1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận án tiến sĩ) pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế xã hội ở việt nam

178 40 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể khẳng định LĐĐ năm 2013 vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập và chưa pháthuy được vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi chính đáng của người có đấtnông nghiệp bị thu hồi, chưa g

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

NGUYỄN VĂN ĐÔNG

PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Thừa Thiên Huế, năm 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

NGUYỄN VĂN ĐÔNG

PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Ngành: Luật kinh tế Mã số: 938.01.07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS HÀ THỊ MAI HIÊN

2 TS NGUYỄN VĂN TUYẾN

Thừa Thiên Huế, năm 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trongLuận án là trung thực Kết quả nghiên cứu trong Luận án chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả Luận án

Nguyễn Văn Đông

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến Cô PGS.TS.

Hà Thị Mai Hiên và Thầy TS Nguyễn Văn Tuyến đã hướng dẫn tác giả tận tình, tậntâm trong suốt quá trình thực hiện luận án

Tác giả xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô giáo đã giảng dạy, phản biện,đánh giá và nhận xét làm nền tảng cho tác giả hoàn thiện luận án

Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường

Đại học Luật - Đại học Huế, Quý Thầy, Cô giáo cùng gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đãđộng viên, khích lệ, ủng hộ nhiệt tình trong thời gian tác giả thực hiện luận án

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

2.1 Mục đích 3

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 5

6 Những điểm mới của luận án 5

7 Kết cấu của luận án 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 7

1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 7

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về thu hồi đất nông nghiệp 8

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 11

1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 13

Trang 6

1.1.4 Nhóm các công trình nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất

nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 16

1.2 Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án và những nội dung mà luận án sẽ kế thừa, phát triển 19

1.2.1 Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án 19

1.2.2 Những nội dung mà luận án sẽ kế thừa và tiếp tục nghiên cứu 21

1.3 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, lý thuyết nghiên cứu 22

1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu 22

1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 22

1.3.3 Lý thuyết nghiên cứu 23

Kết luận Chương 1 24

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 25

2.1 Cơ sở lý luận về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 25

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 25

2.1.2 Bồi thường và hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 35

2.1.3 Cơ sở của việc Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 38

2.1.4 Ý nghĩa của việc Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 40

2.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 42

Trang 7

2.2.1 Chế độ sở hữu đất đai và sự ảnh hưởng đối với chế định thu hồi đất nông

nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 42

2.2.2 Cơ cấu điều chỉnh pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 46

2.2.3 Các yếu tố tác động đến pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 49

2.3 Pháp luật thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở một số nước trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam 55

2.3.1 Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội của Nga .55 2.3.2 Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc 56

2.3.3 Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 59

2.3.4 Một số gợi mở cho Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 60

Kết luận chương 2 62

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 63

3.1 Căn cứ thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam 63

3.1.1 Quy định của pháp luật 63

3.1.2 Thực tiễn áp dụng 66

3.2 Các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp 67

3.2.1 Quy định pháp luật về quy hoạch 67

3.2.2 Thực tiễn áp dụng 69

Trang 8

3.3 Các quy định về thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 71 3.3.1 Quy định của pháp luật 71 3.3.2 Thực tiễn áp dụng 73 3.4 Các quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 75 3.4.1 Quy định của pháp luật 75 3.4.2 Thực tiễn áp dụng 82 3.5 Các quy định về bồi thường và hỗ trợ người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 85 3.5.1 Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội

85

3.5.2 Các quy định về hỗ trợ người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 95 Kết luận chương 3 103 CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ

TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 105 4.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh

tế - xã hội ở Việt Nam 105 4.2 Giải pháp chung về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 110 4.2.1 Mở rộng việc áp dụng cơ chế thỏa thuận đối với các dự án thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 110 4.2.2 Tiêu chí xác định thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội cần quy định cụ thể theo hướng 111

Trang 9

4.2.3 Về nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 111 4.3 Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 112 4.3.1 Giải pháp hoàn thiện các quy định về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 112 4.3.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định về thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 115 4.3.3 Giải pháp hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất nông nghiệp

để phát triển kinh tế - xã hội 118 4.3.4 Giải pháp về xây dựng cơ chế xác định giá đất nông nghiệp khi thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 120 4.4 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 130 4.4.1 Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật đất đai nói chung và các quy định của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh

tế - xã hội nói riêng 130 4.4.2 Nâng cao năng lực, hiệu quả của Bộ máy quản lý đất đai và cán bộ trực tiếp thực hiện công tác thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 131 4.4.3 Đẩy mạnh thực thi dân chủ, công khai, minh bạch quá trình thực hiện thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 132 4.4.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát đối với việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội 133

Trang 10

4.4.5 Tạo cơ chế để cộng đồng dân cư và người bị thu hồi đất tham gia trực tiếp vào quá trình thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để

phát triển kinh tế - xã hội 135

Kết luận chương 4 136

KẾT LUẬN CHUNG 137

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 139

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 140

PHỤ LỤC

Trang 11

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

TN&MT: Tài nguyên và Môi trường

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam hiện nay có trên 96 triệu dân và hơn 70% trong số đó sống bằng nghềnông nghiệp [106] Đất đai là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùngquý giá, được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng và không thể thay thế đượctrong sản xuất nông nghiệp, đảm bảo nguồn thu nhập và tạo ra sản phẩm hàng hoá thiếtyếu cho toàn xã hội Đất là nơi làm nhà, là nơi con người tạo ra của cải vật chất phục vụcho bản thân mình Vì vậy, việc bảo vệ đất nông nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọngđối với người dân cũng như Nhà nước Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóatất yếu sẽ dẫn đến quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng một bộ phận diện tích đấtnông nghiệp sang phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đô thị Để thực hiệnquá trình chuyển hóa này, Nhà nước phải tiến hành thu hồi đất nông nghiệp của ngườidân Việc thu hồi đất không chỉ liên quan đến lợi ích thiết thực của người bị thu hồi đất

mà còn đụng chạm đến lợi ích của nhà đầu tư, của xã hội và cả Nhà nước Đây là nhiệm

vụ khó khăn và phức tạp vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của người nông dân

và đồng thời cũng ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóatheo chủ trương của Đảng và Nhà nước

Luật Đất đai năm 2013 đã sửa đổi, bổ sung, khắc phục được nhiều điểm hạn chếcủa LĐĐ năm 2003 Tuy nhiên, sau một khoản thời gian thi hành thì LĐĐ năm 2013cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định Việc thu hồi đất cũng phát sinh mâuthuẫn, tranh chấp dẫn đến khiếu kiện kéo dài, phức tạp Báo cáo tại Phiên họp thứ 37của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tổng Thanh tra Chính phủ cho biết, năm 2019, tìnhhình khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai chiếm 67,7% các loại khiếu kiện[107] Không phải lúc nào giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người bị thu hồi đất cũng tìmđược tiếng nói chung Những trường hợp bất đồng giữa các bên về việc thu hồi đất sẽdẫn đến việc người bị thu hồi đất khiếu kiện là việc hiển nhiên Nhận thức sâu sắc vềvấn đề này, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều Nghị quyết, chính sách và pháp luật

về thu hồi đất, trong đó quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, các mức bồithường, tài sản và các chính sách hỗ trợ, tái định cư nhằm đảm bảo quyền lợi củangười bị thu hồi đất, nhưng quá trình thực hiện vẫn nãy sinh nhiều vấn đề bất cập, hạnchế, thiếu sót, chưa đồng bộ Nhiều nội dung của pháp luật về thu hồi hồi đất nôngnghiệp chưa phù hợp với thực tiễn như: Khung giá đất, cơ chế, thời điểm, diện tích thuhồi đất, tái định cư, giải quyết việc làm, hỗ trợ trong việc thu hồi đất, tiêu cực, thamnhũng len lỏi trong quá trình thu hồi đất của người sử dụng Văn kiện đại hội Đảng

Trang 13

toàn quốc lần thứ XI nêu rõ “Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, chính sách về đất đainhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người sử dụng đất, lợi ích củanhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng có hiệu quả nguồn đất đai cho sự pháttriển; khắc phục tình trạng lãng phí và tham nhũng đất đai” [1, tr.109-110] Đặc biệtviệc thu hồi đất được quy định trong Hiến pháp năm 2013 tại Khoản 3 Điều 54 “Nhànước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết doluật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốcgia, công cộng Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theoquy định của pháp luật” [20]

Trong thực tế có những dự án Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, nhà đầu tưchấp nhận bỏ ra các chi phí lớn hơn thậm chí là bồi thường rất hậu hĩnh, đặc biệt sửdụng chính sách hỗ trợ khác đó là: Bên cạnh chính sách hỗ trợ ổn định cuộc sống, hỗtrợ về đào tạo nghề còn có chính sách hỗ trợ khác do các địa phương vận động tốtđược dự án đầu tư với chủ đầu tư bỏ ra các khoản chi phí ngoài lề thậm chí doanhnghiệp bỏ tiền túi của mình nhưng cảm thấy rất vui vẻ vì người dân nhanh chóng trảlại đất nông nghiệp để chủ đầu tư thực hiện dự án

Có thể khẳng định LĐĐ năm 2013 vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập và chưa pháthuy được vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi chính đáng của người có đấtnông nghiệp bị thu hồi, chưa giải quyết được bài toán đảm bảo sự hài hòa lợi ích củaNhà nước, nhà đầu tư và người có đất nông nghiệp bị thu hồi, chưa “hạ nhiệt” cáckhiếu kiện, vấn đề công khai, minh bạch, dân chủ chưa thực sự được phát huy, vẫn cònlạm quyền trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp và chưa phát huy hết tác dụng tíchcực trong việc bảo đảm sử dụng nguồn lực đất đai và thúc đẩy phát triển kinh tế - xãhội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Do vậy, việc nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan các quy định củapháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội là việc làm hết sứccần thiết về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng Đồng thời, thông qua đó kiến nghịsửa đổi, bổ sung những quy định chưa phù hợp của pháp luật về thu hồi đất nôngnghiệp để phát triển kinh tế - xã hội nhằm hoàn thiện các quy định của LĐĐ về thu hồiđất cũng như nâng cao chất lượng đời sống của nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp

