Trong khuôn khổ hợp tác các quốc gia thuộc Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng GMS việc sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên nước có tầm quan trọng chiến lược đối với từng quốc gia và các quốc gia
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
Khampheo KHAMCHALUEN
SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN NƯỚC SÔNG MÊ CÔNG TRÊN LÃNH THỔ CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
Khampheo KHAMCHALUEN
SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN NƯỚC SÔNG MÊ CÔNG TRÊN LÃNH THỔ CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Ngành: Địa lý học
Mã số: 8 31 05 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ NHƯ VÂN
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình của các tác giả nào khác
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Khampheo KHAMCHALUEN
Trang 4LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy - TS Vũ Như Vân, đã tận
tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Khoa Địa lí, các thầy cô giáo giảng dạy ở trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và làm luận văn
Chân thành cảm ơn những tình cảm quý báu của những người thân, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên, góp ý và tiếp thêm động lực để tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian có hạn và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế trong kinh nghiệm nghiên cứu, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Tác giả luận văn
Khampheo KHAMCHALUEN
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 2
6 Khái lược lịch sử nghiên cứu 4
7 Cấu trúc của luận văn 6
8 Từ khóa: Sử dụng bền vững nước sông Mê Công trên đất Lào 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN NƯỚC 7
1.1 Nhận thức chung về tài nguyên nước và phát triển bền vững 7
1.1.1 Nội hàm khái niệm Tài nguyên nước 7
1.1.2 Chiến lược sử dụng bền vững tài nguyên nước xuyên biên giới trong một thế giới biến đổi 13
1.2 Hợp tác quốc tế trong sử dụng tài nguyên nước trên các dòng sông quốc tế 18
1.2.1 Nhận thức chung về nội hàm Hợp tác quốc tế 18
1.2.2 Hợp tác quốc tế sử dụng nước các lưu vực sông 20
1.3 Các văn bản quan trọng về sử dụng nguồn tài nguyên nước 21
Trang 61.3.1 Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia 21
1.3.2 Khuyến nghị của IUCN về nguyên tắc chia sẻ công bằng trong quản lí nước xuyên biên giới 22
1.4 Sông Mê Công - lợi ích quốc gia - dân tộc Lào, mối quan tâm chung của các nước trong khu vực 25
1.4.1 Tầm quan trọng của sông Mê Công đối với 6 quốc gia trong lưu vực 25
1.4.2 Lợi ích quốc - dân tộc của CHDCND Lào 27
1.4.3 Sự quan tâm chung của các quốc gia GMS 28
1.4.4 Mối quan tâm chung giữa của các định chế quốc tế, các tổ chức quốc tế và các quốc gia ngoài vùng 31
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN NƯỚC SÔNG MÊ KÔNG CỦA CHDCND LÀO 37
2.1 Đánh giá khái quát về điều kiện tự nhiên - xã hội CHDCND Lào 37
2.1.1 Đánh giá về điều kiện tự nhiên và môi trương tự nhiên 37
2.1.2 Cư dân, văn hóa, xã hội 41
2.2 Thực trạng phát triển kinh tế 43
2.2.1 Đánh giá chung 43
2.2.2 Về hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế 45
2.3 Tình hình sử dụng tài nguyên nước sông Mê Công 52
2.3.1 Sự dung nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp và thủy sản 52
2.3.1 Sự dụng nguồn nước trong hoạt động giao thông, du lịch 53
2.4 Sự phát triển phát triển thủy điện của CHDCND Lào - Mô hình khát vọng Cô-oet xuất khẩu thủy điện 56
2.4.1 Tiềm năng phát triển thủy điện 56
2.3.2 Những dự án thủy điện đang hoạt động 57
2.4.3 Những dự án đang hoạt động: Dự án Nậm Ngừm 59
2.4.4 Một số dự án đang triển khai 61
Trang 7Tiểu kết chương 2 64
Chương 3: NHỮNG DỰ ÁN SỬ DỤNG NƯỚC MÊ CÔNG TRÊN LÃNH THỔ CHDCND LÀO VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG CÔNG BẰNG NGUỒN NƯỚC SÔNG MÊ CÔNG 66
3.1 Xây dựng thủy điện 66
3.1.1 Dự án Xayyabury 66
3.1.2 Dự án Pak Beng 68
3.2 Dự án Khai thông giao thông trên sông Mê Công 70
3.3 Những dư luận trái chiều về các dự án khai thác nước sông Mê Công trên đất Lào 72
3.4 Chiến lược sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Công 77
3.4.1 Hội nghị sử dụng bền vững nguồn nước GMS nhìn từ thể từ ĐBSCL Việt Nam 77
3.4.2 Những khuyến nghị của các nhà khoa học thế giới về sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Công 81
3.5 Quan hệ Việt - Lào / Lào Việt trong sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Kông 83
3.5.1 Quân hệ đặc biệt Việt - Lào / Lào - Việt 83
3.5.2 Tăng cường hợp tác kế nối trong sử dụng công bằng và bền vững tài nguyên nước sông Mê Công 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
2 ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
3 CHDCND Lào Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào
4 ĐBSCL Đồng bằng sông cửu Long
6 ETA Báo cáo đánh giá tác động môi trường
7 EWEC Hành lang kinh tế Đông- Tây
8 GAP Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp
9 GDP Tổng sản phẩm trong nước
10 GMS Tiểu vùng Mê Công mở rộng
11 LMI Sáng kiến hạ nguồn sông Mê Công
12 MRC Ủy hội Mê Công
13 NSEC Hành lang kinh tế Bắc - Nam
14 Nxb GD Nhà xuất bản Gáo Dục
15 Nxb KHXH Nhà xuất bản Khoa học xã hội
16 ODA Viện trợ phát triển chính thức
17 SDG Các mục tiêu phát triển bền vững
18 SEA Báo cáo đánh giá môi trường của Ủy hội sông Mê Công
19 SEC Hành lang kinh tế phía Nam
20 SEZs Khu kinh tế đặc biệt
21 TCH Toàn cầu hóa
22 USAID Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các bậc thang thuỷ điện trên sông Lan Thương (Trung Quốc) 31 Bảng 1.2 Tỉ lệ diện tích lưu vực và lưu lượng nước sông Mê Công 33 Bảng 2.2 Các DA đập chính trên sông Mê Công trên lãnh thổ Lào 62
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ lưu vực sông Mê Công 39 Hình 2 2 Sơ đồ dòng chảy sông Mê Công - Lan Thương 40 Hình 2.3 Sơ đồ các DA thủy điện Mê Công thuộc Lào 59
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sông Mê Công trong tiếng Thái nghĩa là “Dòng sông mẹ”, bắt nguồn từ
cao nguyên Vân Nam (Trung Quốc), chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra biển Đông Cũng như bao dòng sông khác mang trong mình những đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên, sự đa dạng về thuỷ sinh vật, nguồn thuỷ sản dồi dào, bồi tụ phù sa màu mỡ cho các đồng bằng, đảm bảo an ninh lương thực cho các quốc gia trong khu vực Đồng thời đây cũng là tài sản văn hoá - xã hội - kinh tế vô giá của các quốc gia ven sông cùng chia sẻ
Trong khuôn khổ hợp tác các quốc gia thuộc Tiểu vùng sông Mê Công
mở rộng (GMS) việc sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên nước có tầm quan trọng chiến lược đối với từng quốc gia và các quốc gia có lợi ích chung, trong đó, nước CHDCND Lào có vai trò đặc biệt đối với phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) bền vững cũng như tác động trực tiếp tới ĐBSCL của Việt Nam (ĐBSCL) Tại Hội nghị GMS6 các quốc gia trong khu vực khẳng định tên gọi
“Mê Công”, mang ý nghĩa là “mẹ của nước”, dòng sông Mê Công hùng vĩ đã gắn kết chặt chẽ và là không gian sinh tồn chung của chúng ta
Tuy nhiên, việc khai thác nguồn nước Mê Công đang đặt ra không ít thách thức trong phát triển KTXH và môi trường sinh thái đối với các quốc gia Đông Nam Á (ĐNA) bán đảo, nhất là vấn đề xây dựng đập thuỷ điện trên dòng sông này Câu hỏi này đặt ra cho các quốc gia cùng sử dụng chung nguồn nước sông Mê Công sau khi mà Chính phủ Lào dự kiến sẽ xây dựng đập thuỷ điện lớn đầu tiên trên dòng chính hạ lưu sông Mê Công - Thuỷ điện Xayyaburi Việc xây dựng thuỷ điện trên dòng chính sông Mê Công sẽ tác động như thế nào đối với hạ lưu các quốc gia trong khu vực ĐNA và các quốc gia vùng hạ lưu cần hợp tác như thế nào trong việc sử dụng, khai thác hợp lí các nguồn lợi đặc biệt nguồn nước mà sông Mê Công mang lại
Nhận thức được tính thời sự và cấp thiết nêu trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài:
"SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN NƯỚC SÔNG MÊ CÔNG TRÊN LÃNH THỔ CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO"
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu
Nguyên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về sử dụng bền vững, đánh giá tiềm năng và thực trạng sử dụng nguồn nước sông Mê Công, đặc biệt
là các DA thủy điện và DA khai phá dòng chảy trên sông Mê Công, trên cơ sở
đó đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý và bền vững nguồn tài nguyên nước sông Mê Công trên lãnh thổ nước Lào có tính tới lợi ích của các nước láng giềng, đặc biệt là Việt Nam
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quát cơ sơ lý luận và thực tiễn về sử dụng bền vững tài nguyên nước sông trong khuôn khổ hợp tác và kết nối thuộc GMS
- Phân tích tiềm năng và thực trạng sử dụng tài nguyên nước sông Mê Công trên lãnh thổ nước Lào, tập trung chủ yếu và các DA khai thác thủy điện
- Nguyên cứu các dự án, đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý nguồn nước đặc biệt là các DA thủy điện và DA khai phá dòng chảy trên sông Mê Công thuộc lãnh thổ Lào
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Về lí luận: nhận thức cơ bản về vai trò của tài nguyên nước đối với phát
triển bền vững; về thực tiễn đánh giá việc sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Công có liên quan đến các DA thủy điện và DA khai phá dòng chảy
Mê Công trên lãnh thổ Lào
Về Thời gian: Những sự kiện, thông tin tư liệu trong những năm đầu
thế kỉ XXI
Về không gian lãnh thổ: Chủ yếu là lãnh thổ nước CHDCND Lào, có
tính tới sự iên quan tới các nước thuộc SMS: Lào, Mianma, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Trung Quốc
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Vận dụng trong nghiên cứu sự vận động
phát triển theo thời gian của sự vật hiện tượng, giúp người nghiên cứu hiểu rõ hơn xu hướng vận động của nó trong tương lai
Trang 12Quan điểm hệ thống: trong nghiên cứu địa lý nói chung và địa lý kinh
tế - xã hội nói riêng thì việc vận dụng quan điểm tổng hợp có ý nghĩa rất quan trọng Vì vậy, khi nghiên cứu tài nguyên nước hạ nguồn sông Mê Công: vì mục tiêu hợp tác phát triển cùng có lợi phải xét trên nhiều yếu tố: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường
Quan điểm lãnh thổ: Thực chất là quan điểm không gian trong Địa lý
học Tất cả nghiên cứu về vấn đề Địa lí nhưng không thể tách rời khỏi không gian Địa lí tương ứng
Quan điểm địa - kinh tế/địa - chính trị: Là cơ sở cho mọi định hướng
phát triển kinh tế không chỉ ở Việt Nam mà còn cho các quốc gia Các vấn đề kinh tế có liên quan tới cả vấn đề chính trị, nó là hai mặt có quan hệ với nhau, tác động hỗ trợ lẫn nhau
Quan điểm hợp tác cùng có lợi:
Về mặt kinh tế, đó là tốc độ tăng trưởng, hiệu quả và sự ổn định của nền kinh tế Về chính trị- xã hội: Giữ vững môi trường hoà bình, hợp tác trong
khuôn khổ Hiến chương ASEAN hướng tới Cộng đồng hoà bình, ổn định và thịnh vượng Dưới góc độ xã hội, phải chú trọng đến việc xoá đói giảm nghèo, bình đẳng giữa các quốc gia, cộng đồng dân tộc trong khu vực hạ
nguồn Về môi trường: Giữ gìn tính đa dạng sinh học, bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên, ngăn chặn sự ô nhiễm và xuống cấp của môi trường
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập nguồn tài liệu của cơ quan lưu
trữ, tài liệu xuất bản, tạp chí Đông Nam Á, tài liệu chuyên ngành và tài liệu trên Internet Những tài liệu và số liệu thống kê là cơ sở đánh giá vấn đề
khách quan Phương pháp thống kê: Trên cơ sở những số liệu tài liệu đã thu
thập cần phải sử dụng phương pháp thống kê để hệ thống các số liệu phục vụ
cho nghiên cứu Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Điều cần thiết và
quan trọng trong nghiên cứu là người nghiên cứu phải đưa ra nhận định đánh
Trang 13giá của mình về vấn đề nghiên cứu Phương pháp trên được thể hiện ở việc đánh giá tiềm năng, cơ hội và thách thức vì mục tiêu phát triển bền vững tài nguyên nước sông Mê Công Đồng thời đưa ra những nhận định và triển vọng
phát triển bền vững trong tương lai Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Khai thác
các thông tin từ các bản đồ, biểu đồ cũng như thể hiện các kết quả nghiên cứu trên bản đồ, giúp cụ thể hoá các dữ liệu đưa ra làm tăng tính trực quan, sát thực, tăng độ tin cậy của công trình
6 Khái lược lịch sử nghiên cứu
Về sử dụng nguồn tài nguyên nước sông Mê Công đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu như: Phạm Đức Dương (2007) với tác phẩm Có một vùng văn hoá Mê Công, Nxb KHXH, Hà Nội Tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích hệ
sinh thái tự nhiên và bức tranh văn hoá đa dạng các nước sử dụng chung nguồn nước sông Mê Công trong bối cảnh Đông Nam Á lục địa Về ĐNA đã có nhiều
tài liệu quan trọng của các tác giả Trần Khánh, (2006), Những vấn đề kinh tế chính trị ĐNA thập niên đầu thế kỉ XXI, Nxb KHXH; Vũ Dương Minh (chủ biên), (2007), ĐNA truyền thống và hội nhập, Nxb TG [11, 14]
Các nhà địa lý Việt Nam đã quan tâm đến khu vực Đông Nam Á nói
chung và Đông Nam Á lục địa nói riêng trong các giáo trình: Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam; Giáo trình Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam của Lê Thông (chủ
biên), Nguyễn Viết Thịnh và Đỗ Minh Đức, Nxb GD Hà Nội Có giá trị cho
nghiên cứu sông Mê Công là Địa lý Đông Nam Á của Phan Huy Xu, 1988,
Nxb Giáo Dục [21,22,24]
Những thông tin tư liệu mới nhất có thể sử dụng để cập nhật tình hình
tài nguyên nước lưu vực sông Mê Công là Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược về thuỷ điện trên dòng chính sông Mê Công, tháng 10/2010; Hiệp định phát triển bền vững lưu vực sông Mê Công (1997); Báo cáo đánh giá tác động đến môi trường (ETA) dự án thuỷ điện Xayaburi [1, 2,3,5,6,17,26,27]
Trong những năm gần đây diễn ra nhiều sự kiện kinh tế, chính trị và xã hội nổi bật trong khu vực Xuất phát từ lợi ích quốc gia, nhu cầu phát triển
Trang 14kinh tế đã có hàng loạt các dự án, công trình thuỷ điện đã và đang được xây dựng trên dòng chính sông Mê Công đặt các nước sử dụng chung nguồn nước sông Mê Công trước những khó khăn, thách thức không chỉ về môi trường, kinh tế mà còn ẩn chứa những bất ổn về chính trị Vì vậy, các nước sử dụng chung nguồn nước sông Mê Công cần phải tăng cường hợp tác hơn nữa để đưa ra những giải pháp cho thực tiễn và định hướng chiến lược cho tương lai
Đặc biệt 3 / 2018 là năm tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng (SOM-GMS-6 tại Hà Nội) 3 / 2018 và Hội nghị Cấp cao Ủy hội Mê Công quốc tế MRC tại Xiêm Riệp, Camphuchia 4 / 2018 Đáng chú ý là tinh thần Hội nghị thượng đỉnh của Uỷ hội Mê Công được tổ chức lần đầu tiên tại Thái Lan năm 2015 thể hiện quyết tâm phát triển bền vững lưu vực Hoà cùng xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá và tiến tới xây dựng Cộng đồng ASEAN năm 2015 tạo ra cơ hội lớn cho hợp tác Mê Công
Nhiều nguồn tài liệu có giá trị khoa học và thực tiễn sử dụng nguồn nước sông Mê Công cho sự phát triển bền vững được thể hiện trong các tư
liệu có độ chính xác cao Đó là Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của
thuỷ điện dòng chính Mê Công 10/2010 [1] Báo cáo đánh giá hiện trạng lưu
vực Mê Công 2010 [2] Ngày nước thế giới - 23/3/20180 [3] Công ước của Liên Hợp Quốc (LHQ) về Luật sử dụng các nguồn nước quốc tế / Chia sẻ: Quản lí nguồn nước xuyên biên giới [4]
Những kiến thức cơ bản về địa lí thủy văn, đánh giá tài nguyên nước, môi trương KTXH và sinh thái nhân văn (STNV) của các nước trong khu vực
và đặc biệt là Lào được phân tích trên cơ sở sử dụng các nguồn nghiên cứu có
độ tin cây cao Đó là: Địa lí thủy văn [8] Dòng chảy sông ngòi Việt Nam [15] Dòng sông hợp tác và phát triển.[16] Sông và Tiểu vùng Mê Công: Tiềm năng hợp tác và phát triển quốc tế [16]; Đánh giá tài nguyên nước [18]
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi có sử dụng một số nguồn tư liệu truy cập từ các websites của CHDND Lào: www.iucn.org/asia/Mê Công_/
Trang 15www.mrcMê Công.org/Lào /Lao Statistical Bureau Yearbook 2016 /
www.worldwater org.2018 / quản lí nước xuyên biên giới (IUCN)
www.iucn.org/asia/Mê Công_dialogues/ www.mrcMê Công.org./http://Lao Statistical Bureau Yearbook 2016
/www.worldwater.org.2018 / Sử dụng hợp lí tài nguyên nước để phát triển bền vững/Ngày nước thế giới 23/3/2018/ [26]
