đi khả năng để con người được sống tốt đẹp hơn

Dẫn chứng:

+ Sự đối lập giữa nguồn kinh phí quá lớn (đến mức không thể

thực hiện nổi) và nguồn kinh phí thực tế đã được cấp cho công

nghệ chiến tranh

+ So sánh cụ thể qua những con số thống kê ấn tượng(Ví dụ:

giá của 10 chiếc tàu sân bay đủ để thực hiện chương trình

phòng bệnh trong 14 năm, bảo vệ hơn 1 tỷ người khỏi bệnh sốt

rét, cứu hơn 1 triệu trẻ em Châu Phi, chỉ hai chiếc tàu ngầm

mang vũ khí hạt nhân cũng đủ tiền để xóa nạn mù chữ trên

toàn thế giới…)

-Chiến tranh hạt nhân chẳng những đi ngược lại ý chí của con

người mà còn phản lại sự tiến hóa của tự nhiên

Dẫn chứng: Tác giả đưa ra những chứng cứ từ khoa học địa chất

và cổ sinh học về nguồn gốc và sự tiến hóa của sự sống trên

trái đất Chỉ ra sự đối lập lớn giữa quá trình phát triển hàng

triệu năm của sự sống trên trái đất và một khoảng thời gian

ngắn ngủi để vũ khí hạt nhân tiêu hủy toàn bộ sự sống

Tác giả đã đưa ra những lập luận cụ thể, giàu sức thuyết phục,

Trang 9

lấy bằng chứng từ nhiều lĩnh vực: khoa học, xã hội, y tế, tiếp tế thực phẩm, giáo dục… là những lĩnh vực thiết yếu trong cuộc sống con người để chứng minh.

3 Nhiệm vụ đấu tranh ngăn chặn chiến tranh hạt nhân cho một thế giới hòa bình.

- Khẳng định vai trò của cộng đồng trong việc đấu tranh ngăn chặn chiến tranh hạt nhân

- Đưa ra lời đề nghị thực tế: mở nhà băng lưu trữ trí nhớ để có thể tồn tại được sau khi (giả thiết) chiến tranh hạt nhân nổ ra

* Nghệ thuật:

* Nghệ thuật nghị luận của văn bản có nhiều điểm đặc sắc

- Hệ thống luận điểm, luận cứ toàn diện chặt chẽ

- Chứng cứ phong phú, cụ thể từ nhiều lĩnh vực tri thức khoa học và thực tiễn

(Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục 2013)

1 Đoạn trích đã cho nằm trong văn bản nào? Nó thuộc kiểu văn bản gì?

2 Chỉ ra 2 phép liên kết trong đoạn văn trên

3 Loài người đang rất tích cực trong việc xây dựng một cuộc sống hòabình Phải chăng tiêu chí ấy sẽ đạt được khi con người biết ứng xử hòa nhã,bao dung? Vậy nên trong thực tế có những người lại nóng vội, hành xửbằng bạo lực, trong đó có cả già, trẻ Em hãy viết đoạn văn dài khỏang 2/3trang giấy thi để nêu suy nghĩ của em về hiện tượng bạo lực học đường hiệnnay

GỢI Ý:

1 - Đấu tranh cho một thế giới hòa bình

- Kiểu văn bản nhật dụng

2 - Phép nối: Nhưng

Trang 10

- Phép lăp: Chúng ta

3 - Hình thức: Đúng hình thức đoạn văn, đủ dung

lượng yêu cầu (2/3 trang)

II DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

ĐỀ BÀI : Phát biểu cảm nghĩ của em về bài "Đấu tranh cho một thế giới hòa bình" của nhà văn G.Mác -két.

a) Cảnh báo nguy cơ chiến tranh hạt nhân :

- Tác giả đưa ra một con số khủng khiếp để cụ thể hóa nguy cơ đó :

+ Tính đến ngày 8/8/1986, 50.000 đầu đạn hạt nhân được bố trí khắp hành tinh.+ Bình quân, mỗi người đang ngồi trên 4 tấn thuốc nổ

+ Nếu tất cả nổ tung thì sẽ tan biến mọi dấu vết của sự sống trên trái đất

b) Sự chi phí đến mức vô nhân đạo của cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân:

Chứng minh bằng hệ thống dẫn chứng tiêu biểu và toàn diện, có tính chất tươngphản rất rõ:

- Dự định của UNICEF về chương trình giải quyết các vấn đề cấp bách cho hơn

500 triệu trẻ em nghèo khổ trên khắp thế giới không thể thực hiện được vìkhông có đủ số tiền 100 tỉ đô la

- Số tiền này chỉ gần bằng chi phí bỏ ra cho 500 máy bay ném bom chiến lượccủa Mĩ và 7000 tên lửa vượt đại châu

Trang 11

- Giá 100 chiếc tàu sân bay mang vũ khí hạt nhân đủ để thực hiện chương trìnhphòng bệnh trong 14 năm…

- Chỉ cần số tiền chế tạo 27 tên lửa MX là đủ cho các nước nghèo có thực phẩmdùng trong 4 năm …

- 2 chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân có giá trị tương đương với số tiền xóanạn mù chữ cho toàn thế giới…

c) Lên án cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân là đi ngược lại lý trí của con người và quá trình tiến hóa của tự nhiên :

- Sự bức xúc cao độ của nhà văn thể hiện qua lập luận sắc bén, đầy sức thuyếtphục

- Từ lúc nhen nhóm sự sống trên trái đất cho đến nay, đã trải qua mấy trămtriệu năm

- Chỉ cần nhấn một nút hạt nhân là cả quá trình tiến hóa vĩ đại ấy trở về điểmxuất phát đầu tiên, có nghĩa là sự sống hoàn toàn bị tiêu diệt

d) Lời kêu gọi toàn nhân loại hãy đoàn kết chống chiến tranh hạt nhân :

- Mọi người hãy đoàn kết, đồng thanh phản đối chiến tranh hạt nhân, đòi hỏimột cuộc sống hòa bình, hạnh phúc

3- Kết bài :

- Bài viết chứa đựng ý nghĩa thời sự và nhân đạo to lớn, sâu sắc

- Mác -két xứng đáng là người chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình của nhân loại

ĐỀ BÀI : Nhận xét về nghệ thuật nghị luận của nhà văn G.Mác -két trong văn bản "Đấu tranh cho một thế giới hòa bình"

GỢI Ý:

1- Mở bài

- Giới thiệu về nhà văn G.Mác -két và nghệ thuật nghị luận của văn bản

- Văn bản "Đấu tranh cho một thế giới hòa bình" có hệ thống luận điểm, luận cứchặt chẽ, toàn diện, chứng cứ phong phú, cụ thể, so sánh có hiệu quả cao Kếthợp lí lẽ sắc bén với tri thức phong phú, lòng nhiệt tình mạnh mẽ tác giả kêugọi toàn nhân loại đoàn kết ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, bảo vệ hòa bình và

sự sống trên trái đất

2- Thân bài

- Cách lập luận của nhà văn hợp lí : Tác giả nêu nguy cơ, sức hủy diệt của chiếntranh hạt nhân trên nhiều phương diện khác nhau (hủy diệt tính mạng conngười, hủy diệt toàn bộ sự sống

- Cuộc chạy đua vũ trang không những khiến loài người lâm vào tình trạngnghèo đói, khổ cực mà còn đi ngược lí trí con người, phản lại sự tiến hóa của tựnhiên

- Hệ thống lý lẽ gắn liền với hệ thống dẫn chứng phong phú, chính xác cụ thểđảm bảo tính thuyết phục cao

+ Dẫn chứng về thời gian, địa điểm, con số

+ Dẫn chứng so sánh trên các lĩnh vực xã hội, y tế, giáo dục, tiếp tế thực phẩm + Dẫn chứng khoa học về nguồn gốc và sự tiến hóa của sự sống trên trái đất

Trang 12

+ Lí lẽ sắc bén, tri thức phong phú, lòng nhiệt tình mạnh mẽ tác giả cảnh báohiểm họa của chiến tranh hạt nhân.

- Văn bản kết hợp nghị luận, yếu tố biểu cảm ->lời kêu gọi toàn nhân loại đoànkết chống chiến tranh hạt nhân Hội nghị quốc tế là nơi các đại biểu cất caotiếng nói chống chiến tranh, đòi quyền được sống trong một thế giới hòa bình

ÔN TẬP VĂN BẢN:

TUYÊN BỐ THẾ GIỚI VỀ SỰ SỐNG CÒN, QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM

A KIẾN THỨC CƠ BẢN

*Hoàn cảnh

Văn bản trích phần đầu bản “Tuyên bố” của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em

họp tại trụ sở Liên Hợp quốc, Niu oóc ngày 30-9-1990, trong cuốn “Việt Nam

và các văn kiện quốc tế về quyền trẻ em” (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

1997).

* Nội dung:

Văn bản gồm 17 mục : chia 3 phần

1 Phần Sự thách thức: Nêu lên những thực tế, những con số về cuộc sống khổ

cực trên nhiều mặt, về tình trạng bị rơi vào hiểm hoạ của nhiều trẻ em trên thếgiới hiện nay Cụ thể :

+ Bị trở thành nạn nhân của chiến tranh, và bạo lực, của nạn phân biệt chủngtộc, chế độ A-pác-thai, của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nướcngoài

+ Chịu đựng những thảm hoạ của đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, của tìnhtrạng vô gia cư, dịch bệnh mù chữ, môi trường xuống cấp

+ Chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật

2- Phần Cơ hội: Khẳng định những điều kiện thuận lợi cơ bản để cộng đồng

quốc tế có thể đẩy mạnh việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em Cụ thể:

+ Sự liên kết lại giữa các quốc gia cùng ý thức cao của cộng đồng quốc tế Đã

có công ước về quyền trẻ em làm cơ sở, tạo ra cơ hội mới

+ Sự hợp tác và đoàn kết quốc tế ngày càng có hiệu quả: phong trào giải trừquân bị được đẩy mạnh

Trang 13

+ Ở nước ta Đảng và Nhà nước quan tâm một cách cụ thể Nhận thức của cộngđồng về vấn đề này ngày càng sâu sắc.