Với lý do đó, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để

phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam” để làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật

kinh tế

Trang 14

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Luận án nhằm làm rõ cơ sở lý luận pháp luật và thực tiễn về thu hồi đất nôngnghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; phân tích thực trạng pháp luật về thu hồi đất nôngnghiệp để phát triển kinh tế - xã hội nhằm phát hiện những tồn tại, bất cập; trên cơ sở đó,luận án đề xuất những định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nôngnghiệp để phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi ở nước ta

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:

- Luận án làm rõ thực trạng nghiên cứu những công trình tiêu biểu ở trong nước,nước ngoài liên quan các nội dung của Luận án Từ đó xác định những nội dung Luận án

sẽ kế thừa, những nội dung Luận án tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu để đạt được mục đíchnghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế

- xã hội bao gồm quan điểm, đường lối của Đảng về thu hồi đất; chế độ sở hữu toàn dân

về đất đai và quyền tài sản của người sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất; khái niệm,đặc điểm, mục đích, ý nghĩa, cơ sở của việc nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để pháttriển kinh tế - xã hội; cơ cấu điều chỉnh của pháp luật và các yếu tố tác động đến việc nhànước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; pháp luật của một số nước trênthế giới về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội

- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá nội dung của pháp luật về thu hồi đất nôngnghiệp để phát triển kinh tế - xã hội và đánh giá thực trạng thi hành chế định pháp luật này

ở Việt Nam

- Đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp đểphát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu hồi đất nôngnghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 15

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chính sách pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước của Nhà nước ta; trong đó có nội dung liên quan đến thu hồi đất nông nghiệp

để phát triển kinh tế - xã hội

- Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn có liên quan đến thu hồi đấtnông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội Luận án cũng nghiên cứu pháp luật về thu hồiđất nông nghiệp của một số nước trên thế giới như: Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc

- Các công trình khoa học về thu hồi đất, trong đó có thu hồi đất nông nghiệp đểphát triển kinh tế - xã hội đã được công bố trong thời gian qua ở trong và ngoài nước

- Các số liệu, vụ việc thực tiễn về áp dụng các quy định của pháp luật về thu hồiđất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong thời gian từ năm 2014 đếnnăm 2020

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam là đềtài có phạm vi nghiên cứu rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau Tuynhiên, trong khuôn khổ luận án tiến sĩ luật học, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu ở một

số nội dung cụ thể sau:

- Về nội dung: Các trường hợp thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xãhội; các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy định về nội dung, thẩm quyềntrình tự, thủ tục thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; quy định về bồithường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội

- Về không gian: Luận án nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về thu hồi đấtnông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi Việt Nam

- Về thời gian: Luận án giới hạn nghiên cứu pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp

để phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2014 đặt trong mối liên hệ, so sánh với LĐĐ năm

2003 và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 16

Trong quá trình làm luận án, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bảnsau đây: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sửcủa Chủ nghĩa Mác - Lê nin trong việc nghiên cứu nguồn gốc, bản chất của sự vật, hiệntượng; nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của sự vật, hiện tượng đặt trong mốiquan hệ tương tác với các sự vật, hiện tượng khác.

- Phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp lập luận logic v.v được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lýthuyết của luận án

- Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu v.v được

sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thu hồi đất nông nghiệp đểphát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

- Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phươngpháp tổng hợp, phương pháp khảo sát, phương pháp nghiên cứu tình huống.v.v được sửdụng tại Chương 3 khi nghiên cứu thực trạng pháp luật thu hồi đất nông nghiệp để pháttriển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

- Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch v.v được

sử dụng tại Chương 4 khi nghiên cứu định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuhồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi ở ViệtNam

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Về phương diện lý luận, luận án là công trình nghiên cứu lý luận có tính chuyên

sâu về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong đó tậptrung vào việc làm rõ những vấn đề về căn cứ để thu hồi đất nông nghiệp, trình tự, thủtục thu hồi đất nông nghiệp; các hậu quả về kinh tế và pháp lý của việc thu hồi đấtnông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội

Về phương diện thực tiễn, luận án là công trình đánh giá toàn diện đối với thực

trạng pháp luật Việt Nam về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội vàthực tiễn thực hiện các quy định này cùng với những tác động của nó đối với nền kinh

Trang 17

tế - xã hội Việt Nam Đồng thời, luận án cũng chỉ ra những điểm hạn chế, bất cập củapháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua.

Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảngdạy, học tập trong các Trường Đại học chuyên luật và không chuyên luật, hệ thống cáctrường chính trị, cho những người trực tiếp làm công tác thu hồi đất nông nghiệp đểphát triển kinh tế - xã hội

6 Những điểm mới của luận án

Luận án là công trình khoa học nghiên cứu pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp

để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay Luận án có những điểm mới sauđây:

Thứ nhất, hệ thống hóa, bổ sung, phát triển và làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận về

thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội và pháp luật về thu hồi đất nôngnghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

Thứ hai, làm rõ khái niệm, đặc điểm của thu hồi đất nông nghiệp để phát triển

kinh tế - xã hội; tính tất yếu khách quan của việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triểnkinh tế - xã hội; hậu quả của việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội

và trách nhiệm của nhà nước; ý nghĩa của việc Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đểphát triển kinh tế - xã hội; các yếu tố tác động đến việc xây dựng và hoàn thiện phápluật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; phân biệt được thu hồiđất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội với thu hồi đất nông nghiệp vì mục đíchkinh doanh của nhà đầu tư

Thứ ba, đánh giá thực trạng pháp luật về thu hồi đất đất nông nghiệp để phát

triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập của phápluật hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng ở các địa phương

Thứ tư, đưa ra định hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật và

nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế

-xã hội ở nước ta

7 Kết cấu của luận án

Ngoài lời cam đoan, danh mục các từ viết tắt, mục lục, mở đầu, kết luận, danhmục tài liệu tham khảo, luận án được bố cục với 04 chương cụ thể như sau:

- Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và các vấn đề liên quan đếnluận án

- Chương 2 Những vấn đề lý luận pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để pháttriển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

Trang 18

- Chương 3 Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thu hồi đấtnông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

- Chương 4 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật

về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

Trang 19

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Thu hồi đất nói chung và thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ởViệt Nam là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nướctrong lĩnh vực đất đai Hoạt động này được tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩmquyền nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước Thu hồi đất nông nghiệp đặt trong mối quan hệ tương quangiữa một bên là phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳđổi mới là một xu hướng tất yếu với một bên là quyền lợi chính đáng của các chủ thể

bị thu hồi đất, nhưng đồng thời phải đảm bảo sự ổn định bền vững của đất nôngnghiệp Đồng thời việc thu hồi đất nông nghiệp cũng liên quan đến nhiều cá nhân, tổchức đặc biệt là người nông dân trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp để canh tác Chủthể sử dụng đất nông nghiệp xem đất nông nghiệp quan trọng như “sinh mạng” củamình trong suốt quá trình quản lý sử dụng để nuôi sống chính bản thân và gia đình.Trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp liên quan đến nhiều vấn đề như công tác quyhoạch, kế hoạch, kiểm kê, thực hiện công tác bồi thường, giải tỏa, hỗ trợ việc làm chongười nông bị mất đất, công tác đào tạo nghề để họ ổn định cuộc sống, công tác kiểmtra, giải quyết khiếu nại tố cáo đều được Đảng và nhà nước quan tâm, đảm bảo Trongquá trình thu hồi đất nông nghiệp cũng nảy sinh nhiều vấn đề nóng bỏng như khiếukiện, khiếu nại tập thể, tham nhũng ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xãhội ở địa phương Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khácnhau về việc thu hồi đất Việc nghiên cứu các công trình khoa học liên quan đến việcthu hồi đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có liên quan mật thiết đến luận án, là cơ

sở để nghiên cứu, đánh giá cả vấn đề lý luận và thực tiễn, những vấn đề còn để ngỏ, lànhững gợi mở, định hướng cho những vấn đề cần nghiên cứu tiếp theo mà luận án cầntập trung giải quyết Có thể khẳng định đây là những tài liệu tham khảo quan trọng cógiá trị khoa học cho nghiên cứu sinh trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận ántiến sĩ

Qua nghiên cứu, tác giả thấy rằng đã có một số công trình nghiên cứu nổi bật cóliên quan đến một số khía cạnh khác nhau của luận án Các công trình nghiên cứu này

có thể sắp xếp theo các nhóm nghiên cứu sau:

Trang 20

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về thu hồi đất nông nghiệp

để phát triển kinh tế - xã hội

- Cuốn sách: “Chuyên khảo Luật kinh tế” cuả tác giả Phạm Duy Nghĩa, Nxb.

Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004, trong phần “Pháp luật tài sản” đã nêu, QSDĐ của

tổ chức cá nhân là quyền tài sản tư cần được nhà nước tôn trọng và bảo hộ QSDĐ làkhái niệm sở hữu kép, một khái niệm sở hữu đa tầng, đất đai thuộc sở hữu toàn dân,song QSDĐ lại thuộc về cá nhân hoặc tổ chức

- Đề tài khoa học cấp bộ “Cơ sở pháp lý của quản lý NN đối với đất đai trong

điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”, 2014 của Viện Hàn lâm

Khoa học xã hội Việt Nam do tác giả Phạm Hữu Nghị làm chủ nhiệm Đề tài đánh giáthực trạng cơ sở pháp lý của quản lý Nhà nước đối với đất đai ở nước ta tại thời điểmLĐĐ năm 2013 có hiệu lực, phân tích những thiệt hại do thu hồi đất trên các phươngdiện kinh tế, phương diện xã hội và phương diện chính trị Đồng thời, chỉ ra những tồntại, bất cập như giá đất bồi thường thấp so với giá thị trường, thời gian thực hiện thuhồi và bồi thường kéo dài, thu hồi đất nông nghiệp tràn lan là những lý do dẫn đếntình trạng khiếu nại, tố cáo có chiều hướng gia tăng về số vụ và tính phức tạp

Bài viết “Về giá đất làm căn cứ tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” của

tác giả Phạm Thu Thủy - Tạp chí Luật học, số 9/2012 Bài viết chỉ ra những hạn chế,bất cập của pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về giá đất làm căn cứ tính bồithường, như: Giá đất tính bồi thường là giá đất theo mục đích sử dụng tại thời điểm cóquyết định thu hồi, không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng,đặc biệt là trong trường hợp thu hồi đất nông nghiệp để chuyển sang mục đích phinông nghiệp; thực tiễn giá đất bồi thường thấp hơn nhiều so với giá thị trường trongcác giao dịch dân sự về đất đai Từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị, giải pháp hoàn thiệncác quy định về giá đất làm căn cứ bồi thường như: Cần xem xét lại căn cứ và cơ chế

áp dụng giá đất, đào tạo đội ngũ cán bộ định giá đất chuyên nghiệp

- Nghiên cứu về "Thị trường đất khu công nghiệp, thương mại tác động đến

vấn đề nghèo đói ở Việt Nam" do Ngân hàng Châu Á (ADB) thực hiện năm 2005 đã

chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của quy trình thu hồi đất phục vụ cho các mục đíchthương mại, công nghiệp để đưa ra đề xuất nhằm tạo lập một thị trường đất khu côngnghiệp, thương mại minh bạch, hiệu quả và góp phần xóa đói giảm nghèo ở ViệtNam, tuy nhiên nghiên cứu chưa có sự luận giải kiến nghị hoàn thiện về cơ chếchính sách thu hồi đất

Trang 21

- Các bài viết tại Hội thảo Kinh nghiệm Quản lý đất đai Hàn Quốc do Tổng cục

Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) tổ chức tại Hà Nội ngày 16/12/2011

như: Bài viết Quá trình đổi mới chính sách đất đai Hàn Quốc của TS Soo Choi, Bài viết Hệ thống định giá và hệ thống bồi thường Hàn Quốc của Ủy ban Định giá Hàn Quốc, Bài viết Mô hình phát triển đất đai của Hàn Quốc của Park Hyun Young Đây là

những bài viết cung cấp các thông tin về thu hồi đất, bồi thường và tái định cư ở cácnước trong khu vực như Singapore, Trung quốc, Thái Lan, Hàn Quốc Những thông tinnày sẽ có giá trị hữu ích để Việt Nam tham khảo trong quá trình xây dựng và hoàn thiệnpháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

- Bài viết Đầu tư bất động sản ở Trung Quốc - Xem xét lại pháp luật và phân

tích sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài của Jieming Zhu, From land use right to

land development right: Institutional change in China’s urban development, UrbanStudies, Vol 41, No 7, 1249 - 1267, June 2004 Trong bài viết này tác giả phân tích vềchính sách sở hữu đất đai và vấn đề đầu tư bất động sản ở Trung quốc Sở hữu đất đai tưnhân đã bị bãi bỏ ở Trung Quốc Theo Điều 10 của Hiến pháp 1982 của Cộng hòa Nhândân Trung Hoa, đất đô thị thuộc về nhà nước, đất nông thôn thuộc sở hữu của các tậpthể Do tập thể nông thôn chịu sự quản lý hành chính của chính quyền trung ương và địaphương nên có thể hiểu rằng tất cả quyền sở hữu đất đều do nhà nước chỉ huy TheoĐiều 13 của Quy chế tạm thời năm 1990, việc mua bán trực tiếp quyền sử dụng đấtthường có thể được thực hiện thông qua thỏa thuận thương lượng và đấu giá công khaihoặc đấu giá Quyền sử dụng đất có thể tự động được nhà đầu tư nước ngoài mua lạitrong trường hợp liên doanh hoặc liên doanh hợp tác xã, nơi mà phía Trung Quốc cungcấp đất đai như một khoản đóng góp đầu tư Nếu điều này xảy ra, bất kể bên TrungQuốc có sở hữu đất tại thời điểm đó hoặc có được đất bằng cách cho thuê gián tiếp từbên thứ ba, thì liên doanh không còn phải trả bất kỳ khoản phí sử dụng đất nào choChính phủ Tức là, bên nước ngoài được sử dụng đất do người Trung Quốc đóng góp

Về việc mua lại đất bằng phương thức thành lập liên doanh hoặc liên doanh hợp tác, vấn

đề nổi bật nhất hiện nay là việc sử dụng đất công cộng và việc phi nông nghiệp chiếmđất nông nghiệp diễn ra tràn lan Trong hoàn cảnh như vậy, cả phía Trung Quốc lẫnnước ngoài đều không trả bất cứ khoản tiền nào cho việc sử dụng đất Do các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hưởng các ưu đãi so với các doanh nghiệp trongnước, đặc biệt là thuế, nhiều quỹ đầu tư bất động sản và các liên doanh hợp tác xã đượctạo ra hoàn toàn vì mục đích đầu cơ bất hợp pháp, trục lợi và trốn thuế Một lượng lớnđất bị bỏ hoang nhưng bị độc quyền bởi một số doanh nghiệp chiếm giữ mà không có kế

Trang 22

hoạch phát triển "cụ thể" Cuối cùng, giá đất tăng cao bất hợp lý trên thị trường, ảnh

hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài trung thực tuân thủ cácquy định về đất đai, muốn phát triển bất động sản hợp pháp

- Bài viết của tác giả Anthonygar-onYeh: Phát triển kinh tế và mất đất nông

nghiệp ở đồng bằng sông Châu Giang, Trung Quốc Economic Development and

Agricultural Land Loss in the Pearl River Delta, China, 2014 Trong bài viết này tácgiả phân tích mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế, phát triển đô thị với vấn đề mấtđất nông nghiệp của người nông dân ở đồng bằng sông Châu Giang Tác giả khẳngđịnh vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp là do sự phát triển đô thị, đặc biệt là cáccông trình xây dựng khổng lồ do sự đầu cơ đất đai Phát triển đô thị ở đồng bằng sôngChâu Giang cũng liên quan đến các yếu tố kinh tế khác như: Công nghiệp hóa nôngthôn, giao thông vận tải, thiếu hệ thống quản lý đất đai và giám sát Vì vậy, tác giả chorằng cần khẩn trương phát triển một chiến lược phát triển đất đai bền vững để bảo vệđất nông nghiệp màu mỡ khỏi những thiệt hại không cần thiết, đặc biệt là do đầu cơđất đai

- Bài Nghiên cứu về Luật thu hồi đất ở Indonesia, tác giả Bagus S.D.Nur Buwono, Bastaman Enrico Bagus và Bài Nghiên cứu về thu hồi đất ở Indonesia, tác

giả Hanafiah Ponggawa & Partners năm 2012 Nội dung của 2 bài báo đề cập đến cácvấn đề sau (Hanafiah and Partners, Global Business Guide Company, 2012; Bagus andBastaman Enrico Bagus Law Office, Indonesia, 2012): (1) Chính phủ Indonesia đã banhành Luật Thu hồi đất đai cho phát triển các mục đích công (Luật Thu hồi đất đai -Luật số 02) ngày 14/1/2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Luật nêu rõ Chính phủ cần đảm bảo quỹ đất và nguồn tài chính để tạo quỹ đấtcho các mục đích công; đồng thời Chính phủ hoặc các doanh nghiệp Nhà nước sẽ chịutrách nhiệm tạo quỹ đất này Các mục đích công được quy định trong Luật bao gồmđường bộ có thu phí, đường hầm; đường tàu hỏa, ga và các hạ tầng cho tàu hỏa; đê,đập, hồ chứa, hệ thống thoát nước, tưới tiêu và các hạ tầng về nước khác; cảng, sânbay; Nguồn kinh phí cho thu hồi đất cũng được quy định chủ yếu là từ ngân sáchNhà nước và không có quy định cụ thể về sự tham gia của khu vực tư nhân Theo quyđịnh của Luật này thì quy trình thu hồi đất sẽ kéo dài không quá 2 năm (583 ngày làmviệc kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận được quyết định thu hồi đất từ Chínhphủ) và bao gồm 4 bước, bắt đầu từ lập kế hoạch, chuẩn bị, triển khai tới thông báokết quả Ngoài ra, thủ tục và yêu cầu về tiến hành đàm phán, thỏa thuận giữa cácbên có liên quan cũng được quy định cụ thể Các khiếu nại liên quan đến thu hồi

Trang 23

đất sẽ được giải quyết ở các cấp, từ Tòa hành chính tới Tòa tối cao với thời gian xử

lý khoản 4 tháng Các khiếu kiện liên quan đến bồi thường sẽ được thụ lý ở các cấp

từ Tòa án địa phương đến Tòa phúc thẩm, thời gian xử lý khoản 4 tháng Quy trìnhthu hồi đất sẽ do Cơ quan Đất đai quốc gia chủ trì, bao gồm các bước sau: (i) kiểm

kê và xác định mục đích sử dụng, tình trạng sở hữu, (ii) định giá để bồi thường, (iii)xác định mức bồi thường, (iv) phân chia khoản bồi thường Nội dung định giá baogồm giá trị thửa đất, diện tích phía trên và dưới mặt đất của thửa đất, công trình,cây cối trên đất hoặc các thiệt hại khác có thể định giá Kết quả định giá bởi tổ chứcđịnh giá sẽ được sử dụng làm cơ sở cho việc đàm phán với chủ sở hữu và các bênkhác có liên quan về giá trị và hình thức bồi thường Bồi thường có thể thực hiệnbằng các hình thức tiền mặt, đất, sở hữu cổ phần và các hình thức khác do các bênthỏa thuận