Tuy nhiên, theo chúng tôi, các nguồn tài liệu nói trên vẫn có ngược điểm chung là nặng về nhận định, phê phán, đề xuất giải pháp Rất thiếu các nguồn tài liệu về sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Kông trên lãnh thổ Lào Ngoài
nguồn Niên giám thông kề về Nông nghiệp năm 2015 [26], chúng tôi không tiếp
cận được các tài liệu nghiên cứu, các phát biểu, đề xuất chủ kiến của các cơ quan nhà nước Lào Rất tiếc nước bạn Lào hiện chưa có Luật về tài nguyên nước, thiếu các công trình nghiên cứu độc lập của các nhà quản lí, các nhà khoa học của Lào
Trong tình hình nói trên, đề tài của chúng tôi cần được coi là bước đầu tìm hiểu và kiến giải một số vấn đề thực tiễn sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Công, không chỉ vì mục đích phát kinh tế xã hội bền vững của đất nước Lào, đồng thời đáp ứng nguyện vọng của các nước trong cộng đồng ASEAN, đặc biệt
là mối quan hệ Việt Nam - Lào / Lào - Việt Nam
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng bền vững tài nguyên nước Chương 2: Đánh giá tiềm năng và hiện trạng sử dụng bền vững tài
nguyên nước sông Mê Công của CHDCND LÀO
Chương 3: Những DA sử dụng nước Mê Công và đề xuất trên lãnh thổ
CHDCND LÀO
8 Từ khóa: Sử dụng bền vững nước sông Mê Công trên đất Lào
Trang 16NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG BỀN VỮNG
TÀI NGUYÊN NƯỚC
1.1 Nhận thức chung về tài nguyên nước và phát triển bền vững
1.1.1 Nội hàm khái niệm Tài nguyên nước
1.1.1.1 Tài nguyên nước là nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử
dụng vào những mục đích khác nhau Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt 97% nước trên Trái Đất là nước muối, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở các cực Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm và chỉ một tỉ lệ nhỏ trên mặt đất và trong không khí [18]
Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước
ngọt và sạch trên thế giới đang từng bước giảm đi Nhu cầu nước đã vượt cung ở một vài nơi trên thế giới, trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục tăng khiến cho nhu cầu nước càng tăng Sự nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinh thái chỉ mới được lên tiếng gần đây Trong suốt thế kỉ 20, hơn một nửa các vùng đất ngập nước trên thế giới
đã bị biến mất cùng với các môi trường hỗ trợ có giá trị của chúng Các hệ sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh học hiện đang suy giảm nhanh hơn các hệ sinh thái biển và đất liền Chương trình khung trong định vị các nguồn tài nguyên nước cho các đối tượng sử dụng nước được gọi là quyền
về nước (water rights)
Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập
nước Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất
đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất [28] Lượng giáng thủy
Trang 17này được thu hồi bởi các lưu vực, tổng lượng nước trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố khác Các yếu tố này được coi như khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nước và các hồ chứa nhân tạo,
độ thấm của đất bên dưới các thể chứa nước này, các đặc điểm của dòng chảy mặn trong lưu vực, thời lượng giáng thủy và tốc độ bốc hơi địa phương Các hoạt động của con người có thể tác động lớn hoặc đôi khi phá vỡ các yếu tố này Con người thường tăng khả năng trữ nước bằng cách xây dựng các bể chứa và giảm trữ nước bằng cách tháo khô các vùng đất ngập nước Con người cũng làm tăng lưu lượng và vận tốc của dòng chảy mặt ở các khu vực lát đường và dẫn nước bằng các kênh
Tổng lượng nước tại một thời điểm là vấn đề cần quan tâm Một số chủ thể sử dụng nước có nhu cầu nước theo vụ Ví dụ, trong mùa hè cần rất nhiều nước để phục vụ cho nông nghiệp hoặc phát điện nhưng trong mùa mưa thì không cần nước, vì vậy để cung cấp nước tốt cho mùa hè thì cần một hệ thống trữ nước trong suốt năm và xả nước trong một khoảng thời gian ngắn Các chủ thể sử dụng nước khác có nhu cầu dùng nước thường xuyên như nhà máy điện cần nguồn nước để làm lạnh Để cung cấp nước cho các nhà máy điện,
hệ thống nước mặt chỉ cần đủ trong các bể chứa khi dòng chảy trung bình nhỏ hơn nhu cầu nước của nhà máy [28]
Trên suốt dòng sông, lượng nước chảy về hạ nguồn thường bao gồm
hai dạng là dòng chảy trên mặt và chảy thành dòng ngầm trong các đá bị nứt
nẻ (không phải nước ngầm) dưới các con sông Đối với một số thung lũng lớn, yếu tố không quan sát được này có thể có lưu lượng lớn hơn rất nhiều so với dòng chảy mặt Dòng chảy ngầm thường hình thành một bề mặt động lực học giữa nước mặt và nước ngầm Nó nhận nước từ nguồn nước ngầm khi tầng ngậm nước đã được bổ cấp đầy đủ và bổ sung nước vào tầng nước ngầm khi nước ngầm cạn kiệt Dạng dòng chảy này phổ biến ở các khu vực karst do ở đây có rất nhiều hố sụt và dòng sông ngầm
Trang 18Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, là nước ngọt được chứa trong
các lỗ rỗng của đất hoặc đá Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầng ngậm nước bên dưới mực nước ngầm Đôi khi người ta còn phân biệt nước ngầm nông, nước ngầm sâu và nước chôn vùi Nước ngầm cũng có những đặc điểm giống như nước mặt như: nguồn vào (bổ cấp), nguồn ra và bồn chứa Sự khác biệt chủ yếu với nước mặt là do tốc độ luân chuyển chậm (dòng thấm rất chậm so với nước mặt), khả năng giữ nước ngầm nhìn chung lớn hơn nước mặt khi so sánh về lượng nước đầu vào Sự khác biệt này làm cho con người
sử dụng nó một cách vô tội vạ trong một thời gian dài mà không cần dự trữ
Đó là quan niệm sai lầm, khi mà nguồn nước khai thác vượt quá lượng bổ cấp
sẽ dẫn tới cạn kiệt tầng chứa nước và không thể phục hồi
Nguồn cung cho nước ngầm là nước mặt thấm vào tầng chứa, các nguồn thoát tự nhiên như suối và thấm vào các đại dương Nguồn nước ngầm có khả năng bị nhiễm mặn cách tự nhiên hoặc do tác động của con người khi khai thác quá mức các tầng chứa nước cận biên mặn/ngọt Ở các vùng ven biển, con người sử dụng nguồn nước ngầm có thể khiến nước thấm vào đại dương từ nước dự trữ gây ra hiện tượng muối hóa đất Con người cũng có thể làm cạn kiệt nguồn nước bởi các hoạt động làm ô nhiễm nó Con người có thể bổ sung cho nguồn nước này bằng cách xây dựng các bể chứa hoặc bổ cấp nhân tạo
Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nghiêm trọng liên quan đến nguồn nước trên phạm vi toàn cầu mà nguyên nhân chính là do suy giảm hệ sinh thái, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu
Chủ đề Ngày Nước thế giới năm 2018 được Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc lựa chọn là “Nước với Thiên nhiên” với mong muốn tìm kiếm
các giải pháp dựa vào tự nhiên để giải quyết, ứng phó kịp thời với những thách thức về nguồn nước [1.2.4.28]
Hiện nay, có khoảng 2,1 tỉ người không được tiếp cận các dịch vụ về nước uống bảo đảm an toàn Đến năm 2050, dân số thế giới sẽ tăng khoảng 2
Trang 19tỉ người và nhu cầu về nước toàn cầu có thể lên tới 30% so với hiện nay Nông nghiệp hiện sử dụng khoảng 70% lượng nước toàn cầu, chủ yếu là để tưới tiêu - con số này sẽ tăng lên ở các vùng có áp lực nước cao và mật độ dân
số cao Ngành công nghiệp chiếm 20% tổng nhu cầu sử dụng nước, chủ yếu là dùng trong ngành công nghiệp năng lượng và sản xuất 10% còn lại sử dụng cho sinh hoạt - tỉ lệ sử dụng nước uống chỉ nhỏ hơn 1% Ngày nay, khoảng 1,9 tỉ người sống trong các khu vực khan hiếm nước Đến năm 2050, con số này có thể tăng lên khoảng 3 tỉ người
Trên phạm toàn cầu, hơn 80% lượng nước thải do xã hội tạo ra trở lại môi trường tự nhiên mà không cần xử lý hoặc được đem đi tái sử dụng
Dự kiến số người có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi lũ lụt tăng từ 1,2 tỉ tại thời điểm này lên khoảng 1,6 tỉ năm 2050 - chiếm gần 20% dân số thế giới Ngày nay, khoảng 1,8 tỉ người bị ảnh hưởng bởi sự suy thoái đất và sa mạc hoá Ít nhất 65% diện tích đất bị mất hoặc ở trạng thái thoái hoá Khoảng 64-71% diện tích đất ngập nước tự nhiên đã biến mất từ năm 1900 do các hoạt động của con người xói mòn đất trồng trọt mang đi từ 25 đến 40 tỉ tấn đất mặt hàng năm, điều này gây ảnh hưởng và làm giảm đáng kể sản lượng cây trồng cũng như khả năng hấp thụ nước, carbon và chất dinh dưỡng của đất Dòng chảy tràn, dòng chảy lũ cũng chứa một lượng lớn nitơ và phốt pho, cũng là một đóng góp chính cho ô nhiễm nguồn nước.