3 Phần nhiệm vụ: Xác định những nhiệm vụ cụ thể mà từng quốc gia và cả

cộng đồng quốc tế cần làm vì sự sống còn, phát triển của trẻ em Những nhiệm

vụ này được nêu lên một cách hợp lý và tính cấp bách trên cơ sở tình trạng, điềukiện thực tế Cụ thể:

+ Tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng cho trẻ em

+ Quan tâm chăm sóc trẻ em bị tàn tật và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khókhăn

+ Tăng cường vai trò của phụ nữ nói chung và đảm bảo quyền bình đẳng giữanam và nữ

+ Bảo đảm cho trẻ em được học hết bậc giáo dục cơ sở không có trẻ em nào mùchữ

+ Thực hiện kế hoạch hóa gia đình, tạo điều kiện để trẻ em lớn khôn và pháttriển trên nền móng gia đình

+Vì tương lai của trẻ em cần cấp bách bảo đảm hoặc khôi phục lại sự tăng trưởng và phát triển đều đặn nền kinh tế ở tất cả các nước

*Nghệ thuật:

- Văn bản có bố cục chặt chẽ, hợp lí Bản thân các tiêu đề đã nói lên điều đó

- Sau hai mục đầu khẳng định quyền được sống, quyền được phát triển của mọitrẻ em trên thế giới, khẩn thiết kêu gọi toàn nhân loại hãy quan tâm đến vấn đềnày, 15 mục còn lại được bố cục thành 3 phần Mỗi phần được đặt tiêu đề rõ

ràng, thể hiện tính chặt chẽ, hợp lí của văn bản Phần Sự thách thức tuy ngắn gọn nhưng đủ và cụ thể Phần Nhiệm vụ, các nhiệm vụ nêu ra vừa cụ thể, vừa

toàn diện bao quát trên mọi lĩnh vực (y tế, giáo dục, xã hội), mọi đối tượng (trẻ

em bị tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trai, gái) và mọi cấp độ (gia đình,

xã hội, quốc gia, cộng đồng quốc tế)

B LUYỆN ĐỀ:

I DẠNG ĐỀ ĐỌC – HIỂU:

ĐỀ BÀI: Tại sao vấn đề chăm sóc, bảo vệ trẻ em ngày càng trở nên cấp bách,

được cộng đồng quốc tế quan tâm đến thế ? Đọc phần Sự thách thức của Bản tuyên bố em hiểu như thế nào về tình trạng khổ cực của nhiều trẻ em trên thế giới hiện nay ?

GỢI Ý: Giải thích tính cấp bách của vấn đề này xuất phát từ :

- Vai trò của trẻ em đối với tương lai của một dân tộc, đối với toàn nhânloại

- Thực trạng cuộc sống của trẻ em trên thế giới hiện nay :

+ Bị trở thành nạn nhân của chiến tranh, và bạo lực, của nạn phân biệtchủng tộc, chế độ A-pác-thai, của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính củanước ngoài

Trang 14

+ Chịu đựng những thảm hoạ của đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, củatình trạng vô gia cư, dịch bệnh mù chữ, môi trường xuống cấp.

+ Chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật

ĐỀ BÀI: Qua phần Cơ hội em thấy việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong bối cảnh thế giới hiện nay có những điều kiến thuận lợi gì? ở nước ta việc bảo

vệ và chăm sóc trẻ em có những điều kiện thuận lợi cơ bản gì?

+ Đã có công ước về quyền trẻ em làm cơ sở tạo ra cơ hội mới

+ Sự hợp tác và đoàn kết quốc tế ngày càng có hiệu quả cụ thể trên nhiều lĩnhvực, phong trào giải trừ quân bị đẩy mạnh, tạo điều kiện cho một số tài nguyên

to lớn có thể được chuyển sang phục vụ các mục tiêu kinh tế, tăng cường phúclợi xã hội

- Những điều kiện thuận lợi trong việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở Việt Nam:+ Có luật bảo vệ chăm sóc trẻ em, Đảng, Nhà nước và các đoàn thể luôn quantâm đến vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em

+ Sự tăng trưởng kinh tế khá, tỉ lệ hộ nghèo giảm, trẻ em có điều kiện sống tốthơn

+ Sự trợ giúp của nhiều tổ chức quốc tế trong công tác bảo vệ chăm sóc trẻ emnhư: Quỹ nhi đồng liên hợp quốc, quỹ bảo trợ trẻ em Việt Nam,

ĐỀ BÀI: Qua bản tuyên bố, em nhận thức như thế nào về tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em, về sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề này?

II DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

ĐỀ BÀI: phân tích văn bản “Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em”

I Mở bài

Trang 15

- Giới thiệu những nét khái quát về tầm quan trọng của trẻ em trong sự pháttriển của nhân loại: Trẻ em là thế hệ kế thừa những thành tựu và phát triển thếgiới tốt đẹp mà con người đã gây dựng trong suốt bao thiên niên kỉ

- Nhận thức tầm quan trọng của trẻ em, Tuyên bố thế giới về sự sống còn,quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em (trích trong Tuyên bố của hội nghịcấp cao thế giới về trẻ em) của Liên hợp quốc đã đưa đến những vấn đề cấpthiết cho thế hệ những chủ nhân tương lai của đất nước

II Thân bài

1 Sự khẳng định quyền được sống, quyền được phát triển của mọi trẻ em trên Trái đất, kêu gọi nhân loại hãy quan tâm nhiều hơn đến điều này

- Giới thiệu hoàn cảnh của lời kêu gọi, đây là một “lời kêu gọi khẩn thiết hướngtới toàn thể nhân loại” vì mục đích: hãy đảm bảo cho trẻ em một tương lai tốtđẹp hơn”

- Nêu đặc điểm của trẻ em: “trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc”

- Khẳng định quyền được sống, quyền được phát triển của tất cả các trẻ em trêntoàn thế giới: “phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học

và phát triển ”

⇒ Cách nêu vấn đề trực tiếp, rõ ràng

2 Những thách thức cho sự phát triển của nhiều trẻ em trên thế giới

- Phản ánh thực trạng của trẻ em trên toàn thế giới:

+ Trở thành những nạn nhân của chiến tranh và bạo lực, của sự phân biệt chủngtộc, sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài

+ Phải sống trong thảm họa đói nghèo, khủng hoảng kinh tế

+ Tình trạng vô gia cư, dịch bệnh, môi trường xuống cấp

+ Rất nhiều trẻ em phải bỏ mạng mỗi ngày do suy dinh dưỡng và bệnh tật

3 Những điều kiện thuận lợi để thế giới có thể đẩy mạnh việc quan tâm, chăm sóc trẻ em

- Bên cạnh những khó khăn, tuyên bố cũng đưa ra những cơ hội cho việc chămsóc, hướng tới sự phát triển của trẻ em:

+ Sự liên kết giữa các nước và “công ước về quyền trẻ em”đã tạo ra nhữngquyền và phúc lợi mới cho trẻ em, chúng sẽ “được sự tôn trọng” ở khắp nơi trênthế giới

+ Bầu không khí chính trị quốc tế đang được cải thiện, cụ thể cuộc chiến tranhlạnh đã chấm dứt, sự hợp tác liên kết quốc tế được tăng cường, phong trào giảtrừ quân bị được đẩy mạnh

⇒ Tạo điều kiện cho một số tài nguyên to lớn có thể chuyển sang phục vụ cácmục tiêu kinh tế, tăng cường phúc lợi xã hội

⇒ Có thể tạo ra nhiều hơn nữa những kết quả tốt đẹp cho sự phát triển của trẻem

4 Nhiệm vụ cụ thể từng quốc gia về cả cộng đồng cần làm vì sự sống còn, quyền được bảo về và phát triển của trẻ em

- Tuyên bố đã đưa ra những nhiệm vụ cấp thiết cho cộng đồng quốc tế và từngquốc gia:

+ Tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của trẻ em

Trang 16

+ Chăm sóc nhiều hơn đối với trẻ em bị tàn tật và có hoàn cảnh sống đặc biệtkhó khăn

+ Tăng cường vai trò phụ nữ và bình đẳng nam nữ

+ Bảo đảm sự phát triển giáo dục cho trẻ em

+ Bảo đảm an toàn cho phụ nữ mang thai

+ Tạo môi trường sống tốt đẹp cho trẻ em

+ Khôi phục sự phát triển kinh tế

⇒ Những nhiệm vụ mang tính cấp thiết này nếu được thực hiện sẽ, ở ra mộttương lai tốt đẹp hơn cho trẻ em trên toàn thế giới

III Kết bài

- Khẳng định lại tầm quan trọng của bản tuyên bố này đối với sự phát triển củatrẻ em trên toàn thế giới

- Trình bày suy nghĩ bản thân và liên hệ thực tế đất nước

III DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

ĐỀ BÀI: Phát biểu ý kiến về sự quan tâm, chăm sóc của chính quyền địa phương, của tổ chức xã hội nơi em ở hiện nay đối với trẻ em.