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội

- Bài viết của Nguyễn Đức Biền, Thực trạng, những vướng mắc trong quá trình

nhà nước thu hồi đất để giao, cho thuê và tự thỏa thuận để có đất thực hiện dự án,

tháng 7/2011, tại Hội thảo Tài chính: Đất đai, giá đất và cơ chế, chính sách trong bồi

thường, hỗ trợ, tái định cư do Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách TM&MT thuộc

Bộ TN&MT tổ chức Trong bài viết này tác giả chỉ ra những tồn tại, vướng mắc, bấtcập trong quá trình thu hồi đất để cho thuê hoặc thực hiện dự án Đồng thời qua đókiến nghị các giải pháp để khắc phục thực trạng này

- Bài viết của PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc, Phát triển khu công nghiệp vùng

đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp, Tạp chí cộng sản số 14/2008 Trong bài viết này tác giả chỉ ra tình trạng nông dân bị thu hồi đất, mất tư

liệu sản xuất, trong đó nhiều người bị thất nghiệp, cuộc sống khó khăn, đồng thời tácgiả đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất tạo điều kiện

để học thích ứng với cuộc sống mới

Bài viết “Bảo đảm tài sản là quyền sử dụng đất của người có đất bị thu hồi

-nhìn từ quy định trong các bản hiến pháp và pháp luật đất đai” của tác giả Lê Ngọc

Thạnh - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2013 Bài viết đưa ra khái niệm thu hồiđất Theo tác giả, thu hồi đất là việc Nhà nước lấy lại quyền sử dụng đất đã giao chocác tổ chức, cá nhân sử dụng hoặc lấy lại quyền sử dụng đất do người khác lấn chiếmcủa Nhà nước

Trang 24

- Bài viết: “Bản chất, vai trò của hoạt động thu hồi đất trong điều kiện kinh tếthị trường”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 15/2015 của Lưu Quốc Thái Trong bàiviết này, tác giả khẳng định: Thu hồi đất là một quan hệ của thị trường bất động sản,tuy nhiên nội dung này chưa được pháp luật đất đai giải quyết thỏa đáng bởi các lý do:(i) Cơ chế xác định giá đất tính tiền bồi thường chưa phù hợp; (ii) Trách nhiệm bồithường chưa được quy định hợp lý; (iii) Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích pháttriển kinh tế - xã hội chưa có cơ chế bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.

- Đề tài khoa học cấp nhà nước do tác giả Vũ Văn Phúc làm chủ nhiệm “Sở

hữu, quản lý và sử dụng đất đai trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Cộng sản, 2015 Trong đề tài này, tác giả phân tích một số vấn

đề nổi cộm trong quá trình thu hồi đất: (i) Việc thu hồi đất, bồi thường chưa có một cơchế giải quyết rõ ràng, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa NN, nhà đầu tư và người có đất

bị thu hồi; (ii) Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa hợp lý, tính khả thi thấp;(iii) Nông dân được hưởng lợi ít nhất từ đất đai khi thu hồi đất nông nghiệp do đền bùthấp dẫn đến cuộc sống vẫn nghèo, thậm chí nghèo hơn trước khi thu hồi đất; (iv) Saukhi thu hồi đất nông nghiệp và chuyển sang đất phi nông nghiệp có giá cao hơn nhiềulần nông nghiệp nhưng khoản chênh lệch giá này điều tiết vào ngân sách nhà nước cònthấp, chủ yếu rơi vào tay chủ đầu tư nhận đất và người đầu cơ đất; (v) Giá đất nhànước sử dụng để đền bù cho người bị thu hồi đất quá thấp so với giá giao dịch trên thịtrường

- Bài viết của tác giả P Woodhouse and A S Ganho, University of Manchester

tại Hội nghị Quốc tế về Đất toàn cầu năm 2011: Liệu nước có phải là một chương

trình nghị sự hóa trong việc thu hồi đất nông nghiệp ở vùng hạ Sahara ở Châu Phi?: Is

Water the Hidden Agenda of Agricultural Land Acquisition in sub-Saharan Africa?.Trong bài viết này tác giả tập trung vào việc thu hồi đất ở tiểu vùng Sahara Châu Phi

Trong phạm vi mà nhà đầu tư nước ngoài “lấy đất” từ các hợp đồng dẫn đến việc mở

rộng hệ thống tưới tiêu trong vùng Sahara Châu Phi, do đó họ có thể tăng tốc đáng kể

sự phát triển của cơ sở hạ tầng nước để làm giảm sự rủi ro vốn có trong phần lớn nôngnghiệp châu Phi Nhà đầu tư nước ngoài có thể cạnh tranh với việc sử dụng nước hiệntại vì những giao dịch về đất đai trong một số trường hợp bao gồm các điều khoản ưutiên tiếp cận với nước trong trường hợp khan hiếm Khi mua lại đất nông nghiệp thìvấn đề quan tâm hàng đầu và ưu tiên của nhà đầu tư là ở nơi đó có nguồn nước hay làkhông Nên việc sử dụng nguồn nước sẽ ảnh hưởng đáng kể đến việc thực hiện cácgiao dịch đất đai trên thực tế

Trang 25

- Bài viết của tác giả Abhirup Sarkar trên Tạp chí Economic and politicalweekly: Development and Displacement: Land Acquisition in West Bengal, 2007.Trong bài viết này tác giả phân tích những vấn đề liên quan đến quá trình mua lại đấtnông nghiệp để xây dựng cơ sở hạ tầng, các ngành công nghiệp và các dịch vụ khácnhau, trong quá trình dời dân ra khỏi nghề truyền thống và sinh kế của họ Cụ thể làviệc xung đột ở Tây Bengal do việc mua lại đất nông nghiệp ở khu vực này rất phứctạp Tác giả cho rằng mặc dù việc mua lại đất nông nghiệp là cần thiết cho quá trìnhcông nghiệp hoá và cho sự phát triển dài hạn của Tây Bengal, nhưng thành công của

nó phụ thuộc rất lớn vào việc bồi thường và hỗ trợ cho người nông dân Một trongnhững nguyên nhân dẫn đến xung đột là do giá đất mua lại quá thấp so với thực tế vàkinh tế của các hộ gia đình sau khi bị mua lại đất nông nghiệp cũng không có gì kháhơn so với trước

1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội

- Cuốn sách: “Pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai ở Việt Nam”, của tác giả

Phan Trung Hiền chủ biên, Nxb.Đại học Cần Thơ, năm 2016 Trong cuốn sách này tácgiả nêu lên các vấn đề: (i) Thu hồi đất nông nghiệp không chỉ đơn thuần là gây thiệthại đến diện tích của một hộ nông dân nào đó, mà còn tác động trực tiếp đến sản xuấtcủa người nông dân; (ii) Thiệt hại đối với cây trồng không chỉ là vườn cây tại thờiđiểm thu hồi, mà là thiệt hại đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp của người nôngdân; (iii) Việc xác định giá đất để tính bồi thường phải có sự tham gia của người nôngdân cũng như cần có bên thứ ba định giá đất độc lập; (iv) Cần xây dựng đạo luật riêng

về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

- Cuốn sách “Pháp luật về định giá đất trong bồi thường, giải phóng mặt bằng

ở Việt Nam” do tác giả Doãn Hồng Nhung chủ biên, Nhà xuất bản Tư pháp 2014 Trên

cơ sở phân tích LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, cuốn sách phântích một số vấn đề về giá đất, như khái niệm giá đất, bản chất của giá đất, các yếu tốảnh hưởng đến giá đất; phân tích các quy định và thực trạng định giá đất nói chung,định giá đất trong bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nói riêng Từ đó, tác giả chỉ ranhững hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật về giá đất phục vụ bồi thườngnhư sự chênh lệch quá lớn giữa giá đất tính bồi thường và giá thị trường, các phươngpháp xác định giá đất chưa hợp lý, bảng giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành sử dụngcho nhiều mục đích là không hợp lý

Trang 26

- Cuốn sách của TS Doãn Hồng Nhung - Nguyễn Ngọc Hà, Pháp luật về định

giá đất trong bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam, NXB Tư pháp năm 2013.