1.1.1.2 Tài nguyên nước dưới góc nhìn phát triển bền vững
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào
năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội
Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội
dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và
sự tác động đến môi trường sinh thái học" Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common
Trang 20Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Nói cách khác,
phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (còn gọi là Hội nghị Rio +10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia đã tổng kết lại kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua và đưa ra các quyết sách liên quan tới các vấn đề nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa dạng sinh thái
Theo Tổ chức ngân hàng phát triển châu Á (ADB): "Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai"
Nước - nguồn tài nguyên thiết yếu cho cuộc sống của con người, sự phát triển bền vững của mọi quốc gia và là ưu tiên hàng đầu để phát triển bền vững
Trang 21Phát triển bền vững không phải là một khái niệm mới, mà thực ra đã được sử dụng trong quản lý các tài nguyên có khả năng tái tạo Con người hoàn toàn có khả năng làm cho phát triển được bền vững, đảm bảo tài nguyên đáp ứng được những nhu cầu hiện tại của mình mà không gây phương hại đến việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, đồng thời giảm thiểu tổn hại tới hệ thống kinh tế - xã hội và môi trường
Nước là yếu tố cơ bản không thể thiếu trong việc duy trì sự sống và mọi hoạt động của con người trên hành tinh Việc đáp ứng nhu cầu về nước đảm bảo cả về chất lượng và số lượng là một điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững Kể từ đầu thế kỉ 20, lượng nước tiêu thụ toàn cầu tăng 7 lần, chủ yếu do
sự gia tăng dân số và nhu cầu về nước của từng cá nhân Cùng với sự gia tăng dân số và khát vọng cải thiện cuộc sống của mỗi quốc gia và của từng cá nhân thì nhu cầu về nước ngày càng gia tăng là điều tất yếu Vì vậy, trên thực tế việc đảm bảo cấp nước đáp ứng về chất lượng cho toàn bộ dân số toàn cầu và bảo tồn các hệ sinh thái vẫn còn là một mục tiêu xa vời Do sự biến đổi về nhiệt độ
và lượng mưa, hiện nay nhiều nơi đã thường xuyên không có đủ nước để đáp ứng nhu cầu Vì thế, trong thế kỉ 21, thiếu nước sẽ là một vấn đề nghiêm trọng nhất trong các vấn đề về nước, đe doạ quá trình phát triển bền vững
Theo đánh giá của nhiều cơ quan nghiên cứu về tài nguyên nước, hiện tại có khoảng 1/3 số quốc gia trên thế giới bị thiếu nước và đến 2025 con số này sẽ là 2/3 với khoảng 35% dân số thế giới sẽ rơi vào tình cảnh thiếu nước nghiêm trọng Ở một số quốc gia, lượng nước cho mỗi đầu người đang bị giảm đáng kể Hội nghị về nước của Liên hợp quốc vào năm 1997 đã thống nhất “Tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, địa vị kinh tế, xã hội đều có quyền tiếp cận nước uống với số lượng và chất lượng đảm bảo cho các nhu cầu cơ bản của mình”, theo đó, tiếp cận với nước uống là quyền cơ bản của con người Tuy nhiên, cho đến nay, số người thiếu nước uống sạch an toàn vẫn đang không ngừng gia tăng Vì vậy, mối lo về nước không phải của riêng một quốc gia nào
Trang 22Nước đang trở thành tâm điểm tại nhiều diễn đàn lớn thế giới Tại Hội nghị Thượng đỉnh về môi trường tại Johannesburg, Nam Phi, nước được xếp ở
vị trí cao nhất trong số 5 ưu tiên để phát triển bền vững (WEHAB), đó là: W; Năng lượng-E; Sức khoẻ-H; Nông nghiệp-A; và Đa dạng sinh học-B
Nước-Việt Nam luôn khẳng định “nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước” và vì vậy, Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực
tăng cường và kiện toàn, thể chế, chính sách trong lĩnh vực tài nguyên nước, đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia có chung nguồn nước với Việt Nam cũng như hợp tác và tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các quốc gia trên thế giới và khu vực để quản lý, bảo vệ hiệu quả tài nguyên nước nhằm góp phần vào tiến trình phát triển bền vững của đất nước cũng như của thế giới và
khu vực
1.1.2 Chiến lược sử dụng bền vững tài nguyên nước xuyên biên giới trong một thế giới biến đổi
1.1.2.1 Tính cấp bách trong sử dụng nguồn nước xuyên biên giới
Nhu cầu về nước ngày càng tăng, tại nhiều quốc gia trên thế giới tài nguyên nước đã bị khai thác quá mức, vượt quá khả năng của nguồn nước Hơn nữa, do tác động của biến đổi khí hậu, tình trạng khan hiếm nước càng thêm trầm trọng hơn Do đó, vấn đề cạnh tranh về nước đang ngày càng trở nên căng thẳng giữa các quốc gia, khu vực, đô thị, nông thôn, hoặc giữa các ngành nghề, lĩnh vực hoạt động khác nhau Điều đó khiến cho nước đang dần trở thành một trong những vấn đề chính trị tại nhiều quốc gia trên thế giới
Theo Giám đốc UNESCO Koichiro Matsuura, trong tình trạng thiếu nước gia tăng như hiện nay, vấn đề quản lý hiệu quả tài nguyên nước trở nên quan trọng hơn bao giờ hết và việc đấu tranh với cái nghèo còn tùy thuộc vào khả năng chúng ta đầu tư vào lĩnh vực tài nguyên nước [3,17,18,28]
Nhằm hạn chế nhu cầu cũng như chống thất thoát nước, đồng thời tăng cường quản lý tài nguyên nước, nhiều chính sách đã được áp dụng Luật pháp
Trang 23về bảo vệ và quản lý tài nguyên nước đã được ban hành tại nhiều quốc gia Song, trên thực tế, những cải cách, đổi mới này vẫn chưa thực sự có hiệu quả, công việc thường chỉ giới hạn trong ngành nước Vì vậy, muốn thực sự có hiệu lực, các quyết định cho vấn đề nước cần thiết có sự tham gia của lãnh đạo của tất cả các ngành, trong đó có các ngành nông nghiệp, năng lượng, thương mại và tài chính, bởi tất cả các ngành này đều ảnh hưởng quyết định đến quản lý tài nguyên nước Ngoài ra, sự cộng tác, phối hợp giữa khối nhà nước với khối tư nhân
Cả thế giới đang hướng tới hoàn thành được các mục tiêu thiên niên kỉ
về nước.Tuy nhiên, kỳ vọng để đạt được các mục tiêu thiên niên kỉ này là không mấy hiện thực Thực tế cho thấy, việc tiếp cận được với những dịch vụ
cơ bản liên quan đến nước như nước uống an toàn, vệ sinh… vẫn là một vấn
đề khó khăn đối với các nước đang phát triển Theo ước tính, đến năm 2030 vẫn còn khoảng 5 tỉ người (chiếm 67% số dân thế giới) chưa được tiếp cận với các điều kiện vệ sinh về nước Vì vậy, để đạt được những mục tiêu Liên hiệp quốc đề ra, đòi hỏi những nỗ lực hiện tại phải được tăng lên gấp bội
Mặt khác, giữa nước và nghèo đói có mối liên hệ khăng khít với nhau -
số người có mức sống dưới 1,25 USD, gần như trùng với số người thiếu nước uống sạch an toàn Tình trạng này ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người Hầu hết 80% bệnh tật ở các nước đang phát triển đều liên quan đến nước Theo thống kê của WHO, mỗi ngày có khoảng 5.000 trẻ em, hay cứ sau
17 giây lại có 1 trẻ chết vì bệnh tả Nếu như được tăng cường về cấp nước, điều kiện vệ sinh và quản lý tài nguyên nước thì cả thế giới tránh được 1/10 bệnh tật
Nhu cầu về nước chưa bao giờ cao như hiện nay Khai thác nước sạch
đã tăng gấp 3 lần trong vòng 50 năm qua Diện tích đất tưới cũng tăng gấp đôi trong chừng ấy năm và hiện tượng này liên quan mật thiết với sự gia tăng dân
số Dân số thế giới hiện nay là 6,6 tỉ người và mỗi năm tăng thêm 80 triệu
Trang 24người Điều đó có nghĩa, nhu cầu về nước sạch mỗi năm tăng thêm khoảng 64
tỉ mét khối Đáng tiếc là 90% số dân trong số 3 tỉ người dự kiến tăng thêm vào năm 2050 lại tập trung ở các nước đang phát triển, nơi mà ngay từ bây giờ đã đang chịu cảnh khan hiếm nước
Gia tăng dân số đồng nghĩa với gia tăng nhu cầu lương thực và tất nhiên nhu cầu về nước cũng tăng Cho đến nay, nông nghiệp vẫn là đối tượng tiêu thụ nhiều nước nhất, chiếm tới 70% lượng nước tiêu thụ (so với 20% dành cho công nghiệp và 10% dùng trong sinh hoạt đời sống) Nếu không có quy hoạch sử dụng hợp lý, nhu cầu nước cho nông nghiệp trên toàn thế giới sẽ tăng lên từ 70% đến 90% vào năm 2050, mặc dù sử dụng tài nguyên nước của một số nước hiện đã chạm đến mức giới hạn Đồng thời, những thay đổi về lối sống và thói quen ăn uống đã diễn ra trong nhiều năm gần đây, nhất là gia tăng tỉ lệ mức tiêu thụ thịt và các sản phẩm bơ sữa tại những nước vừa giàu lên đã tác động rất lớn đến tài nguyên nước