GỢI Ý:

- Vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm.Việt Nam lả nước thứ hai trên thế giới kí và phê chuẩn Công ước của Liên hợpquốc về Quyền Trẻ em Sau Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em năm 1990, Hộiđồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết địnhChương trình hành động vì sự sổng còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ

em Việt Nam từ năm 1991 đến 2000, đặt thành một bộ phận của chiến lược, kếhoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

- Trên cơ sở đường lối, chiến lược phát triển đó, chính quyền địa phương cáccấp đã vạch kế hoạch, hành động cụ thể nhằm đảm bảo các quyền lợi của trẻ emnhư:

+ Các chính sách hỗ trợ kinh tế đối với trẻ em nghèo để các em có thể đếntrường, quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, trường học, thiết bị dạy học đểnâng cao chất lượng giáo dục, kêu gọi các tổ chức xã hội và nhân dân đóng gópxây đựng trường lớp, giúp đỡ trẻ em khuyết tật, đóng góp quỹ vì người nghèo,

vì trẻ em bị nhiễm chất độc màu da cam, khuyến khích mở các lớp học tìnhthương, các trung tâm bảo trợ trẻ em mồ côi, tàn tật, lang thang không nơinương tựa

+ Những hoạt động vì trẻ em: tiêm chủng miễn phí, khám chữa bệnh miễn phícho trẻ em dưới 6 tuổi, mọi trẻ em đều được đi học,

- Suy nghĩ của em về sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, các chính quyền địaphương đối với vấn đề quyền lợi của trẻ em:

(Gợi ý: Em có vui và hoan nghênh những cố gắng của cộng đồng quốc tế, Chínhphủ Việt Nam về vấn đề này hay không? Vì sao? ý kiến đề xuất của em, nếu

có, để Chính phủ, chính quyền địa phương nơi em sinh sống thực thi tốt hơnviệc bảo đảm quyền lợi cho trẻ em?)

Trang 17

ĐỀ BÀI: Viết đoạn văn nghị luận xã hội về nạn bạo hành trẻ em.

1 Mở đoạn

Ngày nay, chúng ta đang bước vào kỷ nguyên phấn đấu cho một chế độ côngbằng và văn minh, dân chủ và giàu mạnh Ấy thế mà trong xã hội vẫn tồn tạimột hiện tượng làm nhức nhối trái tim và lương tri của những người lươngthiện Đó là hiện tượng bạo hành trẻ em Vậy thế nào là bạo hành, hậu quả của

nó và thái độ, trách nhiệm của chúng ta ra sao trước vấn nạn này?

2 Thân đoạn

a Thế nào là bạo hành? Đó là hành động và lời nói có tính chất vũ phu, bạo

ngược, thậm chí là độc ác như lăng mạ, đay nghiến, xỉ vả, xúc phạm, chà đạp,đánh đập, tra tấn bất chấp pháp luật, đạo lý, làm tổn thương thể xác và tinhthần của người khác

b Thực trạng bạo hành trẻ em trong xã hội

- Vừa qua, những phương tiện thông tin đại chúng đã gay gắt lên án những

vụ bạo hành trẻ em xảy ra ở các địa phương trong cả nước, ở các môi trườngsống khác nhau: Trong gia đình, trong các quán ăn và cả trong học đường

( ví dụ: Cô bảo mẫu Quản Thị Kim Hoa ở Biên Hoà, Đồng Nai đã dùng bạolực đánh đập, tát, vả những đứa trẻ còn rất non yếu do bà ta trông giữ, đến

độ bà phải lãnh án tù; cô giáo bắt hs uống nước rẻ lau bảng…)

c Bình luận: Bản chất của nạn bạo hành trẻ em hậu quả của nó và thái độ, trách nhiệm của mỗi chúng ta trước vấn nạn này.

- Bạo hành là một hành động xấu xa cần phải lên án: Bác Hồ đã từng viết

"Trẻ em là bầy con cưng", "trẻ em như búp trên cành, biết ăn ngủ Biết họchành là ngoan" Thế mà có những búp non không những bị vùi dập một cáchthô bạo, phũ phàng, mà còn bị rẻ rúng, khinh thường Những người bạo hànhcon cái, trẻ em là những người không yêu con, không yêu trẻ và có cách giáodục thiếu tình thương."Phụ tử tình thâm" "Hổ báo cũng không ăn thịt con";

"Bầu ơi thương lấy bí cùng ", mà nỡ đối xử với con thơ, trẻ thơ như thế sao?Những đứa trẻ thường xuyên bị bạo hành sẽ có các di chứng như nhiễu tâm

lý, trầm cảm, sợ hãi, mất ngủ, thiếu tự tin, thất vọng và hay gây hấn Đặc biệt

ở nhiều gia đình thế hệ con, đã lặp lại hành vi bạo lực gia đình mà khi nhỏ nóđược chứng kiến Theo số liệu điều tra của Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em,

có đến 80% em bỏ nhà hoặc phạm pháp là do hậu quả của nạn bạo hành

- Bạo hành trong gia đình gây ra mối bất hoà và ảnh hưởng lớn tới sự bềnvững của gia đình và xã hội Còn bạo hành ngoài xã hội thì ảnh hưởng tớitâm lý, nhận thức, ứng xử của con người

- Dù bởi nguyên nhân khách quan hay chủ quan, do áp lực của cuộc sống, dođói nghèo, do say rượu thiếu tỉnh táo hay gì đi nữa, thì hành động bạo hànhcũng là hành động của những con người gần như mất hết lương tri, suy đồi

về đạo đức, tha hoá về nhân cách và đi ngược lại truyền thống đạo lý yêuthương nhân ái "Thương người như thể thương thân" vốn rất đẹp và quý báucủa dân tộc ta

Trang 18

3 Kết đoạn

Việt Nam ta là nước đầu tiên ở Châu Á đã ký kết công ước về đảm bảoquyền trẻ em Chúng ta hãy nỗ lực thực hiện bằng được cam kết ấy Và phápluật, báo chí, toàn xã hội phải góp sức, chung tay cùng lên án hành vi bạo hànhtrẻ em để có thể mang lại sự bình yên cho gia đình và xã hội, làm cho mọi ngườiđược sống trong yêu thương đùm bọc lẫn nhau

Trang 19

CHUYÊN ĐỀ TRUYỆN TRUNG ĐẠI GỒM CÁC VĂN BẢN:

+ Chuyện người con gái Nam Xương (trích truyền kì mạn lục)

+ Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (Trích Vũ Trung Tùy bút- Phạm

Đình Hổ) + Hoàng Lê nhất thống trí- Hồi thứ mười bốn (trích)

+Truyện Kiều (Nguyễn Du):

Chị em TK,

Cảnh ngày xuân

Kiều ở lầu Ngưng Bích

+ Truyện Lục Vân Tiên: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

ÔN TẬP VĂN BẢN:

CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG- NGUYỄN DỮ

A KIẾN THỨC CƠ BẢN

- Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh,

năm mất), quê ở Hải Dương.

- Nguyễn Dữ sống vào nửa đầu

thế kỉ XVI, thời kì Triều đình nhà

Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các

tập đoàn phong kiến Lê, Mạc,

Trịnh tranh giành quyền lực, gây

ra những cuộc nội chiến kéo dài.

- Ông học rộng, tài cao nhưng

chỉ làm quan một năm rồi cáo

về, sống ẩn dật ở vùng núi

Thanh Hoá.

* Xuất xứ: “Chuyện người con

gái Nam Xương” là một trong

20 truyện nằm trong tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ:

“Truyền kì mạn lục” (Ghi chép tản mạn những truyện kì lạ).

* Thể loại: Truyện truyền kì

(những truyện kì lạ được lưu truyền) Viết bằng chữ Hán.

* Chủ đề: “Chuyện

người con gái Nam Xương” thể hiện niềm thương cảm đối với số phận oan nghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của những phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến.

*Tóm tắt văn bản

- Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương, thùy mị, nết na lấy chồng là Trương Sinh, người có tính

đa nghi cả ghen Biết tính chồng, nàng ăn ở khuôn phép nên gia đình êm ấm thuận hòa.

- Buổi giặc giã nhiễu nhương, triều đình bắt Trương Sinh đi lính Vũ Nương đã có mang Chồng ra trận, nàng ở nhà nuôi mẹ già, sinh con trai đặt tên là Đản Chẳng may mẹ chồng qua đời, nàng lo toan cho mẹ mồ yên mả đẹp.

- Chồng đi xa, thương con nàng chỉ cái bóng trên tường bảo là cha Trương Sinh về nghe con nói lại nên nghi ngờ vợ Không phân giải được, Vũ Nương nhảy xuống sông tự vẫn Cảm động vì tấm lòng của nàng, Linh Phi (vợ vua Nam Hải) cứu vớt và cho nàng ở lại Thủy cung.

- Một đêm, Trương Sinh cùng con trai ngồi bên đèn, đứa con chỉ chiếc bóng trên tường bảo

đó là “cha” của mình, là người hay đến hằng đêm Lúc đó Truơng Sinh mới hiểu vợ bị hàm

Trang 20

- Phan Lang- người cùng làng với Vũ Nương, do cứu mạng thần rùa Linh Phi, vợ vua Nam Hải, nên khi chạy loạn chết đuối ở biển đã được Linh Phi cứu sống để tạ ơn- tình cờ gặp Vũ nuơng dưới thuỷ cung Khi Phan Lang trở về trần gian, Vũ Nương gởi chiếc hoa vàng và lời nhắn cho Truơng Sinh Truơng Sinh liền lập đàn giải oan trên bến Hoàng Giang Vũ Nương ngồi trên kiệu hoa đứng giữa dòng lúc ẩn lúc hiện rồi biến mất.