Trong cuốn sách này tác giả phân tích bình luận một cách có hệ thống các quy địnhcủa LĐĐ 2003 và các văn bản có liên quan về xác định giá đất để bồi thường khi nhànước thu hồi đất, đồng thời tác giả cũng minh chứng bằng những vụ việc cụ thể

- Cuốn sách “Báo cáo tổng hợp hỗ trợ tiếp cận các nguồn lực phát triển cho

người dân tái định cư thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế” của Trung tâm Nghiên

cứu và Tư vấn Quản lý tài nguyên Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển xã hội và Tổchức ICCO.Nxb Nông nghiệp, (2014) Cuốn sách nghiên cứu về hiện trạng xây dựngcác công trình thủy điện, các chương trình tái định cư, quy trình thu hồi đất và công tácbàn giao đất trên địa bàn thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; những tác động vềmôi trường và xã hội của việc di dân tái định cư từ các công trình thủy điện

- Luận án tiến sĩ luật học, Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất

nông nghiệp ở Việt Nam, năm 2014 của nghiên cứu sinh Phạm Thu Thủy Trong Luận

án tác giả đưa ra cơ sở lý luận liên quan đến bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nôngnghiệp và các quy định của LĐĐ năm 2003, đồng thời tác giả đề xuất một số giải pháphoàn thiện như: Bổ sung cơ chế tham vấn cộng đồng ngay từ khi lập phương án bồithường; hoàn thiện quy định của pháp luật về cơ chế xác định giá đất; hoàn thiện phápluật về cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện và bắt buộc; bổ sung quy định xây dựng

cơ chế đồng bộ trong đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp cho người nông dân bị thuhồi đất

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của TS Nguyễn Thị Nga, Pháp luật về

bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất - thực trạng và hướng hoàn thiện, năm 2013 Trong đề tài này tác giả minh chứng bằng những vụ việc có thật, chỉ

ra những tồn tại, bất cập, những bài học kinh nghiệm trong quá trình thực thi pháp luật

về bồi thường và bố trí tái định cư khi thu hồi đất Qua đó, đề xuất các giải pháp hoànthiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

- Đề tài khoa học cấp bộ: “Thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về thu hồi đất ở

Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, năm 2016 của Viện Khoa học

Thanh tra (Thanh tra Chính phủ) do tác giả Đinh Văn Minh làm chủ nhiệm Trong đềtài này, tác giả chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến khiếu nại khi thu hồi đất như: (i) Doquá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho nhu cầu về đất tăng lên thúc đẩy giá đấttăng cao dẫn đến lợi ích liên quan đến đất lớn; (ii) Chính sách liên quan đến lợi íchngười sử dụng đất còn nhiều bất cập, nhất là giá đất chưa phù hợp và thường xuyên

Trang 27

thay đổi; (iii) Thu hồi đất nhưng không ưu tiên trả bằng đất mà trả bằng tiền, điều kiệntại khu tái định cư không bằng khu dân cư có đất bị thu hồi; (iv) Ý thức chấp hànhpháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế nên đòi hỏi quyền lợi vượt quá quyđịnh; (v) Công tác thanh tra, kiểm tra chưa được chú trọng đúng mức và việc giảiquyết khiếu nại từ cơ sở đến các cấp chưa kịp thời, có trường hợp giải quyết khôngđúng hoặc không giải quyết.

- Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam thực hiện đề tài: “Nghiên cứu về cơ chế xác

định giá đất phục vụ bồi thường giải phóng mặt bằng tại Việt Nam”, năm 2009 Trên

cơ sở phân tích hệ thống pháp Luật đất đai hiện hành của Việt Nam về xác định giáđất bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, nhóm tác giả đã đề xuất một số giải pháp: (i) Đềxuất về cơ chế thành lập và hoạt động của các hội đồng định giá đất đai và tài sảngắn liền ở cấp quốc gia và cấp tỉnh độc lập với hệ thống hành chính, có thẩm quyềnquyết định về giá đất áp dụng cho tính toán bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, hoặc giảiquyết các tranh chấp về giá đất trên thị trường (ii) Phát triển hoạt động cung cấp dịch

vụ định giá đất và tài sản gắn liền với đất do các định giá viên được cấp phép hànhnghề thực hiện (iii) Giao cho Hiệp hội định giá đưa ra các tiêu chuẩn kĩ thuật quốc gia

về định giá đất và tài sản gắn liền với đất, hướng dẫn dịch vụ định giá thực hiện đúngcác tiêu chuẩn kỹ thuật này

- Ngân hàng thế giới tại Việt Nam thực hiện đề tài: “Cơ chế Nhà nước thu hồi

đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam: Phương pháp tiếp cận, định giá đất

và giải quyết khiếu nại của dân”, năm 2011 Nội dung nghiên cứu bao gồm: Đề xuất

hoàn thiện chính sách nhà nước thu hồi đất và cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện ởViệt Nam; Nghiên cứu cơ chế xác định giá đất phục vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định

cư ở Việt Nam; Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại về bồi thường hỗtrợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam

- Bài viết của TS.Nguyễn Quang Tuyến, Công khai minh bạch bảo vệ quyền lợi

của người bị thu hồi đất, Tạp chí luật học số 03/2012 Trong bài viết này tác giả phân

tích, so sánh những tồn tại bất cập trong quá trình thu hồi đất, một số vấn đề tiêu cực

có thể nảy sinh trong quá trình thu hồi đất và những thuận lợi và khó khăn của người

bị thu hồi đất Qua đó đề xuất một số giải pháp để bảo vệ người bị thu hồi đất cũngnhư kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về đất đai

- Bài viết Mối liên hệ tam giác trong hệ thống đất đai ở Hàn Quốc: Quy

hoạch, phát triển và đền bù sử dụng đất của TS Hee Nam Jung tại Hội nghị Khoa học Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế nhằm xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại

Trang 28

tại Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức tại Hà Nội, ngày

10/09/2010 Tác giả đã chỉ ra kế hoạch phát triển đất bằng các biện pháp tái phát triển

và phát triển mới ở Hàn Quốc, phương pháp đổi đất, mua đứt một lần Vì vậy, ông chorằng: Việt Nam cần phải đưa ra kế hoạch xây dựng nhà ở, phát triển khu dân cư mộtcách tổng thể; lựa chọn nhà đầu tư từ chính quyền địa phương hay trung ương, cácdoanh nghiệp nhà nước và điều quan trọng là cần đơn giản hóa thủ tục hành chínhtrong lĩnh vực đất đai

- Bài viết Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đối với tương lai kinh tế của Trung

Quốc của tác giả Chengri Ding: Effects of Land Acquisition on China's Economic

Future, January 2004, English Appears in Land Lines Trong bài viết tác giả phân tíchchính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Chính phủ Trung Quốc,phân tích những vấn đề bất cập trong quá trình thu hồi đất, những thiệt thòi mà ngườidân có đất bị thu hồi phải gánh chịu như: Không có dữ liệu thị trường cho giá đất nôngnghiệp nên Chính phủ trả cho tập thể và nông dân một gói bồi thường bao gồm ba hợpphần: Đền bù cho đất đai; trợ cấp tái định cư; và đền bù cho việc cải thiện đất và chocác loại cây trồng trên đất bị trưng dụng Luật pháp quy định bồi thường đất canh tác

sẽ cao gấp 6 đến 10 lần giá trị sản lượng bình quân hàng năm của mảnh đất bị thu hồitrong ba năm trước khi trưng dụng Số tiền trợ cấp tái định cư phụ thuộc vào số ngườisống trên đất, nhưng trợ cấp của mỗi người sẽ không vượt quá sáu đến mười lần mứclợi tức hàng năm từ đất bị thu hồi Tác giả phân tích một số vấn đề nổi cộm, chưa rõràng trong quá trình thu hồi đất đó là: Thứ nhất khái niệm không rõ ràng về quyền sởhữu và quyền phát triển: Ai là người có quyền lấy đất từ nông dân để phát triển đô thị?Hiện tại, bất kỳ chủ thể nào cũng có thể có được đất đai từ nông dân miễn là nó có thểchứng minh lợi ích công cộng hoặc mục đích Thứ hai ai là người có quyền bồithường? Thứ ba là sự công bằng của bồi thường, bao gồm cả mức bồi thường cũngnhư các hình thức thanh toán trong các tình huống khác nhau? Và tác giả cũng chỉ rarằng những bất cập này dẫn đến khiếu nại tập thể kéo dài gây bất ổn cho xã hội, tácđộng đến quá trình đô thị hóa và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nướcTrung Quốc

1.1.4 Nhóm các công trình nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội

- Bài viết: “Triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 với vấn đề hoàn thiện

pháp luật đất đai”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1/2015 của tác giả Lưu Quốc

Thái Tác giả đã nêu một số vấn đề đặt ra cho pháp luật đất đai hiện hành như: Pháp

Trang 29

luật chưa quy định về việc sử dụng ý kiến đóng góp của người dân về quy hoạch,KHSDĐ trong trường hợp đa số người dân trong khu vực lấy ý kiến không đồng tìnhvới quy hoạch, KHSDĐ dự kiến của nhà nước.

- Bài viết: “Pháp luật về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của

Singapore và Trung Quốc - Những gợi mở cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật

về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: của TS Nguyễn Quang Tuyến

và ThS.Nguyễn Ngọc Minh, Tạp chí Luật học, số 10/2010 Trong bài viết này các tácgiả phân tích chế độ sở hữu đất đai, công tác thu hồi, đền bù, bố trí tái định cư và cungcấp nhà ở công (Singapore); đất đai thuộc chế độ công hữu đó là chế độ sở hữu toàndân và sở hữu tập thể, chỉ có Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương mới có quyền thu hồi đất, người nào sử dụng đất thì người đó có nghĩa vụbồi thường, số tiền bồi thường phải đảm bảo cho người dân bị thu hồi có chỗ ở bằnghoặc cao hơn so với nơi ở cũ (Trung Quốc) Đặc biệt các tác giả đề xuất một số gợi mởcho việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam như: Quan tâm giải quyếtcác vấn đề xã hội phát sinh trực tiếp từ việc nhà nước thu hồi đất; tiền bồi thường phảiđảm bảo cuộc sống cho người bị thu hồi đất

- Bài viết “Xác định giá đất để tính bồi thường khi nhà nước thu hồi đất” của

tác giả Phan Trung Hiền, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1+2 năm 2017 Trong bài

viết này, tác giả phân tích thực trạng pháp luật về nguyên tắc, phương pháp, chủ thể,quy trình, tư vấn, thời điểm xác định giá đất; đối chiếu giá đất tính bồi thường, hỗ trợ

và giá đất khi tính tiền sử dụng đất để tái định cư Trên cơ sở đó, tác giả để xuất cácgiải pháp hoàn thiện pháp luật về cơ chế xác định giá đất để người dân tham gia vàoquá trình xây dựng giá đất, cơ chế xác định giá đất theo giá thị trường

- Bài viết “Hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thu hồi đất vì mục đích quốc

phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam” của các tác giả Phan Trung

Hiền - Huỳnh Thanh Toàn - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12 (T6/2018) Trên cơ sởphân tích khái niệm, đặc điểm và các quy định của LĐĐ năm 2013 trong quá trình thuhồi đất, các tác giả kiến nghị bổ sung, sửa đổi các quy định về cưỡng chế khi thực hiệnquyết định thu hồi đất

- Luận án tiến sỹ kinh tế của NCS.Nguyễn Văn Nhường, Chính sách an sinh xã

hội đối với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các cụm công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh), năm 2010 Tác giả đi sâu vào phân tích những nội dung lý

luận về chính sách an sinh xã hội, thực trạng đời sống người dân bị thu hồi đất nôngnghiệp để xây dựng các khu công nghiệp tại Bắc Ninh Đồng thời chỉ ra những thành

Trang 30

tựu, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến các hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm hoànthiện chính sách về an sinh xã hội đối với người nông dân bị thu hồi đất để xây dựngcác khu công nghiệp.