Để sản xuất 1 kg ngũ cốc cần từ 800 đến 4000 lít nước, trong khi đó để
có được 01 kg thịt bò phải tốn từ 2000 đến 16000 lít nước Nếu vào thời điểm năm 1985, một người Trung Quốc tiêu thụ 20 kg thịt thì vào năm 2009 con số này đã là 50 kg Điều đó có nghĩa, Trung Quốc cần có thêm 390 km3 nước
Để giúp so sánh, năm 2002, lượng thịt tiêu thụ tính theo đầu người tại Thụy Điển và tại Mỹ tương ứng là 76kg và 125 kg
Sản xuất nhiên liệu sinh học tăng nhanh trong những năm qua đã gây những tác động đáng kể đến nhu cầu về nước Sản lượng ethanol năm 2008 là
77 tỉ lít, gấp 3 lần giai đoạn từ 2000 đến 2007 và dự kiến sẽ đạt 127 tỉ lít vào năm 2017 Mỹ và Brazil là các nhà sản xuất hàng đầu, đáp ứng 77% nhu cầu của toàn thế giới Năm 2007, 23% sản lượng ngô ở Mỹ và 54% mía đường của Brazil là dành để sản xuất ethanol Trong năm 2008, 47% lượng dầu thực vật sản xuất tại Cộng đồng Châu Âu (EU) được dùng làm nhiên liệu diesel sinh học Tuy vậy, mặc dù việc gia tăng sử dụng cây trồng cho nhiên liệu sinh
Trang 25học, nhưng tỉ lệ so với tổng sản lượng vẫn còn nhỏ Trong năm 2008, ước tính thị phần về ethanol trên thị trường nhiên liệu vận tải của Mỹ, Brazil và EU tương ứng là 4.5%, 40% và 2.2% Với khả năng giúp làm giảm bớt sự lệ thuộc vào năng lượng chất đốt, xem ra với công nghệ hiện tại, nhiên liệu sinh học đang đặt lên môi trường và đa dạng sinh học một áp lực không tương ứng Vấn đề chính là phải cần một lượng lớn nước và phân bón để gieo trồng
Để làm ra 01 lít nhiên liệu sinh học phải cần từ 1000 đến 4000 lít nước
Trong khi đó, nhu cầu về năng lượng đang tăng nhanh, đồng nghĩa với tăng nhu cầu về nước Nhu cầu năng lượng toàn cầu dự kiến tăng lên khoảng 55% vào năm 2030 và chỉ riêng Trung Quốc và Ấn Độ đã chiếm tới 45% lượng tăng này Sản xuất điện từ nguồn thủy điện dự kiến tăng trung bình hàng năm ở mức 1.7% từ năm 2004 đến 2030, gia tăng tổng thể là 60% Tuy
bị chỉ trích là nguyên nhân gây ảnh hưởng nặng nề đến môi trường và khiến nhiều người dân bị mất chỗ ở, nhưng với nhiều người các đập thủy điện vẫn được xem là một giải pháp nhằm đáp ứng các nhu cầu năng lượng hiện nay
Bên cạnh các áp lực gia tăng nhu cầu về nước nêu trên, sự ấm lên toàn cầu sẽ làm cho chu trình thủy văn trở nên biến động mạnh hơn như thay đổi
về chế độ mưa và bốc hơi Mặc dù chưa xác định được cụ thể những ảnh hưởng nào của hiện tượng này tác động đến tài nguyên nước, nhưng tình trạng thiếu nước chắc chắn sẽ tác động trở lại đến chất lượng nước và tần suất các hiện tượng cực đoan như hạn hán, lũ lụt
1.1.2.2 Tiếp cận chiến lược kinh tế nước xuyên biên giới
Theo ước tính, đến năm 2030 sẽ có 47% dân số thế giới sinh sống tại các vùng chịu căng thẳng về nước Chỉ tính riêng ở Châu Phi, do biến đổi khí hậu,
số người chịu cảnh thiếu nước nhiều hơn vào năm 2020 là từ 75 đến 250 triệu người Khan hiếm nước ở một số vùng khô hạn và bán khô hạn sẽ tác động lớn tới sự di cư; khoảng 24 triệu đến 700 triệu người dân mất chỗ ở [3, 26]
Trang 26Theo đánh giá chung, đầu tư vào lĩnh vực tài nguyên nước là rất quan
trọng đối với tất cả các quốc gia, kể cả với những nước nghèo Sự phồn thịnh trong tương lai của các nước đang phát triển một phần phụ thuộc vào mức độ đầu tư mà họ dành cho ngành nước Phát triển tài nguyên nước là nội dung chính yếu trong quá trình phát triển KTXH
Đầu tư vào ngành nước có thể được lợi theo nhiều cách Mỗi một đô la đầu tư vào nước sạch và vệ sinh ước tính sẽ thu lợi được từ 3 đến 34 đô la Thực tế cho thấy, nơi nào đầu tư kém thì tổng sản lượng quốc nội có thể bị mất tới 10% Tại lục địa châu Phi, tổn thất kinh tế do thiếu nước uống sạch và điều kiện vệ sinh cơ bản ước tính 28.4 tỉ đô la mỗi năm - khoảng 5% GDP
Đầu tư vào cơ sở hạ tầng vệ sinh cũng sẽ mang lại nhiều lợi ích cho môi trường Hiện nay, hơn 80% chất thải tại các nước đang phát triển được thải trực tiếp ra môi trường không qua xử lý, gây ô nhiễm sông, hồ và các vùng duyên hải Ước tính, tổng chi phí để thay thế những hệ thống cấp nước
và cơ sở hạ tầng vệ sinh cũ tại các nước công nghiệp hàng năm có thể lên tới
200 tỉ đô la
Nước là vấn đề cốt yếu nhất đối với các nước đang phát triển Tuy nhiên, cho đến nay, tỉ lệ đầu tư vào cơ sở hạ tầng và tăng cường năng lực cho ngành nước từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn vốn ODA là không thỏa đáng Hỗ trợ phát triển quốc tế cho toàn ngành nước đang ngày càng giảm sút
và vẫn chỉ duy trì ở mức 5% tổng nguồn tài trợ
Đứng trước thực trạng gia tăng nạn thiếu nước, nhiều quốc gia đã bắt đầu tiến hành lồng ghép các chiến lược quản lý tài nguyên nước vào các kế hoạch phát triển của mình Tại Zămbia chính sách mới về quản lý tổng hợp tài nguyên nước dự định sẽ thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở tất cả các ngành Qua đó, nhiều nhà tài trợ đã liên kết các đầu tư liên quan đến nước trong gói hỗ trợ của họ cho Zămbia [28]
Dự án Anatolia -Tây Nam Thổ Nhĩ Kỳ (GAP) là một dự án phát triển kinh tế xã hội đa ngành được thiết kế nhằm tăng thêm thu nhập ở khu vực
Trang 27kém phát triển với tổng kinh phí dự tính khoảng 32 tỉ đô la Kể từ khi mở rộng hệ thống tưới, thu nhập đầu người đã tăng gấp 3 lần Điện khí hóa nông thôn và tỉ lệ được tiếp cận với điện đạt 90%, tỉ lệ xóa mù tăng, giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em, khởi động kinh doanh tăng và chế độ sở hữu đất đai công bằng hơn được mở ra đối với đất canh tác Số dân thành thị được phục vụ nước tăng gấp 4 lần Nhờ đó, khu vực này không còn là một khu vực kinh tế kém phát triển nữa
Nước Úc cũng thay đổi các chính sách của họ với một loạt biện pháp mới Tại những thành phố chính đã áp dụng quy định hạn chế dùng nước đối với một số hoạt động như tưới vườn, rửa xe, nước cho bể bơi, v.v… Tại Sydney, năm 2008, đã áp dụng hình thức cấp nước hai chế độ - một cho nước uống và một dành cho các sử dụng khác được lấy từ nguồn nước tái sử dụng
Việc xử lý nước thải cũng có thể giúp tăng thêm lượng nước có thể sử dụng được Một số nước đã tiến hành việc dùng lại nước thải đã qua xử lý cho sản xuất nông nghiệp Song, việc sử dụng nước thải đô thị trong nông nghiệp vẫn chưa nhiều, trừ một số quốc gia nghèo tài nguyên nước, như ở Dải Gaza (Lãnh thổ Palestin: 40%), ở Israel (15%) và ở Ai Cập (16%)
Ngọt hóa nước biển (tách muối) cũng là một quy trình khác được sử dụng tại các vùng khô hạn Quy trình được áp dụng để lấy nước uống và nước
sử dụng trong ngành công nghiệp tại những quốc gia đã sử dụng đến cận tài nguyên nước của mình như Arập Xêut, Israel [3]
1.2 Hợp tác quốc tế trong sử dụng tài nguyên nước trên các dòng sông quốc tế
1.2.1 Nhận thức chung về nội hàm Hợp tác quốc tế
Về bản chất, có thể coi hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế Hợp tác quốc tế là quá trình các nước giao lưu hoặc hành động cùng nhau để đạt được một mục tiêu, lợi ích nào đó Có thể
Trang 28chia hợp tác quốc tế thành ba mức độ cơ bản, là: 1- Trao đổi, tham vấn; 2- Phối hợp chính sách, triển khai hoạt động phối hợp và thực hiện các dự án chung; 3- Xây dựng, áp dụng luật lệ, chuẩn mực chung
Mức độ thứ 3 là điểm trùng giữa hợp tác quốc tế và hội nhập quốc tế Nói rộng ra, hội nhập quốc tế bao hàm việc chấp nhận, tham gia xây dựng và thực hiện các chuẩn mực quốc tế, bao gồm: các thể chế, luật lệ, tập quán, nguyên tắc và tiêu chuẩn chung được chấp nhận rộng rãi Các chuẩn mực này
có thể được hình thành từ quá trình hợp tác quốc tế, thông qua những hiệp định, thỏa thuận giữa các nhà nước hoặc các chuẩn mực, tập quán được đặt ra bởi các tổ chức, hiệp hội phi chính phủ được những tổ chức, cá nhân trên thế giới chấp nhận rộng rãi
Về mục tiêu, hội nhập quốc tế cũng như các hình thức hợp tác quốc tế khác đều vì lợi ích quốc gia, dân tộc Các nước tham gia quá trình này cơ bản
vì thấy có lợi cho đất nước Do đó, việc tham gia phải dựa theo một số tiêu chí với mức độ và lộ trình phù hợp
Về hình thức, hội nhập quốc tế bao gồm các hoạt động: 1-Thúc đẩy quan hệ song phương dựa trên các chuẩn mực quốc tế chung; 2- Gia nhập các
tổ chức quốc tế, các cơ chế hợp tác quốc tế; 3- Xây dựng các luật lệ và chuẩn mực; 4- Thực hiện các luật lệ, chuẩn mực, các hoạt động chung ở phạm vi quốc tế và quốc gia