* Nội dung:

1.Giá trị hiện thực

- Chuyện phản ánh hiện thực xã hội phong kiến bất công với chế độ nam quyền,

chà đạp lên số phận người phụ nữ (Đại diện là nhân vật Trương Sinh)

- Phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận người phụ nữ: chịu nhiều

oan khuất và bế tắc

- Phản ánh xã hội phong kiến với những cuộc chiến tranh phi nghĩa liên miên,

làm cho cuộc sống của người dân càng rơi vào bế tắc

2 Giá trị nhân đạo:

a Ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam qua nhân vật Vũ Nương

- Vũ Nương là người con gái thuỳ mị, nết na, tư dung tốt đẹp

- Vũ Nương là người có vẻ đẹp đức hạnh

- Vũ Nương là một người vợ thuỷ chung:

+Mới về nhà chồng, hiểu Trương Sinh có tính đa nghi, nàng luôn giữ gìn khuôn

+ Khi bị nghi oan, nàng nhẫn nhục, cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng

+ Sống ở thuỷ cung nàng vẫn nặng tình với quê hương, với chồng con…

- Vũ Nương là một người con dâu hiếu thảo:

+ Thay chồng chăm sóc mẹ

+ Mẹ chồng ốm, nàng thuốc thang, lễ bái, nói lời ngọt ngào khuyên lơn

+ Mẹ chồng mất: nàng hết lòng thương xót, lo liệu ma chay chu đáo như đối với

cha mẹ đẻ.(Lời người mẹ chồng trước lúc mất đã khẳng định tấm lòng hiếu thảo

hết mực của Vũ Nương)

- Vũ Nương là một người mẹ yêu thương con:

+ Yêu thương, chăm sóc con

+ Chỉ cái bóng mình trên tường để dỗ dành con,…

- Vũ Nương là người phụ nữ trọng nhân phẩm và tình nghĩa:

+Vũ Nương đã chọn cái chết để tự minh oan cho mình, để bảo vệ nhân phẩm

của người phụ nữ (khác với nhân vật Vũ Nương trong truyện cổ tích)

+ Dù nhớ về quê hương nhưng nàng vẫn quyết giữ lời hứa với Linh Phi → coi

trọng tình nghĩa

b Thể hiện niềm thương cảm đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ

và ước mơ, khát vọng về một cuộc sống công bằng, hạnh phúc cho họ.

Trang 21

(Đoạn truyện dưới thuỷ cung chính là sáng tạo của Nguyễn Dữ)

c Gián tiếp lên án, tố cáo xã hội phong kiến bất công

- Xã hội phong kiến với chế độ nam quyền đã dung túng, bênh vực những suynghĩ, hành động của Trương Sinh, đẩy Vũ Nương đến cái chết bi thảm

- Xã hội phong kiến với những cuộc chiến tranh phi nghĩa chia cách tình cảm vợchồng, cha con, đã gây ra bị kịch của cuộc đời Vũ Nương

- Xã hội phong kiến không có chỗ cho những con người tốt đẹp như Vũ Nương được sống → Vũ Nương không thể trở về

* Nghệ thuật:

- Nghệ thuật dựng truyện: Trên cơ sở có sẵn, tác giả đã sáng tạo thêm và sắp

xếp các tình tiết làm cho diễn biến của truyện hợp lí, tự nhiên, tăng kịch tính,hấp dẫn và sinh động

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật được khắc hoạ tâm lí và tính cách

thông qua lời nói (đối thoại) và lời tự bạch (độc thoại) (Khác với nhân vật trongtruyện cổ tích)

- Sử dụng yếu tố truyền kì (kì ảo): làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm.

- Kết hợp các phương thức biểu đạt: Tự sự + Biểu cảm (trữ tình) làm nên một

áng văn xuôi trữ tình sống mãi với thời gian

Liên hệ:

* Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương

* Ca dao :

- Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các hạt ra ruộng ngoài

- Thân em như trái bần trôI

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

B LUYỆN ĐỀ:

I DẠNG ĐỀ ĐỌC – HIỂU:

ĐỀ BÀI: Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“ - Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.”

(SGK Ngữ văn 9, tập I, trang 48)

1 Đoạn văn trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai?

2 Đây là lời của ai nói với ai?

3 Ý nghĩa của lời thoại trên là gì?

Trang 22

GỢI Ý:

1 Đoạn văn trích trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam

Xương”-Nguyễn Dữ

2 Đây là lời thoại của nhân vật Vũ Nương nói với Trương Sinh trong cảnh

trở về ở phần kết “Chuyện người con gái Nam Xương” – Nguyễn Dữ

3 Ý nghĩa của lời thoại:

+ Khẳng định và hoàn thiện vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương: trọng ơn nghĩa,bao dung độ lượng và khao khát được phục hồi danh dự (1,0 điểm)+ Góp phần tạo nên một kết thúc vừa có hậu vừa mang tính bi kịch: mặc dù

Vũ Nương được giải oan nhưng sự mất mát của nàng thì không thể bù đắp

+ Góp phần tố cáo xã hội phong kiến bất công, không cho con người cóquyền được sống hạnh phúc nơi trần thế

ĐỀ BÀI: Đọc đoạn văn sau:

“Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất Nay

đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước

gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cát én lìa đàn, nước thấm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa.”

(Ngữ văn 9, Tập một, NXB GDVN, 2015, trang 45)

a/ Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm nào? Ai là tác giá? (0,5 điển)

b/ Chỉ ra cặp đại tự xưng hô trong đoạn văn trên (0,5 điểm)

c/ Cụm từ nghi gia nghi thất có nghĩa là gì? (0,5 điểm)

d/ Nêu hàm ý của câu văn: Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cát én lìa đàn, nước thấm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa (0,5 điểm)

GỢI Ý:

a.Đoạn trích trên thuộc tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương

cuả Nguyễn Dữ

b.Đại từ xưng hô: thiếp, chàng

c.Cụm từ nghi gia nghi thất : nên cửa nên nhà, ý nói thành vợ thành chồng,cùng xây dựng hạnh phúc gia đình

d Nàng đã nói lên nỗi đau đớn thất vọng khi không hiểu sao mình bị nghi oan,

bị đối xử bất công Đồng thời đó còn là sự tuyệt vọng đến cùng cực khi khao

Trang 23

khát của cả đời nàng vun đắp đã tan vỡ Tình yêu không còn Cả nỗi đau khỏchờ chồng đến hoá đá như trước đây cũng không còn có thể làm được nữa.

ĐỀ BÀI: Sau đây là một phần của cuộc trò chuyện giữa Phan Lang và Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Du):

“Phan nói:

- Nhà cửa tiên nhân của nương tử, cây cối thành rừng, phần mộ tiên nhân của nương tử có gai rợp mắt, nương tử dù không nghĩ đến nhưng tiên nhân của nương tử còn mong đợi thì sao?”

Nghe đến đây, Vũ Nương ứa nước mắt khóc rồi quả quyết đổi giọng mà rằng:

- Có lẽ không thể gửi hình ẩn bóng ở đây được mãi để mang tiếng xấu xa Và chăng ngựa hồ

Gươm gió bấc, chim Việt đậu cành nam Cảm vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày” (Trích Ngữ văn 9 tập 1)

1.Phan Lang trò chuyện với Vũ Nương trong hoàn cảnh nào? Từ “tiên nhân” được nhắc tới trong lời của Phan Lang để chỉ những ai?

2.Vì sao khi nghe Phan Lang nói, Vũ Nương “ứa nước mắt khóc” và quả quyết

“tôi tất phải tìm về có ngày”

GỢI Ý:

1 - Phan Lang nói chuyện với Vũ Nương trong hoàn cảnh:

- Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa sau đó gặp nạn rồi được Linh Phi cứu giúp, gặp Vũ Nương dưới thủy cung.

- “tiên nhân” chỉ Trương Sinh – Chồng Vũ Nương.

2 Khi nghe Phan Lang nói Vũ Nương “ứa nước mắt khóc “ và “ quả quyết

tìm về có ngày”: + Vũ Nương còn nặng tình nặng nghĩa với chồng con

+ Hoàn chỉnh thêm về nét đẹp của người con gái thủy chung, nhân hậu qua nhân vật Vũ Nương

+ Vũ Nương dù chết vẫn muốn rửa oan, bảo toàn danh dự và nhân phẩm

ĐỀ BÀI: Đọc kĩ phần văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

Trang 24

“ Chàng bèn theo lời, lập một đàn tràng ba ngày đêm ở bến Hoàng Giang Rồi quả thấy Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện.

Chàng vội gọi, nàng vẫn ở giữa dòng mà nói vọng vào:

- Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết không bỏ Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.

Rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt mà biến đi mất.

(Theo sách Ngữ văn 9, tập 1, trang 48, NXB Giáo dục, 2014)

1 Đoạn trích trên nằm trong tác phẩm nào? Do ai sáng tác?

2 Chỉ ra một lời dẫn trực tiếp trong đoạn trích trên và chuyển lời dẫn trực tiếp đó thành lời dẫn gián tiếp.

3 Qua câu nói của Vũ Nương với chồng, em nhận thấy nàng là con người như thế nào?

4 Có ý kiến cho rằng nếu nhà văn để Vũ Nương trở về trần gian sống hạnh phúc với chồng con thì kết truyện sẽ trọn vẹn hơn Hãy trình bày suy nghĩ của em về vấn đề này bằng một đoạn văn tổng hợp - phân tích - tổng hợp khoảng 12-15 câu Trong đoạn

có một câu ghép và một câu chứa thành phần khởi ngữ (yêu cầu gạch chân, chú thích rõ).

GỢI Ý:

Câu 1 Đoạn trích trên nằm trong tác phẩm “ Người con gái Nam Xương” Tác

giả: Nguyễn Dữ.

Câu 2

- Chỉ ra một lời dẫn trực tiếp trong đoạn trích trên: 0.5 điểm

+ Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết không bỏ Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.

+ Chuyển lời dẫn trực tiếp đó thành lời dẫn gián tiếp: Chàng vội gọi, nàng vẫn dứng giữa dòng mà nói vọng vào rằng nàng cảm ơn đức của

Linh Phi đã thề sống chết không bỏ Nàng đa tạ tình chàng nhưng nàng chẳng thể trở

về nhân gian được nữa.

Câu 3:

Qua câu nói của Vũ Nương với chồng, em nhận thấy nàng là con người như thế nào?

- Vũ Nương là người sống nặng nghĩa nặng tình, luôn biết ơn người đã có công giúp mình, sống có trước có sau (với Linh Phi)

- Nàng cũng là người bao dung nhận hậu (hiểu tấm lòng, ghi nhận sự ân hận của Trương Sinh)

Trang 25

=> Đó là một người phụ nữ tốt đẹp đáng được trân trọng, ngợi ca.