Luận án tiến sĩ kinh tế của NCS.Nguyễn Dũng Anh “Việc làm cho nông dân bị

thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở thành phố Đà Nẵng”, năm

2014 Tác giả chỉ ra thực trạng còn nhiều hạn chế trong việc tạo việc làm cho ngườilao động bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Từ những hạn chế này, tác giảđưa ra các giải pháp để giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên địa bànthành phố Đà Nẵng như: i) Rà soát, hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch đất nông nghiệpphải giải tỏa; ii) Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa ngành, nghề đào tạo; iii) Hoànthiện cơ chế giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất; iv) Tạo điều kiện cho doanhnghiệp phát triển, từ đó giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất, tăng cường tráchnhiệm cho doanh nghiệp ở vùng thu hồi đất trong việc giải quyết việc làm cho người

bị thu hồi đất

- Bài viết của tác giả Xueying Zhang, Trường Đại học Công nghệ và Giáo dục

Thiên Tân, Bồi thường cho việc thu hồi đất bắt buộc ở Trung Quốc: Để xây dựng lại

sinh kế dài hạn của nông dân bị thu hồi, Compensation for Compulsory Land Acquisition in China: To Rebuild Expropriated farmers’ Long-term Livelihoods, 2011.

Trong bài viết này tác giả khẳng định thu hồi đất bắt buộc là một hoạt động đượcChính phủ chi phối chuyển giao quyền sở hữu đất đai từ tập thể sở hữu nhà nước Việcbồi thường cho nông dân có đất bị thu hồi không dựa trên giá cả của thị trường nên họphải chịu rất nhiều thiệt thòi cũng như đối mặt với nguy cơ nghèo đói trong tương lai

Họ rất khó khăn trong việc chuyển từ nông dân sang công dân đô thị khi việc bồithường và hỗ trợ của nhà nước thấp hơn nhiều so với chi phí sinh hoạt ở các thànhphố Vì vậy, tác giả cho rằng trách nhiệm của Chính phủ là cải thiện tiền bồi thường vàchính sách tái định cư cho nông dân bị thu hồi đất một cách công bằng và phải đảmbảo hai vấn đề đó là: Mục tiêu bồi thường cho nông dân bị thu hồi đất là gì? Chính phủphải làm gì để giúp họ xây dựng lại sinh kế bền vững, lâu dài?

- Bài viết của tác giả Jianpeng CHU, People’s Republic of China, Trường Tài

nguyên và Kỹ thuật Môi trường, Đại học Công nghệ Sơn Đông: Land ExpropriationCompensation Based on the Price of Land Use Right Granting, 2009 Trong bài viếtnày tác giả cho rằng cùng với sự phát triển của công cuộc xây dựng đất nước và sự đôthị hóa, việc thu hồi đất là vấn đề tất yếu diễn ra nhưng phải giải quyết các vấn đề liênquan đến quyền lợi của người dân bị thu hồi đất một cách hợp lý như: Bồi thường cho

Trang 31

nông dân bị mất đất, tái định cư và vấn đề hỗ trợ Trong đó, mức bồi thường là vấn đềcốt lõi của việc thu hồi đất đai Hầu hết các mâu thuẫn trong quá trình thu hồi đất đềuxuất phát từ việc bồi thường không thỏa đáng Vì vậy, làm thế nào để bù đắp cho nôngdân bị mất đất luôn là trọng tâm nghiên cứu Hệ thống đền bù, hỗ trợ, tái định cư chonông dân bị thu hồi đất còn nhiều bất cập, hạn chế dẫn đến mâu thuẫn giữa phí bồithường và thu nhập từ việc mất đất cũng như sinh kế của họ Tác giả đề xuất những gìchúng ta nên làm bây giờ là chuẩn hóa việc chiếm hữu đất đai bằng cách thành lậpcông bằng các tiêu chuẩn bồi thường giá đất theo giá thị trường để người sử dụng đất

có thể lựa chọn giá đất bằng các phương thức như: Thông qua phương thức đấu thầu,đấu giá, niêm yết… để đảm bảo cho người dân bị thu hồi đất ổn định cuộc sống

1.2 Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến

đề tài luận án và những nội dung mà luận án sẽ kế thừa, phát triển

1.2.1 Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến

đề tài luận án

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu lý luận về thu hồi đất nông nghiệp để phát

triển kinh tế - xã hội Các công trình đã nghiên cứu về chế độ sở hữu đất đai, quyhoạch, quản lý quy hoạch; quan điểm, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng vềxây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai; việc giải quyết hài hòalợi ích của nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi cũng được đặt ra trong quátrình nghiên cứu Một số công trình khẳng định QSDĐ là quyền tài sản, do vậy việcnhà nước thu hồi đất phải đảm bảo quyền của NSDĐ nhưng chưa được quy định trongHiến pháp năm 1992 Các công trình này có liên quan trực tiếp đến nội dung nghiêncứu của luận án Kết quả nghiên cứu của các công trình này có ý nghĩa cả về lý luận vàthực tiễn, là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứusâu hơn những nội dung mà luận án thực hiện

Thứ hai, các công trình nghiên cứu lý luận pháp luật về thu hồi đất nông

nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội Các công trình đã xây dựng được các khái niệmthu hồi đất, khái niệm trưng dụng, trưng mua, trưng thu đất; khái niệm bồi thường khinhà nước thu hồi đất, hỗ trợ khi khi nhà nước thu hồi đất; phân biệt giữa thu hồi đấtvới trưng dụng, trưng thu và trưng mua đất; các yếu tố chi phối khi nhà nước thu hồiđất, khung giá đất làm căn cứ để bồi thường, dẫn chứng bằng các ví dụ cụ thể để

chứng minh; cơ chế đánh giá việc thu hồi đất Các khái niệm trên được các tác giả chủ

yếu xây dựng, phân tích, so sánh trên cơ sở phân tích, tiếp cận LĐĐ năm 2003, BLDSnăm 2005 Tuy nhiên, hiện nay LĐĐ năm 2013 đã được ban hành và có hiệu lực,

Trang 32

BLDS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 nên cần tiếp cận và xây dựng cáckhái niệm này trên cơ sở nghiên cứu LĐĐ năm 2013, BLDS năm 2015

Thứ ba, các công trình nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng

pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội Các công trình đãphân tích đánh giá những bất cập trong các quy định của pháp luật về thu hồi đất cũngnhư tổng kết thực tiễn, trong đó nêu lên những tồn tại, bất cập trong quá trình thu hồiđất nông nghiệp như nông dân mất đất, mất tư liệu sản xuất, tình trạng thất nghiệp, tệnạn xã hội Chính sách về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất hiện nay chưathực sự thỏa đáng, giá đất thấp so với giá thị trường, chưa bù đắp được những thiệt hại

mà người có đất nông nghiệp bị thu hồi phải gánh chịu Tuy nhiên, trên thực tế nhữngtồn tại, vướng mắc phát sinh trong quá trình nhà nước thu hồi đất còn đa dạng, phứctạp hơn nhiều Vì vậy, chúng cần được nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn để sát vớithực tế cuộc sống Đây là những vấn đề mà nghiên cứu sinh mong muốn hướng đếntrong quá trình nghiên cứu

Thứ tư, các công trình nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất

nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội Ở phạm vi và mức độ khác nhau, nhiềucông trình đã đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực thi và hoàn thiện phápluật về thu hồi đất nông nghiệp Phần lớn các kiến nghị được đề xuất trên cơ sở phântích những hạn chế trong các quy định của LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫnthi hành LĐĐ năm 2003 Theo đó, một số kiến nghị đã được tiếp thu và ghi nhận trongLĐĐ năm 2013 Tuy nhiên, LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành LĐĐnăm 2013 đã được ban hành song thực tế số lượng các tranh chấp, khiếu nại liên quanđến việc nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội vẫn còn rấtnóng bỏng và số lượng khiếu nại vẫn không giảm Điều này tiềm ẩn nguy cơ để cácthế lực xấu lợi dụng gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Do đó, vấn đềnày cần tiếp tục nghiên cứu đề xuất những giải pháp hoàn thiện là rất cần thiết

Như vậy, các công trình khoa học nói trên chủ yếu đi sau vào việc nghiên cứu,phân tích các quy phạm pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thuhồi đất, về sự bất cập của giá đất Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu nghiên cứu LĐĐ năm

2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, chưa phân tích các trường hợp thu hồi đất đểphát triển kinh tế - xã hội; trong đó có thu hồi đất nông nghiệp chính là một trongnhững cơ sở pháp lý trực tiếp làm phát sinh thẩm quyền của cơ quan nhà nước, sự hạnchế của việc áp dụng phương pháp định giá đất, các thủ tục hành chính khi tiến hànhthu hồi đất nông nghiệp; chưa đi sâu vào vấn đề “cốt lõi” đó là bản chất của việc thu