Về lĩnh vực hội nhập, quá trình hội nhập diễn ra trong mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, đến các lĩnh vực khác Hội nhập trên các lĩnh vực này có mối liên hệ hữu cơ mật thiết, đan xen, tác động qua lại lẫn nhau Thông thường, kinh tế thường là lĩnh vực đi đầu và là cơ sở vững chắc cho hội nhập trong các lĩnh vực khác Đồng thời, hội nhập trong các lĩnh vực khác cũng tạo ra một môi trường thuận lợi cho hội nhập kinh tế
Trang 291.2.2 Hợp tác quốc tế sử dụng nước các lưu vực sông
Cho đến nay, các cách ứng xử trên các dòng sông quốc tế vẫn chỉ theo những trường hợp cụ thể, dựa vào các hiệp ước và thỏa thuận giữa các quốc gia hữu quan là chính Trên thế giới hiện có 261 lưu vực dòng chảy quốc tế, chiếm 45% diện tích đất toàn cầu và là nơi sinh sống của trên 40% dân số thế giới Trong vấn đề sử dụng tài nguyên nước trên các dòng sông quốc tế, hai công ước được xem là cơ sở cho các chuẩn mực ứng xử công bằng: Quy định Helsinki năm 1967 về việc sử dụng nước trên các dòng sông quốc tế Cho đến nay quy định Helsinki chỉ mới được sử dụng một lần trong bản tuyên bố năm
1975 của Ủy ban sông Mê Công [4]
Công ước Liên Hiệp Quốc năm 1997 về việc “sử dụng không vì mục đích giao thông của các dòng chảy quốc tế” Công ước này nhấn mạnh đến việc sử dụng “công bằng và hợp lý” các dòng sông quốc tế Có ba nước là Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Pháp đã không ký vào Công ước này Các công ước này ra đời để hạn chế những sử dụng lạm quyền của nhiều quốc gia nằm
ở thượng nguồn các dòng sông quốc tế khi xây dựng những công trình thủy nông hay thủy điện, không đếm xỉa đến quyền lợi của các nước ven sông nằm
ở hạ lưu Họ đã dựa vào những học thuyết không còn phù hợp với nền văn minh nhân loại trong thời đại mới Các học thuyết ấy gồm:
Học thuyết Harmon về chủ quyền tuyệt đối Nó cho phép quốc gia ở
thượng nguồn quyền tự do làm bất kỳ điều gì họ muốn Học thuyết này được
Mỹ sử dụng vào đầu thế kỉ 20 trong việc phân chia nguồn nước với Mexico nhưng ngày nay bị tất cả các quốc gia phản đối
Học thuyết toàn vẹn tuyệt đối của dòng sông: cấm tất cả các tác động
lên dòng sông, vì quá khắt khe nên học thuyết này ít được sử dụng
Học thuyết chủ quyền lãnh thổ hạn chế: được sử dụng rộng rãi
Học thuyết tài sản chung: xem dòng sông là tài sản chung của tất cả các
quốc gia ven sông
Trang 30Học thuyết quyền hạn tương liên: nhấn mạnh đến việc sử dụng có hiệu
quả tài nguyên nước là quan trọng hơn quyền sở hữu tài nguyên này Người ta kết luận rằng muốn tránh tranh chấp và xung đột, các cách ứng xử phải dựa theo các nguyên tắc sau:
- Nhiệm vụ của các quốc gia là phải hợp tác và thương lượng để đạt đến thỏa thuận;
- Nghiêm cấm những hành động có khả năng gây hại cho các quốc gia ven sông khác;
- Nhiệm vụ tham khảo ý kiến trước hành động,
- Tuân thủ nguyên tắc sử dụng công bằng và hợp lý các dòng chảy quốc tế Trường hợp của việc sử dụng không công bằng các nguồn nước ở Trung Đông là những thí dụ điển hình của việc các quốc gia ở thượng nguồn tìm cách chiếm đoạt tài nguyên nước quốc tế mà không có thương lượng và thỏa thuận [4]
1.3 Các văn bản quan trọng về sử dụng nguồn tài nguyên nước
1.3.1 Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia
Công ước về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy được Đại hội đồng Liên Hợp quốc khóa 41 thông qua ngày 21/5/1997 bao gồm 7 phần và 37 điều Công ước này áp dụng cho việc sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy và các biện pháp bảo vệ, bảo tồn và quản lý có liên quan đến việc sử dụng các nguồn nước liên quốc gia [4]
Đây là Công ước toàn cầu đầu tiên điều chỉnh khá toàn diện quan hệ giữa các quốc gia trong việc sử dụng các nguồn nước liên quốc gia với mục đích bảo đảm việc sử dụng nguồn nước liên quốc gia một cách công bằng, hợp lý giữa thượng lưu và hạ lưu, việc thực hiện nghĩa vụ không gây hại đáng
kể đối với các quốc gia liên quan theo các nguyên tắc và chuẩn mực chung
Trang 31của quốc tế Các quy định của Công ước có tính áp dụng bắt buộc đối với các quốc gia là thành viên Trong trường hợp có một hay một số quốc gia ven nguồn nước không tham gia Công ước thì có thể sử dụng các nguyên tắc, biện pháp của Công ước làm cơ sở để đàm phán, đấu tranh hay thỏa thuận giải quyết các vấn đề phát sinh đối với nguồn nước liên quốc gia
Theo các chuyên gia tài nguyên nước: Việc gia nhập Công ước về cơ bản sẽ không làm thay đổi các quyền, nghĩa vụ của các quốc gia trong việc khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn nước đối với các nguồn nước liên quốc gia thuộc phạm vi lưu vực sông Mê Công
Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm hiện nay là khi các quốc gia có chung nguồn nước với Việt Nam vẫn chưa tham gia Công ước thì các quy định của Công ước chưa thể được áp dụng để giải quyết các vấn đề phát sinh trong khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn nước giữa Việt Nam với các nước có chung nguồn nước Trong khi đó, thời gian gần đây, các quốc gia ở thượng nguồn có chung nguồn nước với Việt Nam đều tăng cường khai thác lợi ích từ nguồn nước liên quốc gia cho phát triển KTXH và các xung đột lợi ích giữa các quốc gia thượng nguồn với hạ nguồn trong việc khai thác, sử dụng nguồn nước liên quốc gia ngày càng rõ nét, đang làm hạn chế khả năng các quốc gia trong khu vực cùng tham gia Công ước Chính vì vậy, Việt Nam cũng cần phải có kế hoạch, lộ trình cụ thể sẵn sàng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình, nhất
là đối với những quy định về tham vấn trước, ứng phó, khắc phục sự cố và giải quyết tranh chấp, bồi thường thiệt hại theo quy định của Công ước
1.3.2 Khuyến nghị của IUCN về nguyên tắc chia sẻ công bằng trong quản
lí nước xuyên biên giới
Là dòng sông xuyên biên giới, việc sử dụng nguồn tài nguyên nước của dòng sông này phải được quan lí nước xuyên biên giới theo khuyến nghị của IUCN với 6 thông điệp sau đây [28]:
Trang 321.3.2.1 Các khung pháp lý cho hợp tác xuyên biên giới
Các định chế pháp luật quốc tế là cơ sở để quản lý nước xuyên biên giới Các khuôn khổ pháp lý và thể chế liên quốc gia là xương sống của các hệ thống quản lý hợp tác Các khuôn khổ pháp lý và thể chế tuy không thể ngăn ngừa tất cả các tranh chấp nhưng là những chỗ dựa quan trọng trong việc xác định “luật chơi” và như vậy nó đảm bảo tăng cường an ninh pháp lý và giảm khả năng tranh chấp nước giữa các quốc gia cùng chia sẻ
Các định chế quốc tế cần phải được cụ thể hóa đến cấp quốc gia và địa phương Luật nước quốc tế cần phải được cụ thể hóa ở cấp quốc gia thành các quyền và nghĩa vụ cho các cá nhân và các tổ chức tại các quốc gia Điều này
có thể đạt được thông qua các luật nước và quá trình quản lý tài nguyên nước của các quốc gia và các địa phương Quốc gia có quyền sử dụng tài nguyên nước của mình, nhưng có nghĩa vụ tránh không gây tổn hại cho các quốc gia khác ‘Sử dụng công bằng’ là một trong những quy chế thông lệ quan trọng nhất đối với việc chia sẻ tài nguyên nước Nó dựa trên quan điểm về sự bình đẳng về quyền, kêu gọi cân bằng tất cả các lợi ích hợp lý chứ không chỉ là chia sẻ bình quân về tài nguyên nước Các cơ chế giải quyết xung đột là yếu
tố quan trọng của mọi định chế pháp lý Nhằm giúp luật nước quốc tế đạt được hiệu quả khi đi vào thực tiễn, các quốc gia cần phải nhất trí về các cách thức giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và các công cụ pháp lý có hiệu lực để giải quyết những trường hợp không thể hòa giải
1.3.2.2 Các thể chế cho quản lý lưu vực sông xuyên biên giới
Các thể chế đưa ra các “luật chơi” chính thức và cả không chính thức
Các thể chế tổ chức quản lý nước xuyên biên giới có thể thúc đẩy các cơ hội
và giải quyết các vấn đề do nguồn nước xuyên biên giới tạo ra Thể chế có thể
là không chính thức như sự đồng thuận về một vấn đề hoặc các thỏa thuận bất thành văn nhưng đang thực thi, hoặc là rất chính thức, bao hàm trong các tổ