- Về ý kiến được nêu trong đề: Để Vũ Nương trở lại trần gian sông hạnh phúc bên chồng con là cách kết thúc quen thuộc trong truyện dân gian thể hiện mong ước ở hiền gặp lành, người tốt được đáp dền xứng đáng Điều này thể hiện tinh thần nhân đạo của dân tộc ta từ xa xưa Cách kết thúc đó cũng có thể chấp nhận được

- Tuy nhiên, cách kết thúc câu chuyện của Nguyễn Dữ mang lại những ý nghĩa sâu xa hơn:

Kết thúc đó phần nào vẫn thể hiện được quan niệm của người xưa: người tốt đẹp như

Vũ Nương không thể chết trong tủi hờn, oan trái, nàng có một cuộc sống thanh thản, không buồn lo oan khuất nơi động rùa Nàng cũng đã được trở về trần gian để cởi bỏ mối oan tình, khẳng định sự trong sạch, thủy chung

- Tuy nhiên, nguyễn Dữ lựa chọn cách kết thúc khiến câu chuyện không hoàn toàn mất

đi màu sắc bi kịch khi để Vũ Nương không thể trở lại cuộc sống trần gian Ông muốn chúng ta hiểu rằng khi xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ còn tồn tại bao bất cong ngang trái, khi chiến tranh phi nghĩa vẫn còn thì Vũ Nương có trở lại hạnh phúc của nàng cũng khó bền lâu Xã hội đó không cho những người như Vũ Nương cơ hội hạnh phúc Kết thúc này cho thấy cái nhìn hiện thực sâu sắc của nhà văn.

ĐỀ BÀI: “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ xuất hiện

nhiều yếu tố kì ảo Hãy chỉ ra các yếu tố kỳ ảo ấy và cho biết tác giả muốn thểhiện điều gì khi đưa ra những yếu tố kỳ ảo vào một câu chuyện quen thuộc

GỢI Ý:

* Các chi tiết kì ảo trong câu chuyện:

- Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa

- Phan Lang gặp nạn, lạc vào động rùa, gặp Linh Phi, được cứu giúp; gặp lại VũNương, được sứ giả của Linh Phi rẽ đường nước đưa về dương thế

- Vũ Nương hiện về trong lễ giải oan trên bến Hoàng Giang giữa lung linh,huyền ảo rồi lại biến đi mất

* ý nghĩa của các chi tiết kỳ ảo:

- Làm hoàn chỉnh thêm nét đẹp vốn có của Vũ Nương: nặng tình, nặngnghĩa, quan tâm đến chồng con, phần mộ tổ tiên, khao khát được phục hồi danhdự

- Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu cho câu chuyện

- Thể hiện về ước mơ, về lẽ công bằng ở đời của nhân dân ta

 Yêu cầu trả lời ngắn gọn, giải thích rõ yêu cầu của đề bài; các ý có sựliên kết chặt chẽ; trình bày rõ ràng, mạch lạc

Trang 26

II DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

ĐỀ BÀI: Phân tích vẻ đẹp và tấn bi kịch của người phụ nữ qua tác phẩm

“Chuyện người con gái Nam Xương” của tác giả Nguyễn Dữ.

GỢI Ý:

a Mở bài:

- Giới thiệu “Chuyện người con gái Nam Xương” –Nguyễn Dữ

- Nội dung của truyện

- Nêu vấn đề

b Thân bài:

* Phân tích những nét phẩm chất tốt đẹp của Vũ nương:

- Vũ Nương vừa có nhan sắc vừa có đức hạnh: : “Tính tình thùy mị nết na, lại

thêm có tư dung tốt đẹp” Nhờ vậy nên Trương Sinh, con nhà hào phú “mến vìdung hạnh” đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về

- Trong đạo vợ chồng, Vũ Nương là người vợ hết mực thương chồng và thủy chung:

+ Biết chồng có tính “đa nghi” nàng đã “giữ gìn khuôn phép” không để xảy racảnh vợ chồng phải “thất hòa”

+ Buổi tiễn chồng ra trận, Vũ Nương đã rót chén rượu đầy chúc chồng “đượchai chữ bình yên”; nàng chẳng mong được đeo ấn phong hầu mặc áo gấm trở vềquê cũ Ước mong của nàng thật bình dị, vì nàng coi trọng hạnh phúc gia đìnhhơn mọi công danh phù phiếm ở đời

- Vũ Nương là người phụ nữ đảm đang, hiếu thảo: Mẹ chồng già yếu, ốm đau,

nàng “hết sức thuốc thang”, “ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn” Vừa phụngdưỡng mẹ già, vừa chăm sóc nuôi dạy con thơ Lúc mẹ chồng qua đời, nàng đã

“hết lời thương xót”, việc ma chay tế lễ được lo liệu, tổ chức rất chu đáo “nhưđối với cha mẹ đẻ mình”

* Phân tích bi kịch (nỗi oan của Vũ Nương):

- Nỗi oan: Nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử …

- Ý nghĩa cái chết của Vũ Nương (giá trị hiện thực, giá trị tố cáo): Tố cáo hiệnthực sâu sắc Nó lên án chiến tranh phong kiến đã làm cho đôi lứa phải li biệt,

Trang 27

người vợ trẻ sống vất vả cô đơn; lên án lễ giáo phong kiến khắt khe với tệ giatrưởng độc đoán, gây nên bi kịch gia đình, làm tan vỡ hạnh phúc …

c Kết bài:

- Giá trị của truyện

- Suy nghĩ về người phụ nữ trong xã hội cũ

ĐỀ BÀI: Cảm nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua bài thơ “Bánh trôi nước” (Hồ Xuân Hương) và “Chuyện người con gái Nam Xương” (Nguyễn Dữ).

GỢI Ý:

a Mở bài:

Nêu khái quát nhận xét về đề tài người phụ nữ trong văn học, số phận cuộcđời của họ được phản ánh trong các tác phẩm văn học trung đại; những bất hạnhoan khuất được bày tỏ, tiếng nói cảm thông bênh vực thể hiện tấm lòng nhânđạo của các tác giả, tiêu biểu thể hiện qua hai văn bản

b Thân bài: Cảm nhận về người phụ nữ qua 2 tác phẩm

* Họ đều là những người phụ nữ đẹp, có phẩm chất trong sáng, giàu đức hạnh:

- Cô gái trong “ Bánh trôi nước” :

+ Được miêu tả với những nét đẹp hình hài thật chân thực, trong sáng: "Thân em vừa trắng lại vừa tròn” Miêu tả bánh trôi nước nhưng lại dùng từ thân em -

cách nói tâm sự của người phụ nữ quen thuộc kiểu ca dao: thân em như tấm lụađào khiến người ta liên tưởng đến hình ảnh nước da trắng và tấm thân trònđầy đặn, khoẻ mạnh của người thiếu nữ đang tuổi dậy thì mơn mởn sức sống + Cô gái ấy dù trải qua bao thăng trầm bảy nổi ba chìm vẫn giữ tấm lòng son

Sự son sắt hay tấm lòng trong sáng không bị vẩn đục cuộc đời đã khiến cô gáikhông chỉ đẹp vẻ bên ngoài mà còn quyến rũ hơn nhờ phẩm chất của tấm lòngson luôn toả rạng

- Nhân vật Vũ Nương trong “ Chuyện người con gái Nam Xương ”:

- Vũ Nương vừa có nhan sắc vừa có đức hạnh: : “Tính tình thùy mị nết na, lại

thêm có tư dung tốt đẹp” Nhờ vậy nên Trương Sinh, con nhà hào phú “mến vìdung hạnh” đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về

Trang 28

- Trong đạo vợ chồng, Vũ Nương là người vợ hết mực thương chồng và thủy chung:

+ Biết chồng có tính “đa nghi” nàng đã “giữ gìn khuôn phép” không để xảy racảnh vợ chồng phải “thất hòa”

+ Buổi tiễn chồng ra trận, Vũ Nương đã rót chén rượu đầy chúc chồng “đượchai chữ bình yên”; nàng chẳng mong được đeo ấn phong hầu mặc áo gấm trở vềquê cũ Ước mong của nàng thật bình dị, vì nàng coi trọng hạnh phúc gia đìnhhơn mọi công danh phù phiếm ở đời

- Vũ Nương là người phụ nữ đảm đang, hiếu thảo: Mẹ chồng già yếu, ốm đau,

nàng “hết sức thuốc thang”, “ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn” Vừa phụngdưỡng mẹ già, vừa chăm sóc nuôi dạy con thơ Lúc mẹ chồng qua đời, nàng đã

“hết lời thương xót”, việc ma chay tế lễ được lo liệu, tổ chức rất chu đáo “nhưđối với cha mẹ đẻ mình”

* Họ là những người chịu nhiều oan khuất và bất hạnh, không được xã hội coi

trọng: - Người phụ nữ trong bài thơ

“Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương đã bị xã hội xô đẩy, sống cuộc sốngkhông được tôn trọng và bản thân mình không được tự quyết định hạnh phúc

- Vũ Nương bị chồng nghi oan (…)

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Bằng các tác phẩm đã học “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ và “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, em hãy làm sáng tỏ nhận xét

trên

GỢI Ý:

A Mở bài : Giới thiệu chung về hai tác phẩm và vấn đề cần nghị luận.

B Thân bài.