Trang 33

hồi QSDĐ, sự chia sẽ lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và người có đất nông nghiệp bịthu hồi, các yếu tố tác động đến quá trình thu hồi đất nông nghiệp trên cơ sở tiếp cận

từ việc đánh giá thực tế bị thiệt hại của NSDĐ, lợi ích được thụ hưởng trên phạm virộng, không giới hạn ở từng địa phương riêng lẻ,…

1.2.2 Những nội dung mà luận án sẽ kế thừa và tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả của các công trình đã nghiên cứu luận

án cần tiếp tục nghiên cứu các vấn đề sau:

Thứ nhất, về mặt lý luận cần tập trung nghiên cứu: Khái niệm pháp luật về thu

hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; làm rõ tiêu chí phát triển kinh tế - xãhội; luận giải cơ sở lý luận về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội;Phân biệt thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội với thu hồi đất vì mục đích kinhdoanh của nhà đầu tư

Thứ hai, nghiên cứu thực trạng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát

triển kinh tế - xã hội ở nước ta như: Các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất,thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nguyên tắc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ là những cơ sởpháp lý rất quan trọng chi phối, đảm bảo tính đúng đắn, khả thi, khách quan trong quátrình thu hồi đất, qua đó phát hiện những tồn tại, bất cập trong các quy định của phápluật hiện hành tác động đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như người cóđất nông nghiệp bị thu hồi Đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về thuhồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở một số địa phương

Thứ ba, nghiên cứu hạn chế, bất cập của việc áp dụng pháp luật về thu hồi đất

nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; hiệu quả sau khi thu hồi đất nông nghiệp đểphát triển kinh tế - xã hội; giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp

để phát triển kinh tế -xã hội

Thứ tư, trên cơ sở định hướng chính sách đất đai của Đảng và kết của nghiên

cứu, luận án sẽ đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp

để phát triển kinh tế - xã hội và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp

luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội

Đặt vấn đề nghiên cứu trong bảng tổng kết thực tiễn thi hành LĐĐ và hướng tớisửa đổi LĐĐ năm 2013 về tích tụ, tập trung đất đai, thực hiện Luật Đầu tư năm 2020

và Luật Đấu thầu Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa, tiếp tục phát triển các kết quả nghiêncứu về thu hồi đất nông nghiệp dưới góc độ lý luận và thực tiễn cũng như đề xuất cácgiải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội

Trang 34

ở Việt Nam là vấn đề cấp thiết và chưa trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã thựchiện trước đây.

1.3 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, lý thuyết nghiên cứu

1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu

Luận án được triển khai với những câu hỏi nghiên cứu như sau:

- Về khía cạnh lý luận:

Thứ nhất, thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội là gì? Đặc điểm

của thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội?

Thứ hai, các quy định của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển

kinh tế - xã hội? Tính tất yếu của việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế xãhội và hậu quả của nó? Yếu tố nào tác động đến việc thu hồi đất nông nghiệp để pháttriển kinh tế - xã hội? Vai trò, trách nhiệm của Nhà nước được thể hiện như thế nàothông qua chính sách hỗ trợ liên quan đến việc ổn định đời sống, sản xuất, việc làm….với tư cách là người đại diện sở hữu đất đai

- Về khía cạnh pháp luật thực định: Nội dung và thực tiễn áp dụng pháp luật vềthu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội có vướng mắc bất cập gì cầnđược sửa đổi, bổ sung cho phù hợp?

- Về đề xuất, kiến nghị: Với những hạn chế bất cập nêu trên thì cần có nhữngđịnh hướng, giải pháp nào để sửa đổi, bổ sung góp phần hoàn thiện pháp luật về thuhồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội hiện nay?

1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu

Từ các câu hỏi nghiên cứu trên, luận án đặt ra các giả thuyết nghiên cứu sau:

- Về khía cạnh lý luận:

+ Giả thuyết nghiên cứu: Sự tác động của chế độ nhà nước đại diện chủ sở hữu

và thống nhất quản lý đất đai đối với việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế

- xã hội chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ

+ Giả thuyết nghiên cứu: Tính tất yếu khách quan phải điều chỉnh bằng phápluật đối với lĩnh vực này chưa được luận giải một cách rõ ràng, đầy đủ và các đề tàitrong nước chưa phản ánh một cách có hệ thống, chưa đánh giá được các yếu tố tácđộng đến việc nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội

- Về khía cạnh pháp luật thực định:

+ Giả thuyết nghiên cứu: Các quy định LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướngdẫn thi hành có liên quan Nhiều quy định trong đó đã bộc lộ những hạn chế, bất cậpkhi áp dụng trong thực tiễn

Trang 35

- Về đề xuất, kiến nghị:

+ Giả thuyết nghiên cứu: Hiện nay, LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫnthi hành đang có hiệu lực và được áp dụng trong thực tế Tuy nhiên, vẫn chưa khắcphục được những hạn chế của LĐĐ năm 2003 và yêu cầu thực tiễn đặt ra, ảnh hưởngđến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp đểphát triển kinh tế - xã hội cần phải được phân tích, đánh giá và kiến nghị phươnghướng, giải pháp phù hợp để hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để pháttriển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi ở Việt Nam

1.3.3 Lý thuyết nghiên cứu

Luận án được thực hiện dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; đường lối, chủ trương, quan điểmcủa Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam về đất đai, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệthống pháp luật đồng bộ, trong đó có bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất

và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ đất đai nói chung và pháp luật về thu hồi đấtnông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội nói riêng

Lý thuyết về sự công khai, minh bạch: Theo tác giả dưới góc độ pháp lý thìcông khai, minh bạch được hiểu là: Mọi hoạt động của nhà nước phải được công bốhoặc phổ biến, truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm cho mọi ngườidân có thể tiếp cận được các quyết định của nhà nước một cách dễ dàng Trong hoạtđộng thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội thì công khai minh bạchphải được đặt lên hàng đầu để người dân, xã hội biết để thực thi, để theo dõi, giám sát

để đảm bảo lợi ích chính đáng cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi từ khâu lập quyhoạch, KHSDĐ nông nghiệp; trình tự thủ tục, thẩm quyền thu hồi; phương án bồithường, hỗ trợ phải được công khai và lấy ý kiến của người có đất bị thu hồi Có nhưvậy mới hạn chế được tham nhũng, lãng phí trong quản lý sử dụng đất nói chung vàthu hồi đất nông nghiệp nói riêng đồng thời bảo đảm quyền lợi chính đáng của người

có đất bị thu hồi

Lý thuyết về sự công bằng: Theo tác giả, dưới góc độ pháp luật thì công bằngđược hiểu là trong những điều kiện, hoàn cảnh như nhau thì các chủ thể tham gia vàoquan hệ pháp luật có các quyền và nghĩa vụ như nhau Trong thu hồi đất nông nghiệp

để phát triển kinh tế - xã hội, QSDĐ nông nghiệp đã được trao cho người sử dụng đất

và được pháp luật bảo hộ thì khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp họ phải được bồithường theo giá thị trường để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân, bên cạnh

Trang 36

đó họ còn được hỗ trợ để ổn định đời sống Lý thuyết về sự công bằng được sử dụng

để luận giải về trách nhiệm của Nhà nước trong việc thu hồi đất phải theo đúng quyhoạch, KHSDĐ, đúng trình tự, thủ tục luật định và bồi thường ngang giá cho người sửdụng đất

Kết luận Chương 1

1 Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta

là đề tài nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước ởnhững cấp độ khác nhau Các công trình đã phân tích, xây dựng được một số kháiniệm trong lĩnh vực thu hồi đất như: Khái niệm thu hồi đất, khái niệm bồi thường, kháiniệm hỗ trợ, khái niệm tái định cư, các yếu tố chi phối việc bồi thường khi nhà nướcthu hồi đất, khung giá đất làm căn cứ để bồi thường…

2 Các công trình nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thu hồi đất, đất nông nghiệpdựa trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đất đai, bản chất ưu việt của chế độ; phân tích

sự chi phối của quan điểm của Đảng, quá trình hội nhập quốc tế, chênh lệch địa tô, cơchế quản lý kinh tế trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nôngnghiệp để phát triển kinh tế - xã hội

3 Các công trình nghiên cứu nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến thu hồiđất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội như: Khái niệm thu hồi đất, khái niệmbồi thường, hỗ trợ, khái niệm tái định cư, khái niệm học nghề Đồng thời các tác giảcũng phân tích những tồn tại bất cập, những “góc khuất” trong quá trình thu hồi đất,bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Những vấn đề nảy sinh hậuthu hồi đất mà nhà nước và toàn xã hội phải chung tay giải quyết như: Thất nghiệp, tệnạn xã hội, ô nhiễm môi trường và nghèo đói Các công trình đã đề xuất một số kiếnnghị trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp

4 Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá các công trình khoa học liên quan đến đề tàiluận án, cũng như tiếp thu, kế thừa những tư tưởng khoa học, những kết quả nghiêncứu của các công trình trước đó, luận án có nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu, lý giải mộtcách sâu sắc hơn, toàn diện hơn cả về lý luận và thực tiễn pháp luật về thu hồi đất nôngnghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở các chương tiếp theo, những vấn đề mà các tácgiả chưa nghiên cứu, tiếp cận hoặc nghiên cứu, tiếp cận chưa đầy đủ

Trang 37

CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

2.1 Cơ sở lý luận về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội

2.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đất nông nghiệp trong phát triển kinh tế - xã hội

a Khái niệm đất nông nghiệp

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quan trọng đối với đời sống của conngười cũng như toàn xã hội Đất đai không những là địa bàn sinh sống của con người

mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt Đất đai là nơi để xây dựng nhà cửa, là nơi để tạo racủa cải vật chất phục vụ cho đời sống của con người cũng như nuôi sống toàn xã hội