Trang 33chức quản lý lưu vực sông hoặc các điều ước có ràng buộc về mặt pháp lý Không có tổ chức quản lý nước xuyên biên giới hoàn hảo Các tổ chức xuyên biên giới có rất nhiều chức năng, từ thu thập dữ liệu và chia sẻ thông tin tới giải quyết các nhiệm vụ cụ thể như xây một con đập cho tới việc quản lý chung về các vấn đề nước trong khuôn khổ lưu vực sông mà họ quản lý Chức năng và mục tiêu sẽ quyết định quy mô của tổ chức Các thể chế xuyên biên giới cần phải có sự linh hoạt để thích ứng Việc điều chỉnh các Hiệp định và thay đổi các tổ chức chính thức là không dễ, do đó chúng cần phải được thiết
kế để có thể giải quyết được những biến động không lường trước về thông tin, hoàn cảnh và các ưu tiên có thể xảy ra trong tương lai Thách thức này chỉ có thể được giải quyết bằng việc xây dựng khả năng linh hoạt cho tổ chức Bảo đảm nguồn lực về con người và tài chính thích hợp là một thách thức lâu dài Một số tổ chức có thể gắn kết trực tiếp nguồn tài chính của họ với việc phát triển và vận hành các tài sản kinh tế như các con đập; một số khác thì khó khăn hơn Duy trì một quy mô thích hợp kết hợp nâng cao năng lực con người
là vấn đề phức tạp khi mà bối cảnh điều kiện, kiến thức và các ưu tiên thay đổi rất nhanh chóng
1.3.2.3 Thực hiện quản lý hợp tác nước xuyên biên giới
Việc thực hiện không chỉ đơn thuần là tuyên bố các nguyên tắc và quy định Nhìn chung, việc thực hiện các thỏa thuận quốc tế được xác định là các hoạt động mà các bên liên quan thực hiện để hoàn thành các nghĩa vụ và để đạt được những mục tiêu và mục đích của điều ước quốc tế, ví dụ như chuyển hóa các thỏa thuận thành luật quốc gia, thành lập các tổ chức phù hợp và thực thi tuân thủ Quản trị là yêu cầu tiên quyết để thực hiện quản lý nước xuyên biên giới Để thực hiện hiệu quả đòi hỏi cam kết thực sự của các chính phủ và các bên liên quan và một sự cân bằng khó khăn giữa theo đuổi tinh thần và các nghĩa vụ cụ thể của các thỏa thuận quốc tế trong khi vẫn phải phát triển
Trang 34các phương thức hoạt động và thích ứng với hoàn cảnh thay đổi Quá trình thực hiện cần được hướng dẫn bởi kiến thức và sự tham gia Kiến thức và sự tham gia sẽ xây dựng niềm tin, quyền sở hữu và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các bên tham gia - các giá trị này không thể bị phóng đại Chúng giúp xác định các mục tiêu, tăng cường hiệu quả, xóa bỏ các xung đột và duy trì sự hợp tác quản lý nước xuyên biên giới Quản lý thích ứng cho phép sự linh hoạt trong quản lý nguồn nước xuyên biên giới Các quá trình quản lý thích ứng - liên quan đến việc trao đổi thông tin, rà soát và đánh giá lại một cách liên tục - có
ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý nước xuyên biên giới trong bối
1.4 Sông Mê Công - lợi ích quốc gia - dân tộc Lào, mối quan tâm chung của các nước trong khu vực
1.4.1 Tầm quan trọng của sông Mê Công đối với 6 quốc gia trong lưu vực
Do sức ép của phát triển kinh tế, thiếu sự đồng thuận về lựa chọn chiến lược phát triển bền vững, các nước trong lưu vực đã và đang khai thác triệt để các nguồn lợi từ hệ thống sông Mê Công nhằm phục vụ các ưu tiên phát triển của mình Hoạt động phát triển kinh tế thiếu bền vững đã làm hình thái của sông Mê Kông thay đổi mạnh mẽ, đặc biệt sau những năm 1980 Theo đó, hàng ngàn hồ chứa, đập dâng, trạm bơm đã được xây dựng trên các dòng nhánh để sản xuất thủy điện, lấy nước phục vụ tưới tiêu và các nhu cầu khác của phát triển kinh tế Phía thượng nguồn dòng chính, Trung Quốc đã và đang xây dựng 8 đập thủy điện với quy mô công suất lớn Ở hạ nguồn, 12 đập thủy điện bậc thang cũng đang được đệ trình xây dựng, chưa kể các dự án chuyển nước từ sông Mê Kông về vùng Đông Bắc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của Thái Lan đã được bàn luận đến trong nhiều năm qua Việt Nam cũng phát triển tối đa hệ thống thủy lợi nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nước cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủy sản, định cư và giao thông thủy Tất cả những kiến tạo đó đã, đang và sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến sông Mê Công và các hệ sinh thái trong lưu vực về nguồn nước, phù sa và sự sinh tồn của các loài thủy sản
Trang 35ĐBSCL được đánh giá là vùng sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ các hoạt động phát triển kinh tế thiếu bền vững ở thượng nguồn Cùng với tác động của biến đổi khí hậu, chiến lược phát triển trên hệ thống sông Mê Kông của các quốc gia trong lưu vực sẽ đặt ĐBSCL trước một thách thức lớn trong việc duy trì nguồn nước, phù sa và nguồn lợi thủy sản nhằm đảm bảo duy trì
hệ sinh thái đất ngập nước, năng xuất sản xuất nông nghiệp và sinh kế của hơn 18 triệu người sinh sống trong vùng
Nhận thức được tầm quan trọng của dòng Mê Công đối với tương lai phát triển của khu vực, năm 1995, Việt Nam cùng Campuchia, Lào và Thái Lan đã ký kết Hiệp định Mê Kông về hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông Các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định này là các đề xuất phát triển trên dòng chính sông Mê Công của các quốc gia thành viên phải được thông qua cơ chế tham vấn, thông báo trước và minh bạch thông tin Theo đó, chính phủ các quốc gia trong lưu vực phải hợp tác chặt chẽ với nhau, cùng đối thoại, trao đổi với các bên liên quan trong nội bộ mỗi nước như chính quyền
và nhân dân địa phương để tìm tiếng nói chung cho các quyết định phát triển Trong bối cảnh đó, với vai trò là một bên tham gia quan trọng, các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam nói chung và ở khu vực ĐBSCL nói riêng cần được cung cấp thông tin, tăng cường hiểu biết, thực hiện các đánh giá độc lập để có thể tham gia mạnh mẽ hơn đối với các chiến lược, kế hoạch phát triển trên hệ thống sông Mê Kông, nhằm góp phần bảo vệ lợi ích cộng đồng, quốc gia và
sự phát triển hài hòa trong lưu vực Đây là những lý do chính mà PanNature
tổ chức Hội thảo tập huấn “Chiến lược phát triển trên hệ thống sông Mê Công: Bối cảnh, tác động và các chính sách thích ứng” [24,26]
Hội thảo được tổ chức trong hai ngày 22 - 23 tháng 6 năm 2012 tại thành phố Cần Thơ Với những người Lào có học hiểu biết, họ thấy được tiềm năng thiên nhiên phong phú của đất nước Lào, giới lãnh đạo thế hệ mới ở Lào nuôi tham vọng khai thác tiềm năng thuỷ điện con sông Mê Công để mong sao biến
xứ Lào thành “Bình Điện Đông Nam Á/ the battery of Southeast Asia”
Trang 36Những ai có theo dõi các bước khai thác thủy điện của Lào sẽ nhận ra ngay rằng không phải Tổng thống, Thủ tướng hay Ngoại trưởng Lào, nhưng
là một tên tuổi khác, Viraphonh Viravong, nổi bật là trí tuệ của đất nước Lào Viraphonh Viravong trong suốt hơn ba thập niên qua đã có những nỗ lực bền
bỉ và kiên định với giấc mơ canh tân, biến đất nước Lào trở thành một xứ
“Kuwait về thủy điện của Đông Nam Á” [23]
1.4.2 Lợi ích quốc - dân tộc của CHDCND Lào
Là nước đang phát triển ở giai đoạn đầu, CHDCND Lào rất cần thiết phải phát triển đột phá từ khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt
là nguồn tài nguyên nước sông Mê Công trên lãnh thổ của Lào Điều đó cũng
dễ hiểu, vì Lào là nước không có biển, nhưng lại chiếm 25% diện tích lưu vực
và 35% tông diện tích dòng chay phát sinh từ bên ngoài và phát sinh trên lãnh thổ chủ yếu là nước mặt, nước ngầm liên quan tới điều tiết của nước mặt dòng
Dựa vào nguồn tài nguyên nước đó, lợi ích quốc gia dân trộc Lào khao khát trở thành quốc gia xuất khẩu năng lượng thủy điện Trong giai đoạn 2010
- 2010, Lào đã triển khai 11 DA thủy điện với tổng công suất 1.773 W, trong
đó có các DA lớn thuỷ điện Xayabury (1285 W) và Pak Beng (1230 W)
Việc triển khai các DA thủy điện nói trên gây tranh cãi khá gay gắt với các nước láng giềng Thái Lan, Campuchia, Việt Nam Đây không còn là tranh luận mà vấn đề thực tế Với Campuchia, lưu lượng nước Biển Hồ giảm mạnh, khiến đời sống dân cư sông trên hồ gặp nhiều khó khăn, trong đó cư dân có nguồn gốc từ Việt Nam ĐBSCL Việt Nam đang đứng trước nguy cơ sạt lở, mất hẳn mùa lũ hiền hòa, cạn kiệt nguồn thủy sinh quí giá, hiện tượng xâm nhập mặc ngày càng nghiêm trọng Cho dù ngoài nguyên nhân do biến đổi khi hậu toàn cầu mà Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề, thì nguyên nhân suy giảm dòng chảy liên quan tới nước sông Mê Công là sự thật Trước tình hình đó, MRC vào cuộc, nhưng cũng chỉ ở mức khuyến nghị, chứ không thể đi xa hơn (!?)