Trang 29

- Giải thích ý nghĩa câu thơ

+ “ Phận” – số phận, cuộc đời

+ “ Bạc mệnh”- số mệnh bạc bẽo, mỏng manh

=> Đã sinh ra là người phụ nữ thì phải chịu chung số phận khổ đau, bất hạnh;

nó như một duyên kiếp tiền định mà không thể thoát ra được

- Chứng minh qua hai tác phẩm đã học

* Nàng Vũ Nương là một người phụ nữ đẹp nết, đẹp người, tính tình thùy mị lạithêm tư dung tốt đẹp, một người vợ hiền, một người con hiếu thảo, vậy mà nànglại là nạn nhân của chế độ phong kiến nam quyền đầy bất công đối với ngườiphụ nữ

+ Cuộc hôn nhân của Vũ Nương với Trương Sinh có phần không bình đẳng(Trương Sinh xin mẹ mang trăm lạng vàng cưới Vũ Nương về làm vợ), là mộtcuộc hôn nhân không tình yêu; sự cách bức giàu nghèo khiến Vũ Nương luônsống trong mặc cảm “thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu”, và cũng

là cái thế để Trương Sinh đối xử với vợ một cách vũ phu, thô bạo, gia trưởng.+ Chỉ vì tin vào lời con trẻ thơ ngây mà Trương Sinh đã hồ đồ, độc đoánmắng nhiếc, đánh đuổi Vũ Nương đi, không cho nàng thanh minh, Vũ Nươngphải tìm đễn cái chết để tự minh oan cho mình

+ Cái chết đầy oan ức của Vũ Nương cũng không khiến Trương Sinh thấy

ân hận, day dứt, anh ta cũng không bị xã hội lên án Ngay cả khi biết Vũ Nương

bị nghi oan, Trương Sinh cũng coi đó là việc đã qua rồi Kẻ bức tử Vũ Nương,gây nên cái chết oan ức của vợ hoàn toàn vô can-> chế độ khong kiến bất công,trọng nam khinh nữ đã sản sinh ra tư tưởng nam quyền độc đoán; chiến tranhphong kiến gây chia cách vợ chồng, tất cả đã gây nên đau khổ, bất hạnh chongười phụ nữ, cướp đi quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc dù là rất nhỏnhoi của họ

* Nàng Kiều, một trang tuyệt thế giai nhân, một người phụ nữ vẹn toàn cả tài - tình cũng là nạn nhân đau khổ của xã hội phong kiến mà đồng tiền ngự trị,đổi trắng thay đen

sắc Kiều là một người con gái xinh đẹp, khuôn phép sống cùng cha mẹ và hai

em Thúy Vân và Vương Quan trong cảnh “ Êm đềm trướng rủ màn che”, rồinàng có mối tình đầu trong sáng, đẹp đẽ với Kim Trọng, cuộc sống ấy tưởngchừng như không gì tốt đẹp hơn

- Nhưng vì tiền mà bọn sai nha đã gây nên cảnh tan tác, chia lìa trong gia đìnhKiều

Trang 30

Một ngày lạ thói sai nha Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền

- Viên quan xử kiện cùng vì tiền mà trắng trợn tuyên bố :

“ Có ba trăm lạng việc này mới xong” Để có tiền cứu cha và em, nàng đãphải chia tay mối tình đầu đẹp đẽ, phải bán mình cho Mã Giám Sinh - một tênbuôn thịt bán người; nàng bị biến thành một món hàng nâng lên, hạ xuống, để

cò kè, ngã giá trong nỗi khổ đau, tủi nhục đến ê chề

- Từ đây cuộc đời nàng là những chuỗi ngày đen tối, khổ đau Vì tiền mà

Mã Giám Sinh và Tú Bà đã đẩy Kiều vào chốn lầu xanh nhơ nhớp khiến nàngphái đau đớn, cay đắng suốt mười lăm năm lưu lạc, phải “ Thanh lâu hai lượt,thanh y hai lần” Nàng bị đấy xuống vũng bùn đen, thân thể bị đánh đập, hành

hạ, nhân phẩm bị trà đạp, phái hai lần tìm đến cái chết

-> Cả một xã hội quay cuồng, điên đảo vì tiền ấy đã biến cuộc sống của mộtngười phụ nữ tài sắc vẹn toàn thành địa ngục

=> Những người phụ nữ như Vũ Nương, Thúy Kiều và còn bao người phụ nữkhác đều là những nạn nhân vô phương cứu thoát trong xã hội phong kiến đầybất công ấy Chót sinh ra là phận đàn bà thì phải chịu chung số kiếp “Hồng nhan

đa truân”, cuộc đời phải chịu bất hạnh, khổ đau, ngang trái

- Lời nhận xét của Nguyễn Du không chỉ thể hiện niềm thương cảm, nỗi xót xađối với cuộc đời khổ đau, bất hạnh của người phụ nữ của một nhà nhân đạo chủnghĩa lớn mà nó còn là lời cáo chung đối với chế độ ấy

- Tuy lời nhận xét trên còn hạn chế về tư tưởng nhưng trái tim giàu yêu thươngcủa nhà thơ đã truyền đến người đọc bao thế hệ niềm cảm thông sâu sắc vớingười phụ nữ xưa, càng thêm yêu thương, trân trọng họ; và từ đó thổi bùng lêntinh thần đấu tranh để giành sự bình đẳng, bình quyền, để người phụ nữ đượcsống trong hạnh phúc

Trang 31

GỢI Ý:

A Mở bài: Giới thiệu chung về hai tác phẩm và vấn đề cần nghị luận.

B Thân bài:

1 Giải thích ngắn gọn ý nghĩa của hình ảnh trong hai câu thơ:

- Ý nghĩa thực: bánh dù nguyên vẹn hay nát do bàn tay người nặn nhưng nhân

bánh vẫn hồng sắc đỏ

- Nghĩa ẩn dụ:

+ “Rắn nát mặc dầu”: thân phận hèn kém, không có quyền được làm chủ số

phận của người phụ nữ xưa

+ Tay kẻ nặn: Những yếu tố khách quan tác động đến cuộc đời gieo khổ đau cho

người phụ nữ (những lề thói của xã hội nam quyền, đạo đức cứng nhắc, giảdối )

+ Vẫn giữ tấm lòng son: sự kiên trinh, trong trắng và ý thức về phẩm giá củangười phụ nữ

=> Hai câu thơ vừa là lời oán trách xã hội phong kiến bất công, vừa là lời khẳngđịnh phẩm giá tốt đẹp của người phụ nữ

2.Làm sáng tỏ nội dung qua Chuyện người con gái Nam Xương

* Vũ Nương là một người vợ thuỷ chung, son sắt.

- Khi chồng ở nhà: biết chồng có tính đa nghi-> luôn giữ gìn khuôn phép.

- Khi chồng đi lính:

+ Quyến luyến không muốn rời xa

+ Nỗi buồn, thương nhớ, lo lắng mong mỏi chồng dâng lên da diết “góc bể chân trời không thể nào ngăn được” chỉ mong ngày chồng trở về “ mang theo được hai chữ bình yên”

+ Một mình nuôi con, chăm sóc, phụng dưỡng mẹ già; luôn dõi theo hình bóngcủa chồng nơi biên ải

+ Mỗi lần chơi đùa với con Vũ Nương cũng mang theo hình bóng nỗi nhớchồng

* Vũ Nương là một người vợ- người phụ nữ trong trắng, có ý thức bảo vệ, giữ gìn danh dự, phẩm giá của mình.

- Khi chồng trở về: trước sự ghen tuông vô lối của chồng nàng đã:

Trang 32

+ Thanh minh hết lời, dù phải chịu đựng những lời nhục mạ, đánh chửi nhưng

nàng vẫn mong được chồng hiểu cho sự thủy chung“giữ gìn một tiết đâu có

sự mất nết hư thân”.

+ Sẵn sàng thề thốt, nguyền rủa bản thân “ làm mồi cho cá tôm, làm cơm cho diều quạ, ” để bảo vệ danh dự phẩm giá

+ Tìm đến cái chết chứng minh cho nỗi oan khiên của mình

+ Dù ở dưới thuỷ cung cũng “ không thể gửi hình bóng ở đây mãi, để mang tiếng xấu xa” -> quyết không để danh dự bị bôi nhọ.

=> Số phận chịu nhiều đau khổ nhưng sự thủy chung son sắt góp phần hoàn chỉnh vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong xã hội phong kiến còn nhiều bất công

-Kết bài: Khẳng định lại phẩm chất của người phụ nữ và sức sống bền vững

của hai văn bản trong lòng người đọc

ĐỀ BÀI: Chuyện người con gái Nam Xương tuy có yếu tố hoang đường nhưng chứa chan tinh thần nhân đạo.

Nguvễn Dữ là nhà văn lỗi lạc của đất nước ta trong thế kỷ XVI, vốn là họctrò giỏi cùa Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm Ngoài thơ, ông còn để lại tập văn xuôi viết bằng chữ Hán, gồm có 20 truyện ghi chép những mẩu chuyên hoang đường lưu truyền trong dân gian, cuối mỗi truyện thường có lời bình của

tác giả Đằng sau mỗi câu chuyện thần kỳ, Truyền kì mạn lục chứa đựng nội

dung phê phán những hiện thực xã hội đương thời được nhìn dưới con mắt nhânđạo của tác giả

Chuvện người con gái Nam Xương trích trong Truyền kì mạn lục ghi lại cuộc

đời thảm thương của Vũ Nương, quê ở Nam Xương thuộc tỉnh Nam Hà ngày nay

1.Vũ Nương là một người đàn bà nhan sắc và đức hạnh “có tư dung tốt

đẹp", tính tình “thùy mị nết na" Trương Sinh xin mẹ trăm lạng vàng cưới nàng

về, sum họp gia thất Thời buổi chiến tranh loạn lạc, chồng phải đi lính đánhgiặc Chiêm, Vũ Nương ở nhà lo bề gia thất.Phụng dưỡng mẹ già, nuôi dạy contrẻ, đạo dâu con, nghĩa vợ chồng, tình mẹ con, nàng giữ trọn vẹn, chu tất Khi

mẹ chồng già yếu qua đời, một mình nàng lo việc tang ma, phận dâu con giữtròn đạo hiếu Có thể nói Vũ Nương là một người đàn bà có phẩm chất tốt đẹp,đáng được trân trọng, ngợi ca Ước mơ của nàng rất bình dị Tiễn chồng ra trận,

Trang 33

nàng không hề mơ tưởng “đeo ấn phong hầu", chỉ mong ngày đoàn tụ, chồng trở về “được hai chữ bình yên".