Để tồn tại và phát triển, con người cần phải thỏa mãn được các nhu cầu, mà trước hết

là các nhu cầu thiết yếu nhất của mình đó chính là lương thực, thực phẩm để duy trì sựsống Như vậy, từ thời xa xưa con người đã biết coi trọng giá trị của đất đai Ở ViệtNam, với tổng diện tích đất hơn 33 triệu ha được chia thành nhiều loại đất khác nhaucăn cứ vào mục đích sử dụng của chúng, đất nông nghiệp là một trong các loại đất nằmtrong vốn đất đai thống nhất của quốc gia

Theo Từ điển Luật học: “Đất nông nghiệp: Tổng thể các loại đất được xác định

là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho việc trồng trọt và chăn nuôi, nghiên cứu thínghiệm về trồng trọt và chăn nuôi, bảo vệ môi trường sinh thái, cung ứng sản phẩmcho các ngành công nghiệp và dịch vụ” [88, tr.237-238]

Trong LĐĐ năm 1993, căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được chia thành 6loại bao gồm: Đất nông nghiệp; đất lâm nghiệp; đất khu dân cư nông thôn; đất đô thị;đất chuyên dùng; đất chưa sử dụng Tại Điều 42 LĐĐ năm 1993 quy định về đất nôngnghiệp: “Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nôngnghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm vềnông nghiệp” [25]

Theo sự phân loại này đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp được tách riêng thànhhai loại đất nằm trong sáu loại đất thuộc vốn đất quốc gia và được định nghĩa theoĐiều 42 và Điều 43 của LĐĐ năm 1993 Tuy nhiên, sự phân loại này dựa trên nhiềutiêu chí khác nhau, vừa căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, vừa căn cứ vào địa bàn

Trang 38

sử dụng đất dẫn đến sự đan xen, chồng chéo giữa các loại đất, không có sự tách bạch

về mặt pháp lý gây khó khăn cho công tác quản lý đất đai Theo quy định này thì đấtnông nghiệp chủ yếu dùng để sản xuất nông nghiệp hoặc thực hiện nghiên cứu thínghiệm về nông nghiệp Quan niệm này hiện nay không còn phù hợp trong điều kiệnnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam khi đất nông nghiệp

có thể dùng để góp vốn kinh doanh vào các lĩnh vực như trang trại kết hợp giữa nônglâm ngư nghiệp trong việc phát triển kinh tế Điều này cho thấy sự cứng nhắc và quanniệm theo nghĩa “hẹp” của LĐĐ năm 1993 về đất nông nghiệp

LĐĐ năm 2003 đã khắc phục những hạn chế đó, cũng như tạo điều kiện thuậnlợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong việc sử dụng đất nênchia đất đai thành ba loại với tiêu chí phân loại duy nhất là căn cứ vào mục đích sửdụng chủ yếu: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sửdụng Như vậy, ở đây đã mở rộng khái niệm đất nông nghiệp với tên gọi “nhóm đấtnông nghiệp” thay cho “đất nông nghiệp” trước đây Theo quy định LĐĐ năm 2003 cóthể hiểu nhóm đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau,với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích nông nghiệp, lâm nghiệpnhư trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệrừng, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp Theo quy định tại Khoản 1Điều 13 LĐĐ năm 2003 nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau: Đất trồngcây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàngnăm khác; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặcdụng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác theo quy định củaChính phủ

Như vậy, có thể thấy nhóm đất nông nghiệp bao gồm những loại đất được sửdụng chủ yếu vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp đó là diện tích trồng cáccây lương thực như lúa, ngô, khoai, sắn, đất trồng các cây lâu năm có giá trị kinh tếcao như dừa, cam, chanh, bưởi…diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản; đất rừngsản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng trong đó có đất rừng tự nhiên và đấttrồng rừng

Sự phân loại này hoàn toàn khác so với LĐĐ năm 1993, ở đây đã có sự mởrộng và phù hợp hơn với thực tiễn, có sự đan xen giữa đất nông nghiệp với đất lâmnghiệp, đất làm muối và nuôi trồng thủy sản Quy định này vừa tạo điều kiện thuận lợicho việc thống nhất quản lý đất đai từ các cơ quan quản lý ở trung ương cũng như cácđịa phương trong việc kiểm tra, giám sát quá trình khai thác, sử dụng đất của các hộ

Trang 39

gia đình, cá nhân Đồng thời cũng phù hợp với thực tiễn sử dụng đất của các hộ giađình, cá nhân bởi không có hộ gia đình nào chỉ sử dụng một loại đất duy nhất như đấttrồng lúa, đất rừng mà bao giờ họ cũng sử dụng xen kẽ, kết hợp giữa các loại đất khácnhau như: Trồng lúa, trồng hoa màu, trồng rừng kể cả việc nuôi trồng thủy sản Việckết hợp sử dụng nhiều loại đất này mang tính tất yếu khách quan, là nhu cầu thiết thựccủa các hộ gia đình, cá nhân trong quá trình sản xuất để nâng cao đời sống của mình.

Sự kết hợp này hoàn toàn phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luậtcủa Nhà nước đó là khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo mô hình trang trại kếthợp nông - lâm - ngư - diêm nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân Quy định này tạođiều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình, cá nhân tham gia vào quá trình sản xuất hànghóa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mình

LĐĐ năm 2013 chia đất đai làm 3 loại cũng gần giống với LĐĐ năm 2003 đólà: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng Tuynhiên tại Khoản 1 Điều 10 LĐĐ năm 2013 quy định rõ nhóm đất nông nghiệp baogồm: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; đấttrồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôitrồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhàkính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọtkhông trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loạiđộng vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sảncho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đấttrồng hoa, cây cảnh

Về cơ bản, cách hiểu đất nông nghiệp theo LĐĐ năm 2013 không có nhiềuđiểm khác biệt so với LĐĐ năm 2003 LĐĐ năm 2013 không chỉ ra đất trồng cỏ làmột loại đất thuộc loại đất trồng cây lâu năm mà gộp loại đất này chung vào loại đấttrồng cây hằng năm khác, vì loại đất này không phổ biến và có chế độ quản lý như cácloại đất trồng cây hằng năm khác Đặc biệt tránh cách hiểu hạn hẹp không bao quátđược hết các loại đất nông nghiệp, gây thiệt thòi cho người dân khi tiến hành bồithường cũng như giải quyết các chế độ, chính sách liên quan đến nó LĐĐ năm 2013luật hóa quy định về đất nông nghiệp khác Theo đó, cách hiểu đất nông nghiệp kháckhông còn mang nặng ảnh hưởng về mặt địa lý, đó không chỉ là các loại đất chỉ có ởnông thôn mà còn là đất xây dựng công trình để trồng trọt, chăn nuôi ở cả đô thị vànông thôn Ngoài ra, theo LĐĐ năm 2013 đất xây dựng không để trồng trọt, chăn nuôitrong các trạm, trại nghiên cứu và cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; nhà kho của

Trang 40

dân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuấtnông nghiệp đồng thời thêm đất trồng hoa, cây cảnh cũng không còn được coi là đấtnông nghiệp khác.

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về đất nông nghiệp như sau:Đất nông nghiệp là bộ phận đặc thù của tài nguyên đất đai, là phần đất có đặt tínhgiống nhau có thể thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồngtrọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng; khoanh nuôi tu bổ, bảo vệ rừng; bảo

vệ môi trường sinh thái, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp

Có thể khẳng định đất nông nghiệp được phân bố rộng khắp trong phạm vi cảnước và chiếm một tỉ trọng tương đối lớn trong vốn đất đai của Việt Nam Nhìn nhậnđất nông nghiệp theo khái niệm rộng hơn như ở trên là phù hợp với xu hướng pháttriển của nền kinh tế thị trường cũng như thực tiễn khai thác và sử dụng của các hộ giađình, cá nhân ở nước ta Việc nhìn nhận này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong côngtác thu hồi đất, giải tỏa đền bù, xác định là loại đất nào trong nhóm đất nông nghiệp đểlàm cơ sở cho việc bồi thường và hỗ trợ Vì khi thu hồi đất nông nghiệp của các hộ giađình, cá nhân mà là đất trồng lúa nước thì ngoài số tiền bồi thường Nhà nước phải cóchính sách hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi như: Chính sách đào tạo nghề, bố trí việclàm, chính sách hỗ trợ ổn định cuộc sống… hoặc nếu đất bị thu hồi là đất rừng sảnxuất, rừng phòng hộ…đây cũng là loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp nhưng khôngđược bồi thường về đất mà chỉ xem xét bồi thường các tài sản trên đất phụ thuộc vàonguồn tiền đầu tư đó thuộc nguồn vốn của Nhà nước hay của tổ chức, cá nhân Việcnghiên cứu khái niệm đất nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các cơquan Nhà nước xây dựng chế độ chính sách, phân loại, xác định cách thức cũng nhưmức bồi thường, hỗ trợ cho phù hợp đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người cóđất nông nghiệp bị thu hồi

b Đặc điểm của đất nông nghiệp

Ngoài các đặc điểm của đất đai nói chung như: Đất đai có tính cố định vị trí,không thể di chuyển được, là tài sản không do con người tạo ra, chịu sự chi phối củacác yếu tố môi trường nơi có đất… thì đất nông nghiệp còn có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế được trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối và nuôi trồng thủy sản

Đây là đặc điểm quan trọng phân biệt đất nông nghiệp với đất phi nông nghiệp.Không thể tiến hành sản xuất nông nghiệp nếu không có đất nông nghiệp Đất nôngnghiệp là tổng thể các loại đất sử dụng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Có loại

Ngày đăng: 06/06/2021, 06:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w