Trang 37Đã đến lức các quốc gia thành viên GMS, trong đó có Lào phải tính tới
sự chia sẻ hài hòa lợi ích quốc gia dân tộc với lợi ích của các nước láng giềng, đặc biệt là Campuchia và ĐBCL Việt Nam
1.4.3 Sự quan tâm chung của các quốc gia GMS
Tại tiểu vùng GMS, sông Mê Công-Lan Thương là con sông dài thứ 12 trên thế giới và thứ 7 ở châu Á Với chiều dài khoảng 4.350 km, sông bắt nguồn từ vùng núi cao tỉnh Thanh Hải (Trung Quốc) rồi đến Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam Thủ tướng cho rằng, tên gọi “Mê Công”, mang ý nghĩa là “mẹ của nước”, dòng sông Mê Công hùng vĩ đã gắn kết chặt chẽ và là không gian sinh tồn chung của chúng ta.[1,2,23]
Lưu lượng nước sông Mê Công hàng năm là 475 tỉ m3 đứng hàng thứ 8 thế giới với hơn 100 chi lưu và phụ lưu lớn nhỏ đổ vào dòng Mê Công Đây là địa bàn cư trú của 320 triệu dân với nền văn hoá đa dạng, đa sắc tộc Lưu vực sông Mê Công khuôn khổ hợp tác các quốc gia Đông Nam Á, có tên gọi là
Tiểu vùng Mê Công mở rộng ( tiếng Anh là GMS)
GMS giàu tài nguyên thiên nhiên, văn hoá và nhân văn, nhưng nhìn chung đây còn là vùng nghèo, chậm phát triển ở khu vực Đông Nam Á, cơ sở
hạ tầng yếu kém, từng bị các cuộc chiến tranh kéo dài tàn phá, trình độ phát triển rất chênh lệch giữa các quốc gia và các địa phương
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, trong lịch sử phát triển của nhân loại và của mỗi quốc gia - dân tộc, các dòng sông luôn có ý nghĩa đặc biệt Những dòng sông lớn ở khu vực như sông Trường Giang, sông Hằng, sông Mê Công-Lan Thương, sông Hồng, sông Ayeyawady, sông Chao Phraya là những dòng chảy mang đến sinh kế cho người dân, gắn kết văn hoá, thúc đẩy giao lưu và giao thương giữa các cộng đồng và khu vực
Thủ tướng nhấn mạnh, các dòng sông khu vực và sông Mê Công-Lan Thương là mạch nguồn gắn kết, là sợi dây kết nối bền chặt đến muôn đời của các quốc gia, người dân 6 nước tiểu vùng, đòi hỏi các nước phải cùng nhau nỗ
Trang 38lực gìn giữ hòa bình, hợp tác phát triển nhằm đưa tiểu vùng trở thành một khu vực hội nhập, phát triển bền vững và thịnh vượng Đây cũng là chủ đề của Hội nghị Thượng đỉnh GMS-6 nhân dịp kỉ niệm 25 năm thành lập cơ chế hợp tác này
Thủ tướng cũng chia sẻ về ấn tượng khi dự triển lãm ảnh 25 năm hợp tác GMS chiều nay, tại đó, “chúng ta đã chứng kiến những bức tranh phát triển sống động của người dân trên khắp khu vực” Sự cần cù, chịu khó, sáng tạo, nỗ lực vươn lên không ngừng của người dân các nước GMS, hoà cùng với sức sống vĩ đại của dòng sông Mê Công-Lan Thương là động lực phát triển to lớn của tất cả chúng ta
Trách nhiệm của các Chính phủ là làm sao để kiến tạo được môi trường phát triển, phát huy được nguồn lực to lớn đưa quốc gia vào con đường phát triển bền vững, Thủ tướng nêu rõ
Bằng sự nỗ lực của các nước thành viên và sự hỗ trợ của ADB, GMS
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Từ năm 1992 đến 2006, tổng xuất khẩu của các nước thành viên GMS tăng 4 lần so với trước Năm 2005 nội tiểu vùng đã tăng 15 lần so với năm 1992, đầu tư nước ngoài tăng từ 3 tỉ USD lên 7 tỉ USD Số khách du lịch nước ngoài vào tiểu vùng tăng từ 10 triệu (1995) lên 22 triệu (2006) [16]
Hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng giao thông được coi là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu và tập trung vào 3 hành lang kinh tế chủ yếu
Thứ nhất: Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC), dài 1450 km, đầu
cầu phía đông tính từ thành phố cảng Đà nẵng, Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị(Việt Nam) qua Savanakhet (Lào), Thái Lan và kết thúc tại đầu phía tây tại thành phố cảng Mawlamyine (Mianmar) Năm 2007, với việc khánh thành cây cầu quốc tế thứ hai qua sông Mê Công, giao thông đường bộ của EWEC
đã thông suốt và EWEC thực sự trở thành hành lang đi vào hoạt động trong khuôn khổ GMS
Trang 39Thứ hai: Hành lang kinh tế Bắc - Nam (NSEC), gồm 3 tuyến dọc theo
trục Bắc - Nam là Côn Minh - Chiềng Mai - Băng Cốc / Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng/ Nam Ninh - Hà Nội NSEC hoàn thành năm 2020
Thứ ba: Hành lang kinh tế phía Nam(SEC), gồm 3 tuyến đường nối
Nam Thái Lan qua Campuchia với Việt Nam Theo quy hoạch dự kiến SEC đi vào hoạt động từ năm 2012 - 2020
Nhìn tổng thể, các nước trong khu vực chịu sự ràng buộc bởi một hệ thống các mối quan hệ không gian lưu vực
Hội nghị GMS các nhà lãnh đạo đã đối thoại với Diễn đàn thanh niên; gặp gỡ thành viên Diễn đàn kinh doanh đầu tư GMS
Trong lịch sử phát triển của nhân loại và của mỗi quốc gia - dân tộc, các dòng sông luôn có ý nghĩa đặc biệt Những dòng sông lớn ở khu vực như sông Trường Giang, sông Hằng, sông Mê Công - Lan Thương, sông Hồng, sông Ayeyawady, sông Chao Phraya là những dòng chảy mang đến sinh kế cho người dân, gắn kết văn hoá, thúc đẩy giao lưu văn hóa, chính trị và giao thương giữa các cộng đồng và khu vực
Các dòng sông khu vực và sông Mê Công-Lan Thương là mạch nguồn gắn kết, là sợi dây kết nối bền chặt đến muôn đời của các quốc gia, người dân
6 nước tiểu vùng, đòi hỏi các nước phải cùng nhau nỗ lực gìn giữ hòa bình, hợp tác phát triển nhằm đưa tiểu vùng trở thành một khu vực hội nhập, phát triển bền vững và thịnh vượng
Tại Diễn đàn, các nước GMS đã thể hiện tầm nhìn, ưu tiên phát triển của mỗi nước cũng như đối với toàn khu vực, chia sẻ với các nhà đầu tư, đối tác phát triển về các tiềm năng hợp tác kinh tế, kết nối các nhà đầu tư, doanh nghiệp và Chính phủ của các nước Trách nhiệm của các Chính phủ là làm sao để kiến tạo được môi trường phát triển, phát huy được nguồn lực to lớn đưa quốc gia vào con đường phát triển bền vững [16]
Trang 401.4.4 Mối quan tâm chung giữa của các định chế quốc tế, các tổ chức quốc
tế và các quốc gia ngoài vùng
1.4.4.1 Các định chế tài chính quốc tế, đặc biệt là ADB
Đối với những sông lớn, kể cả sông quốc gia và quốc tế, khi khai thác các lợi ích, thường xuất hiện những khác biệt, thậm chí xung đột giữa vùng đầu nguồn và cuối nguồn, giữa yêu cầu bảo vệ môi sinh và xây dựng công trình, giữa các mục tiêu dùng nước (tưới tiêu, phát điện, giảm nhẹ lũ lụt và hạn hán ) Vì vậy, sự hợp tác của các quốc gia ven sông là rất quan trọng vì mục tiêu phát triển về kinh tế và bền vững về môi trường của lưu vực Vì là sông lớn trên thế giới với những giá trị về môi trường tự nhiên và đa dạng sinh học, cũng là nơi có sản lượng hàng hoá lớn góp phần giữ gìn an ninh lương thực thế giới, nên sông Mê Công được các nước và các tổ chức quốc tế rất quan tâm
Bảng 1.1 Các bậc thang thuỷ điện trên sông Lan Thương (Trung Quốc)
Tên nhà máy
Công suất lắp máy (MW)
Dung tích hồ (tỉ m 3 )
Chiều cao đập (m) Ghi chú
Nguồn: [25]