2 Cũng như số đông người phụ nữ ngày xưa, cuộc đời của Vũ Nương là những trang buồn đầy nước mắt Năm tháng trôi qua, giặc tan, Trương Sinh

trở về, con thơ vừa học nói Tưởng rằng hạnh phúc sẽ mỉm cười với đôi vợ

chồng trẻ Nhưng rồi chuyện “cái bóng” từ miệng đứa con thơ đã làm cho Trương Sinh ngờ vực, “đinh ninh vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu, không

có gì gỡ ra được" Vốn tính hay ghen, lại gia trưởng, vũ phu, ít được học hành,

Trương Sinh đã đối xử với vợ hết sức tàn nhẫn Giấu biệt lời con nói, Trương

Sinh đã “mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi” Vợ phân trần, không tin; hàng xóm

khuyên can cũng chẳng ăn thua gì cả! Chính chồng và con - những ngườithương yêu nhất của Vũ Nương đã xô đẩy nàng đến bên bờ vực thẳm Thờichiến tranh loạn lạc, nàng đã trải qua những năm tháng cô đơn, giờ đây đứngtrước nỗi oan, nàng chỉ biết nuốt nước mắt vào lòng Vũ Nương chỉ có một conđường để bảo toàn danh tiết: nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử để làm sángngời “ngọc Mị Nương”, toả hương "cỏ Ngu mĩ”.

Vũ Nương tuy không phải “làm mồi cho tôm cá”, được các nàng tiên trong

thủy cung cùa Linh Phi cứu thoát Thế nhưng, hạnh phúc cùa nàng ở trần thế bị

tan vỡ, “trâm gãy bình rơi” Nàng tuy được hầu hạ Linh Phi, nhưng quyền làm

mẹ, làm vợ của nàng vĩnh viễn không còn nữa Đó là nỗi đau đớn lớn nhất củamột người phụ nữ Gần ngàn năm đã trôi qua, miếu vợ chàng Trương vẫn còn

đó, đêm ngày “nghi ngút đầu ghềnh tọả khói hương” (Lê Thánh Tông), nhưng

lời nguyền về cái chết của Vũ Nương vẫn còn để lại nhiều ám ảnh, nỗi xótthương trong lòng người Nguyễn Dữ đã ghi lại câu chuyện cảm động thươngtâm này với tất cả tấm lòng nhân đạo Cái chết đau thương của Vũ Nương còn

có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc Nó lên án chiến tranh phong kiến đã làm cholứa đôi phải ly biệt, người vợ trẻ sống vất vả, cô đơn; lên án lễ giáo phong kiếnkhắt khe với tệ gia trưởng độc đoán, gây nên bi kịch gia đình, làm tan vỡ hạnh

phúc Vì lẽ đó mà Chuyện người con gái Nam Xương có giá trị nhân bản sâu

sắc

3.Phần hai của truyện đầy ắp những tình tiết hoang đường: Phan Lang nằm

mộng rồi có người đem biếu con rùa xanh; Phan Lang chạy giặc, bị chết đuối,được Linh Phi cứu sống đặng trả ơn; Phan Lang gặp người làng là Vũ Nươngtrong bữa tiệc nơi cung nước; Vũ Nương gởi đôi hoa vàng về cho chồng

Trang 34

Trương Sinh lập đàn trên bến Hoàng Giang, đợi gặp vợ, nhưng chỉ thấy bóng

Vũ Nương với năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng rực rỡ đáy sông, lúc ẩn lúchiện v.v

Chi tiết Trương Sinh gọi vợ, rồi chỉ nghe tiếng nói ở giữa sông vọng vào:

“Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa" - đó là một chi

tiết, một câu nói vô cùng xót xa, đau đớn Hạnh phúc bị tan vỡ khó mà hàn gắnđược vì hai cõi âm - dương là một khoảng trống vắng mênh mông, mù mịt.Trương Sinh ân hận vì mình nông nổi, vũ phu mà vợ chết oan, bé Đản mãi mãi

mồ cói mẹ Qua đó, ta thấy đằng sau cái vỏ hoang đường, câu chuyện về cáichết của Vũ Nương thấm đẫm tình cảm nhân đạo

Nguyễn Dữ là một trong những cây bút mở đầu nền văn xuôi dân tộc viết bằngchữ Hán Ông đã đi tiếp con đường của thầy mình: treo ấn từ quan, lui về quênhà “đóng cửa, viết sách” Ông là nhà văn giàu tình thương yêu con người, trântrọng nền văn hoá dân tộc

Truyền kì mạn lục là kiệt tác của nền văn học cổ Việt Nam, xứng đáng

là “thiên cổ kỳ bút" Người đọc mãi mãi thương cảm Vũ Nương, thương cảmnhững người phụ nữ tài hoa bạc mệnh Chuyện người con gái Nam Xương tốcáo hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam trong thế kỷ XVI, nêu bật thân phận

và hạnh phúc người phụ nữ trong bi kịch gia đình

Gần 500 năm sau, Chuyện người con gái Nam Xương mà nỗi xót thương đốivới số phận bi thảm cùa người vợ, người mẹ như được nhân lên nhiều lần khi ta

đọc bài thơ “Lại bài viếng Vũ Thị” của vua Lê Thánh Tông:

“Nghi ngút đẩu ghềnh toả khói hương,

Miếu ai như miếu vợ chàng Trương

Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ,

Cung nước chi cho lụy đến nàng

Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt

Giải oan chẳng lọ mấy đàn tràng

Qua đây bàn bạc mà chơi vậy

Khá trách chàng Trương khéo phủ phàng”

Trang 35

III DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

ĐỀ BÀI: Từ nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái NamXương” của Nguyễn Dữ, em hãy suy nghĩ về hình ảnh người phụ nữ trong xãhội ngày nay bằng một đoạn văn ngắn (khoảng 10 đến 12 câu)?

GỢI Ý:

Từ nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái NamXương” của Nguyễn Dữ, hãy suy nghĩ về hình ảnh người phụ nữ trong xã hộingày nay Đảm bảo các sự việc chính sau:

+ Hình ảnh người phụ nữ ngày nay không còn sống trong không gian bó hẹpnữa mà họ còn gánh vác công việc xã hội

+ Họ vẫn đảm đương vai trò trong gia đình, thực hiện thiên chức làm mẹ, làm

vợ và còn bền bỉ bồi đắp kiến thức, mở mang trí tuệ để tự hoàn thiện mình.+ Họ còn giữ nhiều vai trò trọng trách trong xã hội với nhiều chức vụ cao như:thư kí Quốc Hội, các doanh nhân,

(lấy dẫn chứng để chứng minh)

ĐỀ BÀI: Từ truyện “ Chuyện người con gái Nam Xương” em hãy trình bày suynghĩ (khoảng 2/3 trang giấy thi) về vai trò của gia đình trong cuộc sống của mỗichúng ta

- Bàn luận: Gia đình có ý nghĩa và vai trò vô cùng đặc biệt với cuộc đời mỗicon người

- Gia đình là mái ấm, là nơi ta được sinh ra, được sống và trưởng thành

+ Gia đình chính là cội nguồn sinh dưỡng và hạnh phúc đầu tiên của con người.Chính tại mái ấm này, với tình yêu của cha và mẹ, ta đã được góp mặt trongcuộc đời này

Trang 36

+ Là nơi ta được sống trong tình yêu thương, sự chở che, đùm bọc Ta vô tưnhận tình yêu thương của ông bà, cha mẹ, anh em mà không mảy may suy nghĩ.

- Gia đình là điểm tựa, là chỗ dựa vững chắc, là bến đỗ bình yên nhất trong cuộcđời con người

- Gia đình là cái nôi, là cơ sở, nền tảng bồi dưỡng và hình thành nhân cách caođẹp cho con người

- Gia đình chính là nguồn vui, nguồn yêu thương, là mái ấm chở che cho mỗicuộc đời, là cái nôi vững chắc để đào tạo con người trưởng thành

- Mái ấm gia đình vô cùng quý giá và quan trọng đối với mỗi người, nhất là đốivới trẻ em; là nơi trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng, được yêu thương, dạy dỗnên người

- Gia đình tan vỡ, trẻ em sẽ là những nạn nhân thiệt thòi, bất hạnh nhất

- Người lớn cần có trách nhiệm bảo vệ và giữ gìn mái ấm gia đình, không nên vìbất cứ lí do gì mà làm tổn thương đến những tình cảm tự nhiên, trong sáng củacon trẻ

- Trẻ em cần phải biết vâng lời, làm vui lòng ông bà, cha mẹ…

* Kết đoạn:- Khẳng định vai trò của gia đình với con người

- Liên hệ bản thân

ÔN TẬP VĂN BẢN:

CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH

- Gồm 88 mẩuchuyện nhỏ bàn về các thứ

lễ nghi, phong tục, tậpquán, ghi chép những sựviệc xảy ra trong xã hộilúc đó Tác phẩm có giá trịvăn chương đặc sắc, cungcấp những tài liệu quý về

sử học, địa lí, xã hội học

"Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh" phản

ánh đời sống xa hoa của vua chúa và sự nhũng nhiễu của quan lại thời Lê - Trịnh

Nội dung

Trang 37

1 Thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnhvà các quan lại hầu cận trong phủ chúa Trịnh

- Xây dựng nhiều cung điện, đình đài ở các nơi để thoả ý

- Thích chơi đèn đuốc, ngắm cảnh đẹp - > Ý thích đó không biết bao nhiêu cho vừa Vì vậy việc xây dựng đình đài cứ liên miên, hao tài, tốn của

- Những cuộc dạo chơi của chúa ở Tây Hồ được miêu tả tỉ mỉ (diễn ra thường

xuyên, tháng ba bốn lần) Huy động rất đông người hầu hạ (Binh lính dàn hầu

vòng quanh bốn mặt hồ mà Tây Hồ rất rộng)

- Các nội thần, quan hộ giá, nhạc công bày đặt nhiều trò giải trí lố lăng và tốnkém

- Việc tìm thu vật "phụng thủ" thực chất là cưỡng đoạt những của quý trong

thiên hạ (chim quý, thú lạ) về tô điểm cho nơi ở của chúa.

VD: Miêu tả kĩ, công phu: Đưa một cây đa cổ thụ "từ bên bờ Bắc chở qua sông

đem về" phải một cơ binh hàng trăm người mới khiêng nổi

-> Ý nghĩa đoạn văn "Mỗi khi đêm thanh vắng biết đó là triệu bất tường" =>

Cảm xúc chủ quan của tác giả được bộc lộ, nhất là khi ông xem đó là "triệu bất

tường" -> Điềm gở, điềm chẳng lành -> Báo trước sự suy vong tất yếu của một

triều đại chỉ biết ăn chơi hưởng lạc

2 Những thủ đoạn nhũng nhiễu dân của bọn quan lại hầu cận

Thời chúa Trịnh Sâm bọn hoạn quan hầu cận trong phủ chúa rất được sủng ái

-> Chúng ỷ thế nhà chúa mà hoành hành tác oai, tác quái trong nhân dân Thủ đoạncủa chúng là hành đông vừa ăn cướp vừa la làng

3 Tình cảnh của người dân

- Người dân bị cướp tới hai lần, bằng không thì phải tự tay huỷ bỏ của quý của mình Chính bà mẹ của tác giả đã phải sai chặt đi một cây lê và hai cây lựu quí rấtđẹp trong vườn nhà mình để tránh tai hoạ

Nghệ thuật

- Các sự việc đưa ra cụ thể, chân thực, khách quan, không xen lời bình của tác giả, có

liệt kê và cũng có miêu tả tỉ mỉ, vài sự kiện để khắc hoạ ấn tượng Cảm xúc của tác

giả (thái độ bất bình, phê phán) cũng được gửi gắm kín đáo

vả nghèo đói, đất nước liên miên, ngập chìm trong các cuộc nội chiến của các

Trang 38

tập đoàn phong kiến Đây là thời kì mưa gió, đen tối của lịch sử nước ta, vàcũng đã đến lúc tan rã

– Tùy bút: Thể kí ghi lại một cách tương đối tự do những cảm nghĩ của ngườiviết, kết hợp với phản ảnh khách quan Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ làmột tác phẩm đặc sắc được viết vào đầu thế kỉ XIX Tác phẩm giàu giá trị vănchương gồm 88 mẩu chuyện nhỏ, ghi chép tùy hứng, tản mạn, bàn về các thứ lễnghi, phong tục, tập quán,… ghi chép những sự việc xảy ra trong xã hội đươngthời và một số nhân vật, di tích lịch sử, khảo cứu về địa dư, chủ yếu là vùng HảiDương, quê hương ông Tất cả những nội dung ấy được trình bày giản dị, sinhđộng và hấp dẫn Đây còn là một tài liệu quý có giá trị về mặt sử học và xã hộihọc

ĐỀ BÀI : Em có nhận xét gì về thái độ của tác giả trong đoạn trích Chuyện

cũ trong phủ chúa Trịnh

GỢI Ý:

+ Tác giả ghi chép sự việc diễn ra rất cụ thể, khách quan, không lời bình, khôngbộc lộ thái độ, cảm xúc trực tiếp Nhưng mạch ngầm chủ đạo văn bản là thái độphê phán đối với thói ăn chơi xa xỉ, vô độ của chúa Trịnh và các quan lại hầucận trong phủ chúa Nhà văn kể lại sự việc khách quan nhưng tự nó đã phơi bàytất cả bản chất của giai cấp thống trị và dự cảm một tương lại gần đầy nguy cơ.Chi tiết: “Trong phủ, tùy chỗ điểm xuyết, bày vẽ ra hình núi non bộ trông nhưbến bể đầu non Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót rankhắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻthức giả biết đó là điều triệu bất tường”, tác giả kín đáo cảnh báo thói ăn chơihưởng lạc, xa hoa trên mồ hôi nước mắt của nhân dân sẽ dẫn đến cảnh đất nướcsuy tàn, tan rã tang thương

+ Kẻ thức giả (người trí thức) nhìn xa trông rộng thấy điều đó không phải làcảnh thực Cảnh núi non thu hẹp trong vườn thượng uyển không phải là biểutượng của toàn cảnh đất nước đẹp tươi, phồn thịnh, mà đó là cảnh đẹp giả tạo,phù phiếm chỉ có trong phủ chúa Đêm thanh cảnh vắng, chim kêu vượn hótrộn bề không phải là cảnh bình yên, phồn thực mà đó là “điều triệu bất tường”,một dấu hiệu chẳng lành, điểm gỡ sẽ xảy ra ồn ào như trận mưa sa bão táp, vỡ

tổ tan đàn Đây là hình ảnh ẩn dụ cho sự suy vong tất yếu của một triều đại.Thật đúng như dự cảm, không bao lâu, nạn kiêu binh nổi dậy, lật đổ phe cánhTrịnh Sâm, Hoàng Đình Bảo, gia đình chúa cốt nhục tương tàn, tan đàn xẻ nghé,cuối cùng bị nhà Tây Sơn xóa vết

ĐỀ BÀI Nhận xét nghệ thuật của đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

Trang 39

GỢI Ý:

– Tác giả rất thành công ở thể tùy bút, ghi chép chân thực hiện thực khách quan,qua đó bộc lộ thái độ, cảm xúc, suy nghĩ, đánh giá của mình về con người vàcuộc đời

– Ghi chép tùy theo cảm hứng chủ quan, có thể tản mạn, không gò bó theo hệthống, kết cấu nhưng vẫn theo một tư tưởng, cảm xúc chủ đạo nên đoạn trích rấtgiàu chất trữ tình

– Các chi tiết miêu tả chọn lọc, đắt giá, giàu sức thuyết phục Tả cảnh đẹp, tỉ mỉnhưng lại nhuốm màu sắc u ám, mang tính dự báo

– Giọng kể, tả khách quan nhưng khéo léo, kín đáo thể hiện thái độ lên án, phơibày bản chất bọn vua chúa qua thủ pháp liệt kê và hàm ẩn Câu 6 Theo em, thểvăn tùy bút (qua đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh) có gì giống vàkhác với thể loại truyện đã được học ở tiết trước (Chuyện người con gái NamXương)?

– Giống: cùng thuộc thể loại văn xuôi trung đại và được viết bằng kí tự Hán – Khác:

+ Truyện: Hiện thực cuộc sống được thông qua số phận con người cụ thể nênthường có cốt truyện và nhân vật Cốt truyện được trình bày có mở đầu, diễnbiến, kết thúc, nhân vật được khắc họa từ ngoại hình đến nội tâm, tính cách,diễn biến tâm lí,… Truyện phản ánh hiện thực khách quan qua bức tranh mởrộng đời sống, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người

+ Tùy bút là thể văn dùng để ghi chép người thật, việc thật, qua đó người viếtbộc lộ cảm xúc, thái độ, suy nghĩ, đánh giá của mình về con người và cuộcsống Ghi chép tùy theo cảm hứng chủ quan của nhà văn nên phong cách cái tôi

cá nhân phóng khoáng, không bị gò bó, nhưng vẫn thống nhất tư tưởng, cảmxúc chủ đạo, giàu chất trữ tình

ĐỀ BÀI Trình bày nhận thức của em về tình trạng đất nước ta vào thời vua Lê – chúa Trịnh cuối thế kỉ XVIII

GỢI Ý:

– Hiện thực đen tối của đất nước thời vua Lê – chúa Trịnh được cảm nhận qua

Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác,Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, đó là một thực trạng phồn vinhgiả tạo Cuộc sống trong phủ chúa xa hoa, phồn thực tuyệt đỉnh: “Cả trời Namsang nhất là đây” (Lê Hữu Trác), lầu gác, rèm châu, hiên ngọc, hoa cung ngạtngào, vườn ngự chim kêu vượn hót, núi non bộ, vào đây như lạc vào chốn bồnglai tiên cảnh, thơ mộng nhất trời Nam Cuộc sống quyền uy, vương giả nhưng

Trang 40

những thức giả đều nhận thấy đó là điều triệu bất tường, báo trước sự suy vong,sụp đổ tất yếu của một triều đại chỉ ham tranh quyền đoạt vị, ham ăn chơi xađọa, không lo nghĩ phát triển dân giàu nước mạnh

– Con người trong phủ chúa: kẻ cầm quyền thì ăn chơi, hoang dâm vô độ, vôtrách nhiệm Kẻ dưới quyền (quan lại, hầu cận) thì đục nước béo cò, ỷ thế thỏasức vơ vét, cướp bóc dân lành, làm cho cuộc sống nhân dân ngày càng khốnkhó Một thời đại không “vô vi cư điện các” (nơi triều chính không yên ổn) ắtđại loạn sẽ xảy ra Đoạn trích đã phơi bày một tình trạng đen tối, thối nát, mụcruỗng của tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh: xa hoa, quyền uy nhưng giả tạo đãđến thời mạt vận.

II DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

ĐỀ BÀI : Đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (trích Vũ trung tùy bút- Phạm Đình Hổ) đã phơi bày một hiện thực đen tối của xã hội Việt Nam thời Lê – Trịnh Em hãy phân tích làm sáng tỏ nhận định trên

GỢI Ý:

* Phân tích đề

– Vấn đề cần nghị luận: Làm rõ thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh và các quanhầu cận trong phủ chúa, cùng với nhhững thủ đoạn nhũng nhiều của chúng đốivới nhân dân qua đoạn trích

– Xác định nội dung cần nghị luận (luận điểm)

+ Thói ăn chơi xa xỉ của chúa Trịnh và các quan hầu cận + Những thủ đoạnnhững nhiễu của quan lại

+ Thái độ của tác giả

– Tư liệu: Chủ yếu trong đoạn trích , có thể mở rộng ra đoạn trích (phần Đọcthêm)

*Lập dàn ý

A.Mở bài

Đoạn trích Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (trích Vũ trung tùy bút) của PhạmĐình Hổ là một minh chứng xác đáng về hiện thực đen tối của đất nước vàothời vua Lê – chúa Trịnh cuối thế kỉ XVIII

B.Thân bài

– Bộ mặt của giới cầm quyền phong kiến thời Lê – Trịnh được tác giả kể lạimột cách sinh động, hấp dẫn

Ngày đăng: 06/06/2021, 13:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w